Giả thuyết khoa học Nếu đề xuất và áp dụng quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa có tính khoa học, phù hợp với các điều kiện thực tế, có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ NHEN
QUẢN LÝ VIỆC XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN HÓA Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MỎ CÀY NAM,
TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HƯỜNG
NGHỆ AN, 2017
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Nhà trường, Khoa Sau đại học Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và nghiên cứu nâng cao trình độ, nghiệp vụ quản lý
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, nhà khoa học đã tận tình giảng dạy giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Hường đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục
- Xin chân thành cảm ơn BGH, Thầy cô giáo và học sinh các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi
để tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và xây dựng Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Bản thân tôi đã nỗ lực và cố gắng, tuy nhiên sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn./
Nghệ An, ngày 04 tháng 5 năm 2017
Tác giả
Võ Thị Nhen
Trang 3Lời cảm ơn………
Mục lục………
Danh mục các chữ viết tắt………
Mở đầu………
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp mới của luận văn 6
8 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VIỆC XÂY DỰNG NẾP SÔNG VĂN HÓA Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Văn hóa 8
1.2.2 Nếp sống, nếp sống văn hóa 11
1.2.3 Quản lý, quản lý nhà trường và quản lý xây dựng NSVH 12
1.2.4 Giải pháp quản lý xây dựng NSVH trong nhà trường 17
1.3 Một số vấn đề về NSVH trong trường THPT 18
1.3.1 Vai trò tầm quan trọng của việc xây dựng NSVH trong trường THPT 18
1.3.2 Những biểu hiện của NSVH trong nhà trường 20
1.4 Vấn đề QL việc xây dựng NSVH trong trường THPT 24
1.4.1 Mục tiêu của việc QL việc xây dựng NSVH trường THPT 24
1.4.2 Nội dung QL xây dựng NSVH trong trường THPT 25
Trang 4Kết luận chương 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN HÓA Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE 37
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, giáo dục huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre 37
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội 37
2.1.2 Sự ra đời của các trường THPT trên địa bàn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre 37
2.1.3 Tình hình giáo dục của huyện Mỏ Cày Nam 41
2.2 Thực trạng nếp sống văn hóa các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre 41
2.2.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV và HS về vai trò của NSVH trong các trường THPT 41
2.2.2 Thực trạng việc thực hiện NSVH trong nhà trường của CBQL, GV và HS trong các trường THPT 45
2.3 Thực trạng việc quản lý xây dựng NSVH nhà trường ở các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre 55
2.3.1 Thực trạng công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho CBQL, GV và HS về NSVH 55
2.3.2 Thực trạng việc xây dựng các quy chế thực hiện NSVH 56
2.3.3 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện các quy chế về NSVH….59 2.3.4 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện NSVH nhà trường 63
2.4 Đánh giá chung về thực trạng 67
2.4.1 Ưu điểm 67
2.4.2 Hạn chế 69
Trang 5CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VIỆC XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN HÓA Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MỎ
CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE 72
3.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 72
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 72
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 72
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 72
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 73
3.2 Các giải pháp xây dựng NSVH nhà trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre 73
3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức cho CB, GV, NV và tầm quan trọng của việc xây dựng NSVH trong nhà trường 77
3.2.2 Xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung và chương trình xây dựng NSVH trong nhà trường 77
3.2.3 Đẩy mạnh quản lý nề nếp, chất lượng dạy học 79
3.2.4 Tổ chức đồng bộ các lực lượng trong nhà trường, coi những lực lượng đó là nòng cốt trong các hoạt động xây dựng NSVH nhà trường 83
3.2.5 Tổ chức phong trào thi đua xây dựng “Nếp sống văn minh” giữa các lớp, các khối lớp và trong toàn bộ các đơn vị của nhà trường 85
3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và thông tin, truyền thông trong công tác xây dựng NSVH nhà trường 89
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 91
3.4 Thăm dò tính cấp thiết, tính khả thi các giải pháp 92
3.4.1 Về tính cấp thiết của các giải pháp 92
3.4.2 Về tính khả thi của những giải pháp 94
Kết luận chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
Trang 62.1 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 98
2.2 Đối với các trường THPT trên địa bàn huyện Mỏ Cày Nam 99
2.3 Đối với Đoàn trường 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7+ BCH : Ban chấp hành + CB - GV : Cán bộ - Giáo viên
+ CBQLGD : Cán bộ Quản lý giáo dục + GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta đặt vấn đề xây dựng nếp sống VH, xây dựng con người mới Việt Nam trong cả quá trình tiến hành cách mạng: Từ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), Bác Hồ kêu gọi nhân dân diệt giặc đói, diệt giặc dốt, đồng thời Bác quan tâm đề cập ngay đến vấn đề Xây dựng “Đời sống mới” cho nhân dân Trong tác phẩm
“Đời sống mới” của Hồ Chí Minh, dưới bút danh Tân Sinh được viết vào tháng 3/1947, Người viết: “Người là gốc của làng, nước Nếu mọi người đều
cố gắng làm đời sống mới, thì nhất định dân tộc sẽ phú cường Quan điểm của Đảng ta chỉ rõ phải gắn chặt xây dựng nếp sống mới với xây dựng con người mới Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã chỉ ra: “Hoàn cảnh nước ta đòi hỏi và cho phép xây dựng sớm, xây dựng từng bước con người mới, không phải chờ đến sau khi phát triển cao của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” “Xây dựng nền văn hóa mới và con người mới là điều cần và
có thể thực hiện được từng bước, từng phần ngay từ hôm nay Trong chặng đường trước mắt này, có những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép chúng ta bước đầu tạo ra một xã hội đẹp về lối sống, về quan hệ giữa người và người, một xã hội trong đó nhân dân lao động cảm thấy sống hạnh phúc, tuy mức sống vật chất còn chưa cao”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã xác định nhiệm vụ cụ thể xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau [31]:
Trang 9Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật sáng tạo, năng suất cao vi lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội Trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 với định hướng “Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế,… phát huy những giá trị tốt đẹp của các dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, coi trọng văn hóa trong lãnh đạo quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử” Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống…
Có thể nói, nếp sống văn hóa nhà trường là yếu tố rất quan trọng để rèn
luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước trở thành những con người sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp, có nhân cách tốt, có đủ tri thức để trở thành những công dân tốt, đóng góp vào sự
nghiệp xây dựng đất nước
Thực hiện nếp sống văn hóa trong nhà trường được thể hiện thông qua thực hiện quy định về trang phục khi đến trường, nói năng lịch sự, văn hóa nơi trường học cũng như nơi sinh hoạt giữ gìn vệ sinh và bảo vệ của công ở mọi lúc mọi nơi Việc xây dựng nếp sống văn hóa không những tạo cảnh quan cho ngôi trường của chúng ta thêm đẹp mà còn thể hiện tính trang nghiêm của
Trang 10sự học, đạo lý truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, “Tiên học lễ - Hậu học văn” của người Việt Nam chúng ta Nhà trường còn là nơi lưu giữ và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nơi đào tạo cho xã hội những công dân trong tương lai “ vừa hồng, vừa chuyên” Xây dựng và thực hiện nếp sống văn hóa học đường, một mặt nhằm đưa những hoạt động đó trở thành thường trực trong nếp sống, nếp nghĩ và trong sinh hoạt hàng ngày của mỗi chúng ta Bên cạnh đó, còn thể hiện sự quan tâm chăm lo cho học sinh với tinh thần “Dân chủ - kỷ cương - tình thương - trách nhiệm” của nhà trường trong việc thực hiện song song hai nhiệm vụ vừa truyền thụ trí thức khoa học và vừa thực hiện chức năng trồng người
Trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bảo của khoa học công nghệ đã làm cho những giá trị đạo đức của cong người đang đứng trước nguy cơ suy thoái trầm trọng Việc giao lưu văn hóa ngoại ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị đạo đức của học sinh Khoa học công nghệ phát triển, học sinh tiếp xúc với internet và học rất nhiều điều hữu ích từ nó Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, internet có nhiều điểm tiêu cực như có những hình ảnh, phim ảnh không phù hợp với những giá trị đạo đức nên sẽ dễ nhận thức sai lầm kéo theo hành vi sai và phạm tội Mặt khác, xã hội ngày nay phát triển đa dạng, phong phú Những mặt trái của sự phát triển nền kinh tế thị trường để lại hậu quả suy thoái về đạo đức Con người vì lợi nhuận bất chấp thủ đoạn hại nhau, vì lợi sẵn sàng giết nhau,… Môi trường sống xung quanh cùng với những tệ nạn xã hội đang diễn ra tràn lan và ngày càng xâm nhập sâu vào học đường cũng là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức… Do vậy, chúng ta cần tạo một môi trường xã hội thật sự trong sạch, lành mạnh và phát triển để giáo dục đạo đức học sinh ngày càng tốt đẹp hơn
Hiện nay, việc thực hiện nếp sống VH tại các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam còn nhiều hạn chế Tỷ lệ học sinh bỏ học, tỷ lệ học sinh yếu, kém ở
Trang 11mức cao Tình trạng học sinh vi phạm nội quy của nhà trường vẫn còn, tỷ lệ học sinh có hạnh kiểm trung bình và yếu vẫn còn cao Sự quan tâm của gia đình chưa đúng mức, nhiều gia đình còn khoán trắng việc giáo dục con em cho nhà trường Vẫn còn tình trạng GV vi phạm các chuẩn mực về nếp sống
VH Điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ phía công tác quản lý
Từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý việc xây
dựng nếp sống văn hóa ở các trường trung học phổ thông huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre”
2 Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất các giải pháp quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa ở các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Xây dựng nếp sống văn hóa trong trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa ở các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và áp dụng quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa có tính khoa học, phù hợp với các điều kiện thực tế, có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre trong giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 125.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa ở trường THPT
5.1.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa ở trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
5.1.3 Đề xuất các giải pháp quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa
ở các trường THPT trên địa bàn huyện Mỏ Cày Nam trong giai đoạn hiện nay
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các giải pháp quản lý việc xây dựng nếp sống văn hoá của
Ban giám hiệu các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
- Việc điều tra, khảo sát và nghiên cứu những giải pháp quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa ở các trường THPT trên địa bàn huyện từ năm học 2014-2015 đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp hệ thống hóa, so sánh, khái quát hóa các tài liệu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra với sự hỗ trợ của các công cụ thu thập thông tin
có liên quan
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu kém để có phương pháp khắc phục
- Phương pháp chuyên gia: để xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia
về các nội dung nghiên cứu
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý số liệu điều tra và kiểm chứng mức độ cần thiết và tính khả thi của kết quả nghiên cứu
Trang 137 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa ở các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
- Phản ánh và đánh giá thực trạng xây dựng nếp sống văn hóa ở các trường THPT trong huyện
- Đề xuất một số giải pháp xây dựng nếp sống văn hóa ở các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa
ở trường THPT
- Chương 2: Thực trạng quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa tại các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa
ở các trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ VIỆC XÂY DỰNG NẾP SỐNG
VĂN HÓA Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, trong những năm qua, nếp sống văn hóa nhà trường đã chịu những tác động rất lớn từ môi trường văn hoá - xã hội theo xu thế phát triển của kinh tế thị trường và toàn cầu hoá Vấn đề quan hệ giữa văn hóa và giáo dục, vấn đề giáo dục giá trị để xây dựng văn hóa nhà trường đã được tác giả Phạm Minh Hạc nghiên cứu và làm rõ Nhiều nghiên cứu khác đã làm rõ các biểu hiện của văn hóa nhà trường qua mối quan hệ, trang phục, ngôn ngữ giao tiếp, cư xử của học sinh với giáo viên, hiệu trưởng với giáo viên và qua các hoạt động giáo dục của nhà trường như văn hóa dạy, văn hóa học, văn hóa đọc Khi nghiên cứu nếp sống văn hóa nhà trường, đã có tác giả chọn cách tiếp cận văn hóa tổ chức, trên cơ sở làm rõ khái niệm này, chỉ ra cấu trúc, biểu hiện của nó trong nhà trường đã coi văn hóa tổ chức là hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường Có thể kể đến:
- Tác giả Nguyễn Thị Tĩnh có bài viết “ Xây dựng văn hóa học đường trong bối cảnh đất nước đổi mới, hội nhập” được trình bày trong hội thảo khoa học năm 2009 tại Trường Ðại học Sư Phạm Hà nội
- Văn Đức Thanh (2001), Xây dựng môi trường văn hóa cơ sở, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội
- Đinh Viễn Trí - Đông Phương Tri (Ngọc Anh dịch) (2003), Văn hóa giao tiếp ứng xử, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
- Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, NXB Giáo dục
Trang 15- Trường ĐHSPHN (9-2007) - Viện nghiên cứu sư phạm, Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hóa học đường - Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, Hà Nội
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về vấn đề nếp sống văn hóa và quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa ở các trýờng THPT huyện Mỏ Cŕy Nam, tỉnh Bến Tre Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu ðề tài này với hy vọng ðể làm sáng tỏ cõ sở lý luận về xây dựng nếp sống VH ở THPT đồng thời đề xuất những giải pháp trong công tác xây dựng nếp sống VH có hiệu quả góp phần xây dựng một môi trường công tác tích cực cho CBGV&HS, trên cơ sở đó góp phần thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của Trường THPT huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre trong giai đoạn phát triển hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Văn hóa
Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo
trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus
Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người" Có nhiều định nghĩa về khác nhau về văn hóa
Trong Từ điển tiếng Việt đã đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa [8]
- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử
- Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội
- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát);
Trang 16- Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát);
- Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh;
- Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử
cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn
Năm 1952, Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (Mỹ), đã tìm thấy không dưới 164 định nghĩa về VH Sự khác nhau của chúng không chỉ là ở bản chất của định nghĩa đưa ra (bởi nội dung, chức năng, các thuộc tính) mà
cả ở cách sử dụng rộng rãi của từ này
Tại Hội nghị Quốc tế các nhà văn học họp tại Mehico do Unesco tổ chức năm 1982, trên cơ sở của 200 định nghĩa khác nhau của VH, bản tuyên
bố chung của hội nghị đã chấp nhận một quan niệm về VH như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất VH là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một XH hay của một nhóm người trong XH VH bao gồm nghệ thuật và Muốn nghiên cứu về VH và vai trò của
VH đối với sự phát triển, trước tiên phải có một khái niệm chính xác nhất quán về VH cũng như cấu trúc của nó Có nhiều định nghĩa về văn hóa Năm
1952, Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (Mỹ), đã tìm thấy không dưới 164 định nghĩa về VH Sự khác nhau của chúng không chỉ là ở bản chất của định nghĩa đưa ra (bởi nội dung, chức năng, các thuộc tính) mà cả ở cách sử dụng rộng rãi của từ này
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,
Trang 17trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [35]
Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp
và theo nghĩa rộng
Chúng tôi thống nhất với khái niệm văn hóa của UNESCO:
- “VH theo nghĩa rộng là một tổng thể các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tinh cảm, khắc hoạ lên bản sắc của một cộng đồng, gia đinh, xã hội VH không chỉ bao gồm nghệ thuật văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những truyền thống tín ngưỡng”
- VH hiểu theo nghĩa hẹp: “VH là một tổng thể những hệ thống biểu trưng (kí hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng VH bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tượng (đẹp hay xấu, có đạo đức hay vô đạo đức, đúng hay sai…) theo cộng đồng ấy
Như vậy, dưới góc độ dưới góc độ xã hội học thì VH là một hiện tượng
XH gắn với đời sống XH, còn nội dung của VH chính là sản phẩm của hoạt động thực tiễn có tính sáng tạo của con người, luôn được chắt lọc kế thừa, phát triển dưới tác động của con người, vì hạnh phúc của con người
Theo những ý nghĩa đó, văn hóa là một hiện tượng XH đặc thù mà nét trội cơ bản của hiện tượng này là ở chỗ chúng là một hệ thống những giá trị trội chung nhất cả về vật chất và tinh thần cho một cộng đồng, một dân tộc, một thời đại hay một giai đoạn lịch sử nào đó, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người trong môi trường tự nhiên và trong các mối quan hệ XH
Cấu trúc của hệ thống VH được thể hiện qua sơ đồ 1.1
Trang 18Văn hóa tổ chức cộng đồng và tổ chức cá nhân
Tổ chức đời sống cộng đồng, tổ chức đời sống cá nhân
Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
Tận dụng môi trường tự nhiên Ứng phó với môi trường
tự nhiên
Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội
Tận dụng môi trường XH, ứng phó với môi trường XH
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc của hệ thống văn hóa
1.2.2 Nếp sống, nếp sống văn hóa
1.2.2.1 Nếp sống
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia, “Nếp sống là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, hay là cả một nền văn hóa” [ 26 ]
Theo tác giả Vũ Khiêu, nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành, những thói quen đã trở thành nếp sống, sinh hoạt, chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi người [30]
Có thể hiểu nếp sống bao gồm những cách thức, hành động và suy nghĩ, những quy ước được lặp đi, lặp lại hàng ngày thành thói quen như: Tập quán
Trang 19sản xuất, sinh hoạt, phong tục, lễ nghi, trong hành vi đạo đức, pháp luật Nói một cách khác, nếp sống là cách thức sống, sinh hoạt, ứng xử…của con người, của cộng đồng, được lặp đi lặp lại nhiều lần, được chọn lọc và lắng đọng, tồn tại trong tiềm thức của con người
1.2.2.2 Nếp sống văn hóa
Từ khái niệm văn hóa và nếp sống, có thể hiểu nếp sống văn hóa là những nét văn hóa được lặp đi, lặp lại nhiều lần, trở thành thói quen, được xác lập thành nét văn hóa được cá nhân, cộng đồng thừa nhận, làm theo Nếp sống văn hóa là một bộ phận của văn hóa, thể hiện thông qua trang phục, giao tiếp, ứng xử giữa con người với con người trong gia đình, trong cộng đồng và xã hội, qua ứng xử giữa con người với môi trường xung quanh
1.2.3 Quản lý, quản lý nhà trường và quản lý xây dựng nếp sống văn hóa
1.2.3.1 Quản lý
Định nghĩa khái niệm “quản lý” có trong nhiều công trình nghiên cứu: + Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý phải có người đứng đầu Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra [4]
+ Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) – trong
tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo ( lãnh đạo) và kiểm tra [11]
Trang 20Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều
có điểm chung, bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau:
+ Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và
ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần Chủ thể có thể là một người, một nhóm người, hoặc một bộ phận chức năng
+ Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ
thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
+ Phải có đối tượng quản lý, có thể là một, hoặc nhóm người, hoặc một
hoạt động, một tổ chức xã hội
+ Các nguồn lực, môi trường và các điều kiện đảm bảo các tác động quản lý
Có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích…của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các quyết định, các cơ chế chính sách và phẩm chất uy tín của cơ quan quản lý hay của người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các điều kiện (nhân lực, tài lực và vật lực…) và các cơ hội nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động
Như vậy, có thể xem quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch dựa trên các chức năng đặc thù của chủ thể quản lý nhằm gây ảnh hưởng đến khách thể quản lý thông qua cơ chế quản lý, nhằm đạt được mục tiêu quản lý, từ đó nhằm thực hiện tốt nhất các mục tiêu của tổ chức
- Các chức năng cơ bản của quản lý
Trong quá trình quản lý đã có nhiều hệ thống phân loại chức năng quản
lý, song có thể khái quát lại thành các chức năng cơ bản là:
Trang 21+ Kế hoạch: Là chức năng khởi đầu, là tiền đề, là điều kiện của mọi
quá trình quản lý Kế hoạch là bản thiết kế, trong đó xác định mục đích, mục tiêu đối với tương lai của tổ chức và xác định con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó
+ Tổ chức: Là quá trình hình thành các quan hệ và cấu trúc các quan hệ
giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm tạo cơ chế đảm bảo sự phối hợp, điều phối tốt các nguồn lực, các điều kiện cho việc thực hiện thành công kế hoạch, chương trình hành động và nhờ đó mà đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công việc của chúng và sau đó là vấn đề nhân sự, gồm việc xác định và nhóm gộp các hoạt động, giao phó quyền hành của người quản lý và tạo ra sự phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức một cách khoa học, có hiệu quả
+ Chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành,
nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có quá trình tác động chỉ đạo Chỉ đạo bao hàm cả việc liên kết các thành viên và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ
+ Kiểm tra: Là chức năng của quản lý nhằm đánh giá,phát hiện và điều
chỉnh kịp thời giúp cho hệ quản lý vận hành tối ưu, đạt mục tiêu đề ra Kiểm tra là nhằm xác định kết quả thực tế so với yêu cầu tiến độ và chất lượng vạch
ra trong kế hoạch, phát hiện những sai lệch, đề ra những biện pháp uốn nắn điều chỉnh kịp thời Kiểm tra không chỉ là giai đoạn cuối cùng của chu trình quản lý, mà luôn cần thiết trong suốt từ đầu đến cuối quá trình thực thi kế hoạch
Ngoài 4 chức năng cơ bản, gần đây nhiều nghiên cứu đã nhấn mạnh yếu tố thông tin như là một chức năng không thể thiếu trong quá trình quản lý
Quá trình quản lý thường diễn ra theo một chu kỳ gọi là chu trình quản
lý, chu trình quản lý được biểu hiện bằng sơ đồ sau:
Trang 221.2.3.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội, là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn
Khái niệm về quản lý giáo dục, cho đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung, bản chất
- Quản lý giáo dục theo tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội”
1.2.3.3 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của XH, thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm XH cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định, sao cho việc kiến tạo kinh nghiệm XH đạt được mục tiêu XH đặt ra Quản lý nhà trường là một loại hình đặc thù của quản lý giáo dục và là cấp độ Quản lý giáo dục vĩ mô
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý (hiệu trưởng, các bộ phận chức năng, các cơ
2
Trang 23quan quản lý nhà nước về GD cấp trên) nhằm làm cho quá trình GD nói chung và các hoạt động GD - dạy học cụ thể được tiến hành trong nhà trường đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu GD của cấp học, bậc học và các mục tiêu phát triển nhà trường
Trong nhà trường, hiệu trưởng quản lý mọi hoạt động của nhà trường theo chế độ thủ trưởng Hiệu trưởng là người phụ trách cao nhất của nhà trường và chịu trách nhiệm về các hoạt động trong nhà trường Đồng thời trong nhà trường THPT còn có các tổ chuyên môn làm việc theo chế độ tập thể và các hội đồng làm việc theo chế độ tư vấn để góp ý kiến, tư vấn, trợ giúp thủ trưởng xem xét, quyết định và thực thi đối với những vấn đề quản lý
nhà trường
1.2.3.4 Quản lý xây dựng nếp sống VH
Có thể nói, quản lý xây dựng nếp sống VH là yếu tố rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ- những chủ nhân tương lai của đất nước trở thành những con người sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp, có nhân cách tốt, có đủ tri thức để trở thành những công dân tốt, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước Vì vậy vấn đề quản lý xây dựng nếp sống VH phải được coi là có tính sống còn, tính cấp bách và thiết thực đối với từng nhà trường, vì nếu học đường mà thiếu văn hóa thì không thể làm tốt được chức
năng chuyển tải những giá trị kiến thức và nhân văn cho thế hệ trẻ
Quản lý xây dựng nếp sống VH chính là việc bắt đầu từ các cấp quản
lý ngành, lãnh đạo các trường đề ra chủ trương, kế hoạch triển khai, có kiểm tra, nhắc nhớ, đánh giá…Sau đó, đội ngũ nhà giáo cần coi giáo dục văn hóa
là nhân tố quan trọng, từ đó chú trọng hình thành và phát triển nhân cách văn hóa cho học sinh Bên cạnh đó, mỗi nhà trường cần có hệ giá trị làm chuẩn mực để mọi thành viên đồng thuận, lấy đó là mục tiêu phấn đấu, thước đo thành quả của bản thân, của lớp, của trường, đặc biệt về mặt đạo
Trang 24đức xã hội, giá trị nhân cách, điều mà chúng ta gọi là “dạy người” bên cạnh
“dạy chữ, dạy nghề”
Không chỉ thấy được giá trị, vai trò của quản lý xây dựng nếp sống VHNT mà bộ máy quản lý, lãnh đạo của mỗi nhà trường phải có tầm nhìn, xác định được những giá trị cao cả mà mỗi nhà trường phải vươn tới Văn hóa nhà trường chỉ được hình thành khi các thành viên trong mỗi nhà trường đều đồng loạt tư duy và hành động thống nhất Việc lựa chọn những nội dung và hình thức giáo dục trong mỗi nhà trường trong giai đoạn hiện nay cũng rất quan trọng để quản lý xây dựng nhà trường đạt chuẩn mực văn hóa
1.2.4 Giải pháp quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa trong nhà trường
1.2.4.1 Giải pháp quản lý
Giải pháp quản lý là những cách thức cụ thể để thực hiện có hiệu quả mục tiêu quản lý Vì đối tượng quản lý phức tạp nên đòi hỏi các giải pháp quản lý phải đa dạng, phong phú, linh hoạt phù hợp với đối tượng quản lý Các giải pháp quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống các biện pháp của mỗi phương pháp quản lý nhất định Các giải pháp này sẽ giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các phương pháp quản lý của mình mang lại hiệu quả hoạt động tối ưu của bộ máy
1.2.4.2 Giải pháp quản lý việc xây dựng nếp sống VH
Giải pháp xây dựng nếp sống VH chính là cách thức cụ thể mà chủ thể quản lý thực hiện để tác động đến các đối tượng QL nhằm thực hiện có hiệu quả việc xây dựng nếp sống VH trong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Xây dựng nếp sống VH có mối liên hệ hữu cơ, tác động tích cực đến sự phát triển và vị thế của nhà trường Vì vây, xây dựng nếp sống VH là xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của CBQL, giáo viên và học sinh trong hoạt động nhà trường, hướng tới mục tiêu xây dựng đội
Trang 25ngũ CBQL, giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà trường trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
1.3 Một số vấn đề về nếp sống văn hóa trong trường trung học phổ thông
1.3.1 Vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng nếp sống văn hóa trong trường trung học phổ thông
Nếp sống VH có tác động đến mọi khía cạnh sư phạm của GV, là yếu tố lan tỏa khắp nhà trường và khó xác định Freiberg (1998 ) mô tả nếp sống VH
“ như không khí mà chúng ta thở Không ai nhận ra nó cho đến khi nó bị ô nhiễm”
Nếp sống VH có thể tác động tích cực hoặc cản trở đến sự vận hành của nhà trường
Khi nhà trường có VH tích cực mang tính chuyên môn cao thì ở đó sẽ
có sự phát triển đội ngũ có ý nghĩa, cải cách chương trình thành công và sử dụng số liệu về HS một cách có hiệu quả Ở những trường học như thế, GV
có tác động lớn đến việc cải thiện VH của HS
Trang 26Nếp sống VH tạo động lực làm việc Động lực sư phạm được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó nếp sống VH là một động lực vô hình nhưng có sức mạnh kích cầu hơn cả các biện pháp kinh tế Nếp sống VH giúp nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và bản chất công việc mình làm
Đó là nền tảng tinh thần cho sự sáng tạo - điều vô cùng quan trọng đối với hoạt động sư phạm mà đối tượng là tri thức và con người
Nếp sống VH với chất lượng đào tạo và thương hiệu nhà trường
Nếp sống VH ảnh hưởng nhiều chiều tới chất lượng và hiệu quả của quá trình GD trong nhà trường theo hướng phát triển con người toàn diện Nó ảnh hưởng rõ rệt đến cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động của mỗi thành viên trong nhà trường, do đó có thể nâng cao hoặc cản trở động cơ, kết quả dạy- học của người học
Nếp sống VH có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với xây dựng
thương hiệu nhà trường Bởi lẽ, nếp sống VH là một tính chất đặc thù của nhà
trường, hơn bất kỳ một tổ chức nào
Nếp sống VH tích cực giúp cho người dạy, người học có cảm giác tự hào, hãnh diện vì được là giáo viên của tổ chức nhà trường, được làm việc vì những mục tiêu cao cả của nhà trường
Nếp sống VH hỗ trợ điều phối và kiểm soát hành vi của các cá nhân bằng các chuẩn mực, thủ tục, quy trình quy tắc và bằng dư luận, truyền thuyết
do những thế hệ con người trong tổ chức nhà trường xây dựng lên
Khi nhà trường phải đối mặt với một vấn đề phức tạp, chính nếp sống
VH là điểm tựa tinh thần, giúp các nhà quản lý trường học và đội ngũ GV hợp tác, phát huy trí lực để có quyết định và sự lựa chọn đúng đắn
Nếp sống VH giúp các thành viên tổ chức thống nhất về cách nhận thức vấn đề, cách đánh giá, lựa chọn, định hướng và hành động… Nó tựa như chất keo gắn kết các thành viên lại thành một khối, tạo ra những dư luận tích cực,
Trang 27hạn chế những biểu hiện tiêu cực trái với quy tắc, chuẩn mực thông thường của tổ chức Nó hạn chế những nguy cơ mâu thuẫn và xung đột và khi xung đột là không thể tránh khỏi thì nếp sống VH tạo ra hành lang đạo lý phù hợp
để góp phần khắc phục, giải quyết xung đột trên nguyên tắc không để phá vỡ tính chỉnh thể của tổ chức nhà trường
Tổng hợp tất cả các yếu tố trên, từ sự gắn kết, tạo động lực, điều phối
kiểm soát và hạn chế những nguy cơ làm giảm sức mạnh của tổ chức thì nếp sống VH tổ chức đã làm tăng hiệu quả các hoạt động trong nhà trường, trên
cơ sở đó mà dần dần tạo nên những phẩm chất đặc trưng khác biệt cho tổ chức trường học Đó là cơ sở nâng cao uy tín,“thương hiệu” của nhà trường, tạo đà cho các bước phát triển tốt hơn
1.3.2 Những biểu hiện của nếp sống văn hóa trong nhà trường
1.3.2.1 Những biểu hiện của nếp sống văn hóa tích cực lành mạnh trong nhà trường
- Về trang phục:
+ Đối với học sinh: Khi đến trường mặc quần dài, áo sơ mi hoặc áo phông có cổ, đi giày có quai hậu; khi đi thực hành trong giờ học môn giáo dục quốc phòng, thể dục mặc trang phục theo quy định Giờ học chính khóa học sinh nữ mặc áo dài, đầu tóc phải gọn gàng, không nhuộm màu tóc khác biệt, phản cảm
+ Đối với giáo viên: nữ mặc áo dài truyền thống, nam mặc sơ mi bỏ áo vào quần, đi giày, dép có quai hậu
+ Đối với khách đến nhà trường: nghiêm cấm đến trường đi bằng dép
lê, mặc các trang phục: áo hở vai, hở lưng, hở nách, áo quá ngắn, quần sooc, váy ngắn… và các loại trang phục phản cảm khác
- Về giao tiếp và ứng xử:
Trang 28+ Khi giao tiếp phải thể hiện tác phong, tư cách của người giáo viên, gương mẫu trong lời nói, cử chỉ và hành động; đối với CNGVNV và khách phải kính trọng lễ phép, đối với bạn bè phải tôn trọng, thân ái và sẵn sàng giúp đỡ nhau trong học tập và rèn luyện
+ Khi giáo viên vào lớp và kết thúc tiết dạy học sinh phải đứng lên chào và chờ giáo viên cho phép mới được ngồi hoặc ra khỏi lớp học
+ Tuyệt đối không sử dụng điện thoại di động, mất trật tự trong giờ học, sinh hoạt và hội họp
+ Nghiêm cấm hút thuốc lá, sử dụng đồ ăn, thức uống trong lớp học và các hoạt động tập thể khác của tnàh trường
+ Quan hệ bạn bè trong sáng, lành mạnh phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; nghiêm cấm những hành vi không lành mạnh trong khuôn viên nhà trường
+ Không nói tục, chửi bậy, chửi thề; không xúc phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể của người khác
- Về bảo vệ tài sản:
+ Người học có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ và sử dụng an toàn, tiết kiệm có hiệu quả tài sản của nhà trường và của cá nhân Không hủy hoại, phá phách làm hư hỏng các trang thiết bị và các tài sản khác của nhà trường; tắt đèn quạt trong các phòng học sau khi tan học
+ Khi tham gia các hoạt động về tổ chức tại nhà trường phải có ý thức giữ gìn, bảo vệ các trang thiết bị không đem vào nhà trường các chất dễ gây cháy, nổ, vật dụng cồng kềnh, sắc, nhọn; xê dịch các trang thiết bị, vật dụng trong Hội trường…
- Về giữ gìn an ninh trật tự
+ Chấp hành nghiêm chỉnh các nội quy, quy định của nhà trường và đơn vị nơi đến làm việc, học tập và nghiên cứu
Trang 29+ Không tự ý tập trung gây rối công cộng trong và ngoài khu vực nhà trường
+ Không truyền bá tôn giáo, không tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, không tham gia biểu tình…
+ Không tham gia các tệ nạn xã hội, không truy cập các Website không lành mạnh
- Về an toàn giao thông:
+ Tuyệt đối chấp hành luật giao thông đường bộ
+ Khi ngồi trên xe đạp điện, xe gắn máy phải đội mũ bảo hiểm
- Về giữ gìn vệ sinh môi trường:
+ Có ý thức trách nhiệm giũ gìn vệ sinh, cảnh quan môi trường, bỏ rác đúng nơi quy định
+ Không chặt phá, làm hư hại các loại hoa cây kiểng
trong khuôn viên nhà trường
1.3.2.2 Những biểu hiện của nếp sống không lành mạnh, phản văn hóa
trong nhà trường
- Giáo viên thiếu sự cởi mở, ít gần gũi học sinh, không thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của học sinh; thiếu sự ðộng viên khuyến khích, chưa phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập, còn áp đặt kiến thức cho học sinh một cách chủ quan; thường xuyên trách mắng học sinh vì các em không có sự tiến bộ, khiến cho học sinh mặc cảm, chán học và bỏ học; có giáo viên sử dụng hình thức trách phạt thiếu tính sư phạm như chép phạt quá nhiều, phạt tiền học sinh chậm tiến bộ để gây quỹ lớp;
- Trong nội bộ giáo viên thiếu sự hợp tác, thiếu sự chia sẻ học hỏi lẫn nhau; thiếu chủ động trong công việc; còn hiện tượng việc ai nấy làm, thiếu
sự hỗ trợ cho nhau;chưa tích cực tham gia các hoạt động văn hoá xã hội;
Trang 30- Hiện tượng gian lận trong thi cử; tình trạng bạo lực học đường vẫn còn, trong đó có hiện tượng học sinh gây gỗ đánh nhau với các thế lực bên ngoài nhà trường;
- Học sinh đua đòi ăn chơi, còn những biểu lệch lạc về giới tính theo phong trào, sống thiếu niềm tin, không có lý tưởng, lười lao động;
- Thiếu ý thức bảo vệ của công, bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh cá nhân; một số lớp học còn hiện tượng viết vẽ bẩn, khạc nhổ bữa bãi, vứt bã kẹo cao su không đúng nơi quy định, không tiết kiệm điện; hút thuốc trong nhà trường …
- CBGVNV: uống rượu, bia và sử dụng các chất kích thích khác khi đang tham gia các hoạt động giáo dục trong nhà trường; sử dụng điện thoại khi đang giảng dạy trên lớp, trong hội họp
- Sử dụng thời gian làm việc, giảng dạy vào việc riêng như tụ tập đi ăn sáng, uống cà phê, không hút thuốc lá trong nhà trường, khi hội họp tuyệt đối nói chuyện riêng, nghe điện thoại, nhắn tin, lướt web… làm mất trật tự
- CBGVNV: xúc phạm danh dự, nhân phẩm của đồng nghiệp, xúc phạm thân thể học sinh, sỉ nhục học sinh bằng những từ ngữ nặng nề; gian lận trong thi cử, kiểm tra, đánh giá, tuyển sinh và dạy thêm- học thêm trái qui định
- Xuyên tạc nội dung giáo dục, dạy sai nội dung kiến thức, không đúng với quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước Việt Nam Bỏ giờ,
bỏ buổi dạy, tùy tiện cắt xén chương trình giáo dục
- Học sinh: vô lễ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của GV và học sinh khác; gian lận trong kiểm tra, thi cử; làm việc khác, sử dụng điện thoại di động hoặc máy nghe nhạc trong giờ học; hút thuốc, uống rựợu bia và sử dụng các chất kích thích khác khi tham gia các hoạt động giáo dục… Lưu hành sử dụng các ấn phẩm độc hại, đồi trụy, đưa thông tin không lành mạnh lên mạng,
Trang 31chơi các trò chơi mang tính kích động bạo lực, tình dục; tham gia các tệ nạn
xã hội, mặc quần đáy ngắn và áo quần khác không đúng quy định
- Bầu không khí tương đối cởi mở, dân chủ, hợp tác, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau; lãnh đạo điều hành nhà trường hoạt động hiệu quả, công khai, minh bạch Các tổ chức đoàn thể phát huy tốt vai trò của mình
- Xây dựng mối quan hệ thân thiện, hỗ trợ, gần gũi với cộng đồng Nhà trường cung cấp dịch vụ học tập cho cộng đồng
- Nhà trường thể hiện sự quan tâm, có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, lôi kéo cộng đồng cùng tham gia giải quyết những vấn đề của giáo dục, đặc biệt trong việc giáo dục những học sinh chậm tiến, học sinh vi phạm kỷ luật
- Thúc đẩy, cổ vũ tinh thần làm việc giữa các giáo viên với nhau và tinh thần làm việc giữa các nhóm với nhau (Hiệu trưởng tin tưởng, trao quyền tự chủ cho giáo viên và có sự kiểm soát hợp lý- giáo viên có thể chấp nhận được)
1.4 Vấn đề quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa trong trường trung học phổ thông
1.4.1 Mục tiêu của việc quản lý việc xây dựng nếp sống văn hóa trong trường trung học phổ thông
- Tạo khí thế sôi nổi trong toàn thể cán bộ công chức, viên chức, học sinh toàn trường, ra sức thi đua, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao
- Thông qua việc xây dựng nếp sống VH không ngừng nâng cao nhận thức về chính trị, tư tưởng, trình độ năng lực chuyên môn; rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống của cán bộ, công chức, viên chức; đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo, tận tụy của cán bộ, công chức, viên chức; nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về văn hoá, văn minh đô thị trong nhà trường
Trang 32- Xây dựng trường học văn minh là tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh nhà trường, nhằm thúc đẩy phong trào “Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực”
- Nâng cao ý thức của toàn thể CBGVNV và HS của trường góp phần xây dựng nếp sống văn hóa trường học Thực hiện tốt Luật giáo dục, nội quy nhà trường, những quy định khác của Nhà nước
- Trang phục của CBGVNV và HS gọn gàng, trang nhã, lịch sự; đồng phục đúng quy định của nhà trường
- Thực hiện tốt phong trào thi đua Dạy tốt- học tốt”, giảm tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học, yếu kém Trường luôn đạt danh hiện tiên tiến, tiên tiến xuất sắc
- Thực hiện tốt các quy định về vệ sinh môi trường theo tiêu chuẩn xanh- sạch- đẹp Trường lớp đúng tiêu chuẩn sư phạm (bảng tên, trường lớp, cột cờ, nước sạch, nhà vệ sinh, thùng rác…)
- Đảm bảo an toàn trật tự giao thông, trật tự an toàn xã hội, không có tệ nạn xã hội tác động vào nhà trường: ma túy, chất gây nghiện, dịch bệnh, mại dâm…
- Củng cố mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; CBGVNV
và HS đoàn kết tương trợ lẫn nhau, học sinh phải tôn trọng thầy cô, thầy cô phải yêu thương học trò
- Giữ gìn tài sản nhà trường thật tốt hạn chế xảy ra tình trạng hư hỏng mất mát
Như vậy, việc xây dựng nếp sống VH trong nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, làm động lực thúc đẩy nhà trường phát triển
1.4.2 Nội dung quản lý xây dựng nếp sống văn hóa trong trường trung học phổ thông
Trang 331.4.2.1 Quản lý việc nâng cao nhận thức cho các thành viên trong nhà trường về sự cần thiết phải xây dựng nếp sống văn hóa
Nếp sống văn hóa là một bộ phận của văn hóa ứng xử chung của người Việt Nam, bao gồm các phép ứng xử giữa cá nhân (hoặc nhóm người) với môi trường tự nhiên, môi trường sư phạm và với chính bản thân mỗi cá nhân (hoặc nhóm), trong khuôn khổ quy định của pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội Nếp sống VH được thể hiện chủ yếu ở bộ mặt công sở và cung cách ứng xử của cán bộ, giáo viên và học sinh Chức năng của nếp sống
VH chính là việc tham gia vào tổ chức và điều chỉnh các hoạt động nhà trường và chức năng giao tiếp Nếp sống VH có mối liên hệ hữu cơ, tác động tích cực đến sự phát triển và vị thế của nhà trường Vì vậy, xây dựng nếp sống
VH ở các trường THPT vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển của mỗi nhà trường Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở các trường THPT vẫn còn tồn tại những hành vi ứng xử, lời nói, phong cách giao tiếp chưa đúng mực, chưa văn hóa Các hiện tượng nói xấu nhau giữa học sinh, dối trá, nói tục, chửi thề, cãi vã với cha mẹ, người trên, vô lễ với thầy cô giáo, xả rác bừa bãi, phá hoại môi trường, tiêu pha lãng phí, trộm cắp, đánh nhau, coi thường pháp luật diễn ra ngày càng nhiều trong các nhà trường Có thể nói, bộ phận học sinh,
có những biểu hiện thiếu văn hóa ngày càng tăng dần Xây dựng nếp sống VH
là động lực thúc đẩy sự phát triển của nhà trường, làm cho học sinh nhận thức được nhà trường, nơi mình học tập trở thành nơi phấn đấu, rèn luyện; nơi phụ huynh luôn yên tâm về một môi trường đào tạo vừa hồng vừa chuyên, loại bỏ dần những hiện tượng vô văn hóa, xây dựng hệ giá trị riêng làm chuẩn mực góp phần thúc đẩy sự phát triển cho toàn ngành giáo dục
Môi trường giáo dục phải xây dựng thật trong lành, văn hóa Văn hóa thể hiện ở giáo viên, học sinh, qua hành động, cử chỉ, ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Môi trường xung quanh học đường là ý thức của giáo viên và học sinh
Trang 34Giáo viên phải là tấm gương tốt cho học sinh noi theo, phải xây dựng mối quan hệ tốt giữa thầy và trò một cách đúng mực, nghiêm túc, thân mật, giản dị
và chân thành Giáo viên phải xác định đúng vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với việc dạy chữ và dạy người, có ý thức trau dồi chuyên môn, làm cho học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong kiến thức được lĩnh hội, truyền cho các em niềm say mê về nghề nghiệp, phát huy tính tích cực, tự giác làm cho các em trân trọng, yêu quý nghề của mình lựa chọn Nhà trường phải phát động những phong trào thi đua, văn hóa văn nghệ, hoạt động ngoại khóa, biến mỗi mái trường trở thành ngôi trường thân thiện, mỗi học sinh trở thành người học tích cực Xây dựng nếp sống VH ở trường THPT là xây dựng trường học lành mạnh, đảm bảo chất lượng giảng dạy và học tập
Vì vậy, cần phải nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, HS về sự cần thiết phải xây dựng nếp sống VH lành mạnh, từ đó có những hành động thiết thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của nhà trường, tạo động lực cho sự phát triển nhà trường
1.4.2.2 Xây dựng các quy tắc giao tiếp, ứng xử của mọi người trong nhà trường
Việc xây dựng nếp sống VH trong bất kỳ trường học nào cũng dựa trên các yếu tố đó, song cần đặt trọng tâm ở các nội dung cốt lõi của nếp sống VH,
đó là các giá trị và các chuẩn mực VH ứng xử:
- Trước hết, xây dựng một niềm tin và thái độ đúng đắn cho tất cả đội ngũ nhà GD và CB trong trường theo triết lý GD chung và riêng của mình Mỗi trường có định hướng GD nhân cách HS theo quan điểm GD: GD HS độc lập, mạnh dạn, tự tin, hay GD HS ngoan ngoãn nề nếp theo một khuôn mẫu, hoặc GD HS tự chủ trong cuộc sống và cởi mở trong một cộng đồng hòa hợp, điều này sẽ chi phối đến những yếu tố tiếp sau Xây dựng thái độ và
Trang 35niềm tin của các thành viên trong nhà trường tạo ra một động lực phấn đấu và đồng thời cũng là cơ sở của việc đánh giá chất lượng GD nếp sống VH
- Xây dựng hệ thống chuẩn mực nếp sống VH chung và riêng của nhà trường là một việc làm cần thiết, bởi nó là cơ sở cho việc thiết kế mục tiêu
GD mang tính bảo tồn VH dân tộc cũng như nội dung GD nếp sống VH trong nhà trường Đồng thời nó đảm bảo cho việc tạo dựng một môi trường GD mà
ở đó “trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò” và các hoạt động
GD có tính định hướng nếp sống VH Mọi sự vật hiện tượng đi vào đúng bản chất của nó
- Xây dựng các chuẩn mực nếp sống VH giao tiếp ứng xử trong các mối quan hệ trong nhà trường Trước hết là xây dựng mối quan hệ giữa người với người, tiếp sau là mối quan hệ ứng xử của con người đối với thế giới xung quanh một cách có VH
- Giáo dục nếp sống VH cho HS cần được đặt trong một môi trường
GD VH với các hoạt động GD có ý nghĩa, mang tính định hướng Xây dựng
hệ thống chuẩn mực nếp sống VH đóng một vai trò quan trọng và cần thiết được đặt ra trong tương lai sao cho sự du nhập VH ngoại ở thế hệ trẻ nhưng vẫn luôn giữ được bản sắc dân tộc của mình Ở đây cũng cần xây dựng và GD phương pháp tiếp nhận VH là có chọn lọc cho các thế hệ mai sau
Nội dung quy tắc ứng xử trong nhà trường THPT có thể hướng đến các nội dung như sau:
- Quan hệ ứng xử của người học: ứng xử đối với bản thân; đối với bạn bè; đối với nhà giáo, cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường; đối với khách và người lớn tuổi; đối với gia đình; đối với môi trường sống và học tập; đối với nhân dân, láng giềng nơi cư trú; ở nơi công cộng; ở trong lớp học; đối với thực hiện an toàn giao thông
Trang 36- Quan hệ ứng xử của nhà giáo, cán bộ quản lý, cán bộ nhân viên, người
lao động: Đối với bản thân; Đối với trẻ em, học sinh; Đối với cấp trên, cấp
dưới, đồng nghiệp; Đối với các cơ quan, trường học và khách đến làm việc;
Đối với người thân trong gia đình; Đối với cha, mẹ học sinh; Đối với cơ sở
vật chất, môi trường sư phạm; Đối với nhân dân nơi cư trú; Đối với cộng đồng xã hội
Xây dựng các chuẩn mực nếp sống VH giao tiếp ứng xử trong các mối quan hệ trong nhà trường Trước hết là xây dựng mối quan hệ giữa người với người, tiếp sau là mối quan hệ ứng xử của con người đối với thế giới xung quanh một cách có VH
Giáo dục nếp sống VH cho HS cần được đặt trong một môi trường GD
VH với các hoạt động GD có ý nghĩa, mang tính định hướng Xây dựng hệ thống chuẩn mực nếp sống VH đóng một vai trò quan trọng và cần thiết được đặt ra trong tương lai sao cho sự du nhập VH ngoại ở thế hệ trẻ nhưng vẫn luôn giữ được bản sắc dân tộc của mình Ở đây cũng cần xây dựng và GD phương pháp tiếp nhận VH là có chọn lọc cho các thế hệ mai sau
1.4.2.3 Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện nếp sống văn hóa trong nhà trường
- Lãnh đạo nhà trường cần quan tâm đến việc thường xuyên chỉ đạo công tác thực hiện thi đua khen thưởng của nhà trường gắn với phong trào xây dựng nếp sống VH Cụ thể là trong định kỳ giao ban hàng tháng lãnh đạo nhà trường cần nắm bắt và chỉ đạo kịp thời các hoạt động của nhà trường, trong đó liên quan đến công tác đào tạo, quản lý HS, công tác đoàn hội, cơ sở vật chất… Nhà trường cần duy trì tốt hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân
để tham mưu cho lãnh đạo nhà trường trong việc tăng cường công tác kiểm tra giám sát các hoạt động trong nhà trường Đặc biệt tăng cường chấp hành nội quy nhà trường, quản lý nề nếp dạy học và chất lượng đào tạo
Trang 37- Nhà trường cần quan tâm đến vấn đề bảo vệ cảnh quan môi trường sư phạm văn minh, sạch đẹp, an toàn Cần chỉ đạo cụ thể các cá nhân và bộ phận
có liên quan trong nhà trường đến làm việc với chính quyền địa phương và các đơn vị có liên quan để giải quyết các vấn đề
- Thành lập Ban chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện nếp sống VH
+ Xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai quy chế xây dựng nếp sống
VH trong đơn vị trường học
+ Tổ chức tuyên truyền rộng rãi đến tất cả CBGVNV, HS và CMHS về nội dung xây dựng nếp sống VH nhà trường
+ Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện quy chế xây dựng nếp sống VH trường học cùng với các đợt kiểm tra đánh giá các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước và của ngành giáo dục phát động
+ Chỉ đạo các tổ chuyên môn, đoàn thể của nhà trường thực hiện kế hoạch đã đề ra
+ Tổ chức sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi học kỳ, năm học và báo cáo thường xuyên cho Ban chỉ đạo
- Phân công nhiệm vụ cho từng thành viên Ban chỉ đạo
+ Giao cho Phó Hiệu trưởng phụ trách phong trào tổ chức triển khai quán triệt các Chỉ thị, kế hoạch của ngành đến toàn thể CBGVNV, HS và CMHS của toàn trường
+ Giao Phó Hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất tu sửa các công trình vệ sinh, chăm sóc bồn hoa, cây cảnh xung quanh nhà trường, tăng cường sửa chữa cơ sở vật chất của đơn vị
+ Công đoàn vật động toàn thể CBGVNV thực hiện tốt quy ước xây dựng NSVH của nhà trường
+ Đoàn trường tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục Đàon viên thanh niên về mục đích ý nghĩa của các phong trào, phối hợp chặt chẽ với Công
Trang 38đoàn và lãnh đạo nàh trường để phong trào được phát động và tổ chức thường xuyên, có chỉ tiêu cụ thể gắn với thực tế nhà trường, động viên khuyến khích được đông đảo mọi người tham gia, lập kế hoạch hoạt động thực hiện:
Thực hiện tốt các chủ đề, chủ điểm theo hướng dẫn của Tỉnh đoàn
và BGH nhà trường
Tổ chức tốt các hoạt động thể dục thể thao và văn nghệ
Tổ chức lao động vệ sinh môi trường và các hoạt động tình nguyện
Tổ chức phong trào tự học, phát động phong trào chống tiêu cực trong các kỳ thi
1.4.2.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nếp sống văn hóa trong nhà trường
Hàng năm định kỳ vào cuối năm học, nhà trường tiến hành kiểm tra, đánh giá, bình xét thi đua đối với cán bộ công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác, chấp hành những nội quy, quy định của nhà trường Nhìn chung, từng cá nhân và từng đơn vị trong nhà trường tiến hành thực hiện công việc đánh giá bình xét thi đua là nghiêm túc, đúng theo quy trình hướng dẫn của nhà trường Qua việc bình xét thi đua để lựa chọn bình bầu lao động tiên tiến, chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, cấp thành phố và đề nghị khen thưởng ở các cấp cao hơn Tuy nhiên, để có một cái nhìn toàn diện và đánh giá khách quan hơn trong việc tổ chức phát động và đánh giá kết quả thực hiện các phong trào thi đua trong nhà trường, chúng ta cũng cần xem xét đến các yếu tố tự nguyện
và tự giác chấp hành của các thành viên trong nhà trường từ việc nhận thức một cách đầy đủ các nội dung và mục tiêu mà nhà trường đang hướng đến để mỗi thành viên trong nhà trường nhận thấy trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện của mình là vì sự nghiệp GD và sự phát triển chung của nhà trường trong tương lai
Trang 391.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa và xây dựng nếp sống văn hóa trong trường trung học phổ thông
1.4.3.1 Các yếu tố khách quan
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây dựng hệ giá trị đạo đức mới ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội đã có những biểu hiện xem nhẹ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, chạy theo thị hiếu không lành mạnh Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa lối sống lành mạnh, trung thực, có lý tưởng…với lối sống ích kỷ, thực dụng…đang diễn ra hàng ngày Bên cạnh những hệ giá trị mới được hình thành trong quá trình hội nhập, những cái tiêu cực cũng đang xâm nhập vào đạo đức, lối sống của nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ học sinh, sinh viên
Hiện nay không ít một bộ phận không nhỏ giới trẻ có lối sống thực dụng chỉ chạy theo những giá trị vật chất mà bỏ quên những giá trị tinh thần Tình trạng giới trẻ sống buông thả, không coi trọng giá trị đạo đức đã và đang diễn ra ở nhiều nơi, một số đông giới trẻ đang chạy theo vòng xoáy của “văn hóa tốc độ” Từ những sách báo không lành mạnh đến những băng đĩa phim đen được trao cho nhau một cách dễ dàng, từ những quán Karaoke buổi tối đến những vũ trường, quán cafe đèn mờ, cafe lều…thâu đêm suốt sáng, rồi những ngôi nhà nghỉ, khách sạn mọc lên như nấm…
Giới trẻ ngày nay tiếp cận quá nhiều phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại di động, truyền hình cáp, internet…nên dễ bị tiêm nhiễm những tư tưởng xấu, một số thì vùi mình trong nhậu nhẹt, cờ bạc, số khác lại lao vào các trò vô bổ trong thế giới ảo…
Trang 40Một bộ phận không nhỏ CMHS thì ít quan tâm đến việc giáo dục con
em mình, chỉ biết chiều chuộng theo sở thích của chúng, tạo nên sự đua đòi của các em
Một vấn đề nữa, có thể là do pháp luật chưa nghiêm Hình thành nhân cách, đạo đức con người đâu chỉ giáo dục trong nhà trường phổ thông là đủ Nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội ít nhiều đều bị chi phối bởi cách mà
xã hội đó đang hành xử với nhau Nếu được sống trong một môi trường nghiêm minh về pháp luật, chuẩn mực về đạo đức, mọi người hành xử với nhau một cách có tình, có lý, chắc chắn đó sẽ là một môi trường giáo dục lý tưởng trong việc hình thành nhân cách đạo đức của học sinh Những bài học
mà các thầy cô rao giảng để giáo dục về đạo đức của học trò mình trên lớp dường như ngược lại với các hoạt động đang diễn ra trong cuộc sống xã hội
Do những tiêu cực mà các em hàng ngày phải chứng kiến Nhà trường thường xuyên giáo dục các em về tính trung thực, phải biết vươn lên bằng chính đôi chân của mình Nhưng trong thực tế, các em lại chứng kiến có quá nhiều người lớn không trung thực nhưng vẫn “thành đạt”
Do chính nội dung giảng dạy trong nhà trường Một nguyên nhân không kém phần quan trọng đó chính là chương trình giảng dạy đạo đức ở cấp học phổ thông, những bài học ý nghĩa, gần gũi với đời sống không được chú trọng mà thay bằng những bài học quá trừu tượng
Trong đời sống xã hội, con người chịu ảnh hưởng bởi môi trường văn hóa mà trong đó họ sống và hoạt động Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng,
nó là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh và bản sắc của dân tộc đó Đối với trường học, xây dựng nếp sống VH chính là việc xây dựng chuẩn mực, quy định cách xử sự giao tiếp giữa người học với nhau, giữa trò với thầy và ngược
lại; là cách học và tiếp thu kiến thức
1.4.3.2 Các yếu tố chủ quan