1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia tỉnh đắk lắk giai đoạn 2017 2020

107 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp tục khẳng định quan điểm "GD&ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân", tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng các vấn đề liên quan đến GD&ĐT đã được

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

GIAI ĐOẠN 2017-2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2017

Trang 2

GIAI ĐOẠN 2017-2020

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Minh Hùng

Nghệ An, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xây dựng trường học đạt CQG là chủ trương lớn mang tính chiến lược của của Đảng, Nhà nước và của Ngành giáo dục và đào tạo, được toàn xã hội quan tâm Là một cán bộ phòng Giáo dục Tiểu học, Sở Giáo dục và Đào tạo phụ trách tham mưu công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, là làm thế nào để tham mưu quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia đạt hiệu quả cao Trên cơ sở lý luận, vốn kiến thức và những kinh nghiệm trong quá trình công tác của bản thân cùng với sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô giáo, các bạn đồng

nghiệp…, luận văn “Giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt

chuẩn quốc gia tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2017-2020” của tôi đã được hoàn thành

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo giảng viên trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập Đặc biệt xin cảm ơn PGS.TS Phạm Minh Hùng đã trực tiếp giúp đỡ tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Lắk đã động viên giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã cố gắng nhiều, song luận văn không tránh được những hạn chế, thiếu sót, mong nhận được sự góp ý, bổ sung để luận văn hoàn chỉnh hơn, góp phần vào thực tế việc quản lý xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Chiêu

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu

Nội dung

1.3 Khái quát về công tác xây dựng trường chuẩn 30 1.4 Vấn đề quản lý công tác xây dựng trường chuẩn 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY

DỰNG TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA TỈNH

ĐẮK LẮK

43

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và giáo dục tỉnh

2.2 Thực trạng công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG tỉnh Đắk

2.3 Thực trạng quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG

Trang 5

2.4 Đánh giá thực trạng công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY

DỰNG TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA TỈNH ĐẮK LẮK.

70

3.2 Các giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BCHTW Ban chấp hành Trung ương

CQG Chuẩn quốc gia

CSVC Cơ sở vật chất

CNH- HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia GDTH Giáo dục Tiểu học

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

HS, GV, CBQL Học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý HĐND Hội đồng nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên 2011- 2016. 45 Bảng 2.2 Số lượng trường, lớp, học sinh 2011- 2016

46 Bảng 2.3 Kinh phí đầu tư cho giáo dục trong thời gian qua 48 Bảng 2.4 Trình độ đào tạo CBQL, GV, NV trường tiểu học

Bảng 2.8 Thống kê tình hình loại hình trường, trường đạt

MCLTT, trường đạt CQG, trường dạy học 2 buổi/ngày theo huyện năm 2016

57

Bảng 2.9 Kế hoạch xây dựng trường TH đạt CQG tỉnh Đắk

Bảng 3.1 Kết quả thăm dò GV-NV trường TH về sự cần thiết

Bảng 3.2 Kết quả thăm dò cán bộ quản lý trường TH, lãnh

đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT về tính khả thi của các giải pháp đề xuất

85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, giáo dục được coi là nền móng của sự phát triển khoa học kỹ thuật và đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân, là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia và mỗi con người trong cuộc sống của mình Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi GD&ĐT là

sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Nghị quyết Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ IV khoá VII (tháng 1/1993), lần thứ II khoá VIII (tháng 12/1996)

đã xác định cùng với KH-CN, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Đồng thời, các nghị quyết đó cũng khẳng định về đổi mới nội dung, phương pháp GD&ĐT, nâng cao chất lượng đội ngũ GV, CBQL và tăng cường CSVC các trường học là một nhiệm vụ trọng tâm của GD&ĐT Cũng trong Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ II khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH- HĐH đất nước đã chỉ rõ những nhiệm

vụ trọng tâm của giáo dục đào tạo, trong đó có việc xây dựng và ban hành CQG các trường học

Tiếp tục khẳng định quan điểm "GD&ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân", tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng các vấn đề liên quan đến GD&ĐT đã được khẳng định:

“Phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” ."Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng tiếp tục đề ra quan điểm và phương hướng cơ bản về phát triển GD&ĐT đó là “Đổi mới tư duy về giáo dục một cách nhất quán từ mục tiêu, nội dung, chương trình đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để đào tạo được chuyển biến cơ bản và toàn

Trang 9

diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và trên thế giới”

Nghị quyết số 29 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã xác định mục tiêu: “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [3]

Trong Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới trong đó có tiêu chí về trường học: “ Tỷ lệ trường học các cấp Mầm non, Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia” Đối với vùng Tây nguyên chỉ tiêu 70% [ 34 ]

Để thực hiện mục tiêu trên cần phải đổi mới căn bản, toàn diện nền GD&ĐT nước nhà, GDTH là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, “đặt cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên trung học cơ sở” Thực hiện chuẩn hóa bậc học này, Bộ GD&ĐT đã sớm triển khai kế hoạch xây dựng trường tiểu học đạt CQG và xem đây là giải pháp có tính chiến lược để nâng cao chất lượng GDTH

Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, ngành giáo dục đã ban hành nhiều văn bản pháp quy để đưa vào thực hiện Đó là:

- Từ năm 1997 Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế ban hành công nhận trường TH đạt CQG (Quyết định số 1336/1997/QĐ-BGDĐT đối với trường

Trang 10

TH, Quyết định số 45/2001/QĐ-BGDĐT đối với trường Mầm non, Quyết định số 27/2001/QĐ-BGDĐT đối với trường THCS)

- Để phù hợp, Bộ GD&ĐT đã ban hành các quyết định và thông tư quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường học đạt CQG thay thế để phù hợp với yêu cầu mới ( cấp tiểu học Quyết định số 32/2005, hiện nay là Thông

tư 59/2012 Bậc học Mầm non Quyết định số 36/2008, hiện nay Quyết định 02/2014, đối với cấp học THCS là Thông tư 36)

- Tiếp theo đó là việc xây dựng và ban hành các chuẩn nghề nghiệp giáo viên TH, THCS, MN; chuẩn hiểu trưởng trường TH, THCS, MN … các văn bản này sẽ tạo thành một hệ thống các quy định làm cơ sở cho việc theo dõi, kiểm tra, đánh giá

Để thực hiện mục tiêu trên cần phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà GDTH là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân,

“đặt cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên trung học cơ sở” Như vậy, GDTH có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Hiệu trưởng các trường TH quản lý trực tiếp mọi hoạt động của nhà trường Vì vậy, cấp học TH muốn vững chắc trước hết những người làm công tác quản lý nhà trường phải có năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao, đặc biệt phải là người quản lý giỏi

Mục đích của công tác quản lý là nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động nhà trường, trong đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là nhiệm vụ cơ bản, đầu tiên của các nhà trường Đây chính là điều kiện để nhà trường tồn tại và phát triển Thực tế cho thấy, công tác quản lý trường học nói chung, quản lý trường tiểu học nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế; đặc biệt là công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG ở một tỉnh miền núi, còn nhiều khó khăn như tỉnh Đắk Lắk

Với những lý do nêu trên, thì thực trạng ấy cần phải giải quyết; bởi lẽ có xây dựng được nhiều trường tiểu học đạt CQG thì mới tạo ra được những tiền

Trang 11

đề cần thiết về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục một cách toàn diện đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước

Nhận thức được công tác xây dựng trường đạt CQG là giải pháp có tính chiến lược để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nên thời gian qua, các cấp uỷ đảng, chính quyền trên địa bàn tỉnh luôn xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển KT-XH của địa phương Bên cạnh đó, hầu hết nhân dân, phụ huynh học sinh thấy rõ vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng trường học CQG nên đều đồng lòng, sẵn sàng ủng hộ, cộng tác với ngành giáo dục và các nhà trường trong việc xây dựng các tiêu chí của trường chuẩn Trong những năm qua, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành nhiều kế hoạch, nghị quyết để quản lý, chỉ đạo xây dựng trường học đạt CQG trên địa bàn: Nghị quyết số 94/2013/NQ-HĐND ngày 19/7/2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk; Quyết định số 657/QĐ-UBND ngày 05/4/2013 của UBND tỉnh về quy hoạch phát triển GD&ĐT tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2025; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015-2020 về thực hiện các chỉ tiêu liên quan đến lĩnh vực giáo dục, trong đó có chỉ tiêu về trường CQG; Kế hoạch số 1276/UBND-KGVX ngày 04/01/2016 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc xây dựng trường đạt CQG giai đoạn 2016 – 2020; Kế hoạch số 1225/KH-UBND ngày 23/2/2017 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc xây dựng trường đạt CQG giai đoạn 2017 –

2020 …

Đến cuối năm 2016, Đắk Lắk đã quản lý xây dựng được 352 trường đạt CQG từ Mầm non đến Trung học phổ thông, trong đó cấp tiểu học xây dựng được 196 trường (chiếm tỷ lệ 46,2% số trường tiểu học trong toàn tỉnh) Tuy nhiên, vẫn còn trên 53,8% số trường tiểu học của tỉnh chưa đạt CQG Điều đó đòi hỏi ngành giáo dục phải tăng cường quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG giai đoạn 2017-2020 của địa phương bằng các giải pháp đồng

bộ, hiệu quả và khả thi

Trang 12

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2017- 2020” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2017-2020

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Vấn đề quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2017-2020

4 Giả thuyết khoa học:

Nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi thì có thể nâng cao hiệu quả quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2017-2020, góp phần nâng cao chất lượng GDTH của tỉnh Đắk Lắk

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG

5.1.2 Khảo sát thực trạng quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG tỉnh Đắk Lắk

5.1.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học

đạt CQG tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2017-2020

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Vì điều kiện về thời gian, chúng tôi chỉ lựa chọn nghiên cứu trong phạm

vi một số trường tiểu học ở vùng thuận lợi, vùng bình thường và vùng khó khăn đang trong lộ trình xây dựng trường tiểu học đạt CQG mức độ 1; tìm

Trang 13

hiểu thực trạng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, tiến độ xây dựng, thực trạng công tác quản lý ở các nhà trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk theo 5 tiêu chuẩn được quy định tại Thông tư 59/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012 của Bộ GD&ĐT và các giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng

cơ sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phân tích tài liệu có liên quan đến đề tài về vị trí, chức năng cấp TH; vai trò, mục tiêu của trường TH, nội dung các tiêu chuẩn của trường CQG như: Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII; Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; Luật giáo dục; Điều lệ trường tiểu học; Thông tư 59/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt CQG (có điều chỉnh để phù hợp theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học và Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT điều chỉnh một số điều của Thông tư 30)…

- Phân tích các tài liệu có liên quan đến việc phát triển trường tiểu học qua các thời kỳ lịch sử Tài liệu, kỷ yếu khoa học; thông tin khoa học giáo dục

về xu thế phát triển GDTH một số nước trên thế giới…

- Phân tích tài liệu về kinh nghiệm xây dựng trường tiểu học đạt CQG một số địa phương và trong cả nước từ năm 2001 đến năm 2016

- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Về thực chất tổng kết kinh nghiệm là tìm ra các điển hình tiêu biểu để nhân rộng và các điển hình xấu để ngăn ngừa

và loại bỏ; với các nhiệm vụ cơ bản là phát hiện điển hình, đánh giá tình tình, tìm ra nguyên nhân và khả năng phát triển

Trang 14

6.2 h m phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp điều tra: Điều tra, khảo sát thực trạng các trường tiểu học

ở Đắk Lắk trong năm học 2016 – 2017 theo các tiêu chuẩn trường tiểu học đạt CQG mức độ 1

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục: Nghiên cứu tổng hợp các đánh giá về tình hình phát triển GDTH ở Đắk Lắk trong những năm gần đây Trò chuyện, phỏng vấn trực tiếp với một số hiệu trưởng trường tiểu học, cán bộ quản lý GDTH của các Phòng GD&ĐT huyện (TX,TP)

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động: Quan sát, đánh giá thực trạng các trường CQG về: nề nếp hoạt động của nhà trường; tình hình học tập và sinh hoạt của học sinh, tình hình giảng dạy của giáo viên và công tác quản lý các hoạt động của nhà trường

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia để hoàn chỉnh các giải pháp và tính khả thi của chúng gồm: Hiệu trưởng trường tiểu học; cán bộ quản lý cấp tiểu học cấp huyện (TX, TP), ý kiến của đại diện cấp

ủy huyện (TX, TP), xã, phường, thị trấn và phụ huynh học sinh

- Phương pháp khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất: Điều tra, khảo sát thực trạng các trường tiểu học ở Đắk Lắk trong năm học 2016 – 2017 theo các tiêu chuẩn trường tiểu học đạt CQG

6.3 Phương pháp thống kê toán học

- Sử dụng các phương pháp toán thống kê với sự trợ giúp của chương trình phần mềm SPSS để thống kê các số liệu điều tra, có số liệu giúp cho công tác đánh giá

- Sử dụng các phần mềm tin học để hoàn thiện các biểu mẫu thực hiện điều tra và tổng hợp

7 Đóng góp của luận văn

7.1 Đ ng g p về mặt lý luận

Trang 15

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về xây dựng trường tiểu học đạt

CQG và quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

7.2 Đ ng g p về mặt thực tiễn

Làm rõ thực trạng xây dựng và quản lý công tác xây dựng trường tiểu

học đạt CQG tỉnh Đắk Lắk trước đây, từ đó đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2017-2020

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG

Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG tỉnh Đắk Lắk

Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2017-2020

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG

TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Tiêu chuẩn quốc tế phân loại giáo dục (ISCED) được thiết kế bởi UNESCO vào đầu những năm 1970 để phục vụ như một công cụ thích hợp để lắp ráp, lập và trình bày số liệu thống kê của giáo dục cá nhân cả trong nước

và quốc tế Nó đã được sự chấp thuận của Hội nghị quốc tế về giáo dục (Geneva), 1975) Sau đó đã được xác nhận bởi UNESCO ( Paris, 1978)

Việc phân loại hiện nay, được gọi là ISCED 1997 bao gồm chủ yếu là phân loại hai biến số: cấp và các lĩnh vực giáo dục

Bộ sưu tập chương trình của UNESCO luôn được điều chỉnh để có các tiêu chuẩn phù hợp Các nước thành viên được mời để áp dụng trong báo cáo thống kê giáo dục để tăng tính so sánh quốc tế, tăng cường phối hợp giữa các quốc gia

Tiêu chuẩn quốc tế phân loại giáo dục thành 5 bậc:

- Bậc 0: Dự bị giáo dục tiểu học

- Bậc 1: GDTH (Primary education) hoặc giai đoạn đầu tiên của giáo dục

cơ bản (Fist stage of basic education)

- Bậc 2: Trung học cơ sở (Lower secondary education) hoặc giai đoạn thứ hai của giáo dục cơ bản ( Second stage of basic education)

- Bậc 3: Giáo dục trung học bậc cao (Upper sencondary education)

- Bậc 4: Giáo dục sau trung học và trước đại học ( Post-Sencondary non tertiary education)

Ở mỗi bậc học đều có tiêu chí phân loại Đối với THCS chuẩn xây dựng các tiêu chí như sau:

- Các tiêu chí chính:

+ Hình thành các môn học, học sinh học tập theo các môn học và sử dụng nhiều giáo viên theo các chuyên môn khác nhau

Trang 17

+ Nhà trường hoàn thành đầy đủ các kỹ năng cơ bản cho người học

- Các tiêu chí hỗ trợ:

+ Nhập học sau 6 năm ở tiểu học, đã hoàn thành chương trình tiểu học + Kết thúc bậc học sau 9 năm học kể từ khi bắt đầu học tiểu học

+ Kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc (phổ cập)

+ Giáo viên dạy theo các môn học chuyên môn

* Giáo dục Trung quốc: Trung quốc đã đạt những tiến bộ rất lớn trong

hơn 60 năm qua về giáo dục, nhưng sự nghiệp phổ cập GDTH vẫn còn nhiều gian nan, nhất là tại các vùng nông thôn Vì vậy Hội đồng nhà nước và các chính quyền địa phương đang tiến hành một số biện pháp để định hướng phát triển bậc tiểu học như: Phổ cập GDTH thông qua 2 kênh: những trường do nhà nước quản lý chính quyền khuyến khích các tổ chức cũng như cá nhân cùng làm Nhà nước có hỗ trợ đặc biệt cho các vùng thôn quê nghèo lạc hậu

để hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học Chính quyền địa phương và các tổ chức quần chúng cố gắng trợ giúp nông thôn khắc phục các khó khăn đang đặt ra cho giáo dục tiểu học Trường tiểu học vùng nông thôn có thể cung cấp

sự giáo dục dưới nhiều dạng và điều chỉnh chương trình giảng dạy cho phù hợp với điều kiện địa phương; có các chính sách ưu tiên để khuyến khích trẻ

em nữ đi học; tiến hành các chương trình đào tạo mở rộng để cung cấp năng lực chuyên môn cho giáo viên nhất là các vùng nông thôn Trong khuôn khổ chung, cải cách giáo dục nông thôn đang được tiến hành với mục tiêu nhắm vào các yêu cầu phát triển xã hội hoặc phát triển trẻ em Người ta tin rằng giáo dục phải phát triển phù hợp với thực tế và do vậy phải kết hợp với sản xuất và cuộc sống Dưới sự chỉ đạo của chính quyền Trung ương, tất cả các địa phương tiến hành thử nghiệm về cải cách giáo dục tiểu học

* Giáo dục Thái Lan: Hệ thống các trường tiểu học được hình thành

theo sáng kiến của Vua Chulalongkorn (1868 – 1910), ông đánh giá giáo dục

là chìa khóa cung cấp sự bình đẳng cho mọi trẻ em Trường tiểu học đầu tiên được thành lập ở Bangkok năm 1898 Thái Lan xác định GDTH là bậc học nền tảng nhằm hình thành các yếu tố ban đầu của cuộc sống để các em có thể

Trang 18

thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của một người công dân trong xã hội dân chủ lập hiến Mỗi học sinh sẽ được trang bị các kiến thức, kỹ năng cơ bản cần thiết cho cuộc sống hằng ngày, để có thể tiến kịp với sự thay đổi của xã hội; rèn luyện sức khỏe về thể chất và tinh thần để có thể làm việc hiệu quả và

có cuộc sống hài hòa Mục tiêu chương trình tiểu học đã được điều chỉnh sửa đổi năm 1990 là: Giáo dục cơ sở cho tất cả trẻ em; cung cấp các kỹ năng sống trong đời sống hằng ngày cho tất cả học sinh; thống nhất giữa nội dung chương trình quốc gia và nội dung của địa phương

* Giáo dục Singapore: Trong những năm gần đây, Singapore đã vươn

lên thành một trong những con rồng Châu Á về sự phát triển kinh tế, trong đó

có sự đóng góp của ngành giáo dục, GDTH được quan tâm đáng kể Nhiệm

vụ của giáo dục là: phát triến tối đa khả năng và tài năng của trẻ; giúp trẻ lớn lên thành một người lớn có trách nhiệm, trung thành với Tổ quốc, quan tâm chăm sóc gia đình; có khả năng lao động để sống; tiếp tục tập trung phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu của đất nước về một lực lượng lao động

có tay nghề và được giáo dục tốt; khắc sâu những giá trị Châu Á như một nền tảng văn hóa, trang bị cho học sinh tri thức, kỹ năng và thái độ cần thiết giúp các em lao động để sống trong nền kinh tế hiện đại

Ngoài ra, chính phủ cũng đưa ra một số tiêu chuẩn cho việc xây dựng trường sở, tuyển lựa giáo viên, thu nhận học sinh Ở Singapore không có khái niệm “trường chuyên, lớp chọn”, nhưng các trường được phụ huynh đánh giá

là “ nổi tiếng” hoặc “bị tai tiếng” tùy theo chất lượng đào tạo

* Giáo dục Hàn Quốc: Hơn 60 năm qua, Hàn Quốc đã có một sự canh

tân rất lớn về tiêu chuẩn giáo dục và đang tiếp tục canh tân với các biện pháp chính đã làm là: Cung cấp giáo dục miễn phí; xây dựng trường mới và mở rộng trường học; giảm tổn phí GDTH tính trên mỗi đơn vị thông qua các việc như giữ cho quy mô trường và quy mô lớp lớn; áp dụng hệ thống hai đến ba ca; giáo viên được đào tạo với chi phí thấp, được trả lương thấp, các trường nông thôn được nghỉ ngắn hạn trong vụ mùa; lập những thủ tục hiệu quả để buộc cha mẹ hoặc người bảo trợ phải cho trẻ đến trường tiểu học; thiết lập các

Trang 19

trường công nhằm đáp ứng nhu cầu trẻ em ở độ tuổi đi học nhưng đã lớn tuổi; cha mẹ hiểu được tầm quan trọng của giáo dục và trở nên quen thuộc với các trường tiểu học, là do sự thành công của những chương trình xóa nạn mù chữ; cung cấp bữa cơm miễn phí tại trường cho trẻ em nghèo; khuyến khích cha

mẹ cũng như học sinh nhận thức rằng giáo dục là “con đường vương giã” dẫn đến một cuộc sống tốt đẹp hơn

* Giáo dục Malaysia: Với nhiều sửa đổi, Malaysia đã có những tiến bộ

đáng kể về giáo dục, đặc biệt là trong GDTH vào những năm gần đây Mặc dù nước này vừa hoàn thành xong cuộc cải tổ giáo dục tiểu học, song vẫn còn nhiều vấn nạn như: chất lượng kém, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, kinh tế - xã hội khó khăn, trẻ đị học thấp, cha mẹ thiếu quan tâm đến chuyện học hành của con, và thiếu trang thiết bị trường học cần thiết Vì vậy Chính phủ phải đề ra những giải pháp hợp lý: Canh tân cơ sở hạ tầng của việc dạy và học; cung cấp trường lớp mới và cơ sở vật chất tốt hơn; cung cấp sữa miễn phí và có kế hoạch nuôi ăn bổ sung Cho mượn sách giáo khoa; thành lập hội giáo viên – phụ huynh ( Parents – Teachers Association – PTA ) tại tất cả các trường

Để cải thiện việc cho học tiểu học tại các vùng nông thôn co các giải pháp: Cấp thêm tài chính và trang bị cơ sở vật chất thích đáng cho các trường nông thôn; phát triển giáo dục mẫu giáo miễn phí; cơ quan nhà nước và xã hội góp phần tương ứng giúp đỡ những người bị thiệt thòi, nhất là xóa đói giảm nghèo; cộng đồng cần góp phần nhiều hơn nữa vào giáo dục thông qua các phương tiện như tham gia vào PTA [ 30 ]

* Giáo dục Nhật Bản: Một hệ thống giáo dục toàn quốc hiện đại đã

được đưa vào Nhật năm 1872 khi Chính phủ lập ra các trường tiểu học và trung học khắp cả nước Năm 1886 trẻ em học tiểu học từ 3-4 năm Năm 1908 giáo dục phổ cập kéo dài 6 năm Sau 1945, giáo dục phổ cập kéo dài 9 năm bao gồm cả trung học cơ sở Cơ cấu và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống giáo dục hiện nay được nêu ra trong hai đạo luật thông quan vào năm 1947: Luật giáo dục cơ bản và luật giáo dục trường học Các luật này đã đặt ra mục

Trang 20

đích cho giáo dục là: giáo dục phải nhằm mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách, phấn đấu nuôi dưỡng một dân tộc hùng mạnh về tinh thần và thể chất, một dân tộc yêu công lý và sự thật, đánh giá cao các giá trị cá nhân, tôn trọng lao động, có ý thức về trách nhiệm và thấm nhuần tinh thần độc lập, để trở thành người xây dựng một nhà nước và xã hội hòa bình [22]

* Giáo dục Australia: Mục tiêu của các trường tiểu học: Nuôi dưỡng

phát triển một trẻ em toàn diện về các mặt tri thức, thể chất, tình cảm, nhân cách và tinh thần; đáp ứng các nhu cầu của tất cả các em và bù đắp cho những khiếm khuyết của các em; cung cấp nhiều cơ hội cho trẻ em, để các em đạt được thành công và phát triển tính tự tin qua việc chấp nhận thách thức và vượt qua thách thức; cung cấp các chương trình qua đó trẻ em học được cách yêu cầu, phản ánh, đánh giá một cách thông minh, trao đổi tư tưởng, tình cảm, hợp tác với mọi người, và tự hài lòng với những giá trị kết quả đạt được; phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ và các giá trị, từ đó sẽ cho phép trẻ em đóng góp và tham gia một cách đầy đủ vào xã hội Australia, Ngoài ra còn có các mục tiêu khác nhằm vào các vấn đề của thành viên trong một xã hội đa văn hóa, trách nhiệm đối với môi trường, nhu cầu về kinh tế, văn hóa và xã hội của quốc gia

Một trường tiểu học tốt là một môi trường học tạp mà ở đó trẻ em và người lớn cảm thấy được đón tiếp , được chấp nhận, được khích lệ, được tôn trọng, an toàn, phấn khởi, có thách thức và là nơi được kỳ vọng lớn, có chất lượng học tập, đạt được cơ hội và mục đích lớn [ 37]

* Giáo dục Mỹ: Nước Mỹ có một cơ cấu giáo dục riêng mà một số nhà

quan sát xem như tiêu biểu, chí ít cũng về mặt cấu trúc, cho xu hướng tại phần lớn các xã hội đã công nghiệp hóa Nước Mỹ không có truyền thống tách biệt giữa tiểu học và trung học, cho nên từ xưa đến nay, giáo dục phổ thông nước này bao gồm liên tục cả tiểu học và trung học Ở đây việc giáo dục thuộc trách nhiệm của bang, do đó giữa các bang có sự khác nhau về mặt cơ cấu Tuy nhiên, nhìn chung trẻ em ở lứa tuổi 6 bắt đầu bước chân đến trường Tùy theo ý thích của cộng đồng, GDTHcó thể kéo dài từ 6 đến 8 năm Mặc dù có

Trang 21

khác biệt với nhau rất lớn, các trường tiểu học tại Mỹ có khuynh hướng cung cấp một môi trường học thoải mái và một mối quan hệ thầy trò dễ dãi hơn

nhiều so với hầu hết các nước khác trên thế giới [30 ]

Trên thế giới cuộc cách mạng khoa học – công nghệ sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 21, nhân loại từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, sẽ có những biến đổi sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Từ phát minh khoa học – công nghệ đến áp dụng vào thực tiến khoảng cách ngày càng thu hẹp lại, kho tàng kiến thức của nhân loại ngày càng tăng lên không ngừng Toàn cầu hóa với hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan Sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng quyết liệt hơn nên cần phải tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa và đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng Các phương tiện truyền thông, mạng viễn thông, internet tạo thuận lợi cho giao lưu và hội nhập, nhưng cũng diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học – công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của thế hệ hôm nay và mai sau Đổi mới giáo dục diễn ra trên quy mô toàn cầu Tình hình trên đã tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến tổ chức quá trình giáo dục và hệ thống giáo dục Nhà trường

mở cửa đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học – công nghệ và ứng dụng, nhà giáo chuyển từ truyền đạt tri thức, sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin, có tư duy phân tích và tổng hợp Đầu tư cho giáo dục được xem là đầu tư cho phát triển Các quốc gia đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng những nhu cầu của sự phát triển đát nước Đổi mới GDTH ở Việt Nam là phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục của thế giới, mà trước hết là đổi mới về việc xây dựng và tổ chức nhà trường tiểu học để phát

triển lên một tầm cao mới: Trường tiểu học chuẩn quốc gia [ 11 ]

Trang 22

Tóm lại thông tin về định hướng và mục tiêu phát triển giáo dục nói chung và cấp tiểu học nói riêng của một số nước ở Châu Á và phương Tây đều cho thấy các nước đặt biệt quan tâm đến bậc phổ cập GDTH cho toàn dân

và phổ cập trung học cơ sở Mặc dù các nước không nói rõ là xây dựng trường tiểu học theo chuẩn quốc gia, nhưng họ vẫn có quy định các tiêu chuẩn hiện đại để xây cất trường học, đưa các thiết bị hiện đại để phục vụ việc dạy

và học, họ có điều kiện đầu tư để mở rộng trường sao cho đáp ứng các mục tiêu bậc tiểu học đề ra Và họ cũng đa dạng hóa các loại hình trường học, đồng thời huy động toàn cộng đồng tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục, nhất là bậc tiểu học,

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Khi nghiên cứu lịch sử phát triển nhà trường trong quá trình phát triển, chúng ta có thể thấy, trong tiến trình phát triển của nhà trường, từ mô hình nhà trường truyền thống sang mô hình nhà trường hiện đại và mô hình nhà trường tương lai Sự phát triển nhà trường với sự thay đổi căn bản những đặc trưng, tính chất của nhà trường từ mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, hình thức tổ chức, phương tiện đào tạo, loại hình, trường lớp

Hệ thống trường phổ thông được hình thành trong hệ thống giáo dục quốc dân

và ngày càng hoàn thiện Từ năm 1945 đến nay trường tiểu học Việt Nam có thể được chia thành 4 thế hệ:

Từ 1945 đến 1954 GDTH được xây dựng và phát triển trong thời kì toàn quốc kháng chiến chống xâm lược của thực dân Pháp Từ 1956 đến 1964 GDTH được xây dựng và phát triển trong bối cảnh nước Việt Nam bị chia thành 2 miền: miền Bắc có hòa bình, xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc Miền Nam dưới chế độ của Mỹ - Ngụy tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc; Từ 1965 đến 1975 GDTH được xây dựng và phát triển trong hoàn cảnh toàn quốc có chiến tranh Trong hoàn cảnh chiến tranh GDTH mang tính chất của một nền giáo dục tiến

bộ, phù hợp với thực tế; đấy là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân Nội

Trang 23

dung giáo dục thể hiện bản chất và mục đích của nền giáo dục mới, một nền giáo dục gạt bỏ hết những gì của giáo dục thực dân và phong kiến, xây dựng theo quan điểm giáo dục phục vụ kháng chiến và kiến quốc Trong thời chiến

để xây dựng và phát triển GDTH phải dùng nhiều giải pháp tình thế Ở thời kì này, miền Bắc tiến hành hai cuộc cải cách giáo dục vào các năm 1950 và

1956 Mục đích của cuộc cải cách giáo dục là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục cách mạng Trong khi đó ở miền Nam tồn tại hai hệ thống giáo dục nói chung và GDTH nói riêng, một là hệ thống giáo dục ở vùng Mỹ - Ngụy, hai là hệ thống giáo dục ở vùng giải phóng Hệ thống giáo dục dưới chế độ Mỹ - Ngụy là hệ thống giáo dục chống Cộng, còn

hệ thống giáo dục ở vùng giải phóng phát triển theo hướng xây dựng nền giáo dục Cách mạng Trường tiểu học của thời chiến chưa có điều kiện để thực hiện giáo dục toàn diện; phương pháp dạy và học về bản chất vẫn theo phương pháp cổ truyền; các điều kiện trường sở cơ bản của trường tiểu học còn thô sơ, chưa được qui chuẩn

- Trường tiểu học thế hệ 2: Trường tiểu học của giai đoạn 1976-1995

Ở giai đoạn này, GDTH được xây dựng và phát triển khi đất nước đã được thống nhất Nhưng sau 30 năm chiến tranh, đất nước bị tàn phá, kinh tế -

xã hội còn nhiều khó khăn, nhất là ở thập kỉ 80, đã ảnh hưởng không nhỏ đến giáo dục Từ năm 1976 đến 1995, GDTH trải qua những bước đi khó khăn để

có được sự ổn định và định hình Những bước đi đó là: Từ 1975 đến 1980 thực hiện thống nhất hệ thống giáo dục trong cả nước về mục tiêu và kế hoạch, chuyển bậc tiểu học thuộc chính quyền Ngụy ở miền Nam sang giáo dục cấp I thuộc nền giáo dục Cách mạng; từ năm 1981 đến 1985 triển khai cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 trên phạm vi cả nước Giai đoạn này, cấp I được nhập vào cấp II gọi là trường phổ thông cơ sở, thực hiện mục tiêu và kế hoạch mới Cấp I gồm 5 năm ( từ lớp 1 đến lớp 5 ), trẻ em vào lớp 1 từ 6 tuổi

Do chưa có thiết kế tổng thể và thiếu một mô hình GDTH phù hợp với đặc điểm KT-XH của Việt Nam sau chiến tranh nên cuộc cải cách giáo dục lần này (từ cấp I) gặp rất nhiều trở ngại và triển khai được 3-4 năm đã phải điều

Trang 24

chỉnh Từ năm 1986 đến 1995 triển khai thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng và thực hiện PC GDTH (Luật phổ cập GDTH năm 1991 ) Trong 10 năm đổi mới, GDTH đã đi vào thế ổn định, được hình thành và bắt đầu phát triển Trường tiểu học là đơn vị cơ sở thực hiện GDTH ở giai đoạn này có thể gọi là nhà trường sau chiến tranh, đang mày mò tìm mô hình giáo dục để phù hợp với tình hình hiện tại Những trường tiểu học sau chiến tranh

có một số đặc điểm: chưa có mô hình tổng thể và các giải pháp có tính chiến lược nên gặp nhiều khó khăn, luôn phải áp dụng giải pháp tình thế, chưa có điều kiện thực hiện giáo dục toàn diện; phương pháp dạy học bước đầu có đổi mới, nhà trường đã hướng tới học sinh, coi học sinh là nhân vật trọng tâm, nhưng phương pháp chưa được định hình

- Trường tiểu học thế hệ 3: Trường tiểu học của giai đoạn 1996-2002

Tháng 12/1996, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ra Nghị quyết số 2 về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 Nghị quyết Trung ương 2 đã nêu lên nhiệm vụ và mục tiêu phát triển GDTH từ năm 1996 đến năm 2000 Sau khi có Nghị quyết TW2 Khoá VIII của Đảng, ngày 26/4/1997

Bộ GD&ĐT ban hành quy chế công nhận trường tiểu học đạt CQG giai đoạn 1996-2000 Đây là thiết kế mô hình tổng thể của trường tiểu học mới để nhà trường có đủ điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện

- Trường tiểu học thế hệ 4: Việt Nam xây dựng trường tiểu học thuộc

thế hệ thứ 4 với mô hình dựa trên 5 tiêu chuẩn của trường tiểu học đạt CQG theo Quyết định 32/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/10/2005 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Với mô hình này, nhà trường có đủ điều kiện để thực hiện và đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học Với yêu cầu của xã hội, đòi hỏi giáo dục cũng phải được nâng cao hơn để đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao và sự phát triển chung của xã hội, ngày 28/12/2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 59/2012/TT-BGDĐT quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt CQG thay

Trang 25

thế Quyết định 32/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/10/2005 Với mô hình này, nhà trường có đủ điều kiện để thực hiện và đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học ở mức độ cao hơn

Trong từng giai đoạn phát triển của giáo dục tiểu học, Bộ GD&ĐT đã có những quy định hướng dẫn cụ thể về công tác quản lý của hiệu trưởng các nhà trường Năm 2003 Nhà xuất bản GD xuất bản cuốn “Quản lý GDTH theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do Hoàng Minh Thao và Hà Thế Truyền tuyển chọn và biên soạn, cuốn sách đề cập đến các vấn đề chung về công tác quản lý giáo dục, đặc biệt đi sâu vào các vấn đề quản lý cụ thể trong trường tiểu học như: quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động giáo dục, công tác kiểm tra-thanh tra, … Cuốn sách cũng nêu những đặc thù của người cán bộ quản lý trường tiểu học theo yêu cầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới và nêu lên một số giải pháp quản lý nhằm xây dựng trường tiểu học đạt CQG

Năm 2006, Bộ GD&ĐT xuất bản cuốn sách “Một số vấn đề về đổi mới quản lý GDTH vì sự phát triển bền vững” trong đó có nói về những vấn đề chỉ đạo GDTH, Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên tiểu học, đánh giá xếp loại GV

và HS tiểu học, Các vấn đề về công tác xây dựng trường CQG cũng được nhiều nhà quản lý giáo dục từ cấp cơ sở đến sở giáo dục và đào tạo trên cả nước quan tâm khảo sát và thực hiện Trong đó có nhiều công trình rất công phu, có giá trị thực tiễn lớn

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Chuẩn, chuẩn quốc gia, trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

- Chuẩn: Theo từ điển Tiếng Việt (2000) [36, 148]: Chuẩn là cái được

chọn làm căn cứ để đối chiếu, hướng theo đó mà làm cho đúng

- Chuẩn quốc gia: là chuẩn bắt buộc hoặc khuyến nghị có hiệu lực và

phạm vi áp dụng trong nước, có tính toàn quốc, do Nhà nước hoặc các tổ chức quốc gia ban hành CQG nói chung được phát triển sao cho cả nước thực hiện được trên cơ sở khả năng và nỗ lực thực tế hiện có Chính vì vậy chức năng chủ yếu của CQG là giúp Nhà nước đưa các sự vật cần điều chỉnh vào một

Trang 26

trật tự nhất định, tức là thiết lập trật tự trong một lĩnh vực nhất định ở qui mô quốc gia

- Trường đạt tiểu học đạt chuẩn quốc gia: Đây là khái niệm mới, xuất

hiện sau khi Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đào tạo Đối với trường tiểu học ở nước ta Bộ GD&ĐT quy định 5 tiêu chuẩn trên các mặt: Tổ chức và quản lý nhà trường; Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh; Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học; Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục Mỗi tiêu chuẩn có nhiều tiêu chí và yêu cầu cụ thể khác nhau, hiệu trưởng các trường tiểu học theo đó mà đánh giá so sánh và có kế hoạch tổ chức phấn đấu để nhà

trường đạt dần các chuẩn [8]

Trường tiểu học đạt CQG được hình thành dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những yếu tố tích cực của trường tiểu học ở giai đoạn trước đó, đồng thời bổ sung những yếu tố mới để hình thành một trường tiểu học hoàn chỉnh phù hợp theo mô hình thiết kế được xác định

1.2.2 Xây dựng và xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

- Xây dựng

Là làm theo một bản vẽ kỹ thuật, một vật có kích thước lớn, bằng nhiều thứ vật liệu đã được tính toán về mọi mặt (số lượng, trọng lượng, thể tích, sức bền ): xây dựng cung văn hóa; xây dựng cầu xe hỏa; xây dựng đô thị

Là tạo bằng trí tuệ những yếu tố mà trí tuệ sắp xếp, trên cơ sở thực tiễn, lý luận hay thẫm mỹ, thành một thể thống nhất: xây dựng kế hoạch nhà nước; xây dựng luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa; xây dựng một truyện phim

Là tạo hoàn cảnh sống vật chất hay tinh thần hoặc cho một cộng đồng trên cơ sở một đường lối chủ trương nhất định, một hệ thống tư tưởng , hoặc cho cá nhân theo một ý định có suy nghĩ, cân nhắc: xây dựng công nghiệp xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nền đạo đức mới, xây dựng uy tín bằng trí thức

Trang 27

khoa học thể hiện qua các công trình nghiên cứu [19]

- Xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã chỉ ra các giải pháp chủ yếu để phát triển giáo dục và đào tạo như: Ban hành CQG về trường học “Bảo đảm diện tích đất đai về sân chơi, bãi tập cho các trường theo đúng quy định của nhà nước…” Nghị quyết này đã chỉ đường để ngành giáo dục thực hiện những nhiệm vụ chiến lược; trong đó có những nội dung cụ thể hóa “CQG trường tiểu học” Một thời gian sau đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số 1366/BGDĐT ngày 26/4/1997 ban hành Quy chế công nhận trường tiểu học đạt CQG giai đoạn 1996 – 2000; ngày 24/10/2005, Bộ trưởng

Bộ GD&ĐT đã ra Quyết định số 32/2005/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy chế công nhận trường tiểu học đạt CQG thay thế Quyết định số 1366/BGDĐT ngày 26/4/1997 Đến ngày 28 tháng 12 năm 2012, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo ban hành Thông tư số 59/2012/TT-BGDĐT Quy định về tiêu chuẩn

đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt CQG thay thế Quyết định số 32/2005/QĐ-BGDĐT Quy định chi tiết

về 5 tiêu chuẩn để đánh giá một trường tiểu học đạt CQG [8]

Vậy xây dựng trường tiểu học đạt CQG là xây dựng nhà trường tiểu học tiến tới đạt 5 tiêu chuẩn của trường tiểu học đạt CQG theo quy định của Thông tư số 59/2012/TT-BGDĐT đó là: Tổ chức và quản lý nhà trường; Cán

bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh; Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học; Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục

1.2.3 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

1.2.3.1 Quản lý

Thuật ngữ “quản lý ” là một thuật ngữ tiếng Việt gốc Hán, lột tả được bản

chất của hoạt động này trong thực tiễn Nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào

Trang 28

nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau Đó là quá trình “quản” và quá trình “lý” Qúa trình “quản” bao gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái

“ổn định”; quá trình “lý ” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống

vào trạng thái “phát triển” Như vậy quá trình “quản” giúp cho hệ thống tồn tại bền vững và quá trình “lý ” giúp cho hệ thống phát triển đi lên

Trong quản lý, cả hai quá trình “quản” và “lý “đều quan trọng Nếu ta chỉ chú ý đến “quản”, nghĩa là chỉ lo đến sự sắp xếp giữ gìn thì tổ chức dễ bị trì trệ, kém phát triển, tức là sẽ dẫn tới tụt hậu; còn nếu chỉ chú ý đến quá trình

“lý ” tức là chỉ lo coi trọng sắp xếp, đổi mới thì tổ chức sẽ kém ổn định và sự phát triển không bền vững Vì vậy, nhà quản lý phải kết hợp nhuần nhuyễn cả hai quá trình trên để đưa hệ thống vào thế cân bằng động, tức là phát triển trong sự bền vững

Từ thời cổ đại, quản lý mang tính chất như một thứ triết học Quản lý chưa trở thành một môn khoa học, nhưng tư tưởng, hoạt động quản lý đã đạt được những thành tựu to lớn Trong đó, phải kể đến các nhà chính trị và tư tưởng phương Đông như: Quản Trọng (683-640 TCN), Khổng Tử (551-478 TCN), Hàn Phi Tử (371-289 TCN)…

Từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, quản lý được từng bước tách khỏi triết học và dần dần trở thành một môn khoa học độc lập Đặc biệt môn khoa học này phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho đến nay Thời

kỳ này xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu về vai trò quản lý, các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Frederich Winslow Taylor (1856 - 1915)- Mỹ, Henry Fayol (1841-1925)-Pháp, Max Weber (1864 - 1920)-Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội Khi đề cập đến vai trò của quản lý, Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động

xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn

bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một

Trang 29

người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần

tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [36]

- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là sự tác động liên tục,

có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm duy trì tính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong

điều kiện môi trường luôn biến động”.[24]

- “Quản lý - đó là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh vật, xã hội, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động.” (Đại bách khoa toàn thư, Liên Xô 1977)

- Các nhà khoa học quản lý khẳng định “hạt nhân của của quản lý là con người và quản lý con người thực chất là xác định vị trí của mỗi con người trong xã hội, quy định các chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ cùng vai trò xã hội

của họ”.[31, 6]

- “Quản lý là một hoạt động tất yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực

cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của các nhà quản lý

là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân

ít nhất”.[18, 33]

- “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý

đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”.[25, 90]

Trang 30

- “Quản lý là tổng thể những hoạt động (thao tác) do con người, chủ thể của quản lý thực hiện đối với khách thể, Nhằm cải tạo khách thể, bảo đảm cho

nó vận động đi tới một mục tiêu đã định”.[35, 81]

- “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” “Quản lý một cách khoa học bao giờ cũng là sự tác động có mục đích tới một hệ thống thể chế xã hội cụ thể, dù đó là xã hội XHCN nói chung, của nền kinh tế hay của từng ngành kinh tế, từng tập thể lao động…” [25]

- Dựa trên sự phân tích các đặc trưng của quản lý, tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định

và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [17, 34]

- GS G.KH Pô-pốp cho rằng quản lý là chiếc đòn bẩy để xã hội loài người phát triển Ông nói: “quản lý là một yếu tố không thể thiếu của đời sống chúng ta Loài người không thể phát triển, nếu không giảm bớt tốc độ bất định, không nâng cao tính tổ chức, không dùng chiếc đòn bẩy là quản

lý”.[16]

- Để hiểu rõ hơn và sâu hơn về thuật ngữ quản lý, một số tác giả đã nêu thêm thuật ngữ “quản trị”, các tác giả Hoàng Minh Thao và Hà Thế Truyền đã lưu ý: Trong xã hội hiện nay đang lưu hành một thuật ngữ là “Quản trị” Thuật ngữ này thường được sử dụng cho quản lý ở phạm vi các đơn vị kinh tế

cơ sở ( Tập đoàn, tổng công ty, công ty, doanh nghiệp, hộ kinh doanh )

Nói đến quản lý, chúng ta phải đề cập đến 5 yếu tố: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu, phương pháp và công cụ quản lý

+ Để xác định chủ thể quản lý thì phải trả lời câu hỏi “ Ai quản lý ? ” Chủ thể quản lý có thể là một người hoặc một tập thể lớn như Nhà nước là một chủ thể quản lý của một quốc gia

Trang 31

+ Để xác định đối tượng quản lý thì phải trả lời câu hỏi “ Quản lý ai ? ”, “ Quản lý cái gì?”, “ Quản lý vấn đề gì ? ”

Ngày nay, quản lý được xác định là 1 trong 5 nhân tố phát triển KT- XH,

đó là các nhân tố: Nguồn vốn, nhân lực, tài nguyên, công nghệ và quản lý Sơ

đồ minh hoạ:

Quản lý

Nguồn vốn Công nghệ

Nhân lực Tài nguyên

Những khái niệm “Quản lý ” trên tuy khác nhau về góc độ tiếp cận, về

cách diễn đạt nhưng đều thống nhất ở bản chất của hoạt động quản lý Từ đó,

ta có thể khái quát rằng: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng

đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức làm cho hệ thống vận hành đạt được mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

Vai trò của quản lý: Như C.Mác đã khẳng định bản chất phổ biến của

quản lý là lao động để điều khiển lao động, là động lực tất yếu của mọi

phương thức sản xuất

Các nhà kinh tế Pháp đưa ra nguyên nhân đưa đến sự đổ vỡ, tổn thất về kinh tế thì 50% thuộc về quản lý lao động, 25% thuộc về người điều hành, 25% thuộc về GD&ĐT Vai trò quản lý trong đời sống xã hội được đánh giá

như sau:

- Một là: Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy, khuyến khích người

lao động dẫn đến việc tăng năng suất lao động

- Hai là: Đảm bảo đúng trật tự, kỷ cương; quản lý là nhằm sắp xếp, bố trí

con người, công việc một cách có nề nếp, chống lại sự lộn xộn làm cho bộ

máy hoạt động có hiệu quả hơn

Trang 32

- Ba là: Là nhân tố tất yếu sủa sự phát triển, một xã hội muốn phát triển

được, đương nhiên phải có quản lý Từ đó cho thấy năng lực quản lý giữ vai

trò rất quan trọng trong các hoạt động của đời sống xã hội

Chức năng của quản lý:

* Chức năng lập kế hoạch : Bao gồm dự báo, xác định mục tiêu, biện

pháp, cách thức cụ thể, xác định điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu

* Chức năng tổ chức: Tổ chức công việc, sắp xếp, bố trí con người vào

công việc, xác định tính chất các mối quan hệ, xác định cách thức thực hiện

* Chức năng điều hành: Chức năng này có tính tác nghiệp, tác động đến

con người bằng các quyết định để con người hoạt động đưa bộ máy đạt mục

tiêu bao gồm cả việc khuyến khích động viên

* Chức năng kiểm tra: Thu thập những thông tin ngược từ các hoạt động

của bộ máy để kịp điều chỉnh sai sót đưa bộ máy đạt được mục tiêu đã xác định

1.2.3.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đeo đuổi những mục đích của mình Chỉ có con người mới có khả năng thể hiện cái nguyên mẫu lý tưởng của tương lai được thể hiện trong mục đích đang ở trạng thái khả năng sang trạng thái hiện thực Chúng ta biết rằng mục đích giáo dục cũng là mục đích của quản lý, đây là mục đích có tính khách quan Nhà quản

lý cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội v.v… bằng hành động của mình hiện thực hoá mục đích đó trong hiện thực Cũng như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều quan niệm khác nhau:

Trong cuốn sách Con người trong quản lý xã hội của viện sĩ

A.G.Afanaxep, ông phân chia xã hội thành 3 lĩnh vực, lĩnh vực chính trị xã hội, văn hoá tư tưởng, kinh tế Từ 3 lĩnh vực đó, ông đưa ra 3 loại quản lý:

quản lý chính trị xã hội; quản lý văn hoá tư tưởng và quản lý kinh tế [1]

Trang 33

Như vậy quản lý giáo dục được xem như là một bộ phận nằm trong quản

lý văn hoá - tư tưởng

Trong cuốn sách Cơ sở lý luận của quản lý giáo dục, M.I.Cônđakôv viết:

quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức có khoa học và có hướng chủ thể, quản lý trên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu của xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học

thế hệ trẻ đang lớn lên [23]

Trong cuốn Quản lý, giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận

Khuđômninsky (Liên Xô cũ) đã viết: "quản lý có khoa học hệ thống giáo dục

có thể định nghĩa như là sự tác động của hệ thống, có kế hoạch, ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của

hệ thống (từ bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục xã hội chủ nghĩa thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực tâm lý nhi đồng, thiếu niên và thanh niên " [20]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QLGD là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản

lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [32]

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ và với từng học sinh "[27] "Quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy và học tức là đưa hoạt động đó

từ trạng thái này đến trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục" [27]

Trang 34

Quản lý giáo dục tức là hoạt động điều khiển quá trình giáo dục, quản lý các điều kiện (vật lực, tài lực, nhân lực)

Theo Phó giáo sư tiến sĩ Trần Kiểm chúng ta có thể đưa ra các quan niệm

về quản lí giáo dục ở hai cấp độ: Vĩ mô và cấp vi mô

Đối với cấp vĩ mô:

- Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là một nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục

- Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của

chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội (emergence)của

hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm

sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động

- Cũng có một quan niệm khác: Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục

vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội

Đối với cấp vi mô:

- Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản

lý, đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng

và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

Hoặc cũng có thể có quan niệm: Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh với sự tác động hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường

Trang 35

Dù ở cấp độ nào chúng ta cũng thấy rõ bốn yếu tố của quản lý giáo dục đó là: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý, bốn yếu tố này tạo thành một sơ đồ logic của quản lý

Chức năng của quản lý giáo dục:

* Chức năng kế hoạch hoá trong quản lý giáo dục: Là việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, các điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản lý và bị quản

lý có ý nghĩa làm cho mọi người biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức

* Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục: Là việc thiết kế cơ cấu các

bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức, giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau có hiệu quả

* Chức năng điều khiển (chỉ đạo thực hiện) trong quản lý giáo dục: Là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến các đối tượng quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống

* Chức năng kiểm tra trong quản lý giáo dục: Là hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định Chức năng này xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý, nó bao gồm các bước sau: Xây dựng các tiêu chuẩn; Đo đạc việc thực hiện; Điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ

hệ thống đạt được mục tiêu đã định

1.2.3.3 Quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

Quản lý công tác xây dựng trường TH đạt CQG là: Quản lý nhà trường thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành để tiến tới đạt 5 tiêu chuẩn theo quy định của trường CQG nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của trường TH, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước Đối với GDTH 5 tiêu chuẩn đó là: Tổ chức và quản lý nhà trường; Cán bộ quản

lý, giáo viên, nhân viên và học sinh; Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học;

Trang 36

Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục

1.2.4 Giải pháp và giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG

1.2.4.1 Giải pháp

Theo từ điển tiếng Việt, giải pháp là “Phương pháp giải quyết một vấn

đề cụ thể nào đó”[36] Như vậy, nói đến giải pháp là nói đến những cách

thức, con đường, phương tiện là tổ hợp các bước mà trí tuệ phải đi theo để tác động làm chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định, nhằm đạt được mục đích hoạt động

Hay nói cách khác: Giải pháp còn là tổ hợp những quy tắc, nguyên tắc quy phạm dùng để chỉ đạo hành động Tuy nhiên, để có những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy và giải pháp càng thích hợp, càng đồng bộ, càng tối ưu thì càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra

1.2.4.2 Giải pháp quản lý công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

Nói đến giải pháp quản lý xây dựng trường tiểu học đạt CQG là nói đến những việc làm cụ thể của người quản lý Nội dung chính là xây dựng kế hoạch chiến lược hoạt động; tham mưu kịp thời với các cấp có thẩm quyền; giao việc và kiểm tra giám sát việc thực hiện nhiệm vụ; là quá trình huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, điều hành đảm bảo cho công tác quản lý xây dựng trường tiểu học đạt CQG diễn ra theo đúng kế hoạch

Giải pháp quản lý xây dựng trường tiểu học đạt CQG là những cách thức tác động, hướng vào việc tạo ra những biến đổi về chất lượng của các tổ chức trong nhà trường, chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên; CSVC - TBDH; công tác xã hội hoá giáo dục; đặc biệt là làm thay đổi chất lượng giáo dục học sinh một cách toàn diện nhằm đạt được 5 tiêu chuẩn trường tiểu học CQG theo quyết định 59/2012/BGDĐT

Trang 37

Các giải pháp phải thống nhất giữa yêu cầu và khả năng thực hiện 5 tiêu chuẩn quy định của trường TH đạt chuẩn quốc gia

Các giải pháp phải tác động lên toàn bộ quá trình quản lý nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện các tiêu chuẩn theo yêu cầu của trường TH đạt CQG

1.3 Khái quát về công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

1.3.1 Ý nghĩa của công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

Xây dựng trường đạt CQG là chủ trương lớn mang tính chiến lược của Đảng và của ngành giáo dục và đào tạo, góp phần chuẩn hóa cơ sở vật chất cũng như đội ngũ cán bộ, giáo viên, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trường tiểu học theo tinh thần chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa

1.3.2 Mục đích, yêu cầu của công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

Xây dựng trường tiểu học đạt CQG nhằm để xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, xây dựng một trường học có đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học, có đủ một đội ngũ giáo viên, nhân viên và quản lý có năng lực trình độ, có tinh thần trách nhiệm cao và tâm huyết với nghề nghiệp Các tổ chức đoàn thể hoạt động tích cực để cùng với nhà trường thực hiện tốt

kế hoạch nhiệm vụ năm học

Xây dựng trường tiểu học đạt CQG cũng là điều kiện để toàn xã hội chăm lo cho sự phát triển giáo dục, thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục với mục đích “Nâng cao dân trí - Đào tạo nhân lực - Bồi dưỡng nhân tài” cho quê hương đất nước

Xây dựng trường tiểu học đạt CQG góp phần xây dựng một nền GD&ĐT theo hướng ngày càng chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa trong quá trình thực hiện CNH - HĐH đất nước

Trang 38

Từ những mục đích, yêu cầu nói trên, phát huy những thắng lợi của việc xây dựng trường đạt CQG nói chung đối với trường tiểu học nói riêng trên địa bàn tỉnh hơn 15 năm triển khai và xây dựng; phát huy sức mạnh tổng hợp của ngành giáo dục với các ban ngành và các địa phương, tiếp tục chỉ đạo các đơn vị xây dựng trường tiểu học đạt CQG theo 5 tiêu chuẩn quy định của quy chế ban hành theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; củng cố nâng cao chất lượng các trường đã đạt chuẩn; nâng dần số lượng trường tiểu học đạt CQG nhằm củng cố và phát triển cấp học một cách bền vũng, đáp ứng ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo

1.3.3 Nội dung của công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

Nội dung của công tác xây dựng trường tiểu học đạt CQG dựa trên các tiêu chuẩn của trường tiểu học đạt CQG Các tiêu chuẩn này là:

Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường

- Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà trường đầy đủ theo quy định của Điều lệ trường tiểu học; Nhà trường có tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh và các tổ chức xã hội khác theo quy định;

- Tổ chức phân bổ lớp học, số học sinh trong một lớp; địa điểm đặt trường, điểm trường thực hiện theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học;

- Có đầy đủ các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và hoạt động theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học Nhà trường tổ chức định kì các hoạt động trao đổi chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, tham quan, trao đổi học tập kinh nghiệm với các trường bạn và có báo cáo đánh giá cụ thể đối với mỗi hoạt động này

- Chủ động, sáng tạo và đạt kết quả cao trong việc thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua theo hướng dẫn của ngành và quy định của Nhà nước

Trang 39

- Chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đảm bảo Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; Hồ sơ lưu trữ đầy

đủ, khoa học theo quy định của Luật Lưu trữ;

- Nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động năm học, học kì, tháng, tuần;

có phương hướng phát triển từng thời kì; có biện pháp tổ chức thực hiện kế hoạch đúng tiến độ

- Quản lý các hoạt động giáo dục, quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và quản lý tài chính, đất đai, cơ sở vật chất theo quy định hiện hành của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Điều lệ trường tiểu học và các quy định khác của pháp luật;

- Bảo đảm an ninh trật tự, an toàn cho học sinh và cho cán bộ, giáo viên, nhân viên; Không có hiện tượng kỳ thị, vi phạm về giới, bạo lực trong nhà trường

Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh

- Trình độ đào tạo của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng từ Cao đẳng Sư phạm trở lên; hiệu trưởng có ít nhất 5 năm dạy học, phó hiệu trưởng có ít nhất

3 năm dạy học (không kể thời gian tập sự);

- Đánh giá hiệu trưởng, phó hiệu trưởng hằng năm theo Quy định Chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học đạt từ mức khá trở lên;

- Bảo đảm đủ số lượng và cơ cấu giáo viên để dạy các môn học theo quy định;

- Bảo đảm đủ số lượng và cơ cấu giáo viên để dạy các môn học theo quy định, 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó ít nhất 40% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn;

- Kết quả đánh giá, xếp loại giáo viên có ít nhất 50% giáo viên đạt loại khá trở lên, trong đó có ít nhất 15% giáo viên đạt loại xuất sắc theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học;

- Có ít nhất 50% giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường, trong đó ít nhất 20% giáo viên đạt danh hiệu dạy giỏi cấp huyện trở lên;

không có giáo viên yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ

Trang 40

Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học

- Diện tích, khuôn viên, sân chơi, sân tập thực hiện theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học;

- Bảo đảm yêu cầu môi trường sư phạm xanh, sạch, đẹp, yên tĩnh, thoáng mát, thuận tiện cho học sinh học tập, vui chơi;

- Trường có tối đa không quá 30 lớp; mỗi lớp có tối đa không quá 35 học sinh Diện tích phòng học đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của Bộ Y tế

- Khối phòng phục vụ học tập, khối phòng hành chính quản trị thực hiện theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học;

- Khu vệ sinh của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh đảm bảo yêu cầu an toàn, thuận tiện, sạch sẽ và được xây dựng ở vị trí phù hợp với cảnh quan nhà trường;

- Có thư viện đạt chuẩn trở lên theo quy định về tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;

Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và ã hội

- Ban đại diện cha mẹ học sinh thực hiện theo Điều lệ Ban đại diện cha

mẹ học sinh do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;

- Nhà trường tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền và phối hợp với các tổ chức, đoàn thể để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh trong nhà trường; giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, đạo đức lối sống, pháp luật, nghệ thuật, thể dục thể thao cho học sinh và thực hiện mục tiêu, kế hoạch giáo dục

- Tổ chức chăm sóc di tích lịch sử, cách mạng, công trình văn hóa; chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với Nước, Mẹ Việt Nam Anh hùng ở địa phương

Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục

- Dạy đủ các môn học, đúng chương trình, kế hoạch, đảm bảo yêu cầu của chuẩn kiến thức, kỹ năng; lựa chọn nội dung, thời lượng, phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với từng đối tượng và đáp ứng yêu cầu, khả năng nhận thức của từng học sinh;

Ngày đăng: 25/08/2021, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Afanaxep.A.G (1979), Con người trong quản lý xã hội. NXB khoa học và xã hội, Hà Nội Khác
2. Ban chấp hành TW- Chỉ thị của Ban Bí thƣ về việc xây dựng nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục-(Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15.6.2004) Khác
3. Ban chấp hành TW- Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng 8, khóa XI- (Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 4/11/2013) Khác
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003) – Quyết định về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006) - Một số vấn đề về đổi mới quản lý giáo dục tiểu học vì sự phát triển bền vững - NXB GD Khác
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007)- Quyết định số 14/2007/QĐ- BGD&ĐT ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp của giáo viên Tiểu học Khác
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010) - Điều lệ trường Tiểu học Khác
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012) –Thông tƣ 59/2012/TT-BGDĐT Quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Khác
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) - Thông tƣ 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 Ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học Khác
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016) - Thông tƣ 22/2016/TT-BGDĐT điều chỉnh một số điều của Thông tƣ 30) Khác
11. Chính phủ nước Cộng hoà XHCNVN (2011), Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
12. C.Mác và Ăng Ghen (1993), Tập 23. NXB chính trị quốc gia. Hà nội Khác
13. Cục Đào tạo và Bồi dƣỡng giáo viên (1975) – Một số vấn đề về nghiệp vụ quản lý của hiệu trưởng – Nxb Giáo dục – Hà Nội Khác
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997) - Văn kiện Hội nghị lần thứ 2, BCHTW khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002) - Văn kiện Hội nghị lần thứ 6, BCHTW khoá IX, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
16. G.KH PôPôp – Những vấn đề lý luận quản lý – NXB Khoa học – Xã hội – 1978 Khác
17. Hà Sĩ Hồ (Chủ biên) – Những bài học về quản lý trường học. Tâp 2 – NXB GD Hà Nội – 1985 Khác
18. Harold Koontl – Những vấn đề cốt yếu của quản lý – NXB Khoa học và kỹ thuật – Hà Nội – 1992 Khác
19. Hồ Chí Minh – Bàn về giáo dục - NXB Giáo dục Hà Nội - 1962 Khác
20. Khudômninski - Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện. Trường QLGD, Hà Nội – 1983 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w