1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các nhiệm vụ của luật thi hành tạm giữ, tạm giam

14 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 34,27 KB
File đính kèm LUẬT THI HÀNH TẠM GIỮ TẠM GIAM.rar (31 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để việc tạm giữ, tạm giam trong các giai đoạn tố tụng được thực hiện đúng pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam được bảo đảm, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 được ban hành đã quy định chặt ché những vấn đề liên quan đến tạm giữ, tạm giam. Qua đó, góp phần đảm bảo cho hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam trên thực tế. Đề tài làm rõ các nội dung trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ đề: “Các nhiệm vụ của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam”.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

ĐỀ SỐ 01: Anh/chị hãy phân tích các nhiệm vụ của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam

A MỞ ĐẦU

Tạm giữ, tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự nhằm cách ly người bị tạm giữ, tạm giam ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để ngăn chặn họ không tiếp tục phạm tội, ngăn chặn hành vi trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử, cản trở việc xác định sự thật của

vụ án hoặc để bảo đảm cho quá trình thi hành án hình sự

Để việc tạm giữ, tạm giam trong các giai đoạn tố tụng được thực hiện đúng pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam được bảo đảm, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 được ban hành đã quy định chặt ché những vấn đề liên quan đến tạm giữ, tạm giam Qua đó, góp phần đảm bảo cho hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam trên thực tế

Đề tài làm rõ các nội dung trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn liên

quan đến chủ đề: “Các nhiệm vụ của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam”

Trang 3

B NỘI DUNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT THI HÀNH

TẠM GIỮ, TẠM GIAM

1 Khái niệm Luật thi hành tạm giữ tạm giam

Luật thi hành tạm giữ, tạm giam là văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong việc thi hành tạm giữ, tạm giam, bảo đảm cho việc tạm giữ, tạm giam được thực hiện đúng quy định của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam, của Nhà nước, tổ chức và cá nhân được tôn trọng, bảo đảm.1

2 Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam Việt Nam là các quan hệ giữa cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam phát sinh trong quá trình thi hành tạm giữ, tạm giam

Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh phát sinh trong quá trình quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; từ khi có người bị tạm giữ, tạm giam đến khi kết thúc việc tạm giữ, tạm giam Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ này có tác dụng trực tiếp đối với thi hành lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam

3 Phương pháp điều chỉnh

Phương pháp điều chỉnh của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam là tổng thể những cách thức mà luật thi hành tạm giữ, tạm giam tác động lên các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của nó Tùy thuộc vào các mối quan hệ giữa chủ thể của các hoạt động quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam mà Luật thi hành tạm giữ, tạm giam có các phương pháp điều chỉnh sau:

Một là, phương pháp quyền uy - phục tùng Phương pháp quyền uy - phục

tùng là phương pháp chủ đạo của thị hành tạm giữ, tạm giam, cho phép cơ quan,

1 Trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội, Giáo trình Luật thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành

án hình sự, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2017, tr.12

Trang 4

người có thẩm quyền trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam buộc người bị tạm giữ, tạm giam phải chấp hành tuyệt đổi những quy định của Nhà nước về tạm giữ, tạm giam như việc người bị tạm giữ, tạm giam phải sống, sinh hoạt trong buồng tạm giữ, nhà tạm giữ, trại tạm giam (sau đây gọi tắt là cơ sở giam giữ) dưới sự quản lý của cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam vi phạm những quy định trên sẽ bị áp dụng các biện pháp kỷ luật như cảnh cáo, cách ly tại buồng kỷ luật, bị cùm chân, bị hạn chế việc nhận, gửi thư, quà

Hai là, phương pháp phối hợp – chế ước Phương pháp phối hợp - chế ước

điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam như cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan, tổ chức khác có liên quan Phương pháp này thể hiện ở việc các cơ quan,

tổ chức nêu trên có sự phối hợp trong thực thi nhiệm vụ tạm giữ, tạm giam đồng thời kiểm tra, kiểm sát, phát hiện những sai phạm của nhau để khắc phục, bảo đảm việc tạm giữ, tạm giam được thực hiện một cách có hiệu quả, đúng quy định của pháp luật

4 Nguồn của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam

Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 là nguồn cơ bản và quan trọng nhất của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam Bên cạnh đó còn có những quy phạm pháp luật liên quan đến thi hành tạm giữ, tạm giam được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như Hiến pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam, các nghị quyết của Quốc hội, các nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các thông tư và thông tư liên tịch quy định về thi hành tạm giữ, tạm giam

II NHIỆM VỤ CỦA LUẬT THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM

Trang 5

Nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam Luật thi hành tạm giữ tạm giam được xây dựng với ba nhiệm vụ cụ thể sau: Nhiệm vụ bảo đảm lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam có hiệu lực pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế; nhiệm vụ phòng ngừa và nhiệm

vụ giáo dục

1 Nhiệm vụ bảo đảm lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam có hiệu lực pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế

Đây là nhiệm vụ trọng tâm của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam, nhằm đảm bảo hiệu quả mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam được những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành đối với người

bị buộc tội, người chờ chấp hành án, người bị dẫn độ để tạm giữ, tạm giam họ Việc tạm giữ, tạm giam nhằm mục đích ngăn chặn người bị tạm giữ, tạm giam tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

Luật thi hành tạm giữ, tạm giam với những quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam; của những người có thẩm quyền thực hiện công tác tạm giữ, tạm giam; đồng thời quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam, những hình thức, chế tài xử lý nghiêm khắc những vi phạm trong việc thi hành tạm giữ, tạm giam Khi lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam được thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế thì mục đích ngăn chặn tội phạm mới đạt được hiệu quả, đồng thời sẽ bảo đảm cho việc tạm giữ, tạm giam đúng quy định của pháp luật, không xảy ra tình trạng giam, giữ oan, sai hoặc lạm dụng lệnh giam, giữ để

vi phạm quyền con người Những vi phạm trong tạm giữ, tạm giam tùy theo tính chất, mức độ sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật

Ví dụ: Điều 23 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 có quy định: Người

bị tạm giữ, người bị tạm giam vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản

Trang 6

lý giam giữ bị kỷ luật bằng một trong các hình thức sau đây: Cảnh cáo; cách ly ở buồng kỷ luật từ 01 đến 02 ngày và có thể bị gia hạn đến 02 ngày đối với người

bị tạm giữ; cách ly ở buồng kỷ luật từ 03 đến 07 ngày và có thể bị gia hạn đến

10 ngày đối với người bị tạm giam… (điểm b khoản 1 Điều 23) Đồng thời, quy định cụ thể về trường hợp cùm 1 chân, hoặc không áp dụng cùm 1 chân Trong

04 trường hợp Luật quy định không áp dụng cùm chân có 02 trường hợp quy định mới so với trước đây đó là người khuyết tật nặng trở lên, người đủ 70 tuổi trở lên (khoản 3 Điều 23) Trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam vi phạm kỷ luật, sau khi đã được cách ly mà vẫn có hành vi chống phá quyết liệt cơ

sở giam giữ, có biểu hiện tự sát, gây thương tích cho bản thân hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác thì việc cùm một chân để ngăn ngừa là cần thiết, vừa bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe của họ hoặc người khác, vừa đảm bảo an toàn kỷ cương, sự tuân thủ pháp luật của cơ sở giam giữ Quy định này là phù hợp và không trái với Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác và các công ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên

2 Nhiệm vụ phòng ngừa

Luật thi hành tạm giữ, tạm giam thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa bao gồm

cả phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung Trong đó:

Phòng ngừa riêng là việc Luật thi hành tạm giữ, tạm giam thực hiện nhiệm

vụ ngăn ngừa người phạm tội tiếp tục phạm tội, gây nguy hại cho xã hội, bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án Luật thi hành tạm giữ, tạm giam với những quy định về việc giam, giữ người phạm tội, hạn chế một số quyền của con người, buộc người bị tạm giữ, tạm giam phải sống trong môi trường cách ly khỏi đời sống xã hội với những quy định nghiêm ngặt về ăn, ở, mặc, học tập về bản chất là chế tài cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước đối với người phạm tội Theo quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự, người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, bị bắt truy nã, người phạm tội đầu thú, tự thú Người bị tạm giam là người có hành vi phạm tội, đã bị khởi tố về hình sự, là bị can, bị cáo

Trang 7

trong vụ án hình sự, là người chờ chấp hành án, người bị yêu cầu dẫn độ Với mục đích ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc gây khó khăn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, những người có thẩm quyền tố tụng quyết định tạm giữ, tạm giam đối với họ Việc tạm giữ, tạm giam người chuẩn bị phạm tội, người phạm tội đã cách ly họ ra khỏi môi trường sống xã hội bình thường nên có tác dụng ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án Việc buộc người bị tạm giữ, tạm giam sống trong môi trường riêng biệt, cách ly khỏi môi trường sống xã hội bình thường, hạn chế một số quyền con người, sống theo những quy tắc nghiêm ngặt của nơi giam giữ làm cho người phạm tội phải từ bỏ ý định phạm tội

Phòng ngừa chung là việc Luật thi hành tạm giữ, tạm giam giáo dục,

phòng ngừa những người khác khi họ chưa thực hiện tội phạm hoặc đã thực hiện nhưng chưa bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam Việc tạm giữ, tạm giam cũng sẽ làm cho những người khác không dám nảy sinh ý định hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, do vậy, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, có tác dụng phòng ngừa tội phạm

3 Nhiệm vụ giáo dục

Những quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam có tính chất giáo dục người phạm tội Cụ thể gồm các nội dung:

Một là, giáo dục để người bị tạm giữ, tạm giam nhận thức được tội lỗi do

hành vi trái pháp luật của mình gây ra

Hai là, giáo dục để họ nhận thức được chính sách của Nhà nước đối với

người bị tạm giữ, tạm giam cũng như những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội

Nhiệm vụ giáo dục thể hiện ở chỗ Luật thi hành tạm giữ, tạm giam thực hiện việc tạm giữ, tạm giam người phạm tội với những quy định có tính nhân đạo, lương thiện, không cho phép áp dụng các hình thức đánh đập, tra tấn, dùng nhục hình hoặc các hành vi có tính chất vô nhân đạo, hạ nhục nhân phẩm, danh

dự đối với người bị tạm giữ, tạm giam Chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam được Nhà nước bảo đảm, cho phép họ sống ở mức độ bình thường như quy

Trang 8

định về chế độ ăn, ở, mặc, y tế, nhận thư, quà, học tập, khiếu nại, tố cáo những

vi phạm

Người bị tạm giữ, tạm giam được nghe đài, đọc báo, cập nhật các tin tức chính sách kinh tế, xã hội, pháp luật tích cực, từ đó mở mang nhận thức, hiểu biết pháp luật, cho nên cảm thấy ăn năn, hối cải với những hành vi phạm tội của mình

Ví dụ: Điều 31 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 có quy định về chế

độ sinh hoạt tinh thần đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam như sau: “Cơ

sở giam giữ được trang bị hệ thống truyền thanh Trung bình hai mươi người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc cơ sở giam giữ có dưới hai mươi người bị tạm giữ, người bị tạm giam thì được cấp một tờ báo địa phương hoặc báo trung ương Thủ trưởng cơ sở giam giữ tổ chức cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam nghe đài phát thanh, đọc báo Nếu có điều kiện thì tổ chức cho họ xem chương trình truyền hình địa phương và trung ương.”

Việc phải sống trong môi trường đặc biệt, phải chấp hành triệt để nội quy, quy định của cơ sở giam giữ đã giúp người bị tạm giữ, tạm gian sống có ý thức trách nhiệm hơn với chính mình và những người xung quanh Những chính sách có tính nhân đạo được quy định trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam có tác dụng giáo dục, cảm hóa người phạm tội, giúp họ sớm nhận ra được lỗi lầm của mình, có ý thức hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án, có ý thức từ bỏ dứt khoát ý định cũng như ý thức phạm tội của mình, sớm trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, hòa nhập cộng đồng

“Nội dung giáo dục là các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam trong thời gian bị giam giữ; chính sách của Nhà nước đối với họ cũng như giải quyết các vấn đề liên quan đến thái độ không thành khẩn của họ trong khai báo để người bị tạm giữ, tạm giam thấy rõ tội lỗi, trách nhiệm của mình, từ đó khai báo thành khẩn và chấp hành tốt nội quy, quy chế của trại tạm giam, nhà tạm giữ”.2

2Xem Trường Đại học Cảnh sát nhân dân: Giáo trình Những vấn đề cơ bản về công tác tạm giữ, tạm giam, tổ chức thi hành án phạt tù và quản lý giáo dục trại viên, Nxb Công an nhân

Trang 9

III THỰC TIỄN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CỦA LUẬT THI HÀNH TẠM

GIỮ, TẠM GIAM 2015 VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015

Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thi hành các quy định của Luật tạm giữ, tạm giam 2015, chúng ta có thể nhận thấy được trên thực tế, quá trình thực hiện các nhiệm vụ của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã hiệu quả hay chưa và còn những vướng mắc nào cần được giải quyết Chỉ khi các quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất thì nhiệm vụ của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam mới có thể được thực hiện

Kể từ khi Luật thi hành tạm giữ, tạm giam được ban hành, các trại tạm giam ở nhiều địa phương khác nhau đã tổ chức các buổi tập huấn, các đơn vị giảng dạy đã tổ chức Hội thảo khoa học "Tổ chức quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015” nhằm triển khai thực hiện Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu quả

Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 đã quy định cụ thể, rõ ràng góp phần tháo gỡ những khó khăn, hạn chế trong công tác quản lý giam, giữ cũng như đảm bảo quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt, người bị tạm giam và bảo đảm hiệu quả công tác quản lý giam giữ và phục vụ tốt cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, đồng thời đáp ứng tốt các yêu cầu về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay

Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã quy định đầy đủ, cụ thể hơn về quyền của người đang bị tạm giữ, tạm giam thể hiện rõ quy định của Hiến pháp năm

2013 về việc đề cao quyền con người, quyền công dân trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân Luật quy định rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; đề cao quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý, thi hành

dân, Hà Nội, 2007, tr.14

Trang 10

tạm giữ, tạm giam, cũng như vai trò, thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam Tuy nhiên trên thực tế, sau gần 02 năm thực hiện Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 vẫn còn tồn tại những bất cập cần được khắc phục kịp thời Cụ thể:

Thứ nhất, về thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án 01

ngày trước khi hết hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ… theo quy định tại Điều 13 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 là không đảm bảo về thời gian của

Cơ quan nhận thông báo Trên thực tế, việc gửi thông báo bằng văn bản thường mất nhiều thời gian hơn nên nếu phải gửi văn bản thông báo 01 ngày trước khi hết hạn sẽ gây khó khăn cho các nhà tạm giữ

Thứ hai, Điều 16 Luật thi hành Tạm giữ, Tạm giam năm 2015 quy định:

“Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, cơ sở giam giữ có trách nhiệm: … (2) Lập biên bản giao nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, tài liệu, hồ sơ kèm theo; tổ chức khám sức khỏe…” Ngay khi tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam cơ sở giam giữ phải tổ chức khám sức khỏe cho người bị tạm giữ, tạm giam để có cơ sở phân loại giam giữ Trên thực tế, nhiều cơ sở giam giữ không có cán bộ y tế chuyên trách nên chỉ kiểm tra các dấu vết bên ngoài thân thể, không thể xác định được người bị tạm giữ, tạm giam có bị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, người đồng tính hay chuyển giới để phân loại giam, giữ riêng,

và cũng chưa bố trí buồng y tế đối với nhà tạm giữ, khi phải điều trị ốm, bệnh tật

Thứ ba, Điều 27 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam quy định về: Chế độ ăn,

ở của người bị tạm giữ, người bị tạm giam có quy định sử dụng điện, Điều 4 Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017 của Chính phủ quy định, định mức sử dụng điện là 45kW/h điện và 3m3 nước trên một đầu người nhưng ở một

số cơ sở giam giữ tại các buồng tạm giam thấy không có công tơ điện riêng, không có đồng hồ đo nước riêng mà sử dụng điện, nước chung với đơn vị giam, giữ Vì vậy, khi kiểm sát vấn đề này gặp khó khăn

Ngày đăng: 25/08/2021, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w