Căn cứ phân chia di sản thừa kế Khi phân chia di sản thừa kế có thể phân chia theo di chúc hoặc theo pháp luật, nhưng dù là phân chia theo di chúc hay phân chia theo pháp luật thì đều p
Trang 1346 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH LUẬT TƢ PHÁP
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Thanh Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Liên
Lớp: 52B6 – Luật MSSV: 1155034627
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Hội đồng khoa học của khoa, các Thầy Cô giáo trong tổ bộ môn Luật dân sự, các Thầy cô khoa Luật trường Đại học Vinh Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô đã giành nhiều thời gian và tâm huyết truyền đạt những kiến thức quý báu giúp em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên Nguyễn Thị Thanh đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, đã hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu để em hoàn thiện khóa luận này Đó cũng là nguồn động viên lớn lao để cổ vũ và tiếp thêm nghị lực cho
em hoàn thành tốt khóa luận này Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô, chú, anh, chị là cán bộ của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã giúp
đỡ, chỉ bảo và cung cấp những tài liệu quý báu để giúp em hoàn thành khóa luận này Cuối cùng em xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và những bậc sinh thành đã có công sinh thành và nuôi dưỡng em đến ngày hôm nay, những người luôn hết lòng tận tụy, chăm sóc và động viên em trong lúc khó khăn cũng như trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Dù cố gắng hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp nhưng trong quá trình nghiên cứu do năng lực bản thân còn hạn chế không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được
sự thông cảm và tận tình chỉ bảo của thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 0
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa của khóa luận 3
6 Kết cấu của khóa luận 3
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ 4
1.1 Khái niệm di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế 4
1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế 4
1.1.2 Khái niệm phân chia di sản thừa kế 7
1.2 Xác định di sản thừa kế, người thừa kế 8
1.3 Căn cứ phân chia di sản thừa kế 13
1.3.1 Theo ý chí của người lập di chúc 13
1.3.2 Theo quy định của pháp luật 15
1.3.3 Theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế 15
1.4 Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế 16
1.5 Phân chia di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam trước năm 2005 21
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ TRONG BLDS 2005 VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ TẠI TAND TỈNH THANH HÓA 25
2.1 Quy định BLDS 2005 về phân chia di sản thừa kế 25
2.1.1 Trình tự phân chia di sản thừa kế 25
2.1.2 Phân chia di sản thừa kế theo di chúc 30
2.1.2.1 Các trường hợp phân chia di sản thừa kế theo di chúc 30
Trang 42.1.2.2 Phân chia di sản thừa kế theo di chúc trong trường hợp có di sản dùng vào việc thờ cúng 312.1.2.3 Phân chia theo di chúc trong trường hợp có di tặng 342.1.2.4 Phân chia di sản thừa kế theo di chúc trong trường hợp có người thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 362.1.3 Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật 382.1.4 Trường hợp hạn chế phân chia di sản 422.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về phân chia di sản thừa kế tại TAND tỉnh Thanh Hóa 43
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 58
3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về phân chia di sản thừa
kế 583.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về phân chia thừa kế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 62
KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO 66
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự BLDS 2005: Bộ luật dân sự năm 2005 TAND: Tòa án nhân dân
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bất kỳ chế độ giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật dân sự Thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là khi cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tài sản của các thành viên trong xã hội cũng được tăng lên đáng kể cả về số lượng và cả giá trị của nó Pháp luật thừa kế bảo hộ quyền thừa kế của công dân, cho phép công dân được để lại tài sản của mình cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật Trong BLDS 2005, quy định về thừa kế được quy định tại phần thứ
4 gồm 4 chương từ Điều 631 đến Điều 687
Thừa kế kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật là hai hình thức đặc trưng cho hai quan hệ thừa kế khác nhau Dù ở hình thức nào thì việc xác định khối di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế là một trong những yếu tố rất quan trọng Trong BLDS hiện hành, các quy định về phân chia di sản thừa kế còn tồn tại một số quy định chung chung, chưa chi tiết, cụ thể Chính vì thế
mà có nhiều quan điểm trái ngược nhau, nên khi áp dụng để giải quyết tranh chấp thực tế sẽ xảy ra tình trạng không thống nhât Điều đó làm cho quyền thừa kế của công dân không được bảo đảm, thậm chí còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội
Điều đó cũng góp phần làm cho các vụ tranh chấp dân sự liên quan đến vấn đề này cũng gia tăng về số lượng Tại TAND tỉnh Thanh Hóa các tranh chấp về phân chia di sản cũng tăng đáng kể về số lượng Trước nhu cầu cấp bách cũng như tầm quan quan trọng đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu, tập hợp làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn những quy định của pháp luật về phân chia
di sản về thừa kế trong BLDS một cách hệ thống là hết sức cần thiết hiện nay
Trước tình hình đó, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài “Phân chia di
sản thừa kế theo quy định của BLDS 2005: lý luận và thực tiễn tại TAND tỉnh Thanh Hóa” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
Trang 72 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thừa kế di sản là vấn đề rộng và phức tạp lại có lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú mà trong đó bao gồm phân chia di sản thừa kế Đã
có nhiều công trình nghiên cứu về thừa kế nói chung như: " Những quy định chung về quyền thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam" của Thạc sỹ Nguyễn Minh Tuấn, " Chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam" của Thạc sỹ Đinh Duy Thanh, Luật án tiến sĩ có " Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt nam theo qui định của pháp luật từ năm 1945 đến nay" của Tiến sĩ Phùng Trung Tập, " Thừa kế theo di chúc theo qui định của Bộ Luật Dân Sự Việt Nam" của Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết, và nhiều bài viết, nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành khác
Song, mỗi công trình nghiên cứu lại khai thác đề tài ở những góc độ và khía cạnh khác nhau Vì vậy, nghiên cứu về “Phân chia di sản thừa kế theo quy định của BLDS 2005: lý luận và thực tiễn tại TAND tỉnh Thanh Hóa” cũng là một cách tiếp cận đem đến cái nhìn mới về quy định này
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích của khóa luận là nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận về phân chia di sản thừa kế Qua đó đánh giá thực trạng áp dụng những quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế hiện nay Góp phần vào việc nhận thức đúng đắn hơn pháp luật dân sự và những hạn chế trong các quy định pháp luật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học, tác giả chỉ tập trung vào một khía cạnh chủ yếu liên quan đến việc phân chia di sản thừa
kế theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
Trang 84.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng một số phương pháp khoa học chuyên ngành như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích… để chứng minh cho những luận điểm đặt
ra trong khóa luận
5 Ý nghĩa của khóa luận
Khóa luận nghiên cứu về một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc phân chia di sản thừa kế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, qua đó nêu ra những hạn chế trong một số các quy định của pháp luật còn chưa phù hợp dẫn đến tình trạng tranh chấp kéo dài trong thực tế chưa được giải quyết triệt để Đồng thời cũng đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này, giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật của người dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật thừa kế, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được cơ cấu hành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về phân chia di sản thừa kế Chương 2: Quy định về phân chia di sản thừa kế trong BLDS 2005 và
thực tiễn giải quyết tranh chấp về phân chia di sản thừa kế tại TAND tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
1.1 Khái niệm di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế
1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế
Khi sống, con người khai thác công dụng của tài sản để thoả mãn cho nhu cầu của mình, khi chết, tài sản còn lại của họ được dịch chuyển cho người còn sống Quá trình dịch chuyển tài sản đó từ thế hệ này sang thế hệ khác
được gọi là thừa kế Nhìn nhận một cách tổng quan thì “thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống” Theo Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho” Khi một
người chết đi, những tài sản thuộc quyền sở hữu của người đó được truyền lại cho những người thừa kế gọi là di sản
Di sản là toàn bộ tài sản có giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần cùng với các nghĩa vụ về tài sản được lưu truyền, tiêp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời khác, được bảo hộ về mặt pháp lý [2 Tr 21]
Thuật ngữ “di sản” được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống Song, trong từng lĩnh vực cụ thể: văn hóa xã hội, kinh tế thì thuật ngữ này lại được hiểu với những nghĩa khác nhau Trên lĩnh vực pháp luật thuật ngữ di sản được các nhà làm luật sử dụng để chỉ di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Nó được hiểu như phần tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người chết để lại cho những người còn sống khác
Từ trước đến nay trong khoa học pháp lý của nước ta chưa có một khái niệm thống nhất, cụ thể về di sản thừa kế Xuất phát từ tầm quan trọng của di sản thừa kế là yếu tố đầu tiên trong quan hệ thừa kế đã rút ra được khái niệm thừa kế trên phương diện pháp lý: “ Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người chết khi còn sống để lại, là đối tượng của quan hệ dịch chuyển tài sản đó cho những người thừa kế được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện” Theo quy định tại Điều 634 BLDS 2005: “Di sản
Trang 10bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết với người khác ”
Tuy nhiên do di sản thừa kế là một vấn đề hết sức phức tạp nên khi nói
về di sản thừa kế vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau Một trong những nguyên nhân của tình trạng này chính là do còn nhiều vấn đề tranh cãi liên quan đến di sản thừa kế Một trong những vấn đề còn có nhiều ý kiến tranh cãi đó là di sản thừa kế có bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại hay không Hiện nay, trong khoa học pháp lý, vấn đề di sản thừa kế vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
* Quan điểm thứ nhất cho rằng: Di sản thừa kế bao gồm các tài sản và các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Tức là, người để lại di sản thừa kế khi còn sống ngoài những tài sản mà họ có thì còn có các khoản nợ (nghĩa vụ tài sản) khác Những nghĩa vụ này phát sinh từ các quan hệ dân sự như, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay, nghĩa vụ trả tiền thuê nhà Các nghĩa vụ về tài sản họ để lại khi chết đi sẽ được dịch chuyển cho những người thừa kế thực hiện đồng thời với việc dịch chuyển các tài sản Pháp luật nói chung và pháp luật thừa kế Việt Nam nói riêng trong thời kì phong kiến phổ biến với quan điểm này Người thừa kế sẽ phải thực hiện việc thanh toán nợ của người chết để lại kế cả trong trường hợp tài sản của người chết để lại không đủ để trả hết nợ và phải chịu trách nhiệm vô hạn với nghĩa vụ đó Quan điểm này đã không còn phù hợp với sự phát triển của đất nước, cho thấy
sự bất công của chế độ cũ, chế độ bóc lột người dân của bọn cường hào, địa chủ Quy định của Sắc lệnh số 97/ SL ngày 22/5/1950 đã xóa bỏ quy lệ bất công này
* Quan điểm thứ hai cho rằng: Di sản thừa kế bao gồm tài sản và các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản của người chết để lại Theo quan điểm này thì tài sản mà người chết để lại bao gồm tài sản có và tài sản nợ là ngang bằng nhau Người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản riêng của mình mà chỉ thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản người chết để lại Quan điểm này khác với việc thực hiện nghĩa vụ tài sản ở quan điểm thứ nhất,
Trang 11không còn tình trạng chịu trách nhiệm một cách vô hạn đối với các khoản nợ
mà người chết để lại, người thừa kế chỉ chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại trong phạm vi di sản họ được hưởng
* Quan điểm thứ ba cho rằng: Di sản thừa kế chỉ bao gồm các tài sản của người chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản Đây là quan điểm phù hợp với những quy định của BLDS năm 1995 và BLDS 2005 Vì:
Thừa kế là thừa hưởng của cải của người đã khuất Theo từ điển Tiếng Việt thì thừa kế được định nghĩa là: “hưởng của người chết để lại cho” [5, Tr 972] Với ý nghĩa này thì ta không thể nói người thừa kế “ được hưởng nghĩa
vụ tài sản” hay “được hưởng các tài sản nợ” Những “giá trị” không mang đến lợi ích cho người tiếp nhận thì không được coi là di sản.Vì vậy, không thể coi các nghĩa vụ là được thừa hưởng
Mặt khác, về phương diện đạo đức truyền thống , theo suy nghĩ của người Việt Nam cha mẹ sinh con thì có nghĩa vụ chăm lo, nuôi nấng con nên người Những việc làm mang tính “ bổn phận” không chỉ là trong hiện tại mà còn cho cả tương lai sau này của người con, tạo ra “tiền đề vật chất” ban đầu cho con, cho cháu Người con, người cháu được thừa hưởng tài sản khi cha
mẹ chết đi, dựa vào đó mà làm ăn phát triển cuộc sống và sau này lại tích lũy tài sản cho con cái của họ Và tất nhiên những tài sản mà người chết để lại cho người được hưởng phải thuộc quyền sở hữu của họ, không trái với các quy định của pháp luật Quyền thừa kế và quyền sở hữu có mối quan hệ mật thiết với nhau Do tính chất vĩnh viễn và tuyệt đối của quyền sở hữu mà nguyên tắc liên tục của việc đảm nhận tư cách chủ sở hữu đối với tài sản được đặt ra:“ Thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người chết sang cho những người còn sống khác” [2 Tr 33] Như vậy, với ý nghĩa trên thì di sản chỉ là tài sản của người chết mà không bao gồm các nghĩa vụ về tài sản
Về phương diện pháp luật thì: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại ” (Khoản 1 Điều 637 BLDS 2005) Cùng với việc nhận di sản thừa kế thì người thừa kế có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ mà người chết để lại Cần
Trang 12phải hiểu, ở đây người thừa kế khi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không phải với tư cách là một chủ thể mới, họ không thay thế vị trí của chủ thể Họ thực hiện nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của người chết Khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ do người chết để lại và nhưng chi phí liên quan đến di sản thừa kế sẽ xảy ra các trường hợp:
Một là, nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác nhỏ hơn khối tài sản mà người chết để lại, trong trường hợp này tài sản vẫn còn để chia thừa kế
Hai là, nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác lớn hơn hoặc bằng đúng khối tài sản mà người chết để lại, trong trường hợp này tài sản không còn để chia thừa kế Và vì thế sẽ không có quan hệ nhận di sản
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 642 BLDS 2005 người thừa kế có quyền
từ chối nhận di sản Nếu nhận di sản thì người thừa kế phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và ngược lại nếu họ không nhận di sản thì họ không phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Rõ ràng
ở đây người thừa kế không bắt buộc phải nhận di sản để sau đó phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người chết cho chủ nợ
Tóm lại, di sản thừa kế đươc hiểu là tài sản, các quyền tài sản mà người
đã chết có được một cách hợp pháp, không bao gồm các nghĩa vụ tài sản của người đó để lại cho người hưởng thừa kế
1.1.2 Khái niệm phân chia di sản thừa kế
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội của nước ta sau nhiều năm qua, với những chính sách phát triển đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần… đến nay thành phần, khối lượng, giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu tư nhân- nguồn của di sản thừa kế cũng ngày một phong phú, nhiều hơn và lớn hơn Vì vậy, các tranh chấp nói chung và các tranh chấp liên quan đến vấn đề thừa kế nói riêng có số lượng ngày càng nhiều đồng thời mang tính chất phức tạp hơn Đích cuối cùng của tranh chấp thừa kế giữa các bên chủ thể là xác định di sản và phân chia di sản thừa kế đúng để đảm bảo quyền, lợi ích của những người được hưởng thừa kế
Trang 13Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người có quyền thừa kế có các quyền
và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Di sản được chuyển giao về mặt pháp
lý cho những người thừa kế và thuộc sở hữu chung theo phần của những người thừa kế Khái niệm phân chia di sản chỉ đặt ra khi có ít nhất từ hai người có quyền thừa kế trở lên còn nêú như chỉ có một người duy nhất có quyền hưởng di sản thì chỉ có mình họ phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại và cũng chỉ có mình họ được sở hữu toàn bộ khối di sản sau khi đã thực hiện hết các nghĩa vụ
Vậy phân chia di sản thừa kế là tập hợp các hoạt động nhằm xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản cho từng người một có quyền hưởng thừa kế trong khối di sản chung sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài sản từ di sản
1.2 ác định di sản thừa kế, người thừa kế
Theo Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì di sản mà người chết để lại
bao gồm: “Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người đó trong tài sản chung với người khác”
- Tài sản riêng của người chết
Tài sản riêng của người chết được xác định khi người đó còn sống, còn quyền sở hữu tài sản của mình một cách độc lập và tự mình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản theo ý chí của riêng mình và không bị ràng buộc vào ý chí của người khác và chỉ tuân theo pháp luật Trong quan hệ vợ chồng, tài sản riêng của vợ hoặc của chồng được xác định là tài sản có trước thời kỳ hôn nhân hoặc có trong thời kỳ hôn nhân nhưng do được tặng cho riêng, được
Trang 14thừa kế riêng mà người có tài sản riêng đó không định đoạt ý chí sát nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng thì tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của vợ hoặc của chồng Tài sản riêng của người vợ hoặc người chồng còn xác định được trường hợp vợ, chồng đã thỏa thuận bằng văn bản chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án chia khi có lý do chính đáng thì phần tài sản của
vợ hoặc của chồng được chia là tài sản riêng của mỗi người Những tài sản chung của vợ chồng không chia thì vẫn thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng Những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp là tài sản chung của vợ chồng
- Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác
Đây là phần tài sản của người chết nằm trong tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng hoặc nằm trong khối tài sản thuộc sở hữu chung theo phần với nhiều người khác, tuỳ theo cách thức và căn cứ xác lập nên các hình thức sở hữu đó
Người chết là đồng sở hữu chung hợp nhất tài sản chung với vợ hoặc chồng và người chết là sở hữu chung theo phần đối với tài sản chung với người khác Trong những trường hợp này, khi người này chết thì tài sản là di sản thừa kế được xác định trong trong khối tài sản chung đó như sau:
- Đối với sở hữu chung hợp nhất, khi vợ hoặc chồng chết trước, phần di sản của người chết trước là chồng hoặc vợ được xác định là ½ giá trị trong tổng giá trị tài sản chung hợp nhất của vợ chồng
- Đối với trường hợp thứ hai, khi còn sống người chết là đồng sở hữu chung theo phần đối với tài sản, khi người này chết thì phần quyền tài sản của người này trong khối tài sản chung là di sản thừa kế
- Các quyền tài sản khác của người chết để lại là di sản thừa kế gồm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, các khoản tiền bồi thường thiệt hại
về sức khỏe, tính mạng, tiền bảo hiểm là di sản thừa kế của người đó Di sản thừa kế của cá nhân được hiểu là toàn bộ tài sản theo quy định tại Điều 163 BLDS 2005, trong đó quyền sử dụng đất đai
Trang 15Di sản thừa kế chỉ bao gồm các thành phần tài sản xác định từ khối tài sản riêng, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, không bị hạn chế về phạm vi giá trị Di sản thừa kế có mối quan hệ hữu
cơ với quyền sở hữu tài sản của cá nhân hay nói cách khác, quyền sở hữu cá nhân là sơ sở chủ yếu để xác định di sản thừa kế của cá nhân sau khi qua đời
- Phần di sản được dùng vào việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết
Điều 34 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và các Điều 636, 637 và Điều 683
BLDS 2005 quy định việc thanh toán di sản thừa kế: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” Như vậy, kể từ thời điểm mở thừa kế, thì phát sinh quyền hưởng di sản
của những người thừa kế, đồng thời cũng phát sinh nghĩa vụ tài sản do người
chết để lại Điều 637 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản
do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác”
* Xác định người thừa kế
Ðiều 631 BLDS quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Việc xác định người thừa kế không phụ thuộc vào sổ hộ khẩu gia đình, mà sẽ phụ thuộc vào nội dung di chúc (nếu có) hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế
Tại thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết) thì di sản người chết để lại được chia theo di chúc hoặc theo pháp luật Và người thừa
kế được xác định như sau:
- Là người được người để lại di sản định đoạt theo di chúc (nếu có di chúc) Người thừa kế trong trường hợp này có thể là cá nhân hoặc tổ chức nhà nước
- Là người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 BLDS Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản
Trang 16Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
Khi xác định người thừa kế nêu trên thì còn phải căn cứ theo các quy định tại Điều 635, Điều 641, Điều 667, Điều 642, Điều 643 BLDS 2005 cụ thể như sau:
- Quy định về người thừa kế: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Người thừa kế
là pháp nhân, tổ chức thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
- Quy định về việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm: Xét theo nguyên tắc thì không thể có trường hợp từ hai người trở lên chết cùng thời điểm, nhưng trong thực tế xảy ra những trường hợp nhiều người chết trong một tai nạn mà không thể xác định được ai chết trước, ai chết sau Do đó buộc phải suy đoán họ chết cùng một thời điểm Nếu những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước thì họ không được thừa kế di sản của nhau Khi đó
di sản của mỗi người được chia cho những người thừa kế của họ Theo quy
Trang 17định tại điều 641 BLDS, trong trường hợp con hoặc cháu của người để lại di sản cùng chết vào một thời điểm với người để lại di sản thì cháu hoặc chắt của
họ được thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 BLDS
- Trường hợp từ chối nhận di sản:
Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.Thời hạn từ chối nhận di sản
là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế
- Quy định về những người không được quyền hưởng di sản: Trong quan
hệ thừa kế, những người được chỉ định trong di chúc hoặc những người là vợ chồng,con…của người chết là những người được hưởng thừa kế Tuy nhên, trong thực tế đã xảy ra những trường hợp họ đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa
vụ của mình, có những hành vi trái pháp luật trái với đạo đức xã hội xâm phạm đến danh dự, uy ín, tính mạng, sức khỏe của bố, mẹ,vợ, chồng… những người có hành vi như vậy không xứng đáng được hưởng di sản của người thừa kế để lại Theo đó, BLDS quy định những người thuộc khoản 1 Điều 643 khôngđược quyền hưởng di sản, cụ thể:
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
Trang 18Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản Tuy nhiên để dảm bảo quyền tự định đoạt của người có di sản, những người quy định trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc
1.3 Căn cứ phân chia di sản thừa kế
Khi phân chia di sản thừa kế có thể phân chia theo di chúc hoặc theo pháp luật, nhưng dù là phân chia theo di chúc hay phân chia theo pháp luật thì đều phải căn cứ vào những quy định chung của pháp luật về thừa kế, qua đó
để xác định người thừa kế hưởng di sản theo phương thức, trình tự, thủ tục phù hợp
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật dân sự nói riêng, không tồn tại khái niệm “căn cứ phân chia di sản thừa kế” mà mới chỉ
có các khái niệm như “căn cứ pháp lý”, “căn cứ xác lập quyền sở hữu”, “căn
cứ chấm dứt quyền sở hữu” Ngay cả trong các công trình nghiên cứu khoa học cũng chưa có tài liệu nào đưa ra khái niệm chính thức về “căn cứ phân chia di sản thừa kế” Vì vậy việc đưa ra một khái niệm chuẩn là cần thiết để
có cách hiểu thống nhất về “căn cứ phân chia di sản thừa kế”
“Căn cứ” trong Từ điển Tiếng Việt được hiểu ở các khía cạnh sau:
- Dựa vào làm cơ sở để lập luận hoặc hành động;
- Cái làm chỗ dựa, làm cơ sở để lập luận hoặc hành động [5.Tr 118]
Vậy có thể hiểu: Căn cứ phân chia di sản thừa kế là những sự kiện pháp
lý mà trên cơ sở đó các chủ thể tiến hành việc phân chia di sản thừa kế Các căn cứ phân chia di sản thừa kế gồm:
1.3.1 Theo ý chí của người lập di chúc
“Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà
ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong tổ chức kinh tế khác Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” (Điều 58 Hiến pháp năm 1992) Công
Trang 19dân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình Như vậy, quyền của các chủ thể trong quan hệ thừa kế mà cụ thể là giữa người để lại di sản với người thừa kế và các chủ thể khác cần phải được bảo đảm Trong trường hợp khi mở thừa kế có di chúc của người để lại di sản thì chia khối di sản theo di chúc Nếu người thừa kế không từ chối nhận di sản thì họ trở thành chủ sở hữu đối với khối tài sản được phân chia
Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc [6.Tr 323] Người để lại di sản chỉ có thể là cá nhân còn người thừa kế là bất kì có thể là cá nhân hoặc tổ chức hoặc Nhà nước điều này phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc, pháp luật không thể quy định trong mọi trường hợp phải theo một khuôn mẫu nhất định do Nhà nước định ra Tùy vào ý chí của người lập di chúc mà người được thừa kế theo di chúc được hưởng các phần di sản nhiều ít khác nhau thậm chí là chênh lệch rất lớn ví dụ: người mẹ khi chết để lại di chúc cho hai người con nhưng bà lại yêu quý người con trưởng hơn nên người con thứ được 300 triệu, người con trưởng được 600 triệu Nhà nước ta luôn ưu tiên phương thức dịch chuyển di sản theo di chúc, pháp luật tôn trọng và đảm bảo ý chí của người để lại di chúc
Họ có thể để lại di sản cho bất kì ai, kể cả những người không có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với họ; họ có thể để lại một phần di sản để tặng cho người khác, di sản dùng vào việc thờ cúng Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định ý chí của người lập di chúc bị hạn chế, cụ thể là trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được quy định tại Điều 669 BLDS 2005, người không được quyền hưởng di sản quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005
Tóm lại, phân chia di sản theo ý chí định đoạt của người lập di chúc là một trong những căn cứ để tiến hành việc phân chia di sản thừa kế, làm phát sinh quyền sở hữu của người có quyền hưởng thừa kế
Trang 201.3.2 Theo quy định của pháp luật
Các quy định của pháp luật cũng là căn cứ để tiến hành việc phân chia di sản thừa kế, làm phát sinh quyền sở hữu của người có quyền hưởng thừa kế
Vì thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật đều là hai phương thức dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người sống và theo các trình tự do pháp luật quy định, phải dựa vào các quy định của pháp luật thì mới xác định được
là phân chia di sản theo di chúc hay theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định
Khác với việc phân chia di sản theo ý chí của người lập di chúc người được hưởng thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản Việc chia thừa kế theo pháp luật đặt ra khi người chết để lại di sản mà không lập di chúc hoặc có nhưng di chúc không có hiệu lực pháp luật, người thừa kế từ chối nhận di sản,… đối với thừa kế theo pháp luật những người ở cùng một hàng thừa kế thì được hưởng các phần di sản công bằng, ngang nhau, không phân biệt độ tuổi, giới tính,năng lực hành vi dân sự
Pháp luật thừa kế hiện đại của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam quy định, cho phép áp dụng hai hình thức thừa kế theo pháp luật và theo
di chúc để chia di sản trong từng trường hợp cụ thể tức là được áp dụng đồng thời trong việc phân chia di sản thừa kế kể cả theo di chúc và theo pháp luật
1.3.3 Theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế
Chỉ trong trường hợp người để lại di sản thừa kế không để lại di chúc thì phân chia di sản theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế mới là một trong những căn cứ phân chia di sản thừa kế Về nguyên tắc trường hợp này được chia theo quy định của pháp luật song những người thừa kế có thỏa thuận khác để xác định lại phần di sản cho mỗi người được hưởng
Thừa kế là quan hệ giữa những người trong gia đình với nhau (ông bà, bố
mẹ, con cái ), giữa những người thân quen nên việc phân chia di sản thừa kế
Trang 21phải dựa trên tính tự nguyện thỏa thuận, đoàn kết của những người được hưởng thừa kế, tránh gây sứt mẻ tình cảm gia đình, bạn bè Mặt khác, Điều 4 BLDS 2005 đã ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, đây
là nét đặc thù của những quan hệ dân sự Tôn trọng quyền định đoạt thỏa thuận của các bên trong thừa kế là sự cụ thể hóa nguyên tắc cơ bản này Tòa
án chỉ tham gia giải quyết trong trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận thống nhất được với nhau Khi những người thừa kế đã đạt được sự thỏa thuận thống nhất về cách chia thì đó có thể là căn cứ để phân chia di sản Tuy nhiên, để đạt được thoả thuận này không phải đơn giản bởi nó liên quan đến lợi ích kinh tế giữa mỗi người mà nhiều khi vì lòng tham, sự ích kỉ họ không muốn nhường nhịn nhau để đi đến thoả thuận chung
Khi phân chia di sản theo thỏa thuận, người thực hiện phân chia di sản có thể tham gia nhưng đây không phải là điều kiện bắt buộc Người thực hiện phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lý di sản Người phân chia di sản thừa kế chỉ là người thừa hành các quyết định của người lập di chúc hoặc những người hưởng thừa kế
“Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản” (Khoản 2 Điều 681 BLDS 2005), trong trường hợp: “Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì họ có quyền yêu cầu công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản ” (Khoản 1 Điều 49 Luật Công chứng 2006)
1.4 Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế
a Nguyên tắc phân chia di sản thừa kế theo di chúc
Giống như các chế định khác trong pháp luật dân sự, chế định quyền thừa kế được ghi nhận và chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc chung của luật dân sự Nhưng đây là một chế định điều chỉnh một quan hệ mang nhiều tính đặc thù trong xã hội, bị chi phối do yếu tố tình cảm, phong tục, tập quán nên có những nguyên tắc riêng để điểu chỉnh làm cơ sở, định hướng cho những quy phạm pháp luật về thừa kế phải tuân theo Phân chia di sản là một phần trong chế định thừa kế nên các nguyên tắc đó cũng được áp dụng cho
Trang 22các phương thức phân chia di sản, nói cách khác chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Bên cạnh đó việc phân chia di sản vẫn có những nguyên tắc riêng Tìm hiểu các nguyên tắc này là rất cần thiết bởi phân chia di sản thừa
kế đóng vai trò quan trọng trong pháp luật thừa kế và trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp trong phân chia di sản thừa kế
Một số các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế theo di chúc sau:
* Tôn trọng ý chí của người lập di chúc
Chiếm hữu, sử dụng và định đoạt là ba quyền năng của một cá nhân đối với tài sản Để lại di sản thừa kế là một trong những cách thức định đoạt tài sản của chủ sở hữu Nhà nước ta luôn tôn trọng ý chí của người lập di chúc, các quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 648 BLDS 2005 Nhà nước chỉ hạn chế ý chí của người lập di chúc trong môt số trường hợp nhất định Nếu di chúc không vi phạm các điều cấm của pháp luật thì việc phân chia di sản sẽ theo di chúc của người chết Việc này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với những người đã khuất thể hiện trách nhiệm đối với người đã khuất, thực hiện theo đúng di nguyện của họ để họ yên tâm nhắm mắt Mặt khác, đây
là một truyền thống lâu đời của nhân dân ta đồng thời qua đó khuyến khích những người còn sống cũng cố gắng tạo ra nhiều của cải vật chất không chỉ vì lợi ích của bản thân mà còn vì những người mình yêu thương
* Tôn trọng sự thỏa thuận của những người thừa kế:
Thỏa thuận có một ý nghĩa rất quan trọng trong quan hệ thừa kế Việc phân chia di sản diễn ra có suôn sẻ hay không phụ thuộc rất lớn vào ý chí của những người thừa kế Tòa án chỉ tham gia giải quyết trong trường hợp tranh chấp xảy ra khi những người thừa kế đã thỏa thuận bàn bạc với nhau nhưng không đạt đến kết quả thống nhất Pháp luật quy định: “Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản” Điều 4 BLDS 2005 ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Tôn trọng sự thỏa thuận của những người thừa kế là việc cụ thể hóa của nguyên tắc này
* Việc phân chia phải đảm bảo tình đoàn kết trong gia đình
Trang 23Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp quy định tại Điều 8 BLDS 2005 Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa
vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
Như chúng ta đã biết thừa kế là quan hệ bị chi phối bởi nhiều yếu tố tình cảm, tập quán, tục lệ, truyền thống vì vậy việc phân chia di sản như thế nào để đảm bảo tình đoàn kết, yêu thương giữa các thành viên trong gia đình, bảo đảm tính nhân văn của thừa kế hết sức có ý nghĩa Bám sát nguyên tắc này giúp cho việc giải quyết phân chia di sản thừa kế thêm hợp tình, hợp lý
Nhiều trường hợp trong gia đình đã xảy ra tranh chấp xô xát giữa các anh, chị, em khi phân chia di sản của cha mẹ để lại; các cháu, chắt khi phân di sản của ông, bà để lại…Điều này làm ảnh hưởng đến tình cảm của những thành viên trong gia đình, đến truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta Vì vậy, tự phân chia di sản thừa kế giữa những người thừa kế là cách tốt nhất để đảm bảo tinh thần đoàn kết trong nội bộ trong gia đình Trường hợp không thoả thuận được thì cần phân chia một cách bình đẳng, đảm bảo việc khai thác, sử dụng di sản, lợi ích kinh tế của những người thừa kế…Chỉ khi những người thừa kế đã thỏa thuận với nhau nhưng không đạt đến kết quả thống nhất Tòa án mới tham gia giải quyết Trên thực tế để giải quyết vấn đề này là hết sức khó khăn với những người làm công tác chuyên môn, họ luôn phải theo sát những nguyên tắc nền tảng để vừa đảm bảo cho mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được bền vững lại vừa đảm bảo cho việc thực hiện phân chia di sản theo ý chí của người đã khuất
* Phân chia di sản phải ưu tiên cho một số thành viên trong gia đình
Ưu tiên cho một số thành viên trong gia đình không có nghĩa là thiên vị
họ hơn những người khác trong gia đình, cũng không có nghĩa là trái với nguyên tắc bình đẳng và không tôn trọng ý chí của người lập di chúc Bởi về bản chất thừa kế mang tính nhân văn sâu sắc, góp phần giúp cho những người
Trang 24trong gia đình thêm đoàn kết, yêu thương nhau Khi phân chia di sản cần chú
ý đến năng lực hành vi, tuổi tác, hoàn cảnh kinh tế của từng người thừa kế Quan tâm tới những người chưa thành niên, người không có khả năng lao động, người già yếu khi chia thừa kế để những người này có điều kiện sống tốt hơn, ít nhất là trong giai đoạn trước mắt Đây cũng là đạo lý của người Việt Nam ta
Về nguyên tắc trong trường hợp di chúc hợp pháp có hiệu lực thì những người thừa kế sẽ được hưởng đúng phần người lập di chúc chỉ định, sự định đọat này được pháp luật tôn trọng Tuy nhiên trong trường hợp người lập di chúc không cho hoặc cho hưởng phần ít hơn so với quy định của pháp luật đối những đối tượng là: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con đã thành niên mà không có khả năng lao động hưởng thừa kế thì pháp luật sẽ ưu tiên cho những người này, họ được hưởng một tỷ lệ nhất định trong khối di sản người chết để lại Xét cho cùng, đây là những người có quan hệ tình cảm gần gũi với người đã chết, có quan hệ hôn nhân, huyết thống, họ có các quyền và nghĩa vụ đối với người chết hoặc ngược lại người lập di chúc có các quyền, nghĩa vụ đối với họ như: chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ già, con nhỏ nên điều này là hoàn toàn hợp lý
b Nguyên tắc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật:
Nếu như ở phần trên ta đã nói đến các nguyên tắc phân chia di sản thừa
kế theo di chúc thì ở phần này chúng ta sẽ đề cập về các nguyên tắc phân chia
di sản theo pháp luật Tìm hiểu các nguyên tắc này là rất cần thiết bởi quyền lợi của những người thừa kế thừa kế sẽ bị ảnh hưởng nếu vi phạm các nguyên tắc của thừa kế
* Ưu tiên chia cho những người ở hàng thừa kế trước
Di sản của người chết được chia cho những người thân thích, gần gũi đối với người chết.Tuy nhiên mức độ gần gũi, thân thiết của những người thân thích đó với người chết là khác nhau khiến cho việc phân chia di sản thừa kế trở nên khó khăn, phức tạp Vấn đề này xảy ra ở rất nhiều nước trên thế giới chứ không phải chỉ ở riêng Việt Nam Và phần lớn các nước đặt ra qui định
Trang 25về hàng thừa kế để giải quyết vấn đề này Theo pháp luật hiện hành những người thừa kế theo pháp luật được quy định thành từng hàng (Khoản 1 Điều
676 BLDS 2005) Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được coi là những người có quan hệ gần gũi nhất đối với người chết, tiếp đến là những người ở hàng thừa kế thứ hai và thứ ba Khi sống người ta làm ra của cải không chỉ chăm lo cho mình mà còn cho những nguời thân thiết như: nuôi con; nuôi cháu; chăm sóc cha, mẹ già… Tâm lý chung khi họ ra đi là muốn để lại tài sản cho những người gần gũi, yêu quý Vì vậy, pháp luật ưu tiên chia cho những người ở hàng thừa kế trước: “Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không
có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản” (Khoản 3 Điều 676 BLDS 2005)
* Chia hết cho những người ở hàng thừa kế trước
Hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độ gần gũi với người chết và theo đó họ cùng hưởng ngang nhau đối với di sản thừa
kế mà người chết để lại Mà như đã nói ở trên khi phân chia di sản theo luật sẽ
ưu tiên cho những người ở hàng thừa kế trước Do đó, di sản sẽ được chia thành những phần bằng nhau và chia hết cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất Nếu khi chia thừa kế mà không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất vì đã chết trước người để lại di sản thừa kế mà không có ai thế vị hoặc có nhưng họ
từ chối nhận di sản hay không có quyền hưởng di sản theo Điều 643 BLDS
2005 hoặc bị người để lại di di sản truất quyền thừa kế thì lúc này di sản mới được chia hết cho những người thừa kế thuộc hàng thứ hai Tương tự như vậy
ở hàng thừa kế thứ hai thì di sản được chia cho những người thuộc hàng thừa
kế thứ ba
Nếu không có ai trong hàng thừa kế thứ ba (người này không có họ hàng thân thích, con cháu, sống lẽ loi cô độc ) thì di sản sẽ thuộc về nhà nước (Điều 644 BLDS 2005)
* Chia đều bằng nhau cho những người thừa kế cùng hàng
Trang 26Nguyên tắc này là sự cụ thể hóa Điều 5 về nguyên tắc bình đẳng của BLDS 2005 và thể hiện rất rõ trong Điều 52 Hiến pháp 1992 Đó là sự bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự khi xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Trong quan hệ thừa kế nói chung và phân chia di sản thừa kế nói riêng nguyên tắc này cần được đảm bảo Những người cùng thuộc một hàng thừa kế được hưởng phần di sản như nhau (Khoản 2 Điều 676 BLDS 2005) Các con của người chết không phân biệt con trai, con gái, tuổi tác, con trong thời kì hôn nhân, con ngoài giá thú, con nuôi, con đẻ đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất Vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc hưởng tài sản chung Đây là sự khác biệt giữa pháp luật hiện hành với pháp luật thực dân - phong kiến trước kia chỉ coi người phụ nữ là nộ lệ, phân biệt đối xử giữa các thành viên trong gia đình (như: con vợ lẽ và vợ cả ) Nguyên tắc này thực sự là một là một điểm tiến bộ của pháp luật hiện nay, phải trải qua cuộc đấu tranh gian khổ mới có được Và đây cũng là điểm khác biệt của phân chia di sản theo di chúc và phân chia di sản theo pháp luật bởi phân chia
di sản theo di chúc phụ thuộc ý chí và tâm lý của người lập di chúc như: cùng
là các con của người đã chết nhưng có khi lại được nhận những phần không đều nhau, thậm chí có người được hưởng, người không
1.5 Phân chia di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam trước năm 2005
Trải qua những giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các văn bản pháp luật về thừa kế và các văn bản hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về thừa kế ở nước ta từ năm 1945 đến nay đã được ban hành để điều chỉnh quan hệ pháp luật về thừa kế
- Giai đoạn trước thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945:
Ở giai đoạn này Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến.Hệ thống pháp luật trong giai đoạn này chỉ là công cụ của thực dân Pháp nhằm thực hiện triệt để chính sách khai thác thuộc địa Bản chất của chế độ nô dịch thuộc địa được bộc lộ công khai không những trong những chính sách cai trị của thực dân Pháp, mà cả trong các quy phạm pháp luật Do đó pháp luật dân sự ở Việt
Trang 27Nam ra đời trong giai đoạn này cũng chứa đựng bản chất thực dân - phong kiến khá rõ nét; đặc biệt trong Bộ dân luật giản yếu 1883, Dân luật Bắc kỳ năm
1931, Dân luật Trung Kỳ năm 1936 Tư tưởng trọng nam, khinh nữ của ý thức
hệ phong kiến vẫn được bảo tồn trong quan hệ xã hội, trong quan hệ gia đình
và cả trong các điều khoản pháp luật Trong lĩnh vực thừa kế di sản, do coi trọng quan hệ huyết thống, pháp luật thừa kế thời kỳ này đã chú ý đến quyền bình đẳng của các con trong việc hưởng di sản thừa kế của bố, mẹ…
- Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước ngày có Pháp lệnh thừa kế
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra đời vào ngày 02/9/1945 Song song với củng cố chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến việc củng cố và phát triển nền kinh tế, hệ thống pháp luật của chế độ mới cũng được hình thành và phát triển, trong đó chế định thừa kế cũng được coi trọng Sắc lệnh ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng luật lệ của chế độ cũ, trong đó có những quy định về quyền thừa kế, ngoại trừ những điều khoản trái với nền độc lập và dân chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Tiếp đó Hiến pháp năm 1980 được ban hành quy định sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ở mức độ triệt để hơn so với Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 Khác hẳn với các quy định của pháp luật trước đó, Hiến pháp năm 1980, cá nhân không còn quyền sở hữu đối với đất đai Vì vậy, trong di sản thừa kế của công dân Việt Nam trong giai đoạn này không còn tài sản là đất đai nữa
Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1980, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 81-TANDTC ngày 24/7/1981 (gọi tắt là Thông
tư số 81) hướng dẫn đường lối giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản quy định về phân chia di sản thừa kế trong Thông tư 81 đã tinh thần đoàn kết, nhường nhịn và tương trợ lẫn nhau của các đồng thừa kế; đồng thời, cũng đề cao việc hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau một cách hợp lý,
Trang 28hợp tình để quản lý và giữ gìn di sản của người chết để lại, di sản chỉ được tiến hành khi xét thấy không còn khả năng hòa giải thành
- Giai đoạn từ khi Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được ban hành đến ngày
Bộ luật Dân sự năm 1995 có hiệu lực thi hành
Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990 được ban hành là một văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao đầu tiên quy định khá đầy đủ về thừa kế ở nước ta
kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi có Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 Điểm mới của Pháp lệnh thừa kế so với Thông tư số 81 được thể hiện ở nhiều quy định, đặc biệt là quy định về phân chia di sản cho người thừa kế đã thành thai, theo quy định của Pháp lệnh thừa kế nếu có người thừa kế cùng hành đã thành thai nhưng chưa sinh ra, thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra thì được hưởng, nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng
Pháp lệnh thừa kế được ban hành là một sự kiện quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng
Nó như một tất yếu, đã đáp ứng được nhu cầu của các quan hệ tài sản trong xã hội những năm đầu của thập kỷ 90, thế kỷ XX
- Giai đoạn sau ngày Bộ luật Dân sự năm 1995 có hiệu lực thi hành
BLDS năm 1995 ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/1996
Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật thừa kế được quy định trong Bộ luật Dân sự là nhằm bảo vệ quyền bình đẳng, tự nguyện của công dân tham gia quan hệ thừa kế di sản và quyền được hưởng di sản của những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật Đặc biệt, trong Bộ luật Dân sự năm 1995
có quy định các thủ tục đảm bảo thực hiện quyền thừa kế của công dân bao gồm các quy phạm về thủ tục hành chính, thủ tục tố tụng và quy định về thanh toán, phân chia di sản gồm: Họp mặt những người thừa kế để thoả thuận cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những thừa kế; cử người phân chia di sản; thực hiện nghĩa vụ tài sản và các
Trang 29khoản chi phí liên quan đến thừa kế; quy định các trường hợp phân chia theo
di và theo pháp luật; hạn chế phân chia di sản
- Trong Bộ Luật Dân sự năm 2005
BLDS 2005 đã hoàn thiện thêm những quy định về thừa kế nói chung và phân chia di sản thừa kế nói riêng trong BLDS 1995 Phân chia di sản thừa kế trong BLDS 2005 đã có những quy định cụ thể và phù hợp hơn với đời sống thực tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay như:
BLDS 2005 đã và không ngừng được củng cố, hoàn thiện các quy định
về phân chia di sản thừa kế như bổ sung quy định về các trường hợp hạn chế phân chia di sản, ngoài hai căn cứ hạn chế phân chia di sản được quy định tại Điều 689 BLDS 1995 bổ sung Điều luật mới về phân chia di sản khi có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế Điều 687 BLDS 2005 Điều luật này khắc phục tình trạng bỏ sót người thừa kế khi chia thừa kế; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để yêu cầu người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế phải hoàn trả phần di sản mà họ được chia trước khi quyền thừa kế của họ bị bác bỏ Điều luật quy định rõ thời điểm quy đổi giá trị kỷ phần di sản là thời điểm di sản được phân chia trên thực tế, nhằm xác định rõ ràng về cách tính giá trị phần di sản mà mỗi người thừa kế được hưởng khi có tranh chấp Với những bổ sung quy định trên, nhằm bảo vệ theo các nguyên tắc tôn trọng ý chí của công dân trong việc định đoạt tài sản cho người thừa kế và ý chí của những người thừa kế trong việc nhận hay không nhận di sản, đảm bảo quyền bình đẳng của những người thừa kế trong hàng được hưởng di sản theo pháp luật không có sự phân biệt giới tính, già trẻ, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự
Trang 30CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ TRONG BLDS 2005 VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ TẠI TAND TỈNH THANH HÓA
2.1 Quy định BLDS 2005 về phân chia di sản thừa kế
2.1.1 Trình tự phân chia di sản thừa kế
Phân chia di sản là khâu quan trọng trong quan hệ pháp luật về thừa kế
và bản thân nó cũng đòi hỏi những yêu cầu riêng biệt Thông thường sẽ có sự phân chia khác nhau tùy thuộc trường hợp người chết có để lại di chúc hay không để lại di chúc, di chúc có hiệu lực hay vô hiệu và nếu vô hiệu thì một phần hay toàn bộ theo quy định pháp luật Song, có một số thủ tục (các bước) mang tính chất chung trong mọi trường hợp Đây chính là các công việc cần làm của những người thừa kế trước khi thực hiện phân chia di sản, gồm: Công
bố di chúc (nếu có di chúc); họp mặt những người thừa kế; chỉ định người quản lý di sản , phân chia di sản thừa kế; thanh toán những khoản nợ di sản
di chúc
So với BLDS năm 1995, khoản 3 Điều 672 BLDS 2005 đã bỏ đoạn “bản sao di chúc phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mở thừa kế” Quy định trên xuất phát từ thực trạng của pháp luật công chứng, chứng thực hiện nay do quá tải trong hoạt động công chứng; mặt khác, pháp luật không bắt buộc mọi bản sao
Trang 31đều phải có công chứng Hơn nữa tại khoản 4 Điều 672 BLDS 2005 qui định:
“Người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của di chúc” nên việc bắt buộc các bản sao di chúc phải có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền nơi mở thừa kế là không cần thiết nữa Đây
là một điểm tiến bộ của BLDS 2005 nó góp phần làm cho Điều luật mang tính khả thi hơn, tạo điều thuận lợi cho việc công bố di chúc mà vẫn bảo đảm sự minh bạch
Ngoài việc công bố nội dung của di chúc, trong trường hợp nội dung bản
di chúc này không rõ ràng dẫn đến những cách hiểu khác nhau thì người công
bố di chúc còn có quyền giải thích nội dung di chúc cùng với những người thừa kế Việc giải thích phải được căn cứ trên ý nguyện đích thực của người
để lại di sản và mối quan hệ giữa người lập di chúc và những người thừa kế của người đó Nếu những người này không thể thống nhất cách hiểu về nội dung bản di chúc thì sẽ coi như không có di chúc và việc phân chia di sản thừa kế lúc này sẽ áp dụng theo những quy định về thừa kế theo pháp luật Nếu giữa họ chỉ không nhất trí về một phần của bản di chúc thì chỉ phần không thống nhất đó bị vô hiệu và áp dụng các qui định về thừa kế theo pháp luật để giải quyết Sau khi có thông báo về thời điểm mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể tiến hành họp mặt
* Họp mặt những người thừa kế
Với mục đích tăng cường sự đoàn kết nhất trí giữa những người thừa kế trong việc quản lý di sản khi chưa chia cũng như trong việc chia di sản cần họp mặt những người thừa kế trước khi phân chia di sản Đây là cuộc gặp mặt
để những người thừa kế có thể cùng nhau bàn bạc, thống nhất ý kiến về những vấn đề liên quan đến việc quản lý và phân chia di sản Điều 681 BLDS 2005 quy định về họp mặt những người thừa kế như sau:
“1 Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:
Trang 32a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong
và “mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.”, gọi là Biên bản họp mặt của những người thừa kế; trong đó có đầy đủ chữ ký của tất cả những người thừa kế Đối với những người thừa kế không có, hạn chế hoặc chưa có năng lực hành vi dân sự thì người đại diện hợp pháp của họ thay mặt họ kí Đây là bằng chứng pháp lý cho những trường hợp phát sinh tranh chấp sau này
Tùy từng trường hợp cụ thể mà nội dung được những người thừa kế cần bàn bạc, thỏa thuận khác nhau:
Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý, người phân chia di sản và những người thừa kế chưa chia ngay di sản thì vấn
đề này cần được bàn bạc, thống nhất trong cuộc họp những người thừa kế Bởi trong thời gian di sản chưa được phân chia có thể xảy ra tình trạng bị hư hỏng, mất mát, phân tán nên phải có người đứng ra quản lý, trông coi Đồng thời, những người thừa kế có thể thống nhất cách thức phân chia di sản luôn nếu họ xác định phân chia di sản trong thời gian này
Nếu người để lại di sản đã chỉ định người quản lý, người phân chia di sản hoặc chưa chỉ định nhưng những người thừa kế họp mặt để chia di sản ngay thì vấn đề cần bàn bạc giữa những người thừa kế ở đây là cách thức phân chia khối di sản
Trang 33Còn trong trường hợp mặc dù đã chỉ định người quản lý, người phân chia
di sản nhưng chưa xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của những người này thì những người thừa kế phải thỏa thuận cùng nhau để xác định quyền, nghĩa
vụ cho họ Tuy nhiên, nếu không thỏa thuận được thì quyền và nghĩa vụ của người quản lý, người phân chia di sản sẽ được xác định, thực hiện theo quy định tại Điều 639, Điều 640 và Điều 682 BLDS 2005
Theo đó, tại điểm b khoản 2 Điều 640 BLDS 2005 quy định về quyền
của người quản lý di sản: "Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế" Trên thực tế rất hiếm vụ các bên có thoả thuận với nhau về
việc trả thu lao từ trước Thực tế xét xử hầu hết các vụ án, Toà án đều trích trả thù lao cho người quản lý, sử dụng di sản một khoản thù lao (dù có thoả thuận hay không) Nhưng có ý kiến cho rằng người quản lý do sản đồng thời là người sử dụng, khai thác lợi ích từ di sản thì chỉ được hưởng thù lao khi có thỏa thuận, còn nếu không có thoả thuận, khi có tranh chấp, Toà án không buộc các thừa kế trả thù lao cho họ
* Người phân chia di sản thừa kế
Người phân chia di sản là người trong thực tế đứng ra tổ chức, thực hiện việc phân chia di sản cho những người thừa kế theo di chúc hoặc theo sự thỏa thuận của những người thừa kế Điều 682 BLDS 2005 quy định :
“1 Người phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thỏa thuận cử ra
2 Người phân chia di sản phải chia di sản theo đúng di chúc hoặc đúng thỏa thuận của những người thừa kế theo pháp luật
3 Người phân chia di sản được hưởng thù lao, nếu người để lại di sản cho phép trong di chúc hoặc những người thừa kế có thỏa thuận.”
Trong giai đoạn này, người quản lý di sản cũng có thể đồng thời là người phân chia di sản.Người phân chia di sản có thể là người được chỉ định trong
di chúc hoặc là người được cử ra do sự thỏa thuận của những người thừa kế trong trường hợp người phân chia di sản không được chỉ định trong di chúc hoặc đã chỉ định trong di chúc nhưng người đó từ chối phân chia di sản
Trang 34Ngoài ra còn có trường hợp đặc biệt là trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và người phân chia di sản, trong khi đó những người thừa kế chưa cử ra được thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý tài sản là di sản sẽ tiếp tục quản lý tài sản và họ cũng có thể là người phân chia di sản Dù ngườiphân chia di sản được cử theo phương thức nào thì họ cũng không phải là chủ sở hữu khối di sản hiện đang thuộc quyền sở chung của những người đồng thừa kế, họ chỉ có quyền hành động dưới danh nghĩa và vì lợi ích của những người có quyền hưởng di sản trong các công việc liên quan đến di sản
Trong trường hợp trong di chúc hoặc trong thỏa thuận của những người thừa kế không nhắc đến đến quyền và nghĩa vụ của người phân chia di sản thì
theo khoản 2 Điều 639 BLDS 2005: "Người phân chia di sản phải chia di sản theo đúng di chúc hoặc đúng thoả thuận của những người thừa kế theo pháp luật." Ngoài ra, người phân chia di sản còn nhận được thù lao khi người để lại
di chúc cho phép Nếu không có sự cho phép của người lập di chúc nhưng có
sự thỏa thuận của những người thừa kế thì người phân chia di sản vẫn được hưởng thù lao Trong trường hợp người lập di chúc cho phép người thừa kế hưởng thù lao nhưng không xác định cụ thể là bao nhiêu thì những người thừa
kế sẽ cùng nhau thỏa thuận mức thù lao Thông thường vấn đề thù lao không đặt ra khi người phân chia di sản là một trong số những người thừa kế
Từ đó, theo quy định của pháp luật thì người phân chia di sản không có quyền yêu cầu hưởng thù lao Việc họ có được hưởng thù lao hay không là quyết định của người lập di chúc hoặc theo sự thống nhất của những người thừa kế Quy định này có phần chưa hợp lý vì người phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lý di sản Nếu di sản được đem chia ngay hoặc chỉ trong một thời gian ngắn thì thù lao không phải là vấn đề lớn nhưng đối với những trường hợp khi mà việc phân chia di sản thừa kế sau thời gian dài như
5 năm, 10 năm hoặc hơn thì đây lại là vấn đề lớn, số tiền quản lý di sản theo mỗi năm lại tăng lên, công sức của người quản lí di sản bỏ ra cũng không phải
Trang 35là ít… Để tránh được những tranh chấp có thể xảy ra pháp luật nên có quy định cụ thể hơn
Như vậy là sau khi những người thừa kế họp mặt thỏa thuận về những vấn đề liên quan đến di sản thừa kế, người phân chia di sản thừa kế thì di sản
sẽ được chia theo đúng những thỏa thuận đó
2.1.2 Phân chia di sản thừa kế theo di chúc
2.1.2.1 Các trường hợp phân chia di sản thừa kế theo di chúc
Về phần di sản chia thừa kế, đây là phần di sản có thể nói là nhận được
sự quan tâm hàng đầu của những người thừa kế, bởi đây là phần di sản của người chết mà họ được thụ hưởng Đây là phần di sản mà sau khi thanh toán xong tất cả nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại thì những người thừa kế
có quyền thụ hưởng
Ở đây, trong trường hợp có di chúc hợp pháp do người chết để lại thì sẽ tiến hành phân chia di sản dựa theo nội dung của di chúc, phần di sản dùng để phân chia này chính là di sản chia thừa kế (sau khi thực hiện hoàn tất các nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại)
a Di sản được chia đều hay chia theo thỏa thuận của những người thừa kế Đây là trường hợp người lập di chúc không xác định rõ phần di sản mà từng người thừa kế được hưởng Vì vậy, nếu trong di chúc xác định chỉ có một người hưởng di sản thì toàn bộ di sản sẽ thuộc về người đó; nếu người để lại di sản chỉ định nhiều người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định đó Nếu những người được hưởng di sản có thỏa thuận khác thì sẽ áp dụng chia theo thỏa thuận đó Lưu ý là thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và có đủ chữ ký của những người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của họ nếu có
b Di sản được chia theo tỷ lệ
Cách chia này được áp dụng trong trường hợp người để lại di sản đã nói
rõ trong di chúc về những người hưởng thừa kế và tỷ lệ (như 1/2;1/3;/1/4 )mà mỗi người thừa kế đó được hưởng trên tổng giá trị khối di sản Khi đó di sản sẽ được chia cho những người thừa kế theo tỷ lệ nói trên