Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về thực hiện pháp luật
Trang 1NGUYỄN TRUNG TUYẾN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHỆ AN – 2017
Trang 2
NGUYỄN TRUNG TUYẾN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH HIỆN NAY
Chuyên ngành :Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60.38.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS LÊ VƯƠNG LONG
NGHỆ AN - 2017
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp mới của luận văn 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG 6
1.1.Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật 6
1.2 Những vấn đề lý luận về quản lý trật tự xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng 11
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng 30 Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH HIỆN NAY 38
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Vinh 38
2.2 Thực trạng quy định pháp luật về quản lý trật tự xây dựng 40
2.3 Những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh 45
2.4 Những tồn tại, hạn chế trong thực hiện pháp luật quản lý về trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh 50
2.5 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh 45
Trang 5CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ VINH TRONG THỜI GIAN TỚI 65
3.1 Định hướng thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng trên địa bản thành phố Vinh 65
3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh 67
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thì định hướng và chiến lược phát triển đô thị có vai trò ngày càng quan trọng, nhưng để đô thị phát triển một cách có kiểm soát, theo quy hoạch, thì Đảng và Nhà nước ta đã
có chủ trương là: “Cần phải phát triển đô thị một cách vững chắc, có trật tự, nhằm xây dựng một đô thị đàng hoàng hơn to đẹp hơn” Thực tế đã cho thấy rằng, một trong các công cụ quản lý đô thị có hiệu quả đó là công tác quản lý trật tự xây dựng Nếu các nguyên tắc, quy trình, quản lý trật tự xây dựng có tính khoa học, thực tiễn và được tuân thủ một cách nghiêm minh thì công tác quản lý đô thị sẽ có nhiều thuận lợi, dễ dàng hơn còn ngược lại thì công tác quản lý đô thị sẽ gặp nhiều khó khăn bội phần, thậm chí có thể thất bại
Trong những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tốc độ phát triển đô thị diễn ra khá nhanh Đến nay cả nước đã
có 805 đô thị, trong đó có gần 100 thành phố và thị xã Đô thị hoá nhanh đồng nghĩa với việc các hạng mục công trình nhanh chóng được xây dựng nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu về nhà ở, thương mại dịch vụ, sản xuất phát triển của cộng đồng dân cư đô thị Việc xây dựng các công trình này ở các đô thị đòi hỏi phải được thực hiện theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt và đúng với quy chuẩn, tiêu chuẩn cho phép đối với từng khu vực
Tuy nhiên, trên thực tế việc vi phạm trật tự xây dựng không còn là chuyện xa lạ ở các đô thị trong suốt thời gian qua Không phải công trình nào cũng đảm bảo đúng trật tự xây dựng Xét trên cái nhìn tổng thể ở hầu hết các
đô thị, từ đô thị đặc biệt như thủ đô Hà Nội cho tới các đô thị loại 5 Dường như đây chính là mặt trái của đô thị hoá với tốc độ quá nhanh trong khi quản
lý nhà nước về phát triển đô thị lại chưa đáp ứng kịp Điều này đòi hỏi công tác quản lý xây dựng phải được quan tâm một cách thực sự đúng mức
Trang 8Tình hình vi phạm trật tự xây dựng đô thị đã và đang là một vấn đề nóng bỏng trong thực tế các đô thị nước ta hiện nay Hiện tượng xây dựng không phép, trái phép xẩy ra ở khắp mọi nơi trên địa bàn thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh… có thể nhận thấy các công trình vi phạm luật lệ trật tự xây dựng và phát triển đô thị ngày càng nhiều và đa dạng hơn Mức độ không chỉ dừng lại ở mấy căn hộ tập thể cơi nới không xin phép hay nhà trong hang cùng ngõ hẻm đua ban công lấn chiếm không gian nữa,
mà nhà riêng sai theo kiểu nhà riêng, biệt thự sai kiểu biệt thự, các vi phạm về đất tập thể, sử dụng đất đai không đúng mục đích diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp Do những điều kiện, những lý do chủ quan, quy hoạch của nước ta nói chung và thành phố Vinh nói riêng, vốn lẽ đã có nhiều bất cập và thiếu sót Yêu cầu quản lý trật tự xây dựng theo đúng quy hoạch và pháp luật, loại trừ hiện tượng phát triển tự phát, tùy tiện không thể kiểm soát nổi là một vấn
đề quan trọng hiện nay ở đô thị nước ta
Tốc độ đô thị hoá nhanh, các công trình xây dựng, nhà cửa của những người dân ngày một khang trang, các cơ sở thương mại dịch vụ, sản xuất công nghiệp, các công trình hạ tầng… đang ngày ngày đổi thay Việc quản lý trật
tự xây dựng trên địa bàn vì thế mà được đặt ra một cách cấp thiết hơn bao giờ hết Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý trật tự xây dựng nói chung và trên địa bàn thành phố Vinh nói riêng, đồng thời qua tìm hiểu và xem xét về công tác quản lý trật tự xây dựng của thành phố Vinh tôi quyết
định lựa chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh hiện nay” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, việc nghiên cứu về hoạt động quản lý trật tự xây dựng nhìn chung còn mới mẻ, chưa được quan tâm đầy đủ, do trên thực tế những công trình khoa học nghiên cứu hoạt độn quản lý xây dựng còn
Trang 9rất ít Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy, các công trình khoa học nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai nhóm:
- Nhóm nghiên cứu về pháp luật xây dựng nói chung như: “Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng cơ bản” của tác giả Lê Thế Tiệm; Bài giảng môn học “Pháp luật và quản lý đô thị ” của TS.KTS Lê Trọng Bình Trường Đại học Kiến trúc
- Nhóm nghiên cứu về quản lý trật tự xây dựng cụ thể là nghiên cứu về thanh tra xây dựng hiện nay còn rất ít công trình khoa học nghiên cứu Nhóm này có một số công trình như: Nguyễn Ngọc Tản "Một số vấn đề hoàn thiện
hệ thống pháp luật về thanh tra” - Tạp chí Thanh tra số 1 - 2007
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phân tích lý giải nhiều vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động quản lý trật tự xây dựng Tuy nhiên, các công trình đó chưa đề cập cụ thể đến hoạt động thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, để từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở khoa học về thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng, từ đó đề xuất giải pháp cần thiết nhằm hoàn thiện thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đề ra, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Trang 10Làm rõ cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng Thực trạng pháp luật về quản lý trật tự xây dựng, thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về trật tự xây dựng, làm rõ những vướng mắc, bất cập trong pháp luật về quản lý trật tự xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh hiện nay;
Đề xuất quan điểm và phương hướng đảm bảo việc thực hiện quản lý
trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh hiện nay
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn, các quan điểm, giải pháp bảo đảm việc thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trong đó phạm vi của Luận văn, chủ yếu tập trung vào thực trạng thực hiện pháp luật và các giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về pháp luật, về quản lý trật tự xây dựng
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp nghiên cứu giữa lý luận và thực tiễn, sử dụng các phương pháp khảo sát thực tế, thống kê số liệu, phân tích, tổng hợp, chứng minh, đối chiếu so sánh các tài liệu, số liệu để đánh giá kết quả việc thực hiện, từ đó phân tích nguyên nhân
và đề xuất các giải pháp
7 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, có hệ thống, chuyên sâu trên khía cạnh lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng tại địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trang 11Luận văn có những đóng góp mới về khoa học thể hiện trên những điểm sau:
- Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác quản lý trật tự xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng;
- Góp phần khẳng định sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và Thành ủy, chính quyền thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong công tác quản lý trật tự xây dựng,
- Phân tích, đánh giá có hệ thống thực trạng thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh hiện nay;
- Luận văn phân tích những quan điểm bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh hiện nay; đề xuất và luận giải các giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm hiệu quả pháp luật quản
lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh trong thời gian tới
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây
dựng
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng
trên địa bàn thành phố Vinh hiện nay
Chương 3: Định hướng và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về
quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh trong thời gian tới
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG
1.1 Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là hoạt động rất quan trọng vì nó có vai trò hiện thực hóa các quy định của pháp luật, biến các quy định ấy từ văn bản thành
xử sự thực tế hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào những quan hệ pháp luật cụ thể Thông qua hoạt động thực hiện pháp luật, mục đích của nhà nước khi ban hành pháp luật được hoàn thành trên thực tế Nhờ đó nhà nước có thể điều hành và quản lí xã hội, có thể thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội trong từng lĩnh vực nhất định Do tầm quan trọng như vậy mà thực hiện pháp luật trở thành một trong những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lí, được đề cập đến trong các giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của các cơ
sở đào tạo luật
Theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học
Luật Hà Nội:"Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích nhằm thực hiện hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [6, tr 494] Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước, phần I: Nhà nước
và pháp luật của Học viện hành chính: "Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích làm cho những quy định pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các cá nhân, cơ quan, tổ chức” [7, tr103] Tất cả những hành vi, xử sự được
tiến hành phù hợp với các yêu cầu của pháp luật đều được coi là sự thực hiện pháp luật, phù hợp với pháp luật Theo phó giáo sư Nguyễn Minh Đoan:
"Thực hiện pháp luật là hoạt động có lý trí và ý chí của các chủ thể pháp luật
Trang 13làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống nhằm đạt được những lợi ích nhất định vì lợi ích của mỗi thành viên cũng như của cả cộng đồng xã hội"
Từ những định nghĩa thực hiện pháp luật nêu trên cho thấy rằng các khái niệm đều cơ bản thống nhất rằng thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật Không chỉ vậy, thực hiện pháp luật là các hoạt động thực tế, hợp pháp, làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động cụ thể trong thực tiễn cuộc sống Và thực hiện pháp luật là một quá trình của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật
Tóm lại, hoạt động thực hiện pháp luật không chỉ là hành vi đơn lẻ, độc lập, cắt khúc mà nó luôn luôn là một quá trình Dưới góc độ luật học, thực hiện pháp luật là hành vi phù hợp với các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật, mang lại và đáp ứng lợi ích của nhà nước, của xã hội và của mỗi công dân Hành vi đó có thể được thực hiện phụ thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân, nhưng cũng có thể chỉ phụ thuộc vào ý chí của nhà nước Nó có thể được thực hiện xuất phát từ sự nhận thức sâu sắc và tự giác của chủ thể về sự cần thiết phải xử sự như vậy Cũng có thể do xử sự của những người xung quanh tác động tới chủ thể khiến cho chủ thể thực hiện theo Nhưng cũng có thể do kết quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc tâm lý sợ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chủ thể phải thực hiện pháp luật Như vậy, thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa nội dung nguyên tắc, các quy định của pháp luật thông qua hành vi thực
tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Theo đó, đặc điểm của thực hiện pháp luật gồm:
- Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật Mục đích khi nhà nước đặt ra pháp luật là nhằm điều chỉnh hành vi của con
Trang 14người Vì vậy, để xác định việc có hay không thực hiện pháp luật cần phải xem xét hành vi pháp luật của con người Đó có thể là hành vi hành động, hoặc cũng có thể là hành vi không hành động phù hợp với những quy định của pháp luật Hay, tất cả các hoạt động của các chủ thể thực hiện phù hợp với các quy định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện các quy phạm pháp luật Đó là những hành vi hợp pháp nên nó không trái pháp luật, không vượt quá phạm vi mà pháp luật quy định và luôn phù
hợp với các quy định của pháp luật
- Thực hiện pháp luật là một giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật Thực hiện pháp luật, bên cạnh hướng tới thực hiện những mục đích xã hội mà nhà nước hướng tới khi ban hành luật, còn cho phép làm rõ những vấn đề hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thực định Để từ đó, nhà nước có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành Để có được một xã hội phát triển, văn minh thì việc thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh là vô cùng cần thiết Nó sẽ giúp thiết lập một trật tự cần thiết để các quan hệ xã hội tồn tại và phát triển theo những hướng cho lợi cho các chủ thể
và toàn xã hội
- Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động được pháp luật điều chỉnh, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Để quản lý xã hội, Nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện chúng trong đời sống
thực tế, làm cho những yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực
- Thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều các thức khác nhau Một trong những đặc điểm của pháp luật là tính bắt buộc chung Pháp luật đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội phải thực hiện một các nghiêm chỉnh Do đó, hành vi của mỗi cá nhân hay tổ chức, từ khu vực tư
Trang 15nhân đến khu vực nhà nước đều có thể là hành vi thực hiện pháp luật Bên cạnh đó, trên thực tế tồn tại rất nhiều các loại quy phạm pháp luật khác nhau
Do đó, cách thức thực hiện mỗi loại quy phạm pháp luật cũng sẽ khác nhau
Đó có thể là hành động nhằm đạt được một lợi ích hay cái gì đó như sử dụng quyền hoặc hoàn thành một nghĩa vụ pháp lý Ví dụ, công dân A thực hiện nghĩa vụ tuân thủ hiệu lệnh của cảnh sát giao thông hay sử dụng quyền khiếu nại quyết định hành chính của cơ quan công an Hay, đó có thể là một xử sự thụ động, kiềm chế không làm những điều mà pháp luật cấm như không vượt đèn đỏ
Trang 16- Thi hành (chấp hành) pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Chẳng hạn các đối tượng nộp thuế cho nhà nước đầy đủ, đúng hạn Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực
- Sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi
mà pháp luật cho phép) Chẳng hạn ký kết hợp đồng, thực hiện các quyền khởi kiện, khiếu nại trong khuôn khổ pháp luật quy định Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện
- Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các nhà chức trách
tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật
cụ thể Áp dụng pháp luật là hình thức luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền
Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp: Trường hợp thứ nhất, khi những quan hệ pháp luật với những quyền và nghĩa vụ cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước Ví dụ: phát hiện một xác chết trên sông có dấu hiệu bị giết, cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, trưng cầu giám định pháp y
Trường hợp thứ hai, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự
Trang 17giải quyết được, ví dụ tranh chấp hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trường hợp thứ ba, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước
do các chế tài pháp luật quy định đối với những chủ thể có hành vi vi phạm Những người có hành vi vi phạm bị xử phạt làm hàng giả, hàng nhái…
Trường hợp thứ tư, trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó hoặc nhà nước xác nhận tồn tại hay không tồn tại một số vụ việc,
sự kiện thực tế Chẳng hạn tòa án tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với một người; tuyên bố không công nhận vợ chồng đối với nam nữ sống chung với nhau không có đăng ký kết hôn hoặc đăng ký kết hôn tại cơ quan không có thẩm quyền
1.2 Những vấn đề lý luận về quản lý trật tự xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý trật tự xây dựng
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có
cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của minh và đưa ra ra định nghĩa riêng về quản lý Nội dung thuật ngữ quản lý có nhiều cách diễn đạt khác nhau Với ý nghĩa thông thường phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách
có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo mục tiêu đã định [6, tr.68]
Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản
Trang 18lý nhằm đạt được mục đích đã định trước Với khái niệm trên, quản lý bao gồm: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và khách thể quản lý, trong đó:
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn
là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
- Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản
lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
- Khách thể quản lý: là sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản
lý, đó là các hành vi của con người các quá trình xã hội Quản lý ra đời nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong công việc Thực chất của quản lý con người, quản lý xã hội để phát huy cao nhất khả năng của con người, ổn định
và phát triển xã hội theo định hướng đã đề ra
Mục đích quản lý ở đây là cái đích do chủ thể quản lý đã định trước, đây là căn cứ để chủ thể quản lý lựa chọn các phương pháp và thực hiện các biện pháp tác động quản lý khoa học phù hợp quy luật phát triển khách quan của xã hội
Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn (phần quan trọng) các công việc của xã hội do Nhà nước quản lý Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước Như vậy, tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước
Trang 19Theo quan điểm của G.S TSKH G.V.Atamantrruc “Quản lý nhà nước
là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua hệ thống các cơ cấu của nhà nước) lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó, dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước” [5,tr.92]
Theo tác giả,trong số các loại hình quản lý (Quản lý nhà nước, tự quản địa phương, quản trị, quản lý của các tổ chức xã hội, tự điều chỉnh nhóm (tập thể), hành vi ứng xử hoặc hành động hợp lý của một cá nhân) thì quản lý nhà nước có vị trí đặc biệt bởi các thuộc tính của nó: “Trước hết, sự ảnh hưởng quyết định lên đặc điểm của các tác động định hướng mục tiêu, tổ chức và điều chỉnh, vốn được thực hiện bởi loại hình quản lý này, là do chủ thể của nó
- nhà nước gây nên Với tất cả những sự khác biệt trong việc luận giải về Nhà nước và tính đa dạng của những biểu hiện của nó, hầu như tất cả mọi người đều nhất trí nêu bật sức mạnh quyền lực mạnh mẽ được đặt trong nó ” [5,tr.98] Quyền lực nhà nước không chỉ thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
mà còn thể hiện cả ý chí chung của toàn xã hội Nhà nước với tư cách là một
tổ chức quyền lực công phải giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh trong xã hội vì lợi ích chung và sự phát triển của toàn xã hội Sự tác động của nhà nước đến quá trình phát triển của xã hội được thể hiện thông qua việc đề ra chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển của đất nước trong từng giai đoạn và tổ chức thực hiện Tính chất đặc thù của quản lý nhà nước là sự phổ biến toàn cộng đồng xã hội, thậm chí vượt ra ngoài giới hạn của nó, lên các cộng đồng xã hội khác của con người trong khuôn khổ chính sách quốc tế do nhà nước thực hiện Nhà nước vốn là hiện tượng xã hội phức tạp (theo thành phần các yếu tố) và đa diện (theo các chức năng), và với tư cách là chủ thể quản lý, nó cũng tạo cho quản lý nhà nước tính hệ thống Đối với quản lý nhà nước, tính chất
hệ thống có ý nghĩa nguyên tắc Chỉ có sự hiện hữu của tính chất này mới tạo
Trang 20cho quản lý nhà nước sự hòa hợp, sự phối hợp, sự trực thuộc cần thiết, tính mục tiêu, tính hợp lý và tính hiệu quả nhất định Trong xã hội tồn tại nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể nhân dân
Trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước có những đặc điểm khác biệt sau:
- Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp
- Đối tượng của quản lý nhà nước là toàn thể nhân dân (dân cư) sống
và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
- Quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân Quản lý nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, pháp luật là phương tiện, công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”.[7,tr.24]
Như vậy, quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các
cơ quan nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành
và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước) Quản lý nhà nước cũng là
Trang 21sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý Trong lĩnh vực pháp luật, hoạt động quản lý của cơ quan hành chính nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp, mà nội dung của nó là thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành, hay còn gọi là quản lý hành chính nhà nước Quản lý nhà nước do bộ máy hành chính nhà nước thực hiện rất đa dạng: quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng Vì vậy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng chỉ là một bộ phận của quản lý nhà nước, do đó quản lý nhà nước về xây dựng có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động quản lý, ngoài ra nó còn có những đặc điểm riêng mà chỉ
có trong xây dựng, bao gồm:
- Đối tượng quản lý xây dựng là các công trình xây dựng trên địa bàn Công tác quản lý xây dựng gắn liền với yếu tố vị trí địa lý, thổ nhưỡng đất đai, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như phong tục tập quán ở từng địa phương, thẩm mỹ, khí hậu thời tiết từng khu vực cho đến quy hoạch khu chức năng của từng đô thị…
- Hoạt động xây dựng diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên từng địa bàn cơ
sở, tốc độ xây dựng nhanh, chi phí đầu tư xây dựng lớn, với thực tế lực lượng thanh tra Bộ và các Sở Xây dựng không đủ lực lượng, phương tiện và điều kiện để kiểm soát toàn bộ hoạt động xây dựng trên toàn quốc, dẫn đến tình trạng vi phạm trật tự xây dựng tại nhiều khu đô thị lớn, đặc biệt là các vụ nghiêm trọng gây dư luận xã hội và tốn không ít tiền của của Nhà nước và nhân dân
- Quản lý theo một thể thống nhất từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chi tiết 1/2000, 1/500 Gắn quy hoạch tổng thể Thành phố với Quy hoạch chi tiết từng đơn vị quận, phường
Trang 22- Hoạt động quản lý xây dựng phải phù hợp với đặc điểm và điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm tự nhiên của từng địa phương
- Quản lý xây dựng lấy cơ sở pháp lý là các điều luật về xây dựng, quy
hoạch- kiến trúc, luật đất đai, luật dân sự…
- Hoạt động quản lý xây dựng là một chuỗi các hoạt động từ quản lý quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát thiết kế xây dựng công trình, cấp giấy phép, hoạt động tranh tra, kiểm tra hậu cấp phép (quản lý trật tự xây dựng)
Như vậy, quản lý trật tự xây dựng là một khâu rất quan trọng trong quản lý xây dựng Bằng những quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn cụ thể của đô thị nói riêng và của nhà nước nói chung, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng quản lý mọi hoạt động xây dựng trên địa bàn đô thị theo đúng trật tự; đảm bảo nguyên tắc, quy tắc và mỹ quan, môi trường đô thị Quản lý trật tự xây dựng cũng là việc đi rà soát, kiểm tra những công trình xây dựng trên địa bàn xây dựng mà không đúng như yêu cầu trong GPXD đã được cơ quan cấp phép cấp cho và có biện pháp xử lý theo luật đã định Quản lý trật tự xây dựng là khâu tiếp theo của khâu cấp phép Quản lý trật tự xây dựng dựa trên căn cứ chủ yêu là GPXD và các tiêu chuẩn đã được duyệt Công tác quản
lý trật tự xây dựng đảm bảo cho công tác cấp phép được thực thi có hiệu lực Quản lý trật tự xây dựng đô thị là hoạt động thanh tra, kiểm tra, đề xuất, kiến nghị và xử lý vi phạm theo thẩm quyền và trình tự luật định về các vấn đề liên quan đến trật tự xây dựng nhằm đảm bảo xây dựng quản lý đô thị phù hợp với quy hoạch tổng thể và phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng; giữ gìn
và phát triển bộ mặt đô thị theo đúng quy hoạch được phê duyệt tạo điều kiện cho nhân dân xây dựng, bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của nhân dân;
Trang 23ngăn chặn và tiến tới chấm dứt tình trạng lấn chiếm đất công, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng không phép, sai phép giữ gìn kỷ cương phép nước
Từ những vấn đề nêu trên có thể đưa ra định nghĩa: Quản lý nhà nước
về trật tự xây dựng là sự tác động mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước trên
cơ sở pháp luật, của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm duy trì, bảo đảm trật tự trong xây dựng
1.2.2 Nội dung của pháp luật về quản lý trật tự xây dựng
Theo điều 160 Luật Xây dựng năm 2014 nội dung quản lý nhà nước về
xây dựng bao gồm những hoạt động sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, đề án, quy hoạch, kế hoạch phát triển thị trường xây dựng và năng lực ngành xây dựng
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng
- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng
- Tổ chức, quản lý thống nhất quy hoạch xây dựng, hoạt động quản lý
dự án, thẩm định dự án, thiết kế xây dựng; ban hành, công bố các định mức và giá xây dựng
- Hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng; quản lý chi phí đầu tư xây dựng và hợp đồng xây dựng; quản lý năng lực hoạt động xây dựng, thực hiện quản lý công tác đấu thầu trong hoạt động xây dựng; quản lý an toàn, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường đang thi công xây dựng công trình
- Cấp, thu hồi giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận trong hoạt động đầu tư xây dựng
Trang 24- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tổ cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư xây dựng
- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, phổ biến kiến thức, pháp luật về xây dựng
- Đào tạo nguồn nhân lực tham gia hoạt động đầu tư xây dựng
- Quản lý, cung cấp thông tin phục vụ hoạt động đầu tư xây dựng
- Quản lý, lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng
Đặc biệt, Thông tư 26/2016/TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung
về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng áp dụng với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có liên quan trên lãnh thổ Việt Nam Quy định trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư; phân định trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng giữa chủ đầu
tư với tổng thầu EPC; phân định trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng trong trường hợp áp dụng đầu tư theo hình thức đối tác công tư;
Thông tư ra đời sẽ là “hàng rào”, góp phần giảm thiểu các công trình
có biểu hiện kém chất lượng, được thi công xây dựng gây tốn kém, lãng phí đang diễn ra khá phổ biến ở các công trình xây dựng như: chung cư, công trình công cộng, trường học khiến người dân lo lắng và bức xúc Thậm chí còn diễn ra tình trạng nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ
Bên cạnh đó, thông tư cũng quy định rõ việc để xảy ra các sự cố công trình, chất lượng công trình yếu kém thì các bên liên quan đều phải chịu trách nhiệm, từ đó lỗi ở đâu, khâu nào được xác định một cách rõ ràng, chính xác
Trang 25Có như vậy mới giải quyết tốt bài toán về nâng cao chất lượng công trình xây dựng, giảm thiểu các vụ tai nạn lao động gây thiệt hại về người và vật chất như đã từng xảy ra nhiều lần, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi mới của thực tiễn
1.2.3 Thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng
1.2.3.1 Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về quản lý trật xây dựng
Có thể khẳng định rằng thực hiện pháp luật có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong toàn bộ các hoạt động về pháp luật Thực hiện pháp luật là hoạt động đưa pháp luật vào cuộc sống, nhằm hiện thực hóa nội dung các quy định pháp luật thành những hành vi, xử sự thực tế hợp pháp của cá nhân, tập thể trong thực tiễn xã hội Nói cách khác, thực hiện pháp luật có vai trò thực tế hóa các giá trị của pháp luật
Thực hiện pháp luật thể hiện sự am hiểu của người dân về quy tắc ứng
xử chung với cộng đồng, giúp cho cộng đồng ấy ổn định, tránh va chạm lợi ích, đảm bảo quyền cho mọi người trong xã hội được công bằng, bình đẳng,
tạo môi trường trật tự cho con người làm việc và phát triển
Thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng là một quá trình hoạt động có mục đích giúp những quy định của pháp luật quản lý về trật tự xây dựng đi vào cuộc sống, tạo thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Như vậy, thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng bao gồm quá trình hoạt động hợp pháp, có trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong hoạt động quản lý trật tự xây dựng, đồng thời là quá trình sử dụng pháp luật, chấp hành pháp luật, tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh của người dân khi tham gia vào hoạt động xây dựng
Trang 26Thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng có những đặc điểm sau:
- Thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng là một dạng cụ thể của thực hiện pháp luật nên nó vừa mang những đặc điểm chung của thực hiện pháp luật vừa có những đặc điểm riêng mang tính đặc thù Chủ thể thực hiện pháp luật trong lĩnh vực trật tự xây dựng đa dạng và phong phú Như đã nêu ở trên, 11 nội dung quy định tại Luật xây dựng 2014 hướng đến những chủ thể khác nhau với những quyền và nghĩa vụ khác nhau
- Thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng vừa mang tính quyền lực nhà nước, vừa mang tính cộng đồng Pháp luật quản lý trật tự xây dựng là những quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nêu ở trên trong quá trình tham gia duy trì trật tự quản lý xây dựng Đây là những quy định bắt buộc chung vì vậy chỉ có nhà nước với sức mạnh to lớn của mình mới thực hiện được vai trò như vậy Tuy nhiên, bên cạnh việc xây dựng và ban hành pháp luật từ phía nhà nước, để đảm bảo trật tự xây dựng thì chính mỗi người dân đều phải có ý thức thực hiện và được nhà nước kiểm tra, giám sát Trong những năm qua, nhà nước đã ban hành nhiều kế hoạch, thông tư, nghị định, kết hợp vai trò của các bộ ban ngành để duy trì trật tự xây dựng nhưng vẫn chưa đạt được kết quả khả quan Một trong những lý do cơ bản là do ý thức của các chủ thể trong thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng còn yếu
- Chủ thể thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng rất phong phú và
đa dạng, gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam Vì vậy, thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng không phải là trách nhiệm của một vài cá nhân cụ thể mà là trách nhiệm của toàn xã hội
Các chủ thể mà pháp luật quản lý trật tự xây dựng hướng đến gồm cả cá nhân và pháp nhân Chủ thể là cá nhân bao gồm cả công dân Việt Nam và
Trang 27người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam Đối với chủ thể là pháp nhân, tổ chức thì Nhà nước là chủ thể đặc biệt có vai trò xây dựng pháp luật và thiết lập hệ thống cơ quan tương ứng để quản lý trật tự xây dựng Nhà nước quản
lý trật tự xây dựng qua các cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, các
tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, văn hoá xã hội Bên cạnh đó còn có các pháp nhân khác là các doanh nghiệp chịu trách nhiệm thực hiện các công việc như xây dựng, điều hành, quản lý các công trình xây dựng
- Thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng được biểu hiện chủ yếu dưới dạng hành vi áp dụng pháp luật của chủ thể có thẩm quyền
- Việc thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng chịu nhiều ảnh hưởng từ những yếu tố mang tính chất cản trở Xây dựng là hoạt động mà cả cộng đồng xã hội với nhiều chủ thể cùng tham gia Vì thế việc thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng cũng vấp phải nhiều khó khăn trong thực tiễn đối với cả người dân và cơ quan quản lý
1.2.3.2 Hình thức thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng
- Tuân thủ pháp luật quản lý trật tự xây dựng là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật tự kiềm chế mình không thực hiện những hoạt động mà pháp luật về quản lý trật tự xây dựng ngăn cấm
Ví dụ: Không sản xuất, sử dụng vật liệu xây dựng gây nguy hại cho sức
khỏe cộng đồng, môi trường Việc các chủ thể pháp luật tự kiềm chế là những
xử sự thụ động, tự ghép mình vào tập thể, vào xã hội, đặt lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, tập thể lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích bộ phận cục bộ Pháp luật quy định mọi tổ chức và công dân không được thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, đó là những điều pháp luật cấm Đồng thời vì lợi ích chung,
Trang 28tùy theo tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc tổ chức, công dân phải làm một việc nào đó
- Chấp hành pháp luật quản lý trật tự xây dựng là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với hành động tích cực trong lĩnh vực đảm bảo trật tự xây dựng
Chẳng hạn:
a) Chủ đầu tư mua bảo hiểm công trình trong thời gian xây dựng đối với công trình có ảnh hưởng đến an toàn cộng đồng, môi trường, công trình
có yêu cầu kỹ thuật đặc thù, điều kiện thi công xây dựng phức tạp
b) Nhà thầu tư vấn mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn đầu
tư xây dựng đối với công việc khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng của công trình xây dựng từ cấp II trở lên
c) Nhà thầu thi công xây dựng mua bảo hiểm đối với người lao động thi công trên công trường
Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực
- Sử dụng pháp luật quản lý trật tự xây dựng là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật sử dụng quyền năng pháp lí (thực hiện những việc mà pháp luật cho phép) để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình cũng như của các chủ thể khác trong lĩnh vực quản lý trật tự xây dựng
Ví dụ: Nhà thầu tư vấn lập, quản lý dự án đầu tư xây dựng có các quyền
sau:
+ Yêu cầu chủ đầu tư cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm
vụ tư vấn được giao;
Trang 29+ Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm tư vấn của mình theo quy định của pháp luật;
+ Từ chối thực hiện yêu cầu trái pháp luật của chủ đầu tư;
Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện
- Áp dụng pháp luật quản lý trật tự xây dựng là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cá nhân
tổ chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật quản lý trật tự xây dựng Hoặc căn cứ vào các quy định của pháp luật quản lý trật tự xây dựng để đề ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt những quan hệ pháp luật liên quan đến xử lí hành vi trái pháp luật về quản lý trật tự xây dựng, kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến đảm bảo trật tự an toàn giao thông
Ví dụ: Trường hợp chánh thanh tra xây dựng ra quyết định xử phạt vi
phạm hành chính đối với trường hợp tổ chức giải phóng mặt bằng sai quy hoạch xây dựng hoặc dự án đầu tư xây dựng công trình đã được phê duyệt với
số tiền phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng
Ở đây, cá nhân, tổ chức tổ chức giải phóng mặt bằng sai quy hoạch xây dựng hoặc dự án đầu tư xây dựng công trình đã được phê duyệt là người, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính Chánh thanh tra xây dựng căn cứ các quy định của Luật Xây dựng và các văn bản pháp luật khác để ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính đối với người, tổ chức vi phạm
1.2.3.3 Những hình thức vi phạm trong quá trình thực hiện pháp luật
về quản lý trật tự xây dựng và biện pháp xử lý
Trang 30a Các hình thức vi phạm thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng
* Công trình không phép
Là những công trình đi vào khởi công mà vẫn chưa được phép của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn Việc xin phép với những công trình này là bắt buộc nhưng chủ đầu tư không xin cấp phép Hậu quả dẫn đến với những loại công trình này thường là xây dựng không đúng theo quy hoạch chi tiết của Quận, Huyện, Phường…, xây dựng không đúng chỉ giới đường đỏ dễ gây tranh chấp đất đai, các biện pháp thi công không được kiểm soát dễ gây ảnh hưởng tới môi trường xung quan, cảnh quan đô thị [2,điều 5]
Hành vi xây dựng không phép trên đất không đủ điều kiện để cấp giấy phép xây dựng xử lý bằng biện pháp dỡ bỏ Hậu quả dẫn đến những hoang phí về tiền của của công dân, của nhà nước và mất cảnh quan đô thị, gây ô nhiễm môi trường khi thực hiện dỡ bỏ…
* Công trình sai phép
Là những công trình xây dựng không đúng với thiết kế đã được duyệt, không đúng với nội dung GPXD đã cấp[2,điều 5] Những loại công trình này đều đã có xin phép xây dựng xong sau khi có giấy phép lại xây dựng không như trong giấy phép đã duyệt Hầu hết là xây lấn, xây tăng thêm so với giới hạn đã cho phép Những công trình này rất nhiều vì chủ đầu tư trong quá trình xây dựng thường lấy cớ là đã có GPXD để che mắt sau đó là thực hiện hành
vi xây dựng sai phép Hậu quả gây ra không đảm bảo an toàn khi sử dụng, không phù hợp quy hoạch, gây mất mỹ quan đô thị, gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, dỡ bỏ phần sai phạm gây lãng phí tiền của …
* Công trình xây dựng sai thiết kế được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt;
Trang 31Sai quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (đối với công trình được miễn phép xây dựng).[2,điều 5]
* Công trình xây dựng có tác động đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến môi trường cộng đồng dân cư.[2,điều 5]
Trường hợp này bao gồm cả hai loại công trình xây dựng có phép và công trình xây dựng không phép trong quá trình thi công gây lún nứt hoặc ảnh hưởng đến chất lượng công trình liền kề hoặc trổ cửa không đáp ứng quy chuẩn xây dựng Việt Nam…
b Các hình thức xử lý vi phạm trong thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng
- Buộc bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra;
- Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng;
- Ngoài các hình thức nêu trên thì đối với Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu tư vấn thiết kế, nhà thầu tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình có hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị còn bị nêu tên trên website của Bộ xây dựng và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.[2,điều7]
Công trình xây dựng không phép vẫn được xem xét cấp phép xây dựng, sau đó nếu đảm bảo một trong các điều kiện sau: xây trên đất ở có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà; xây dựng mới trên nền nhà cũ
Trang 32hoặc cải tạo nhà đang ở phù hợp qui hoạch xây dựng; công trình xây dựng có
đủ điều kiện về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Khi phát hiện, cơ quan chức năng sẽ lập biên bản ngừng thi công, yêu cầu chủ đầu tư làm thủ tục xin cấp GPXD
Nếu chủ đầu tư không chấp hành thì cơ quan chức năng đình chỉ thi công Trong thời hạn 60 ngày kể từ khi có quyết định đình chỉ thi công, nếu chủ đầu tư không xuất trình GPXD thì công trình sẽ bị cưỡng chế phá dỡ Sau khi được cấp GPXD, nếu công trình đã xây dựng sai nội dung giấy phép thì chủ đầu tư phải tự phá dỡ phần sai nội dung giấy phép được cấp mới được tiếp tục thi công Nếu không chấp hành thì công trình phải bị cưỡng chế, đồng thời chủ đầu tư phải chịu toàn bộ chi phí tổ chức cưỡng chế này
Nghị định cũng qui định trách nhiệm của các bên trong quá trình xây dựng công trình Theo đó, chủ đầu tư, nhà thầu thi công phải ngừng thi công công trình khi có biên bản ngừng thi công của cơ quan chức năng và phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra
Đơn vị giám sát, tư vấn thiết kế nếu thông đồng hoặc để chủ đầu tư, nhà thầu thi công làm sai thiết kế xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng còn bị
xử lý hình sự Chủ tịch UBND các cấp cũng phải chịu trách nhiệm về tình hình vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn
* Đối với việc xử lý vi phạm hành chính các công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị
Từ ngày 1/5/2009, Nghị định 23/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở, có hiệu lực thi hành có nêu: Trong hoạt động xây dựng, chủ đầu tư có các hành vi như tự thực hiện khảo sát xây dựng khi
Trang 33không đủ điều kiện năng lực, không thực hiện giám sát khảo sát xây dựng hoặc không tổ chức nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng sẽ bị phạt tiền từ 30-40 triệu đồng
Các chủ đầu tư vi phạm về trật tự xây dựng gồm tổ chức thi công xây dựng công trình không có GPXD, tổ chức thi công xây dựng sai thiết kế đã được thẩm định, phê duyệt; xây dựng sai quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với công trình xây dựng được miễn GPXD sau khi có quyết định đình chỉ thi công của cấp có thẩm quyền
mà chủ đầu tư vẫn tái phạm thì tùy theo mức độ vi phạm, quy mô công trình
vi phạm, sẽ bị xử phạt từ 300 - 500 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng GPXD (nếu có) Đối với các nhà thầu, nếu vi phạm một trong những hành vi như nghiệm thu khống, tổ chức bàn giao công trình cho chủ sở hữu, sử dụng công trình khi chưa tổ chức nghiệm thu theo quy định, báo cáo tài liệu, số liệu khảo sát không trung thực, không đúng quy định dẫn tới phải điều chỉnh thiết
kế 2 lần trở lên sẽ bị phạt từ 80 - 100 triệu đồng
Ngoài việc áp dụng các hình thức phạt tiền, phạt bổ sung và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định, một số hành vi vi phạm còn phải được công bố trên trang tin điện tử của Bộ Xây dựng và của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Ngày 10/10/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 121/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (sau đây gọi tắt là Nghị định 121/2013/NĐ-CP), thay thế cho Nghị định số 23/2009/NĐ-CP
Trang 34Trong đó, ngoài việc sửa đổi, bổ sung và quy định chi tiết các hành vi
vi phạm, đồng thời tăng nặng mức tiền xử phạt để có tác dụng phòng ngừa, răn đe các trường hợp vi phạm pháp luật, tăng cường quản lý trật tự xây dựng
đô thị, tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP còn có điểm mới so với Nghị định
số 23/2009/NĐ-CP trong việc quy định về xử lý vi phạm đối với một số trường hợp thi công xây dựng công trình sai phép, không phép, cụ thể là:
- Tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP quy định: Hành
vi quy định tại Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6 và Điểm b Khoản 7 điều này mà không vi phạm chỉ giới xây dựng, không gây ảnh hưởng các công trình lân cận, không có tranh chấp, xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được bằng 40% giá trị phần xây dựng sai phép, không phép đối với công trình là nhà ở riêng lẻ và bằng 50% giá trị phần xây dựng sai phép, không phép, sai thiết kế được phê duyệt hoặc sai quy hoạch xây dựng hoặc thiết kế đô thị được duyệt đối với công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng hoặc công trình chỉ yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình Sau khi chủ đầu tư hoàn thành việc nộp phạt thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng.[4,điều 13]
- Tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP quy định về xử
lý chuyển tiếp đối với các trường hợp xây dựng sai phép, không phép quy định tại khoản 9, khoản 10 Điều 13 Nghị định này Quy định mới này nhằm
để xử lý một số trường hợp xây dựng sai phép, không phép, sau khi hoàn thành xây dựng đưa vào sử dụng mới bị phát hiện, trong trường hợp nếu buộc phá dỡ thì cũng gây lãng phí lớn cho xã hội, có những trường hợp đã kéo dài nhiều năm nhưng cũng chưa xử lý được triệt để Các công trình áp dụng quy định này phải đảm bảo điều kiện không vi phạm chỉ giới xây dựng, không gây ảnh hưởng các công trình lân cận, không có tranh chấp, xây dựng trên đất
Trang 35thuộc quyền sử dụng hợp pháp, chứ quy định mới này không áp dụng đối với tất cả các công trình xây dựng sai phép, không phép.[4,điều 70]
Ngày 12/02/2014, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 02/2014/TT/BXD hướng dẫn một số điều của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, trong đó có một số điều hướng dẫn cụ thể khoản 9 Điều 13 và khoản 2 Điều
70 của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, cụ thể là:
- Tại Điều 8 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD hướng dẫn phương pháp tính giá trị phần xây dựng sai phép, không phép, sai thiết kế được duyệt, sai quy hoạch hoặc sai thiết kế đô thị được duyệt đối với các công trình quy định tại khoản 9 Điều 13 của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP
- Tại Điều 11 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD hướng dẫn cụ thể về
xử lý chuyển tiếp các trường hợp vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 70 của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP
Trên thực tế, Thông tư số 02/2014/TT-BXD không có quy định thêm hoặc quy định khác so với Nghị định số 121/2013/NĐ-CP về các trường hợp xây dựng sai phép, không phép được nộp tiền phạt và cho tồn tại, không cưỡng chế phá dỡ đã được quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định này.[1] Tuy nhiên, sau khi Thông tư số 02/2014/TT-BXD được ban hành, đã có nhiều
ý kiến khác nhau, trong đó có những ý kiến không đồng tình với quy định phạt tiền và cho tồn tại đối với các trường hợp xây dựng sai phép, không phép quy định tại khoản 9 Điều 13, khoản 2 Điều 70 của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và hướng dẫn cụ thể tại Điều 8, Điều 11 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD với quan ngại rằng việc thực hiện quy định này có thể làm gia tăng các trường hợp sai phạm, ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị
Trang 36c Nguyên tắc xử lý vi phạm trong thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng
- Mọi hành vi vi phạm về trật tự xây dựng phải được phát hiện kịp thời
và bị đình chỉ ngay để xử lý.Việc xử lý vi phạm phải được tiến hành nhanh chóng công minh, triệt để mọi hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.[4,điều2]
- Một hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính một lần, việc tái phạm phải được xem là hành vi vi phạm mới để xử phạt Việc xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp.[16,điều 3]
- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà dung túng, bao che không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không công minh, không đúng thẩm quyền thì tuỳ theo tính chất, mức độ sai phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính có hành vi chống đối người thì hành công vụ, trì hoãn, trốn tránh thi hành quyết định xử phạt hoặc
Trang 37Thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng là phương tiện thể chế hoá quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về công tác xây dựng Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý trật tự xây dựng, Đảng Cộng sản Việt Nam, trong nhiều văn kiện Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương và
Bộ Chính trị luôn dành sự quan tâm lớn cho công tác quản lý trật tự xây dựng, lần lượt đưa ra các chủ trương lớn cho công tác thanh tra xây dựng, điều kiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, chính sách, chế độ đối với những người làm công tác quản lý trật tự xây dựng, đặc biệt chú ý đến cơ chế tổ chức và hoạt động thanh tra xây dựng, đồng thời cũng nhấn mạnh phải kịp thời ban hành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác
tổ chức và hoạt động của thanh tra xây dựng Đường lối, chính sách của Đảng chỉ đạo phương hướng xây dựng pháp luật, chỉ đạo nội dung pháp luật
và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện pháp luật Nhận thức rõ vai trò quan trọng của phát triển đô thị trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã chỉ rõ trong nghị quyết: “Đổi mới cơ chế, chính sách, kiểm soát chặt chẽ quá trình phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch Từng bước hình thành hệ thống đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thân thiện với môi trường, gồm một số đo thị lớn, nhiều đô thị vừa và nhỏ liên kết và phân bố hợp lý trên các vùng Nâng cao chất lượng đô thị, tính đồng bộ và năng lực cạnh tranh của các đô thị; chú trọng phát huy vai trò, giá trị đặc trưng của các đô thị động lực phát triển kinh tế cấp quốc gia và cấp vùng ” Do vậy chính sách và quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước là yếu tố quan trọng để thực hiện pháp luật quản lý trật tự xây dựng thể chế hóa đúng đắn, kịp thời và đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng, đưa công tác này đi vào cuộc sống
1.3.2 Sự đồng bộ, thống nhất của qui trình, thủ tục thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng
Trang 38Thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng giống như bất kỳ các hoạt động quản lý nhà nước nào đều được thực hiện bằng một loại các hành động nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định do pháp luật quy định Thủ tục thực hiện pháp luật về quản lý trật tự xây dựng là phương tiện tổ chức thực hiện các nội dung về quản lý xây dựng Các quy định pháp luật về thực hiện pháp luật quản lý xây dựng chỉ có thể thực hiện được thông qua các quy phạm thủ tục Bởi vì, thực hiện pháp luật về QLXD không mặc nhiên thực hiện mà không cần bất cứ một thủ tục nào Điều này cũng chính là đặc quyền của Nhà nước, chỉ có thể thực hiện thông qua hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước Việc tiến hành THPL về QLXD không thông qua các quy phạm thủ tục đều là sự VPPL
Thực hiện pháp luật về QLXD được thực hiện như thế nào phụ thuộc vào những quy định trong thủ tục áp dụng Việc đặt ra những thủ tục không hợp lý, hoặc không đầy đủ làm hạn chế hiệu quả THPL về QLXD, thậm chí trong một số trường hợp nó còn làm nguy cơ xâm hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức Trong thực tế, Nhà nước với hệ thống quản
lý yếu kém thường hành xử theo hướng có lợi cho công tác quản lý của mình hơn là quan tâm đến việc bảo vệ các quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức
Cùng với thủ tục THPL về QLXD thì thẩm quyền về QLXD là một trong những yếu tố tác động quan trọng Nhìn vào cơ chế áp dụng có thể thấy rằng thẩm quyền về QLXD có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra cơ chế thích hợp để THPL về QLXD trong từng vụ việc xảy ra trên thực tế
Trong mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở các ngành, lĩnh vực khác nhau, sự phân định thẩm quyền về QLXD trước hết là điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền về QLXD diễn ra bình thường, không chồng chéo, dẫm chân lên nhau Trong phạm vi
Trang 39ngành, lĩnh vực quản lý, các quy định về thẩm quyền giúp cho người có thẩm quyền phòng ngừa xác định được vụ việc cụ thể có thuộc thẩm quyền của cấp mình hay không và giúp cấp trên của họ dễ dàng hơn trong đánh giá kết quả hoạt động, cũng như xác định trách nhiệm của cấp dưới Ở cấp độ cao hơn, việc xác định thẩm quyền QLXD giữa các cấp, ngành một cách hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động QLXD
Thẩm quyền QLXD không chỉ có ý nghĩa với chủ thể có thẩm quyền
mà nó còn có ý nghĩa quan trọng với các đối tượng quản lý Thông qua việc quy định thẩm quyền QLXD, một mặt Nhà nước trao quyền QLXD cho các chủ thể nhất định, mặt khác nó lại là giới hạn phạm vi quyền lực của các chủ thể đó Giới hạn này là một trong những phương tiện để công dân, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Khi này, thẩm quyền QLXD là một bảo đảm cho việc áp dụng đúng đắn các biện pháp QLXD
Khi thẩm quyền QLXD được trao phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước, đảm bảo tính hợp lý giữa các chức danh được trao quyền, giữa chức danh với biện pháp QLXD được áp dụng; đồng thời trao quyền gắn với các quy định về giới hạn thẩm quyền sẽ là những yếu
tố tác động quan trọng cho việc THPL về QLXD có hiệu quả
1.3.3 Năng lực, phẩm chất của cán bộ công chức làm nhiệm vụ quản
lý trật tự xây dựng
Thực hiện pháp luật về QLXD có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào người thực thi pháp luật Họ chính là người nhân danh quyền lực Nhà nước, áp dụng cưỡng chế nhằm tới cá nhân, tổ chức Vì vậy, hiệu quả thực thi thẩm quyền trong THPL về QLXD hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức có thẩm quyền
Trang 40Quá trình THPL về QLXD chịu sự tác động rất lớn của các yếu tố chủ quan như vấn đề năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức pháp luật, chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức thực thi thẩm quyền được giao
Sự hạn chế về năng lực chuyên môn nghiệp vụ và chế độ trách nhiệm lỏng lẻo có thể dẫn tới tình trạng vận dụng THPL về QLXD không đúng pháp luật do thiếu hiểu biết hoặc do tiêu cực Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức trước hết biểu hiện ở thái độ của cán bộ, công chức đối với việc thực thi công vụ của mình, đối với các quyền của đối tượng THPL về QLXD Ý thức pháp luật đòi hỏi hành xử của cán bộ, công chức thực thi THPL về QLXD theo pháp luật - chỉ làm những gì pháp luật cho phép; đòi hỏi phải đánh giá đúng và tôn trọng các quyền con người, quyền công dân trong THPL về QLXD Ý thức pháp luật cao, sự lạm quyền của cán bộ, công chức nhà nước
sẽ giảm bởi nhiều khi lạm quyền không phải do yếu tố bộ máy hay thể chế mà
do yếu tố đạo đức, ý thức của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “có đức mà không có tài, làm việc gì cũng khó Có tài mà không có đức là người
vô dụng” Xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức với ý thức pháp luật và năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao là một trong những đảm bảo pháp lý quan trọng trong THPL về QLXD
1.3.4 Cơ chế kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật về quản lý xây dựng
Để quản lý đất nước, quản lý xã hội, Nhà nước phải ban hành pháp luật, đồng thời cũng chính Nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Trong quá trình đó, Nhà nước cần có cơ chế giám sát để xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật của cơ quan chức năng, của các tổ chức và cá nhân như thế nào và xem xét tính hiệu quả của hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành trên thực tế