1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường đại học vinh

106 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Mềm Cho Sinh Viên Trường Đại Học Vinh
Tác giả Bùi Thị Quỳnh Sương
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Hường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Quản Lí Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH BÙI THỊ QUỲNH SƯƠNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

BÙI THỊ QUỲNH SƯƠNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Hường

Nghệ An, 2017

Trang 2

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, bạn bè và gia đình Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Hội đồng khoa học Trường đại học Vinh, khoa Giáo Dục, ngành Quản lý giáo dục trường Đại học Vinh cùng quý Thầy Cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục khóa 23 Chính quý thầy cô đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức nền tảng và những kiến thức chuyên môn giúp tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô PGS.TS.Nguyễn Thị Hường, người hướng dẫn khoa học kính mến đã hết

lòng động viên, định hướng, góp ý, sửa chữa và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn Cho đến hôm nay, luận văn tốt nghiệp của tôi đã được hoàn thành, cũng chính là nhờ sự giúp đỡ, đôn đốc, chỉ bảo tận tình của cô

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Đồng thời, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, chuyên viên Trung tâm đào tạo liên tục trường Đại học Vinh; Ban giám hiệu, các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực tế để làm luận văn

Mặc dù đã nỗ lực cố gắng rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được những lời chỉ dẫn của các thầy cô, ý kiến đóng góp trao đổi của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Tác giả

Bùi Thị Quỳnh Sương

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Đóng góp của luận văn 3

8 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước 7

1.2 Vấn đề giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên ở trường đại học 9

1.2.1 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng mềm, giáo dục kỹ năng mềm 9

1.2.2 Tầm quan trọng của kỹ năng mềm và giáo dục kỹ năng mềm đối với sinh viên 13

1.2.3 Mục tiêu giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đại học 16

1.2.4 Các kỹ năng mềm cần trang bị cho sinh viên đại học 16

1.2.5 Các nguyên tắc, phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên ở trường đại học 19

1.3 Vấn đề quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường đại học 23

1.3.1 Khái niệm quản lý, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm 23

1.3.2 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên ở trường đại học 25

Trang 4

1.3.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên

trường đại học 25

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng mềm và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đại học 28

1.4.1 Các yếu tố chủ quan 28

1.4.2 Các yếu tố khách quan 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH 34

2.1 Khái quát về trường Đại học Vinh 34

2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 34

2.1.2 Nhiệm vụ và chức năng 35

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 36

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 37

2.2.1 Mục đích khảo sát 37

2.2.2 Nội dung khảo sát 38

2.2.3 Đối tượng khảo sát 38

2.2.4 Phương pháp, công cụ khảo sát 38

2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Đại học Vinh 38

2.3.1 Thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên Trường Đại học Vinh 38

2.3.2 Thực trạng nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, cán bộ Đoàn về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong trường 42

2.3.3 Thực trạng nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên 43

2.3.4 Thực trạng hình thức, phương pháp tổ chức giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong trường 44

2.3.5 Thực trạng đội ngũ làm công tác giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên 47

Trang 5

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên

Trường Đại học Vinh 49

2.4.1 Thực trạng xây dựng chương trình, kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên 49

2.4.2 Thực trạng tổ chức và chỉ đạo và thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên 50

2.4.3 Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên 52

2.4.4 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên 53

2.5 Đánh giá chung 55

2.5.1 Ưu điểm 55

2.5.2 Hạn chế 55

2.5.3 Nguyên nhân 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH 58

3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 58

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 58

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 58

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 58

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 59

3.2 Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Đại học Vinh 59

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên về tầm quan trọng của kỹ năng mềm và giáo dục kỹ năng mềm 59

3.2.2 Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên 62

3.2.3 Tổ chức và chỉ đạo việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên 65

Trang 6

3.2.4 Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng

mềm cho sinh viên 68

3.2.5 Phát huy vai trò của Đoàn, Hội trong giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên 73

3.2.6 Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất và tạo môi trường cho sinh viên rèn luyện kỹ năng mềm 74

3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 77

3.4 Thăm dò tính cấp thiết, khả thi của các giải pháp 78

3.4.1 Mục đích khảo sát 78

3.4.2 Nội dung khảo sát và phương pháp khảo sát 78

3.4.3 Đối tượng khảo sát 78

3.4.4 Kết quả thăm dò tính cấp thiết, khả thi của các giải pháp đã đề xuất 78

3.4.5 Nhận xét 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Kiến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 8

Bảng 2.1 Mức độ nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của KNM 39Bảng 2.2 Mức độ rèn luyện kỹ năng mềm của sinh viên 40Bảng 2.3 Những KNM còn thiếu và yếu của sinh viên 41Bảng 2.4 Mức độ nhận thức của đội ngũ CBQL, GV, CB Đoàn về tầm quan trọng của hoạt động GD KNM cho SV trong trường 42Bảng 2.5 Nhận thức của SV Trường đại học Vinh về tính hiệu quả của các hình thức GD KNM nhà trường đã áp dụng 46Bảng 2.6 Các kế hoạch giáo dục kỹ năng mềm 49Bảng 2.7 Thực trạng chỉ đạo, tổ chức quản lý hoạt động GD KNM cho SV 50Bảng 2.8 Mức độ đánh giá kết quả GD KNM cho SVTrường đại học Vinh 53Bảng 3.1 Đánh giá tính cấp thiết của giải pháp đã đề xuất (n = 100) 78Bảng 3.2 Đánh giá tính khả thi của giải pháp đã đề xuất (n =100) 79

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI là thế kỷ với rất nhiều sự thay đổi diễn ra hàng ngày trên nhiều lĩnh vực, là thế kỷ của sự phát triển, nâng cao không ngừng của văn hóa, kinh tế Đặc biệt, sự phát triển của khoa học đã mang lại cho con người một cuộc sống hiện đại và đáp ứng ngày càng cao những nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì cần sự chung sức, đồng lòng của tất cả mọi người, mà lực lượng chủ yếu chính là tuổi trẻ Bởi tuổi trẻ là lực lượng nòng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho Tổ Quốc Việt Nam Nhất là các bạn SV – nguồn lao động trí thức góp phần quan trọng phát triển nền kinh tế đất nước Nhưng thời gian gần đây, vấn đề đang được xã hội quan tâm và phản ánh đó là phần lớn SV thiếu kỹ năng mềm

Kỹ năng mềm chủ yếu là những KN thuộc về tính cách con người Đó

là các KN quan trọng trong cuộc sống con người mà thường xuyên được sử dụng như: KN thuyết trình hiệu quả, KN giao tiếp và ứng xử hiệu quả, KN làm việc hiệu quả Trong cuộc sống và môi trường công việc, các KNM đóng vai trò rất quan trọng vì chúng quyết định lớn đến sự thành bại của mỗi người Đặc biệt, KNM giúp học sinh, sinh viên ý thức được việc làm chủ bản thân, nâng cao hiểu biết, đồng thời có nhiều cơ hội hơn để tìm được việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp Bên cạnh đó KNM còn giúp SV có lập trường vững vàng hơn, tư duy nhanh nhạy và sắc bén hơn, cách ứng phó và xử lý các tình huống gặp phải trong cuộc sống cũng hiệu quả hơn Đặc biệt, biết cách tự quản lý thời gian và kiểm soát bản thân, lên kế hoạch định hướng, nỗ lực học tập và rèn luyện bản thân

Nhận thức được tầm quan trọng của KNM, việc đào tạo, phát triển và rèn luyện KNM cho SV được nhà trường rất chú trọng Tuy nhiên việc mở các lớp đào tạo KNM cho SV hiện nay ở trường vẫn còn hạn chế, phần nhiều chỉ trên góc độ lí thuyết, vì vậy không tạo nên được niềm say mê và hứng thú

Trang 10

của SV trong các khóa học Với nhiều bạn sinh viên, KNM vẫn còn là một thuật ngữ khá xa lạ Do vậy các bạn chưa có định hướng đúng đắn cho việc phát triển và hoàn thiện KNM Nhiều SV ra trường vẫn chưa đáp ứng với nhu cầu các nhà tuyển dụng Một số sinh viên tuy đã học năm cuối tại trường, chuẩn bị bước chân vào ngưỡng cửa cuộc đời nhưng lại rụt rè, ngại giao tiếp lúng túng trong trao đổi, ứng xử, xây dựng và phát triển mối quan hệ với người xung quanh nhằm tạo ra sự đồng cảm, hợp tác, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau trong công việc và cả trong cuộc sống Sinh viên chưa chủ động trong việc giao tiếp khi đi làm để trau dồi kiến thức, tăng tự tin cũng như trong việc nhận thức và rèn luyện KNM

Hiện nay, công tác quản lí hoạt động GD KNM tại Trường Đại học Vinh còn thiếu đồng bộ và hiệu quả cũng chưa cao vì thế đã dẫn đến thực trạng là sinh viên tốt nghiệp đang hạn chế về những KNM cần thiết trong hoạt động nghề nghiệp của họ Do vậy, tìm ra giải pháp quản lí nhằm tác động đến chất lượng GD KNM cho SV của Trường là rất cần thiết

Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Đại học Vinh” làm luận văn Thạc sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn luận văn đề xuất các giải pháp QL hoạt động GD KNM cho SV Trường Đại học Vinh, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và sự thành công cho SV của trường

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động GD KNM cho SV trường đại học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Giải pháp QL hoạt động GD KNM cho SV Trường Đại học Vinh

4 Giả thuyết khoa học

Trang 11

Nếu đề xuất được các giải pháp quản lí có tính khoa học và khả thi dựa trên các chức năng QL thì có thể nâng cao hiệu quả của hoạt động GD KNM cho SV Trường Đại học Vinh, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng nhu cầu xã hội

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL hoạt động GD KNM cho SV

- Nghiên cứu thực trạng QL hoạt động GD KNM cho SV Trường Đại học Vinh

- Đề xuất một số giải pháp QL hoạt động GD KNM cho SV Trường Đại học Vinh

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một số giải pháp QL hoạt động GD KNM cho SV tại trường Đại học Vinh với chủ thể QL là các trung tâm, phòng ban chức năng liên quan đến đào tạo và đào tạo KNM cho SV

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp đọc, phân tích - tổng hợp, phân loại - hệ thống hóa và cụ thể hóa các vấn đề

lý luận có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- PP quan sát: dự giờ, quan sát các hoạt động chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên

- PP điều tra: dùng phiếu hỏi để tìm hiểu, khảo sát nhằm thu thập những thông tin cần thiết về quản lý hoạt động GD KNM cho SV Phòng Đào tạo liên tục, từ đó phân tích tổng hợp, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu

- PP tổng kết kinh nghiệm, PP chuyên gia, phỏng vấn

6.3 PP thống kê toán học: Để xử lý số liệu điều tra và kiểm chứng mức

độ cần thiết và tính khả thi của kết quả nghiên cứu

7 Đóng góp của luận văn

Trang 12

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về KNM và GD KNM cho SV trường đại học

- Khảo sát, đánh giá thực trạng GD KNM và QL hoạt động GD KNM cho SV Trường Đại học Vinh

- Đề xuất được 6 giải pháp QL hoạt động GD KNM cho SV Trường Đại học Vinh Kết quả thăm dò cho thấy các giải pháp đề xuất có tính khả thi

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về QL hoạt động GD KNM cho SV đại học Chương 2: Thực trạng QL hoạt động GD KNM cho SV Trường Đại học Vinh

Chương 3: Một số giải pháp QL hoạt động GD KNM cho SV Trường Đại học Vinh

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Ngân hàng Thế giới (WB) gọi thế kỷ XXI là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ năng - Skills Based Economy Năng lực của con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ Còn nhiều nhà khoa học trên thế giới cho rằng, để thành đạt trong cuộc sống thì kỹ năng mềm (trí tuệ cảm xúc) chiếm 75%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 25%

Tác giả Rani S [35] trong bài viết "Sự cần thiết và tầm quan trọng của

kỹ năng mềm đối với sinh viên", cho rằng KNM là yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách và triển vọng nghề nghiệp Tác giả cũng đã đưa ra một số KNM cần dạy cho SV nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động tại Ấn Độ như: Giao tiếp, thuyết trình, tự tin, quản lý thời gian, chăm sóc khách hàng

Tác giả Hao M S [33] trong tác phẩm: "Kỹ năng mềm giúp tăng khả năng làm việc: Kết nối giảng đường đại học với các doanh nghiệp", đã đưa ra các KNM mà mỗi cá nhân cần phải có tại nơi làm việc, trong đó KN giao tiếp đóng vai trò chủ đạo trong cách rèn luyện để hình thành và phát triển từng KNM

Tác giả Peggy Klaus (Hoa kỳ) đã nghiên cứu, tổng hợp thực tiễn và công bố công trình “Sự thật cứng về kỹ năng mềm” Về mặt lí luận, nghiên cứu này đưa ra khái niệm, xác định tầm quan trọng của KNM trong cuộc sống Từ việc tổng hợp những tình huống phát sinh hàng ngày trong thực công việc và cuộc sống, tác giả đã đề xuất những cách thức giải quyết vấn đề

có liên quan trực tiếp đến kỹ năng mềm của con người [15]

Trang 14

Trong Đề án “T.O.P Skills for W.IN Europe - Training On Professional Skills for Workers In Nations of Europe” [32], tác giả D González cùng các cộng

sự cho rằng có nhiều loại KNM Tuy nhiên có thể tập hợp thành 4 nhóm sau:

- Nhóm KN lãnh đạo (óc chiến lược, tầm nhìn và phương hướng, giải quyết mâu thuẫn)

- Nhóm KN quản lý (hoạch định và quản lý các nguồn lực, làm việc nhóm, tạo ra động lực cho nhân viên, phát triển con người, quản lý các dự án)

- Nhóm KN thể hiện bản thân (giao tiếp, thuyết trình, đàm phán)

- Nhóm KN tự quản lý bản thân (tự nhận thức, nhất quán, linh hoạt và

có khả năng thích ứng, tự tin, quản lý thời gian, sự lắng nghe)

Theo đó, các tác giả đã cung cấp cách dạy cũng như các tài liệu một cách chi tiết để các nhà giáo dục, các cá nhân có thể tham khảo sử dụng trong quá trình giáo dục và phát triển KNM

Bộ Lao động Mỹ (The U.S Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện nghiên cứu về các KN cơ bản trong công việc Kết quả nghiên cứu đã đề xuất 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc [38]

Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban thư ký về Rèn luyện các KN cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills – SCANS) Các thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức, nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao

và công việc thu nhập cao”

Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia – BCA) và Phòng thương mại - công nghiệp Úc (The Australian Chamber of Commerce and Industry – ACCI) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có Kỹ năng hành nghề

Trang 15

(employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm

mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức Nghiên cứu này cũng đã chỉ

ra con đường hình thành, cách thức tổ chức quản lý 8 kỹ năng mềm để hành nghề trong tương lai cho người lao động nói chung và SV các trường ĐH nói riêng [37]

Chính phủ Anh cũng đã thành lập cơ quan chuyên trách về phát triển

KN cho người lao động Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được Chính phủ thành lập từ ngày 28/06/2007 Đến tháng 06/2009, Bộ này được ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới Pháp chế thành Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng Bộ này chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, một phần của giáo dục nâng cao, kỹ năng, khoa học và đổi mới Cơ quan chứng nhận Chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng đưa ra danh sách 6 kỹ năng quan trọng cùng các phương pháp

tổ chức, huấn luyện nhằm hình thành KNM cho người lao động [39]

Đi đầu trong nghiên cứu về KNM ở Đông Nam Á là Singapore Cục phát triển lao động (Workforce Development Agency – WDA) của Chính phủ Singapore đã thiết lập hệ thống các KN hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) gồm 10 kỹ năng Trong Cục phát triển lao động (WDA) có Trung tâm kỹ năng hành nghề (The Centre for Employability Skills – CES) để đánh giá hệ và hỗ trợ đào tạo kỹ năng [40]

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Những nghiên cứu chính thức về KNM ở Việt Nam thật sự bắt đầu từ đầu thế kỷ XXI Đặc biệt từ năm 2010 đến nay, vấn đề GD KNM cho học sinh, sinh viên đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các nhà tâm lý học, giáo dục học hết sức quan tâm

Đáng lưu ý nhất là các nghiên cứu của Huỳnh Văn Sơn [19] Qua kết quả khảo sát thực trạng học tập của SV, kết hợp với nhận định của các cán bộ quản lý, giáo viên và kết quả quan sát trực tiếp, tác giả cho rằng, mức độ

Trang 16

KNM của SV Việt Nam nhìn chung còn hạn chế Tác giả cũng đã nghiên cứu

và đề xuất biện pháp, cách thức tổ chức, triển khai các hoạt động nhằm rèn luyện KNM cho SV đại học ngành sư phạm

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng KNM của SV năm cuối và mức độ đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng về kỹ năng này của SV trường Đại học An Giang, tác giả Lê Thị Hồng Hạnh [3] đã đề xuất một số biện pháp

tổ chức, triển khai hoạt động GD KNM cho SV năm cuối tại trường này

Tác giả Nguyễn Tùng Lâm, thành viên của Hội Tâm lý – Giáo dục Hà Nội, đã có bài viết về vấn đề GD KNM cho học sinh, sinh viên hiện nay Bài viết đã trình bày một số khó khăn, vướng mắc về công tác GD KNM cho học sinh, sinh viên như: quan niệm của học sinh, sinh viên chưa đúng; phương pháp giảng dạy KN của giáo viên ở các trường chưa phù hợp; đặc biệt, ở các trường phổ thông hiện nay không có đủ nguồn lực về con người, thời gian, kinh phí để triển khai hoạt động dạy KN cho học sinh Bên cạnh đó, bài viết cũng đã

đề xuất một số giải pháp để tháo gỡ những khó khăn trong công tác tổ chức triển khai hoạt động GD KNM ở các trường hiện nay Đáng chú ý là tác giả đề xuất việc GD KNM phải trở thành chương trình giáo dục quốc gia, được nghiên cứu và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội để giải quyết các vấn đề còn tồn tại hiện nay [9]

Thông qua cuộc khảo sát 234 nhà tuyển dụng và 3.364 sinh viên tốt nghiệp từ 20 trường đại học, một số nhà nghiên cứu của Trường Đại học Sư phạm Hồ Chí Minh đã công bố công trình nghiên cứu “Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học” Trong công trình này, các tác giả cho rằng các nhà tuyển dụng và SV tốt nghiệp chia sẻ một điểm chung là 50% SV tốt nghiệp cần phải được đào tạo lại Lý do chính là KN nghề nghiệp không đáp ứng các tiêu chuẩn của nhà tuyển dụng 36,3% các nhà tuyển dụng cho rằng rằng SV phải được đào tạo lại tất cả các kỹ năng, 28,3% cho rằng cần đào tạo lại kỹ năng chuyên môn và 33,6% cho rằng cần đào tạo lại KNM [34]

Trang 17

Một cuộc khảo sát gần đây của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho thấy khoảng 13% SV tốt nghiệp phải đào tạo lại hoặc bổ sung thêm nhiều

kỹ năng, 40% phải được giám sát chặt chẽ tại nơi làm việc và hơn 41% cần thời gian quản chế hơn trước khi họ thực sự có thể thực hiện công việc được giao [15]

Sinh viên từ các trường đại học thành phố Hồ Chí Minh khi được khảo sát cũng cho rằng họ chỉ có 25% kỹ năng cần thiết, 54% tự đánh giá rằng họ

có thể làm việc trong một nhóm, và 45% cho biết họ có kỹ năng giao tiếp Tỷ

lệ SV có được kỹ năng khác là rất thấp, dưới 30% Chỉ có 8,4% sinh viên tự tin nói rằng họ có kỹ năng phỏng vấn tốt

Như vậy, có thể thấy rằng, việc nghiên cứu, giáo dục và quản lý hoạt động GD KNM cho SV ở các trường ĐH, cao đẳng đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc GD KNM, đánh giá đúng thực trạng còn hạn chế hiện nay của học sinh, sinh viên Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu trong nước đã đề xuất những biện pháp cụ thể để phát triển KNM cho học sinh, sinh viên Tuy nhiên, QL hoạt động GD KNM cho SV các trường ĐH mới chỉ được đề cập một cách khái quát Riêng ở trường Đại học Vinh, chưa

có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu giải pháp quản lý hoạt động

GD KNM cho SV

1.2 Vấn đề giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên ở trường đại học

1.2.1 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng mềm, giáo dục kỹ năng mềm

“Khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt,

Trang 18

sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong các điều kiện khác nhau” (KN bậc

2).[5]

Nhà tâm lý học Liên Xô L.D Levitov cho rằng: “KN là sự thực hiện có hiệu quả một tác động nào đó hay một hành động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn hay áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” Ông cho rằng người có KN hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh, muốn hình thành KN con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế [11]

Nhà nghiên cứu Iu K Babanxki lại quan niệm rằng: “KN là năng lực

tự có hoặc qua học tập được con người vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình vào những hoạt động mang tính nghề nghiệp, một công việc cụ thể

và trong lĩnh vực chuyên môn của mình” [31]

Trong từ điển Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng cho rằng: “KN là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh

hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [21]

Trong “Nhập môn KN sống” , tác giả Huỳnh Văn Sơn định nghĩa: “KN

là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [17]

Nguyễn Thị Như Minh lại đưa ra cách hiểu khác về KN Tác giả cho rằng “KN được hiểu là khả năng thực hiện những thao tác được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trải nghiệm của bản thân” [14]

Mặc dù có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau nhưng chúng ta vẫn

có thể tìm thấy có những điểm chung nhất về “kỹ năng” Một người có kỹ năng về một hành động nào đó cần phải có:

- Tri thức về hành động, trong đó bao gồm: mục đích, cách thức thực hiện hành động, các điều kiện thực hành hành động

- Thực hiện hành động đúng với yêu cầu của nó

Trang 19

- Đạt được hiệu quả của hành động như mục đích đã đặt ra

- Có thể hành động đạt kết quả với những hành động tương tự trong những điều kiện khác

Từ đó có thể hiểu KN là khả năng thực hiện có kết quả một thao tác hay hành động nào đó trên cơ sở vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo những tri thức, kinh nghiệm đã có của bản thân vào những hoàn cảnh nhất định để thực hiện những nhiệm vụ đề ra

1.2.1.2 Kỹ năng mềm

Khái niệm “Kỹ năng mềm” được đề cập bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ

XX, sau đó nở rộ vào những năm đầu thế kỷ XXI KNM bắt đầu được đề cập đến không phải từ các cơ quan giáo dục mà là của các cơ quan chăm sóc nguồn nhân lực của Cộng đồng chung Châu Âu (EU), Canada, sau đó trở thành trào lưu thế giới

KNM là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống, thể hiện cách sống, cách tích luỹ kinh nghiệm từ cuộc sống KNM là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực của con người, kiểm soát, QL có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống Đây được xem là chìa khóa vàng dẫn đến thành công của mỗi con người

Theo Wikipedia tiếng Việt, KNM (hay còn gọi là kỹ năng thực hành xã

hội) là thuật ngữ liên quan đến trí tuệ xúc cảm dùng để chỉ các KN quan trọng trong cuộc sống con người như: KN ứng xử, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, KN quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới [6]

Theo nhà nghiên cứu Rani S "KNM là những kỹ năng mà con người sử dụng để hành xử, làm việc với nhau, giải quyết các mâu thuẫn, thân thiện lạc quan và thuyết phục người khác" [35]

Trang 20

Nhà nghiên cứu Alex K cho rằng “KNM là các kỹ năng giúp con người sử dụng các kỹ năng chuyên môn và kiến thức thực tế hiệu quả hơn và giúp bạn tiến xa hơn trong một nghề nghiệp nào đó” [30]

Tác giả Peggy Klaus (Hoa Kỳ) định nghĩa: “KNM bao gồm các hành vi

cá nhân, xã hội, giao tiếp và khả năng kiểm soát bản thân Chúng bao gồm rất nhiều các KN và phẩm chất khác nhau như: tự giác, đáng tin cậy, tận tâm, khả năng thích ứng, óc suy xét, thái độ, tính chủ động, sự cảm thông, sự tự tin, tính chính trực, khả năng tự chủ, ý thức tổ chức, sự dễ mến, mức độ ảnh hưởng, độ mạo hiểm, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng lãnh đạo, quản lý thời gian,…” [15]

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: “KNM là khả năng thiên về mặt tinh thần của cá nhân nhằm đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác, công việc nhằm duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện công việc một cách hiệu quả”.[20]

Tiếp nối những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả Đinh Phước Tường đưa ra khái niệm: KNM là những khả năng tâm lý – xã hội giúp con người có những hành vi, cách ứng xử, đối phó với những vấn đề phát sinh trong công việc; KNM là phương tiện để tương tác giữa con người với con người, con người với tổ chức, làm cơ sở để con người phát huy hiệu quả nhất năng lực chuyên môn trong mọi hoàn cảnh [27]

Như vậy, có thể hiểu KNM chủ yếu là những kỹ năng thuộc về tính cách con người (thuộc xã hội – cảm xúc), là yếu tố cần thiết cho sự phát triển

cá nhân, tham gia xã hội và thành công trong công việc

Kỹ năng “mềm” không mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt, chúng quyết định khả năng bạn có thể trở thành nhà lãnh đạo, thính giả, nhà thương thuyết hay người hòa giải xung đột KNM có các đặc trưng:

- KNM thuộc về yếu tố xã hội, tâm lý, tính cách con người

Trang 21

- KNM không phải là yếu tố di truyền, bẩm sinh mà phải trải qua quá trình giáo dục, rèn luyện

- KNM là sự kết hợp của quá trình giáo dục và tự giáo dục, rèn luyện của người học

1.2.1.3 Giáo dục kỹ năng mềm

GD KNM là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến người học nhằm hình thành những tác động và thay đổi hành vi người học, tác động vào nhận thức, thái độ cầu tiến và ý thức bản thân của mỗi cá nhân để từ đó tự điều khiển thái độ hành vi, giao tiếp giữa người với người

1.2.2 Tầm quan trọng của kỹ năng mềm và giáo dục kỹ năng mềm đối với sinh viên

1.2.2.1 Tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với sinh viên

- KNM là yếu tố cơ bản trong thành công sự nghiệp

Tất cả những người thành công trong sự nghiệp đều phải là những người có năng lực lao động tốt Trong đó, KNM là yếu tố quan trọng để người lao động vận dụng tốt nhất năng lực chuyên môn vào thực tiễn công việc và cuộc sống

KNM còn mang đến cho con người cơ hội kết nối với nhiều cá nhân, tổ chức, giúp con người mở rộng, phát triển mối quan hệ và điều này rất cần thiết cho bất kỳ ai muốn thành đạt trong nghề nghiệp Đồng thời, KNM còn giúp con người duy trì và phát triển tốt mối quan hệ với cộng sự, với đối tác trong kinh doanh

- KNM hướng đến hoàn thiện năng lực làm việc của người lao động: KNM liên quan trực tiếp đến quá trình lao động, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, xu thế toàn cầu hóa và kinh tế tri thức như hiện nay thì KNM của người lao động ngày càng được đánh giá cao Rất nhiều nhà tuyển dụng xem trọng những KNM và xem đây là một trong những yêu cầu quan trọng Trình độ học vấn và bằng cấp là điều kiện cần, nhưng chưa phải là điều kiện đủ để một con người có thể

Trang 22

ra đời và sống tốt KNM giúp con người tự quản lý, lãnh đạo chính bản thân mình và tương tác với những người xung quanh để cuộc sống và công việc thật hiệu quả Với ý nghĩa đó, KNM chính là điều kiện rất quan trọng để con người thực hiện nhiệm vụ chuyên môn đạt hiệu quả cao

- KNM góp phần nâng cao năng suất lao động KNM chính là cầu nối

để người lao động biến những tri thức, năng lực chuyên môn đã được đào tạo thành những hành động, việc làm hiệu quả trong thực tiễn công việc KNM vừa giúp tự hoàn thiện năng lực bản thân đồng thời cũng là yếu tố rất cần thiết

để con người có thể hợp tác tốt với nhau trong quá trình thực hiện công việc

Đó chính là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công, hiệu quả công việc, là thước đo năng suất lao động, làm việc của một người

- KNM giúp tăng tính sáng tạo trong làm việc Một người lao động có KNM sẽ không bao giờ bị bế tắc trong quá trình giải quyết, xử lý công việc vì

nó sẽ giúp con người nhanh chóng tìm ra những hướng đi, cách xử lý một cách linh hoạt, hiệu quả trong điều kiện và khuôn khổ cho phép Đó chính là thể hiện tính sáng tạo trong làm việc Các KNM như tư duy hệ thống, ra quyết định, quản lý cá nhân sẽ giúp cho người lao động tăng tính sáng tạo trong giải quyết công việc nhưng vẫn trong phạm vi quy trình và quy định của tổ chức

Như vậy, có thể nói KNM là yêu cầu cần thiết đối với SV đại học, giúp

họ nhanh chóng thích ứng với thị trường lao động khi ra trường, tạo cơ hội thăng tiến cho bản thân trong công việc và đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại

1.2.2.2 Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng mềm đối với sinh viên

- GD KNM hướng đến hoàn thiện tính cách, phẩm chất con người Con người được GD KNM sẽ tiếp tục rèn luyện, hình thành những tính cách, phẩm chất tốt đẹp của bản thân GD KNM chính là giáo dục, rèn luyện cho con người biết cách tương tác, hòa nhập với nhiều đối tượng khác nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công tác chuyên môn và nhiều hoạt động khác ngoài xã hội

Trang 23

GD KNM giúp con người biết cách làm chủ bản thân, đưa ra hành động tối ưu nhất trong mọi hoàn cảnh giúp cuộc sống ít gặp khúc mắc, và nếu gặp khúc mắc cũng có cách tháo gỡ một cách khoa học Người có KNM cũng tự tin hơn rất nhiều trong cuộc sống và nhất là trong công việc, lập trường vững vàng hơn, tư duy nhanh nhạy và sắc bén hơn, cách ứng phó và xử lý các tình huống gặp phải trong cuộc sống cũng hiệu quả hơn KNM còn là nghệ thuật ứng xử với các đồng nghiệp, cộng sự; với cấp trên và với tất cả mọi người Những giá trị sống tốt đẹp kết hợp với KNM cần thiết là điều kiện hết sức quan trọng để hình thành nên một con người vừa có tài năng, vừa có đức độ, vừa có đủ sự năng động để sống và làm việc, đáp ứng những yêu cầu của xã hội đầy biến động như hiện nay

- GD KNM gắn với đào tạo nguồn nhân lực cho thị trường lao động Trong xã hội hiện đại với nền kinh tế tri thức như hiện nay, nhân tố con người (nguồn lực con người) được coi là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia Đầu tư cho con người được coi là đầu tư cho sự phát triển Chính nhờ có sự đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực mà chỉ trong thời gian ngắn, nhiều nước đã trở thành những nước công nghiệp phát triển GD KNM đóng vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực; là cơ sở cung cấp lực lượng lao động

có chất lượng, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bởi vậy những người tài, nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ và kỹ năng làm việc thành thạo chính là yếu tố quyết định cho sự phát triển Những bậc thang thăng tiến trên con đường thành đạt của một con người phụ thuộc nhiều vào những kỹ năng và khả năng nghề nghiệp mà thị trường lao động đang có nhu cầu cao Người lao động có KNM tốt sẽ luôn đáp ứng được những yêu cầu của thị trường lao động ở bất

cứ đâu và bất cứ khi nào

Trang 24

- GD KNM giúp SV nhanh chóng thích ứng môi trường làm việc sau khi ra trường, tăng tính sáng tạo và nâng cao năng suất lao động GD KNM giúp SV tốt nghiệp có tư duy phân tích, sáng tạo, tự phản biện và có khả năng

áp dụng kiến thức đã học để giải quyết tôt các vấn đề trong công việc Những yếu tố mà SV cần có được theo hướng này là khả năng xác định và phân tích tình huống phức tạp cũng như đánh giá giải pháp Sinh viên cũng cần có khả năng mở rộng và phát triển kĩ năng tư duy (tư duy mở rộng, không bó hẹp),

để cung cấp những ý tưởng, và những giải pháp thay thế

Sinh viên sau khi tốt nghiệp ĐH chính là những người trực tiếp vận hành, sản xuất ra sản phẩm cho xã hội Muốn làm tốt điều đó, đòi hỏi phải có trình độ và kỹ năng thực hành cao ở những phạm vi công việc nhất định Thiếu hệ thống KNM, sinh viên không thể hành nghề được Vì thế GD KNM đóng vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo ở bậc ĐH

1.2.3 Mục tiêu giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đại học

GD KNM cho SV ở các trường ĐH tập trung vào các nội dung sau:

- Rèn luyện cho SV khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước những tình huống căng thẳng, khó khăn trong hoạt động hàng ngày

- Rèn luyện cho SV biết cách thích nghi với người khác trong phối hợp làm việc

- Tạo những cơ hội, hướng suy nghĩ, hướng đi tích cực và tự tin cho SV cũng như giúp họ tự có quyết định và chọn lựa đúng đắn trong các vấn đề của cuộc sống

- Giúp SV thích ứng tốt với môi trường và điều kiện làm việc sau khi tốt nghiệp, trên cơ sở đó có thể khai thác, vận dụng tốt nhất kiến thức chuyên môn để trở nên người thành đạt trong nghề nghiệp

1.2.4 Các kỹ năng mềm cần trang bị cho sinh viên đại học

Xuất phát từ tình hình kinh tế và đặc thù về văn hóa – xã hội cùng với các kiến thức và kỹ năng mà người sử dụng lao động yêu cầu, nội dung GD KNM có sự khác nhau giữa các quốc gia

Trang 25

Bộ Lao động Mỹ (The U.S Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các KN cơ bản trong công việc Kết luận được đưa ra là có 13 KN cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:

1 KN học và tự học (Learning to learn)

2 KN lắng nghe (Listening skills)

3 KN thuyết trình (Oral communication skills)

4 KN giải quyết vấn đề (Problem solving skills)

5 KN tư duy sáng tạo (Creative thinking skills)

6 KN QL bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem)

7 KN đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc (Goal setting/ motivation skills)

8 KN phát triển cá nhân và sự nghiệp (Personal and career development skills)

9 KN giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills)

10 KN làm việc đồng đội (Teamwork)

11 KN đàm phán (Negotiation skills)

12 KN tổ chức công việc hiệu quả (Organizational effectiveness)

13 KN lãnh đạo bản thân (Leadership skills)

Còn Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) của Anh cũng đưa ra danh sách các KN quan trọng bao gồm:

1 KN tính toán (Application of number)

2 KN giao tiếp (Communication)

3 KN tự học và nâng cao năng lực cá nhân (Improving own learning and performance)

4 KN sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information and communication technology)

5 KN giải quyết vấn đề (Problem solving)

Trang 26

6 KN làm việc với con người (Working with others)

Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development Agency) của Singapore đã thiết lập hệ thống các KN hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) gồm 10 KN:

1 KN công sở và tính toán (Workplace literacy & numeracy)

2 KN sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information & communications technology)

3 KN giải quyết vấn đề và ra quyết định (Problem solving & decision making)

4 KN sáng tạo và mạo hiểm (Initiative & enterprise)

5 KN giao tiếp và quản lý quan hệ (Communication & relationship management)

6 KN học tập suốt đời (Lifelong learning)

7 KN tư duy mở toàn cầu (Global mindset)

8 KN tự quản lý bản thân (Self-management)

9 KN tổ chức công việc (Workplace-related life skills)

10 KN an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe (Health & workplace safety)

Nghiên cứu các tài liệu, bài viết về KNM, nhận thấy tùy từng vị trí công việc mà yêu cầu người lao động phải được rèn luyện, phát triển các KN phù hợp Tuy nhiên nội dung GD KNM phải tập trung đào tạo KN thực hành, coi trọng giáo dục nhận thức, rèn luyện tính phản xạ, rèn luyện KN thích ứng theo yêu cầu của từng ngành nghề, nâng cao KN vận dụng các kiến thức chuyên môn áp dụng vào thực tiễn công việc Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới có đến 60 KNM Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, theo chúng tôi, ở nước ta cần giáo dục cho SV những KNM cần thiết sau đây:

1 KN học và tự học (Learning to learn)

Trang 27

2 KN lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership

& Personal branding)

3 KN tư duy sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills)

4 KN lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills)

5 KN lắng nghe (Listening skills)

6 KN thuyết trình (Presentation skills)

7 KN giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills)

8 KN giải quyết vấn đề (Problem solving skills)

9 KN làm việc đồng đội (Teamwork)

- Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích trong hoạt động GD KNM

Mục đích luôn là một yếu tố quan trọng đối với tất cả các hoạt động, đặc biệt là đối với hoạt động GD nói chung và hoạt động GD KNM cho SV nói riêng Xác định đúng mục đích sẽ bảo đảm cho cả quá trình hoạt động đi đúng hướng, không có những bước đi sai lầm hoặc dư thừa Mục đích được xác định để định hướng xuyên suốt tất cả các hoạt động ở trường ĐH có liên quan đến hoạt động GD KNM cho SV Mục đích hoạt động GD KNM ở trường ĐH hướng đến việc giáo dục, rèn luyện cho SV những kỹ năng thích ứng với công việc và cuộc sống tốt nhất

- Nguyên tắc tương tác, trải nghiệm

GD KNM cần phải tạo điều kiện cho SV tương tác với những người xung quanh Qua quá trình tương tác, SV có cơ hội đặt vào các tình huống để trải nghiệm và thực hành KNM chỉ được hình thành khi người học trải nghiệm qua thực tế và đặc biệt có khả năng xử lý tốt các tình huống

Trang 28

Các trường ĐH cần tổ chức nhiều hoạt động có tính chất tương tác nhằm tạo điều kiện cho SV có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhiều đối tượng khác nhau như: tiếp xúc, đối thoại với doanh nghiệp; đối thoại với thầy, cô giáo của trường; giao lưu với bạn học cùng trường, ngoài trường Chính quá trình tương tác với người khác, SV sẽ dần hình thành KNM cho bản thân

- Nguyên tắc tiến trình, thời gian

GD KNM không thể thực hiện ngay lập tức trong thời gian ngắn mà đòi hỏi phải trải qua tiến trình từ thấp đến cao: Nhận thức  hình thành thái độ

- Nguyên tắc bảo đảm GD KNM gắn với thực tiễn cuộc sống và công việc

Nội dung GD KNM được triển khai thực hiện phải sát hợp với thực tiễn cuộc sống và công việc thì SV mới vận dụng hiệu quả cho bản thân trong tương lai GD KNM gắn với thực tiễn cuộc sống và công việc thì sau khi được giáo dục, huấn luyện, SV sẽ có nhiều cơ hội để tiếp tục phát triển KN đạt ở mức cao hơn

1.2.5.2 Các phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên ở trường đại học

Trang 29

Có nhiều phương pháp GD KNM cho SV ở trường ĐH Tùy theo yêu cầu, điều kiện, hoàn cảnh mà nhà giáo dục vận dụng, phối hợp các phương pháp để đạt hiệu quả tối ưu Có thể sử dụng một số phương pháp phổ biến để giáo dục KNM cho SV ở trường ĐH như:

- Các phương pháp thuyết trình, giao tiếp, giảng giải, đặt vấn đề, làm việc nhóm Bên cạnh giảng dạy phần lí thuyết các KNM cho SV, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp này để tổ chức cho SV thực hành một số KNM như: KN thuyết trình, KN giao tiếp, KN giải quyết vấn đề, KN làm việc nhóm,

- Lồng ghép, tích hợp KNM ở mọi không gian, thời gian như: tích hợp KNM vào các môn học trên lớp, giờ ngoại khóa, hoạt động tập thể

- Tổ chức các hoạt động tập thể, hoạt động ngoại khóa giúp cho SV có

cơ hội được trải nghiệm, tự giáo dục, rèn luyện KNM

- Giả định các tình huống thực tiễn để tạo điều kiện cho SV thực hành

và tự rèn luyện KNM cho bản thân

1.2.5.3 Các hình thức giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên ở trường đại học

- GD KNM cho SV qua các lớp chuyên đào tạo KNM

Một con đường quan trọng để SV hình thành và phát triển KNM chính

là các khóa học chuyên đào tạo KNM Thông qua các lớp chuyên đào tạo KNM, sinh viên được trang bị các kỹ năng cần thiết, là những công cụ hữu ích để nâng cao hiệu quả học tập, rèn luyện, phát huy tốt nhất năng lực, sở trường, ý chí của bản thân trong quá trình học tập ở nhà trường; tạo được lợi thế khi tham gia tuyển dụng cũng như trong quá trình lập nghiệp sau này; đồng thời giúp SV hoàn thiện hơn về nhân cách, trong đó có thái độ và ứng

xử với thế giới xung quanh

Để phát huy tác dụng, đạt hiệu quả cao thì các khóa đào tạo KNM cho

SV cần phải được tổ chức đúng phương pháp, cách thức Riêng đối với SV cũng phải có sự quyết tâm, nổ lực của bản thân trong quá trình rèn luyện thì

Trang 30

mới có thể gặt hái thành công bởi vì KNM không phải chỉ học bình thường như những môn chuyên môn khác mà nó phải trải qua quá trình rèn luyện, tương tác, trải nghiệm thì mới có những kết quả nhất định Ở các lớp chuyên đào tạo KNM, giáo viên chủ yếu truyền đạt phương pháp, cách thức rèn luyện KNM, còn quá trình rèn luyện phải do tự thân SV thực hiện

- GD KNM cho SV qua tích hợp vào quá trình giảng dạy các môn học

Dạy học là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất trong nhà trường Hoạt động dạy học có tổ chức sư phạm đặc biệt Thông qua con đường dạy học, giáo viên có thể tạo điều kiện, môi trường giúp SV hình thành KNM

Giáo viên cần lồng ghép GD KNM cho SV vào các bài học, môn học Trong quá trình dạy học, có thể sử dụng các hình thức hoạt động như thảo luận nhóm, seminar chuyên đề, bài tập tình huống, hoặc các phương pháp dạy học tương tác, nhằm tạo môi trường thuận lợi để SV thực hành trải nghiệm và rèn luyện các kỹ năng chuyên môn cũng như KNM Vai trò của giáo viên trong dạy học là tổ chức, điều khiển làm cho người học tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, thông qua đó họ tích cực, tự giác, tự điều khiển hoạt động nhận thức để tìm tòi, khám phá tri thức, hình thành và phát triển KN

- GD KNM cho SV qua các hoạt động Đoàn, Hội, sinh hoạt tập thể

Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên là hai tổ chức đoàn thể quan trọng, gắn bó chặt chẽ với SV trong suốt thời gian học tại trường ĐH Các đoàn thể này có chức năng tổ chức các hoạt động phong trào, hoạt động ngoại khóa, các hoạt động vì cộng đồng, tạo sân chơi lành mạnh cho SV tham gia sinh hoạt, vui chơi Tham gia các hoạt động của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên,

SV được phát huy khả năng, tố chất cá nhân; tự điều chỉnh nhận thức, hành vi; trao đổi kinh nghiệm; phát huy mặt tích cực; ngăn chặn, sửa chữa các biểu hiện tiêu cực, lạc hậu; kích thích tính chủ động, sáng tạo và tự tin thể hiện mình trong mọi tình huống Đây chính là con đường quan trọng để SV tự hình thành và phát triển KNM của bản thân

Trang 31

- GD KNM qua quá trình tự rèn luyện của SV

Đặc trưng của KNM là phải qua trải nghiệm, tương tác, tiếp xúc giữa con người với con người mới được hình thành Do đó, tính tích cực, tự giác rèn luyện là yếu tố quyết định đến quá trình hình thành và phát triển KNM

của SV

Tích cực, tự giác thực hiện nhiệm vụ cá nhân, tham gia hoạt động nhóm, cộng đồng xã hội giúp SV ngày càng hoàn thiện KNM Bởi vậy, trong quá trình giảng dạy, rèn luyện nghề nghiệp, giáo viên cần đưa ra những định hướng, chỉ dẫn để SV tự rèn luyện, tự trải nghiệm cuộc sống, thực tế nghề nghiệp nhằm phát triển KNM cho bản thân Đồng thời, quá trình tự rèn luyện KNM của SV chỉ thật sự hiệu quả khi họ có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của KNM đối với bản thân, có ý thức và trách nhiệm với việc hình thành KNM ngay trong thời gian học tập tại trường ĐH

1.3 Vấn đề quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường đại học

1.3.1 Khái niệm quản lý, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm

1.3.1.1 Quản lý

Quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Do đối tượng QL phong phú, đa dạng tùy thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động cụ thể, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà có những cách hiểu khác nhau về quản lý

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Quản lý là chức năng và hoạt động

của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó”.[2]

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những

yêu cầu nhất định”.[28]

Còn F.W Taylor (1856 - 1915), một trong những người đầu tiên khai

sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa

Trang 32

học”, tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kĩ thuật thì cho rằng: QL là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.[36]

Trong Cơ sở khoa học quản lý, các giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của mình”.[1]

Có một số tác giả khác lại hiểu QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng và thực hiện một cách sáng tạo các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra

Ngày nay thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Tuy nhiên, từ những ý chung của các định nghĩa và xét

quản lý với tư cách là một hành động, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có

tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu

đề ra

1.3.1.2 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm

Từ khái niệm quản lý nêu trên, có thể hiểu: Quản lý hoạt động GD KNM là sự tác động có hướng đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm tổ chức, điều khiển và QL hoạt động GD KNM theo những mục tiêu đã được xác định

1.3.1.3 Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm

Trang 33

nhất định để đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thích hợp, càng tối

ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra và càng thu được hiệu quả cao Tuy nhiên, chúng ta cũng cần hiểu rằng để có được những giải pháp như vậy thì cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy

- Giải pháp QL hoạt động GD KNM: Giải pháp QL hoạt động GD KNM

là cách thức tác động của chủ thể QL đến đội ngũ CBQL, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để đạt được mục tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả GD KNM

1.3.2 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên ở trường đại học

Mục tiêu QL hoạt động GD KNM ở trường ĐH là nhằm đưa hoạt động

GD KNM đi vào nền nếp, theo đúng đường lối, chủ trương của Nhà nước, đồng thời khắc phục những lệch lạc, bất cập trong quá trình thực hiện Giáo dục KNM còn góp phần giáo dục và đào tạo ra người lao động mới đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội hiện đại cũng như nâng cao chất lượng GD toàn diện của nhà trường Quá trình này bao gồm:

+ Về nhận thức: Giúp các lực lượng GD có được nhận thức đúng đắn

về tầm quan trọng của công tác GD KNM cho SV ở trường ĐH

+ Về thái độ, tình cảm: Giúp SV có thái độ đúng và điều chỉnh hành vi của bản thân, biết ứng phó trước những tình huống căng thẳng trong công việc, cuộc sống thường ngày

+ Về hành vi: Hướng mọi người tích cực tham gia vào các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội và tích cực tham gia quản lý GD KNM cho SV

1.3.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường đại học

- Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động GD KNM

Đây là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống kế hoạch QL trường học Quản lí chỉ đạo nội dung công tác GD KNM thông qua công tác

Trang 34

xây dựng kế hoạch GD: Việc xây dựng kế hoạch là một công đoạn hết sức cần thiết trong QL bất kỳ một công tác nào của nhà QL Có xây dựng kế hoạch, người QL mới xác định được mục tiêu sẽ đạt đến, các biện pháp thực hiện, thời gian tiến hành và hoàn thành, chỉ tiêu cần đạt… Tránh trường hợp được chăng hay chớ, tới đâu hay tới đó

Như vậy khi lập kế hoạch người CBQL cần phải chú ý: Kế hoạch phải đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GD KNM với mục tiêu GD chung trong trường, phối hợp hữu cơ với kế hoạch dạy học trên lớp Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý SV để đạt hiệu quả GD cao Các kế hoạch phải đảm bảo tính vừa phải, tính bao quát, tính cụ thể, tính khả thi

Để việc xây dựng kế hoạch GD được tốt, CBQL phải dựa trên cơ sở tình hình cụ thể của SV, của địa phương để định ra nội dung, yêu cầu, biện pháp cho thích hợp và phải có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến

- Quản lý tổ chức thực hiện kế hoạch GD KNM

Tổ chức thực hiện kế hoạch chính là giai đoạn hiện thực hóa những ý tưởng đã được nêu trong kế hoạch để đưa nhà trường từng bước đi lên Các công việc cơ bản gồm:

- Thành lập ban chỉ đạo

- Phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận, từng thành viên

- Xây dựng và ban hành các quy chế, nội quy, quy định, tiêu chuẩn, chế

độ có liên quan đến hoạt động GD KNM

- Phân bổ kinh phí và các điều kiện vật chất cho việc thực hiện kế hoạch

- Xây dựng, củng cố đội ngũ giáo viên chủ nhiệm thành lực lượng GD KNM nòng cốt

- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch GD KNM

Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch GD KNM cho SV cần thực hiện theo

kế hoạch đã đề ra, tiến hành có thời gian, nội dung, phương pháp, hình thức, theo hoạt động cụ thể, Do đó, để làm tròn trách nhiệm này thì trước hết phải

Trang 35

có đội ngũ GV chuyên nghiệp, được đào tạo và bồi dưỡng đầy đủ về chuyên môn giảng dạy Đồng thời, người QL cũng cần phải lưu ý đến việc tạo những điều kiện phương tiện, CSVC cần thiết để SV có môi trường thực hành và rèn luyện các KNM trong quá trình học tập

- Chủ động phối hợp với gia đình và đoàn thể xã hội để GD KNM cho SV: Nhà trường cần phối hợp với các tổ chức đoàn thể xã hội, các cơ sở xã hội, cơ sở sản xuất, kinh doanh, các tổ chức chính trị xã hội (nơi tuyển dụng học sinh, SV) và cá nhân nhằm: Tạo mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp GD giữa nhà trường, gia đình và xã hội; huy động mọi lực lượng của cộng đồng chămlo sự nghiệp GD, xây dựng phong trào học tập và môi trường GD, góp phần xây dựng CSVC nhà trường

Bên cạnh đó, nhà trường phải làm sao xứng đáng là trung tâm GD của địa phương phải làm sao để địa phương đồng tình ủng hộ, phối hợp nhằm hướng đến mục đích chung là: đào tạo ra nguồn nhân lực tri thức và chất lượng cao cho nước nhà

- QL hoạt động GD KNM thông qua chỉ đạo xây dựng môi trường học tập để giáo dục SV: Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trọng công tác GD đó là môi trường sư phạm Dù trong hoàn cảnh nào cũng cần tổ chức, sắp xếp tu sửa, tô điểm bộ mặt vật chất, khung cảnh của nhà trường, làm sao cho toàn bộ khung cảnh của trường đều toát lên ý nghĩa GD đối với SV Ngoài khung cảnh vật chất, cũng cần biết cách tạo ra bầu không khí GD trong toàn trường và ở mỗi lớp học, biểu hiện ở tác phong nề nếp giảng dạy của GV

và phương pháp giảng dạy mới Bên cạnh đó, cũng cần tạo mối quan hệ tốt, thân thiện giữa các thành viên trong trường như giữa thầy và thầy, giữa thầy

và trò, giữa SV với nhau sẽ có tác dụng hết sức tích cực đến việc hình thành các KN cần thiết trong học tập, trong các mối quan hệ, trong giao tiếp ứng xử hình thành thói quen rèn luyện và bồi dưỡng KNM ở SV

- Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động GD KNM

Trang 36

Kiểm tra, đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình QL Thông qua kiểm tra, đánh giá sẽ xác định được việc bồi dưỡng, rèn luyện KNM và việc QL hoạt động này có mang lại hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực, phát triển KN của SV hay không để kịp thời điều chỉnh và phát huy Kiểm tra còn giúp chủ thể QL hiểu rõ đối tượng QL để có biện pháp giúp

đỡ, tạo điều kiện cho tốt nhất cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ

Muốn kiểm tra, đánh giá chính xác hoạt động GD KNM của SV, CBQL cần phải chú ý tới các nội dung sau:

- Xác định được cách kiểm tra

- Xây dựng được tiêu chí đánh giá

- Tổng kết đánh giá, xếp loại, từ đó khen, chê kịp thời và có những điều chỉnh hợp lý nhằm thực hiện tốt những mục tiêu đề ra

CBQL cần có kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả toàn bộ hoạt động

GD KNM cho SV trong từng năm học Trong đó, quan tâm đến đánh giá GD KNM bởi đây chính là thước đo hiệu quả quản lý hoạt động GD KNM ở trường ĐH

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng mềm và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên đại học

1.4.1 Các yếu tố chủ quan

- Kế hoạch hoạt động GD KNM

Hoạt động GD KNM cho SV ở trường ĐH muốn đi vào nền nếp, đạt hiệu quả cao thì nhất thiết phải được xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể nhằm đảm bảo được sự quản lý, kiểm soát của CBQL Nếu không có kế hoạch thì hoạt động giáo dục KNM cho SV ở trường ĐH sẽ rất lúng túng, mang tính chắp vá, không đạt hiệu quả cao, thậm chí có thể thất bại do nhà trường không thể QL chặt chẽ các khâu trong quá trình thực hiện

Vì thế có thể khẳng định rằng việc xây dựng kế hoạch hoạt động GD KNM sẽ tác động, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý hoạt động này ở trường ĐH

Trang 37

- Trình độ của giáo viên và các cấp quản lý đào tạo

Yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định hàng đầu, chi phối trực tiếp vào quá trình đào tạo trong trường ĐH Yếu tố con người không chỉ nói đến đội ngũ thầy cô giáo mà bao gồm cả đội ngũ CBQL Để phục vụ cho một giáo viên đứng lớp phải kèm theo một đội ngũ phục vụ từ khâu lên chương trình, thời khóa biểu, chuẩn bị CSVC, thiết bị giảng dạy, Trình độ chuyên môn của người thầy, năng lực nghiệp vụ của cán bộ phục vụ sẽ tác động đến kết quả

GD KNM cho SV

Thực tế cho thấy, copy một chương trình quốc tế rất dễ nhưng thực hiện được thì lại là cả một vấn đề lớn nếu không có những con người có đủ năng lực triển khai Việc thiết kế được chương trình chuẩn, nội dung tiếp cận được với các chương trình GD của những nước tiên tiến với đúng nghĩa của

nó là một vấn đề không dễ làm nếu không chủ động hội nhập giáo dục quốc

tế Nhưng khi có chương trình rồi thì đội ngũ có khả năng, năng lực tiếp cận với thực tế đó không? Làm tốt được những điều đó chính là nền tảng làm nên chất lượng

Thầy giỏi, giáo trình, phương tiện học tập đầy đủ, trò ham học là những điều kiện cần để đảm bảo chất lượng GD KNM, nhưng nếu thiếu vai trò của người QL thì chất lượng sẽ không cao Người QL giỏi sẽ giải quyết tốt mối quan hệ sư phạm cần thiết và quan trọng này Do vậy, GD KNM cho SV rất cần người QL có đủ trình độ, năng lực để thể hiện trách nhiệm QL trong giai đoạn hiện nay

- Ý thức của sinh viên

Ý thức của SV quyết định một phần không nhỏ đến kết quả GD KNM

mà họ được học Bởi vì, nếu họ cho rằng một điều gì đó là không quan trọng, không cần thiết ít nhất là với chính bản thân thì họ sẽ không bao giờ lãng phí thời gian để hiểu, học hỏi những điều đó Cách phản ứng đó hoàn toàn hợp lý, nhất là với cuộc sống năng động của SV thời hội nhập Họ luôn làm những điều mình thích và những điều mà bản thân cho là cần thiết Vì vậy nếu SV

Trang 38

không có sự nhận thức đúng về tầm quan trọng của KNM, cho rằng không cần thiết, chỉ cần học tập tốt các môn học trên lớp là đủ để đảm bảo một tương lai tốt đẹp cho cuộc sống sau này thì họ sẽ không để ý đến những sự kiện, buổi hội thảo có liên quan đến KNM, không tìm tòi, không tích cực tham gia các khóa học cũng như rèn luyện những KNM cần thiết Từ nhận thức sai về tầm quan trọng của KNM, rất nhiều SV đã bỏ lỡ những cơ hội tốt sau khi ra trường

Ngược lại, khi SV nhận thức đúng tầm quan trọng của KNM không chỉ trong học tập mà cả trong cuộc sống và môi trường làm việc sau này, họ sẽ có những suy nghĩ và hành động hướng đến hoàn thiện cho bản thân những KNM cần thiết Họ sẽ chủ động, tích cực tham gia các buổi giao lưu hội thảo

về KNM, nhiệt tình say mê trong các môn học và khóa học về KNM, đồng thời sẽ không ngừng rèn luyện để giúp bản thân hoàn thiện và nâng cao những KNM cần thiết Do vậy, để hoạt động GD KNM đạt hiệu quả thì một trong những nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu đó chính là giúp SV có nhận thức đúng

về tầm quan trọng của KNM trong cuộc sống của chính bản thân họ

- Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động GD KNM

Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GD KNM nhằm mục đích giúp CBQL biết được mức độ kết quả thực hiện, trên cơ sở đó kịp thời bổ sung hoặc điều chỉnh kế hoạch hướng đến kết quả tốt hơn Trong QL nói chung và

QL hoạt động GD KNM cho SV ở trường ĐH, khâu kiểm tra đánh giá có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả QL thực hiện Chính vì thế kiểm tra đánh giá là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD KNM cho

SV ở trường ĐH

1.4.2 Các yếu tố khách quan

- Môi trường đào tạo và rèn luyện KNM

+ Môi trường đào tạo KNM

Môi trường đào tạo KNM được đề cập đến trong phạm vi đề tài này chính là hạ tầng CSVC phục vụ cho công tác giáo dục KNM Thực tế hiện

Trang 39

nay, trên giảng đường ĐH không thể chỉ có phấn trắng và bảng đen là đủ Chương trình ĐT tốt phải có CSVC đi kèm, trang thiết bị, hạ tầng cơ sở, giảng đường Các điều kiện phục vụ cho việc lên lớp hoàn thiện là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH Đối với việc đào tạo KNM thì hạ tầng cơ sở vật chất lại càng quan trọng

Để giúp SV có thể tiếp thu và nắm bắt được nội dung bài học, bên cạnh phấn trắng và bảng đen, GV cần thiết phải sử dụng các công cụ hỗ trợ như Powerpoint, Video clip, Internet, Công cụ hỗ trợ sẽ giúp GV truyền đạt kiến thức sinh động, phong phú hơn Ví dụ như khi SV học KN thuyết trình trước đám đông, nếu có máy quay để ghi lại hình ảnh của họ trong lúc thuyết trình, sau đó chiếu lại hình ảnh đó trên màn hình máy chiếu cho cả lớp xem lại, thì

SV sẽ tự nhận ra được những ưu, khuyết điểm của mình trong hoạt động này

Rõ ràng là hạ tầng cơ sở và các trang thiết bị đóng góp một phần quan trọng đối với chất lượng GD KNM Có CSVC tốt sẽ giúp cho việc giảng dạy kiến thức lý luận và các tình huống thực tế trở nên lý thú, dễ hiểu, vui nhộn, hấp dẫn nhằm cuốn hút SV tích cực tham gia vào khóa học

+ Môi trường rèn luyện KNM

Bác Hồ từng dạy “học phải đi đôi với hành” Điều này có nghĩa rằng,

dù SV đã được giáo dục KNM nhưng nếu họ không có môi trường để rèn luyện hàng ngày thì kiến thức cũng nhanh chóng bị quên lãng, kết quả GD cũng chỉ là con số không Chính vì vậy, việc tạo ra môi trường cho SV rèn luyện KN là điều vô cùng cần thiết

Môi trường rèn luyện KNM cho SV được tạo ra bằng nhiều hình thức khác nhau Chẳng hạn như, mỗi GV sau giờ học sẽ dành ra một quỹ thời gian

mở để tiếp xúc, hướng dẫn, sẵn sàng giải đáp thắc mắc, trao đổi thêm khi SV cần Hoặc là để tạo điều kiện cho SV có cơ hội thực hành KN làm việc nhóm, nhà trường cần có những phòng học dành riêng để thảo luận nhóm, làm bài tập nhóm, giúp các bạn yếu hơn trong nhóm,

Trang 40

Việc phát động các phong trào của Đoàn trường, của các Câu lạc bộ trong trường cũng là cách để tạo môi trường cho SV tham gia vào các hoạt động chung, rèn luyện tính năng động, tự tin và các kỹ năng khác mà các em

đã được học

- Nguồn lực hỗ trợ hoạt động GD KNM

Doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phổ biến, truyền đạt những yêu cầu về KNM mà doanh nghiệp đang cần ở người lao động hiện nay Những kiến thức này mang tính thực tiễn và rất cần cho SV Đặc biệt, nếu đại diện doanh nghiệp có thể trực tiếp tham gia giáo dục - huấn luyện KNM thì càng nâng cao hiệu quả GD KNM ở trường ĐH Nói cách khác là nếu doanh nghiệp cùng tham gia vào quá trình ĐT với nhà trường, thì SV có nhiều điều kiện để rèn luyện KNM Vì vậy, nhà trường trường cần có giải pháp QL thích hợp nhằm huy động tiềm lực to lớn từ các doanh nghiệp cùng tham gia vào hoạt động GD KNM cho SV ở trường ĐH Các hoạt động phong trào trong nhà trường do tổ chức Đoàn, Hội ở trường ĐH tổ chức có liên quan trực tiếp đến GD KNM cho SV Các hoạt động này sẽ hỗ trợ rất hiệu quả cho quá trình hình thành, rèn luyện và phát triển GD KNM cho SV trong thời gian học tại trường Vì vậy, quản lý hoạt động phong trào SV ở trường ĐH cũng

có nghĩa là góp phần nâng cao hiệu quả chung của QL hoạt động GD KNM cho SV

- Yếu tố văn hóa – xã hội

Văn hóa – xã hội là là yếu tố hàm chứa hệ thống các giá trị và tiêu chuẩn được hình thành gắn liền với bản sắc, phong tục văn hóa vùng miền, yếu tố truyền thống dân tộc, yếu tố tôn giáo Môi trường văn hóa – xã hội có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến việc hình thành KNM của mỗi SV Chính văn hóa – xã hội là cơ sở để hình thành tâm lý, tính cách của mỗi con người

và nó ăn sâu vào mỗi con người từ thuở ấu thơ Yếu tố văn hóa – xã hội chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ đến văn hóa ứng xử, giao tiếp, cách thức tương tác với người khác Chính vì thế, đối với những SV sớm tiếp cận ở những môi

Ngày đăng: 25/08/2021, 15:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Kết quả điều tra được tổng hợp qua bảng: - Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường đại học vinh
t quả điều tra được tổng hợp qua bảng: (Trang 57)
Qua kết quả khảo sát bảng 2.7 chúng tôi thấy nhà trường quan tâm tới công tác quản lý GD KNM cho SV, có kế hoạch chỉ đạo sát sao việc QL  GD  KNM cho SV - Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường đại học vinh
ua kết quả khảo sát bảng 2.7 chúng tôi thấy nhà trường quan tâm tới công tác quản lý GD KNM cho SV, có kế hoạch chỉ đạo sát sao việc QL GD KNM cho SV (Trang 59)
Bảng 2.8. Mức độ đánh giá kết quả GD KNM cho SV Trường đại học Vinh  - Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường đại học vinh
Bảng 2.8. Mức độ đánh giá kết quả GD KNM cho SV Trường đại học Vinh (Trang 61)
Bảng 3.2. Đánh giá tính khả thi của giải pháp đã đề xuất (n =100) - Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường đại học vinh
Bảng 3.2. Đánh giá tính khả thi của giải pháp đã đề xuất (n =100) (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w