1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra – lý luận, thực tiễn và một số giải pháp hoàn thiện

76 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 562,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, các đề tài đó đã nêu và phân tích được những vấn đề chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật dân sự, đưa ra các yêu cầu cơ bản trong việc xác định trách nhiệm bồi

Trang 1

346 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành được khoá luận tốt nghiệp cuối khoá này, đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo của Khoa Luật Trường Đại Học Vinh đã

hết lòng truyền dạy cho em những kiến thức trong 4 năm qua Đặc biệt là PGS.TS

Đoàn Minh Duệ người đã trực tiếp dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tận tình

và giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận này này

Nhân đây em xin chân thành cảm ơn các cán bộ Toà án - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã cung cấp những tài liệu quý báu phục vụ cho việc hoàn thành khoá luận

Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ

em trong quá trình thực hiện khoá luận

Là một Sinh Viên với kiến thức và năng lực nghiên cứu còn hạn chế Vậy nên, khoá luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Hội đồng khoa học khoa Luật, các thầy giáo, cô giáo và bạn bè để khoá luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Nghệ An, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Đinh Ngọc Quang

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu của khoá luận 4

CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA 5

1.1 Sơ lược quy định dân sự Việt Nam về việc bồi thường thiệt hại do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 5

1.2 Khái niệm thiệt hại và bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 10

1.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thầm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 19

CHƯƠNG 2 : NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA 32

2.1 Các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 32

2.2 Các quy định về trình tự và thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại 42

CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA 52

3.1 Thực tiễn thực hiện chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra 52

Trang 4

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiệt pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại

do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 64 3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết bồi thường thiệt hại

do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 67

KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 5

TNBTTH Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

TANDTC Toà án nhân dân tối cao

VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Vấn đề oan sai và giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai trong tố tụng hình sự là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Cho nên, việc giải quyết oan sai và bồi thường cho những người này là một vấn đề búc xúc và phải được thực hiện ngay và thực hiện nghiêm túc Để khắc phục được hậu quả từ hành vi gây oan, sai đó từ các cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật Việt Nam đã có quy định riêng về vấn đề này như Nghị định 47/1997/NĐ-

CP và Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 Tuy nhiên, quá trình thực hiện đã nảy sinh nhiều hạn chế, bất cập như hiệu lực pháp lý không cao, văn bản chưa được xây dựng trên quan điểm coi việc bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nói chung mà chỉ coi việc bồi thường là trách nhiệm của cơ quan cụ thể có người gây thiệt hại khi thi hành công vụ Mặt khác, trong nhiều trường hợp, cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường chưa xác định được trách nhiệm giải quyết bồi thường, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường vẫn còn né tránh trách nhiệm hoặc im lặng để khỏi bồi thường Các loại thiệt hại và mức bồi thường không được quy định rõ ràng, thống nhất gây khó khăn cho công tác giải quyết bồi thường cho người bị oan sai Do đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành LTNBTCNN 2009 Sự ra đời của LTNBTCNN là sự cố gắng vượt bậc của ngành lập pháp LTNBTCNN đã khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của những văn bản pháp lý trước đó điều chỉnh vấn đề này

Mặc dù đã có các quy định của pháp luật về bồi thường cho người bị oan sai do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra, nhưng các quy định này vẫn còn nhiều bất cập và thiếu sót, một số quy định còn chưa thật sự hợp lý, cụ thể là những quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc bồi thường cho người bị oan sai trong tố tụng hình sự

Bên cạnh sự bất cập của những quy định pháp luật thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường vẫn chưa làm hết khả năng của mình trong việc giải quyết bồi thường, như vậy sẽ không đáp ứng được những bức xúc và sẽ giải quyết không thỏa đáng cho những người bị oan, những người rất cần được sự quan tâm của Nhà nước, rất cần được bù đắp lại những khó khăn, mất mát và thiệt thòi mà bản thân và gia đình của những người này phải gánh chịu

Trang 7

Xuất phát từ tình hình trên đây, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là một trong những vấn đề có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn sâu sắc Chính đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn này đã đặt ra cho tôi việc lựa chọn đề tài “ Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra – Lý luận, thực tiễn và một số giải pháp hoàn thiện” làm khoá luận tốt nghiệp chuyên ngành luật tư pháp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nghiên cứu về bồi thường thiệt hại do hoạt động tiến hành tố tụng gây ra hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước Ví dụ như:

- Luận văn Thạc sỹ Luật học “Những vẫn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự” năm 1997 của tác giả Lê

Mai Anh – Trường Đại học Luật Hà Nội

- Luận văn Thạc sỹ Luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước” năm 2006 của tác giả Lê Thái

Phương – Trường Đại học Luật Hà Nội

- Bài “Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của Tiến

sỹ Phùng Trung Tập – Tạp chí Luật học số 10/2004

Nhìn chung, các đề tài đó đã nêu và phân tích được những vấn đề chung

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật dân sự, đưa ra các yêu cầu cơ bản trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các quy định của pháp luật dân sự trong việc bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các hình thức và mức bồi thường…

Tuy nhiên, nội dung chủ yếu của các công trình nghiên cứu nêu trên là nhằm làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước nói riêng Chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Vì vậy, vấn đề Bồi thường thiệt hại và

Trang 8

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành

tố tụng gây ra là nội dung mới còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ, đặt ra nhiệm vụ cho nghiên cứu này cần phải giải quyết

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này là để tìm hiểu sâu hơn những quy định pháp luật hiện hành về vấn đề giải quyết bồi thường cho người oan sai do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trong hoạt động tố tụng hình

sự, nghiên cứu về thực trạng oan sai ở nước ta hiện nay và thực tế giải quyết vấn

đề này Nghiên cứu tính khả thi, điểm nổi bậc cũng như tìm ra những điểm hạn chế, thiếu sót của những quy định pháp luật về oan sai và vấn đề giải quyết bồi thường oan sai được quy định trong LTNBTCNN Từ đó, đưa ra những giải pháp, kiến nghị để góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự, nhằm thúc đẩy nhanh công tác giải quyết vấn đề oan sai và bồi thường thiệt hại cho người bị oan, để phần nào bù đắp, khôi phục danh dự và hạn chế những thiệt hại cho người bị oan, giúp những người này nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng, với cuộc sống bình thường

Để đạt được các mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu và tìm hiểu các quy định của các văn bản pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai trong hoạt động tố tụng, qua đó chỉ ra những bất cập trong các quy định của pháp luật và phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi giới hạn nghiên cứu đề tài khoá luận tốt nghiệp, tối chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về vấn đề oan sai và giải quyết bồi thường oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự nước ta trong giai đoạn hiện nay, đồng thời thu thập những tài liệu, số liệu về thực trạng oan sai, cũng như vấn đề giải quyết bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự Từ đó, đưa ra

Trang 9

một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra khoá luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh và thống kê, phương pháp diễn dịch – quy nạp,…để làm sáng tỏ những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai trong hoạt động

tố tụng hình sự, để từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự

6 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đẩu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của khoá luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người

có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Chương 2: Những quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ

TỤNG GÂY RA

1.1 Sơ lược quy định dân sự Việt Nam về việc bồi thường thiệt hại do

cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Quy định pháp luật về TNBTTH do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra đã được Nhà nước ta ghi nhận từ rất sớm Điều này được thể hiện ngay từ Hiến pháp 1959 Điều 29 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Người bị thiệt hại về hành

vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường”

Hiến pháp 1980 khẳng định pháp luật bảo hộ tính mạng, tài sản, danh dự

và nhân phẩm của công dân bên cạnh việc xác định mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường (Điều 70 và Điều 73)

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1980, điều 24 Bộ luật TTHS năm

1988 quy định:

“Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái pháp luật của cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án hoặc của bất kỳ cá nhân nào thuộc cơ quan đó

Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và giải quyết nhanh chóng các khiếu nại và tố cáo, thông báo bằng văn bản kết quả cho người khiếu nại và có biện pháp khắc phục

Cơ quan đã làm oan phải khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại Cá nhân có hành vi trái pháp luật thì tùy từng trường hợp mà

bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”

Trang 11

Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định nguyên tắc: "Mọi hoạt động xâm phạm lợi ích Nhà nước và lợi ích hợp pháp của công dân đều bị xử lý theo pháp luật" (Điều 12), nhưng đã phân biệt hai loại trách nhiệm: trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự được quy định tại điều 72: "Người bị bắt bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp trong việc bắt, giam giữ, truy

tố xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh" và trách nhiệm bồi thường nói chung được quy định tại điều 74 "Mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được xử lý nghiêm minh người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự"

Trên cơ sở nguyên tắc chung của Hiến pháp năm 1992 về việc bảo hộ quyền lợi của tổ chức, cá nhân và trách nhiệm dân sự của người có hành vi gây thiệt hại, để xác định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm này và khắc phục các tồn tại trước đây, Bộ luật Dân sự đã quy định trách nhiệm bồi thường do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, Điều 624 BLDS 1995 quy định:

“Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thi hành công vụ; trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố xét xử và thi hành án

Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người đã gây ra thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền đó có lỗi trong khi thi hành công vụ”

Cụ thể hóa quy định của BLDS, ngày 3/5/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/CP về giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Ngay sau khi Nghị định 47/CP ra đời, để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định 47/CP, các cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước trong lĩnh vực có liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn quan trọng: Ngày 4/6/1998 Ban Tổ

Trang 12

chức - Cán bộ Chính Phủ đã ban hành Thông tư số 54/1998 TT-TCCP hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định 47/CP; ngày 30/3/1998 Bộ Tài chính

đã ban hành Thông tư số 38/1998/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Trong những năm gần đây vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra được Đảng ta đặc biệt quan tâm, cụ thể: Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị chỉ rõ:

“Cùng với việc phát hiện và chú trọng giải quyết kịp thời các vụ án có dấu hiệu oan, sai, cần khẩn trương nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách để bồi thường thiệt hại với các trường hợp bị oan, sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Việc bồi thường thiệt hại cần thực hiện đúng trình tự thủ tục đối với từng trường hợp cụ thể; những tài sản đã bị tịch thu, kê biên sai thì cần hoàn trả ngay; cần làm rõ cơ sở pháp lý, trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân; phân định trách nhiệm từng cơ quan và cá nhân tiến hành tố tụng và mức độ thiệt hại về dân sự

do việc làm oan sai gây ra ”

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; trong đó nêu rõ những tồn tại của công tác

tư pháp trong thời gian qua là: “Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan Tư pháp” Trước tình hình đó, Bộ Chính trị yêu cầu: “Nâng cao chất lượng công tác điều tra… Hoạt động công tố phải thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa… Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật thực sự dân chủ, khách quan Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng,

Trang 13

nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục”

Quán triệt đầy đủ yêu cầu Chỉ thị số 53-CT/TW và Nghị quyết số 08, ngày 17/3/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 388/2003/

NQ-UBTVQH11 bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra

Ngày 25/3/2004 Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao,

Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính đã ban hành Thông

tư số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC hướng dẫn việc thực hiện Nghị quyết 388 Ngày 13/5/2004, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Chỉ thị số 04 về việc triển khai thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự và yêu cầu Viện kiểm sát các cấp tiến hành tổng rà soát lập danh sách những người bị oan thuộc trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát nhân dân Tiếp đó, ngày 28/5/2004 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có văn bản hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc tổng rà soát, ngày 1/6/2004 đã có hướng dẫn thống nhất mở sổ thụ lý vụ việc giải quyết đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại người bị oan và hướng dẫn về các trình tự thủ tục giải quyết bồi thường; Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 72/2004/KHXX ngày 21/4/2004 hướng dẫn cụ thể hơn về thẩm quyền và các thủ tục bồi thường của ngành tòa án theo quy định của Nghị quyết 388; Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 18/2004/TT-BCA ngày 9/11/2004 hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan do người

có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc Công an nhân dân gây ra

Ngày 26/11/2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật TTHS năm 2003, sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản, toàn diện các quy định

tố tụng hình sự của nước ta cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề Bồi thường cho người bị oan quy định tại Nghị quyết

388, Bộ luật TTHS năm 2003 đã ghi nhận quyền được bồi thường thiệt hại và

Trang 14

phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan trở thành một nguyên tắc cơ bản

của Bộ luật Điều 29 Bộ luật quy định:

“Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự quyền lợi cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”

Bộ luật Dân sự năm 2005 - Bộ luật điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ dân sự của cá nhân, pháp nhân, tổ chức và thay thế Bộ luật Dân sự năm

1995 đã tiếp tục ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cán bộ công chức

và người có thẩm quyền của cơ quan tố tụng Cụ thể ở điều 620 có quy định:

“Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tố tụng

Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền

đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ”

Ngày 18/6/2009, kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XII đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010

Sự ra đời của Luật đánh dấu một bước tiến mới trong tư duy lập pháp ở nước ta, đồng thời là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc trong việc khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và

vì nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, trong đó có quyền được bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây

ra khi thi hành công vụ, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay, từ đó hạn chế những rủi ro cho người dân từ hoạt động công vụ

Trang 15

Như vậy, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước Việt Nam

đã manh nha hình thành ngay từ những ngày đầu tiên thành lập nước thông qua một số quy định cụ thể trong Hiến pháp Chỉ đến khi BLDS 1995 được thông qua (hiện nay là BLDS 2005 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác), pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước mới thực sự định hình và

phát triển

1.2 Khái niệm thiệt hại và bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

1.2.1 Khái niệm thiệt hại

Ngay từ thời La Mã cổ đại khái niệm về “thiệt hại” đã được các luật gia

La Mã đề cập đến và cho rằng có hai thành phần để tạo nên khái niệm thiệt hại Thành phần thứ nhất đó là Dammun enrgens - nghĩa là thiệt hại thực, là sự mất

đi của một bộ phận tài sản cụ thể Thành phần thứ hai là Luerum cessans - nghĩa

là bỏ mất lợi tức, là sự mất mát tài sản có thể có nếu hoàn cảnh diễn ra bình thường Như vậy về cơ bản thì luật La Mã xác định thiệt hại là những tổn thất mất mát về tài sản đang có và sẽ có trong tương lai, thiệt hại mang tính tài sản Ngày nay những tư tưởng pháp lý này của các luật gia La Mã đã được các nhà lập pháp kế thừa, các quan niệm truyền thống về thiệt hại của luật La Mã vẫn được giữ lại trong các quy định của pháp luật dân sự các nước, vì trong khái niệm thiệt hại của pháp luật hiện đại hay trong luật La Mã thì cốt lõi của thiệt hại vẫn là tổn thất có liên quan đến tài sản - loại thiệt hại có thể và có cơ sở xác định chẳng hạn theo điều 1149 bộ Luật Dân Sự nước Cộng hoà Pháp quy định :

“Những thiệt hại phải bồi thường cho người có quyền bao gồm những khoản mà

họ mất và mức lợi mà họ không được hưởng”

Hiện nay, để đảm bảo thống nhất trong nhận thức, xây dựng và áp dụng pháp luật dân sự, các nhà lập pháp đã phát triển và xác định thêm thiệt hại còn bao gồm cả thiệt hại phi vật chất - thiệt hại về tinh thần BLDS Nhật Bản có quy

định tại điều 707 “một người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải chịu

Trang 16

cả những thiệt hại phi vật chất bất kể cả những thiệt hại này xảy ra đối với quyền lợi, uy tín hay tài sản của người khác”

Theo quy định pháp luật của nhiều quốc gia thì “Thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ”

Ở Việt Nam thì trước khi có BLDS chính thức quy định về vấn đề này thì tồn tại hai quan điểm trái ngược về xác định thiệt hại về tinh thần Quan điểm thứ nhất cho rằng “Thiệt hại tinh thần không thể bồi thường vì tính mạng, tình cảm của con người là vô giá, do đó không có căn cứ để xác định mức thiệt hại” Quan điểm thứ hai lại cho rằng “Thiệt hại cả về vật chất lẫn tinh thần đều phải bồi thường vì mọi tính toán chỉ mang tính chất tương đối, mà bản chất của bồi thường thiệt hại đều là nhằm khắc phục hậu quả của thiệt hại đã xảy ra Quan điểm thứ hai này đã được thừa nhận chính thức và được thừa nhận trong thông

tư của Toà Án Nhân Dân Tối Cao số 173/1972/TT-UBTP ngày 2 tháng 03 năm

1972 hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng chưa được

áp dụng thống nhất trong thời kỳ này Đến khi nước ta chính thức có BLDS

1995 thì thiệt hại được chính thức xác định bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần thông qua quy định về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại điều

3 Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tính của người khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị thiệt hại.”

Trang 17

Đến BLDS 2005 thì quy định này tiếp tục kế thừa tại điều 307

Như vậy, về mặt khoa học hay quy định pháp luật thì quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại là thiệt hại bao gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần

- Thiệt hại vật chất

Thiệt hại về vật chất là thiệt hại về tài sản, những tổn thất vật chất thực tế, xác định được bằng một khoản tiền cụ thể nó đã được quy định trong hầu hết một số điều luật liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Thiệt hại về tài sản được biểu hiện cụ thể là những mất mát về tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản được quy định

tại điều 608 BLDS năm 2005 : “Tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm tài sản bị mất, tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng, lợi ích gắn liền với việc sử dụng khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và cách khắc phục thiệt hại”

Về pháp lý, thiệt hại vật chất vừa động chạm đến tài sản hữu hình - thiệt hại trực tiếp như vật có thực, tiền và các giấy tờ có giá trị bằng tiền như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, chứng từ tiền gửi, phương tiện thanh toán và quyền, nghĩa vụ tài sản và tài sản vô hình, đồng thời vừa xâm hại các lợi ích khác - thiệt hại gián tiếp như lợi tức, hoa lợi được tính thành tiền Như vậy, thiệt hại về vật chất bao gồm thiệt hại trực tiếp nhằm phục hồi tình trạng tài sản ban đầu của người bị thiệt hại và thiệt hại gián tiếp liên quan đến việc khai thác và sử dụng

tài sản trong thời gian từ khi xảy ra thiệt hại đến khi bồi thường

- Thiệt hại tinh thần

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sứckhoẻ, danh

dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịuđau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín,bị bạn bè xa lánh

Trang 18

do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoảntiền bù đắp tổn thất

mà họ phải chịu

Tổn thất về tinh thần mà nạn nhân phải gánh chịu là một khái niệm trừu tượng, hình thức thể hiện của loại thiệt hại này tương đối đa dạng, có thể là đau đớn do thương tích, đau khổ về tinh thần do mất người thân, hoặc là nỗi khổ tâm khi không thể tham gia vào hoạt động xã hội vì bị cách ly khỏi xã hội hay không thể hòa nhập được vào đời sống cộng đồng, khổ tâm khi bị xâm hại đến những điều sâu kín hoặc bị cộng đồng xã hội xa lánh khi bị tù, giam do những vụ án oan sai mà đương sự phải gách chịu

Cũng như thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần thể hiện rõ tính xã hội Nó liên quan đến cái gọi là "thành phần xã hội của sản nghiệp tinh thần" bao gồm danh dự, uy tín, tên tuổi, nhân phẩm nói chung đó là các tổn hại về quyền và lợi ích liên quan đến nhân thân của con người vốn có tầm quan trọng trong việc tạo lập, duy trì, phát triển các mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Hiện nay, vấn đề bồi thường thiệt hại về tinh thần là những vấn đề nhạy cảm và vô cùng phức tạp, bởi những thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức chung để quy ra tiền áp dụng cho các trường hợp Việc xác định tổn thất tinh thần khi sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm bị xâm hại phụ thuộc vào từng cá nhân của người bị thiệt hại như tình trạng gia đình, độ tuổi, nghề nghiệp, mức độ thiệt hại và cả bộ phận nào của cơ thể bị thiệt hại,…

Mặc dù rất khó xác định tính chất, mức độ của thiệt hại tinh thần, nhưng việc BTTH tinh thần bằng một khoản tiền nào đó có tác dụng tích cực nhất định cho sự phục hồi trạng thái tinh thần bình thường của người bị thiệt hại Trách nhiệm BTTH tinh thần mà người gây thiệt hại phải gánh chịu có tính chất như một chế tài, vì sẽ không công bằng nếu một người có lỗi khi thực hiện một hành

vi gây thiệt hại cho người khác mà lại không bị trừng phạt Có áp dụng như vậy thì mới đảm bảo nguyên tắc công bằng và góp phần gìn giữ những tình cảm, truyền thống đạo đức tốt đẹp

Trang 19

Từ những định nghĩa, phân tích trên, chúng ta có thể hiểu bồi thường thiệt hại về tinh thần là người gây thiệt hại cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai thì còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp những tồn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại

1.2.2 Khái niệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

1.2.2.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại

Bồi thường là việc "đền bù những tổn thất đã gây ra" Về mặt pháp lý, BTTH là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do gây thiệt hại Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại là việc đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, vì vậy bồi thường thiệt hại là "hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại" Với quan niệm thiệt hại là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật sau khi chịu sự tác động bên ngoài, vì vậy bồi thường thiệt hại có thể hiểu là trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật hiện tượng Nhìn lại lịch sử phát triển của chế định bồi thường thiệt hại, có thể thấy rằng bồi thường thiệt hại là một dạng nghĩa vụ dân sự, gọi là nghĩa vụ phát sinh do gây thiệt hại Trong pháp luật La Mã, nghĩa vụ này phát triển theo hướng

từ bắt đầu là sự trả thù cá nhân nhằm vào nhân thân của người gây thiệt hại, do người bị thiệt hại và những người thân của người bị hại áp dụng, rồi dần chuyển sang hình thức phạt tài sản, phạt tiền hay còn gọi là chế độ thục kim, có lợi cho người bị thiệt hại Lúc đầu, việc phạt tài sản do người bị hại quy định với tính chất là sự cưỡng chế cá nhân, sau dần đến phạt tiền bồi thường thiệt hại do pháp quan thay mặt Nhà nước áp dụng theo quy định và trình tự tố tụng nhất định Mức độ và cách thức bồi thường cũng được quy định rất khác nhau từ phương thức “máu trả máu, mắt trả mắt” đến hình thức phạt tiền theo một tiêu chí chung

do pháp luật quy định

Trang 20

Các bộ luật cổ của Việt Nam cũng quy định về trách nhiệm dân sự theo hình thức tương tự nhưng không quy định riêng về trách nhiệm dân sự Các quy định về hình phạt mang tính chất hình sự và phạt mang tính chất dân sự đều theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại như một khoản bồi thường Mức độ bồi thường còn phụ thuộc vào nhân thân người bị thiệt hại Ví dụ điều 29 bộ luật Hồng Đức quy định rõ: Tiền đền mạng được ấn định tuỳ theo phẩm trật của kẻ

bị chết, cụ thể như sau: “Nhất phẩm, tòng phẩm được đền 15.000 quan, nhị phẩm , tòng nhị phẩm được đền 9.000 quan, tam phẩm, tòng tam phẩm được đền 7.000 quan, tứ phẩm, tòng tứ phẩm được đền 5.000 quan, ngũ phẩm, tòng ngũ phẩm được đền 2.000 quan, lục phẩm, tòng lục phẩm được đền 1.000 quan, thất phẩm, tòng thất phẩm được đền 500 quan, bát phẩm đến cửu phẩm được đền 300 quan, thứ nhân trở xuống được đền 150 quan”

Trong trường hợp đánh người gây thương tích thì người phạm tội ngoài hình phạt bị đánh roi còn phải bồi thường cho nạn nhân theo mức đã được quy

định trong điều 446 bộ luật Hồng Đức như sau: “ Sưng phù thì đền thương tổn 3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy ngón tay, một răng thì đền 10 quan, đâm chém bị thương thì 15 quan, nếu là đọa thai chưa thành thì 30 quan, đã thành hình thì 50 quan, gãy một chân, một tay, mù một mắt thì 50 quan, đứt lưỡi, háng

âm, dương vật thì 100 quan, với người quyền quý thì xử khác”

Riêng trong bộ luật Gia Long tiền bồi thường không được đề cập đến Trong bộ luật Gia Long chỉ có điều 201 quy định về tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân trong trường hợp phạm tội giết người, phạm nhân bị phạm tội chiếu theo điều luật cố ý đả thương nhân thương chí tử nhưng cho chuộc tội Tiền chuộc thì giao cho gia đình nạn nhân để lo việc chôn cất Đối với trường hợp gây thương tích điều 271 bộ luật Gia Long cũng quy định tỉ mỉ các hình phạt tuỳ theo theo thương tích từ nhẹ đến nặng nhưng đó là những chế tài về hình sự mà không đề cập bồi thường như trong điều 446 của bộ luật Hồng Đức Điều 271 bộ luật Gia Long dự liệu bồi thường trong các trường hợp nặng nhất như hỏng mắt, gãy tay chân, làm hỏng bộ phận trong cơ thể… thì ngoại hình phạt lưu 300 lí, 100 trượng thì 1/2 tài sản kẻ phạm tội được đền cho nạn nhân để

Trang 21

nuôi thân Bước phát triển tiếp theo của chế định bồi thường thiệt hại đánh dấu

sự can thiệp mạnh mẽ hơn của nhà nước bằng cách dự liệu những chế tài về hình

sự để trừng phạt những kẻ nào xâm phạm đến tài sản và nhân thân của người khác Ngoài việc phải chịu hình phạt thì kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân những thiệt hại mà họ gây ra

Qua một số quy định đã dẫn từ hai bộ luật cho thấy, trong pháp luật phong kiến Việt Nam chưa có sự phân biệt rõ ràng "trách nhiệm dân sự" và "trách nhiệm hình sự" Nhưng qua quá trình phát triển của xã hội, các chế định pháp luật cũng dần thay đổi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không còn được coi là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằn phục hồi tình trạng tài sản và tinh thần cho người bị thiệt

hại Chẳng hạn, Điều 609 BLDS Việt Nam quy định: "Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường" Hoặc như trong Luật Dân Sự Cộng hòa Pháp, BTTH được quy định:

"Bất cứ hành vi nào của một người mà gây thiệt hại cho người khác, thì người

đã gây ra thiệt hại do lỗi của mình phải BTTH"

Như vậy, BTTH là quan hệ phát sinh từ hậu quả của hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền lợi, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải bù đắp, đền

bù những tổn thất về vật chất, tinh thần cho bên bị hại

1.2.2.2 Khái niệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của

cơ quan tiến hành tố tụng

Cơ quan THTT là cơ quan nhà nước hoạt động nhân danh quyền tư pháp Chức năng chủ yếu của cơ quan THTT là sử dụng công cụ pháp luật, áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm và giải quyết đúng đắn, kịp thời các tranh chấp xảy ra trong xã hội, bảo vệ quyền,

Trang 22

lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, Nhà nước, bảo vệ pháp luật và pháp chế XHCN Tuy có nhiệm vụ bảo vệ và thực hiện pháp luật, nhưng hoạt động này vẫn có thể trở thành tác nhân gây thiệt hại cho công dân từ các hành vi tố tụng trái pháp luật Thiệt hại do cơ quan THTT gây ra và việc giải quyết bồi thường này về bản chất phải dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật dân sự, tức được nhìn nhận là một loại quan hệ pháp luật có tính chất dân sự, song không thuần túy là quan hệ dân sự thông thường Đây được xem là trường hợp BTTH có tính đặc thù của luật dân sự và chế định BTTH ngoài hợp đồng, bởi quan hệ giải quyết bồi thường tuy là quan hệ có tính chất dân sự nhưng phát sinh giữa chủ thể đặc biệt của luật dân sự là Nhà nước với công dân trong hoạt động tư pháp Vì vậy, khi Nhà nước thực hiện công quyền gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước không chỉ nhằm khôi phục các tổn thất tài sản mà còn phải bù đắp những tổn thất tinh thần cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần trong trường hợp người thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước vì lợi ích chung đã gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tài sản, uy tín của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác

BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra là bồi thường của Nhà nước cho công dân bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng Việc bồi thường này không đơn thuần chỉ là bù đắp, đền bù tổn thất vật chất hoặc tinh thần, mà một yêu cầu quan trọng khác đặt ra trong các vụ xét giải quyết BTTH do người

có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra là Nhà nước phải có những biện pháp khôi phục kịp thời danh dự, uy tín cho công dân, nhất là đối với từng trường hợp

bị oan, sai về hình sự

Việc bồi thường này một mặt mang tính chất dân sự vì tổn thất mà người

có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra cho cá nhân, tổ chức trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thường là thiệt hại vật chất hoặc thiệt hại tinh thần do danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc sức khỏe, tính mạng, tài sản cá nhân bị xâm

Trang 23

phạm Song mặt khác, mặc dù về hình thức, thiệt hại xảy ra là thiệt hại vật chất hoặc tinh thần như các thiệt hại dân sự thông thường, nhưng vì do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra nên mức độ, diễn biến của tổn thất thực tế trong nhiều trường hợp trở nên rất phức tạp, nếu không được kịp thời khắc phục bằng các giải pháp mang tính dân sự thì có thể còn dẫn đến việc phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, mà một trong số tác động tiêu cực của trường hợp thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra đối với trật tự xã hội, đó là sự xói mòn, giảm sút lòng tin của nhân dân vào Nhà nước, vào nền pháp chế dân chủ XHCN, vào công lý, công bằng của pháp luật Các biện pháp khắc phục mang tính chất dân sự là giải pháp kịp thời để giảm đến mức thấp nhất tác động tiêu cực mà hành vi gây thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra Bên cạnh đó, sự đặc thù của BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra xuất phát từ một điều kiện thực tế khác, đó là vì thiệt hại phát sinh trong các giai đoạn, quá trình và hoạt động tố tụng phức tạp; một thiệt hại có thể

do nhiều nguyên nhân, nhiều người, nhiều cơ quan THTT khác nhau gây ra Thậm chí thiệt hại có thể cùng do một loại cơ quan, nhưng theo thủ tục tố tụng khác nhau thì diễn biến của thiệt hại trên thực tế lại khác nhau Vì vậy, việc đánh giá mức độ thiệt hại, xác định phạm vi trách nhiệm và nội dung các thiệt hại được bồi thường đặt trong điều kiện hoạt động của cơ quan THTT để giải quyết BTTH không thể chỉ dựa trên các quy định của Luật dân sự mà còn dựa trên quy phạm pháp luật áp dụng riêng cho trường hợp BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra Điều này cho thấy, BTTH do người có thẩm quyền THTT gây ra, ngoài những đặc điểm của BTTH trong dân sự như sự bù đắp, sự đền bù tổn thất thực tế, còn có đặc điểm quan trọng khác thể hiện bản chất quyền tư pháp nhà nước, đó là để khẳng định tính đúng đắn, nghiêm minh, công bằng của pháp luật và tăng cường sự dân chủ của Nhà nước pháp quyền và pháp chế XHCN thông qua chính việc giải quyết bồi thường Đây là đặc điểm nói lên tính đặc thù của BTTH do người có thẩm quyền THTT gây ra mà các cơ quan cũng như người có thẩm quyền THTT phải nhận thức và xác định rõ khi thực hiện trách nhiệm BTTH cho công dân, nhất là đối với BTTH oan, sai về hình sự

Trang 24

1.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thầm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Pháp luật Việt Nam hiện hành đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra trong khi thi hành công

vụ Tuy nhiên, điều mà nhiều luật gia Việt Nam đang đặt câu hỏi là liệu ở Việt Nam đã tồn tại khái niệm "trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước" và chế định "trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước" hay chưa Hiện này có quan điểm cho rằng trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa hề tồn tại chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước mà chỉ là chế định trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước mà thôi Cách tiếp cận của quan điểm này

là chưa hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật thực định hiện hành của Việt Nam Nếu xét về mặt kinh phí bồi thường thì trong lĩnh vực tố tụng hình

sự, kinh phí bồi thường của các cơ quan tố tụng được cấp từ cơ quan tài chính

các cấp theo một thủ tục khá phức tạp, theo đó thì “Hàng năm, căn cứ thực tế bồi thường của năm trước, cơ quan tài chính các cấp phối hợp với cơ quan, đơn

vị cùng cấp lập dự toán kinh phí bồi thường để tổng hợp vào dự toán ngân sách cấp mình, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và được phân bổ cho cơ quan, đơn vị khi có yêu cầu chi trả tiền bồi thường” (Điều 53 Luật TNBTCNN) Tuy nhiên, có thể

khẳng định một điều chắc chắn là ở Việt Nam đã tồn tại cơ chế bồi thường cho những người bị thiệt hại bởi hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng

Hiện nay những nội dung cơ bản nhất của chế định pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước được quy định tại BLDS 2005, Luật TNBTCNN 2009, Nghị định 16/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TNBTCNN Các văn bản pháp luật này là cơ sở tiền

đề đề xác định trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra

Trang 25

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lí của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

1.3.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Trên cơ sở nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phân định mối quan hệ giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, các cơ quan

có thẩm quyền tiến hành các hoạt động và thủ tục tố tụng như Tòa án, Viện Kiểm Sát trong hoạt động phải thể hiện được đầy đủ, đúng đắn và chính xác quyền lực nhà nước Không bảo đảm được các yêu cầu này thì hoạt động của các

cơ quan THTT sẽ làm biến dạng quyền lực nhà nước, làm sai lệch bản chất của

bộ máy nhà nước, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Trên thực tế, đã hình thành một ý thức và tâm lý xã hội chung là công dân thường đánh giá hiệu lực và hiệu quả của bộ máy nhà nước một cách trực tiếp thông qua

sự đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp cũng như cơ quan có thẩm quyền THTT Đó cũng là điều dễ hiểu vì so với các cơ quan nhà nước khác, hoạt động của cơ quan THTT liên quan mật thiết đến sự tồn vong của cá nhân con người Chính vì thế, công dân luôn luôn đòi hỏi các cơ quan đó phải là biểu tượng điển hình của việc tuân thủ pháp luật, cũng như phải thể hiện trực tiếp tính chất dân chủ và công bằng trong hoạt động

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, hoạt động của người có thẩm quyền THTT có thể để xảy ra sai sót, oan sai, gây tổn thất cho công dân Những sai sót, oan sai này làm phát sinh nhiều loại trách nhiệm pháp lý khác nhau Trong luật Dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tố tụng hình sự gây ra thì oan sai được hiểu là những hành vi trái pháp luật mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử, thi hành án đối với người không có tội Oan sai hiểu dưới góc độ của chủ thể bị hại - đối tượng của hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự, đó là hậu quả thiệt hại về vật chất và tinh thần, là nỗi oan ức của một người mà người đó phải gánh chịu Trong tố tụng

Trang 26

hình sự, oan là tình trạng của một người không thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị các cơ quan tiến hành tố tụng xác định họ phạm tội và thực hiện các biện pháp tố tụng bất lợi đối với họ như khởi tố, tạm giam, truy tố, xét xử Sai trong tố tụng hình sự thì thể hiện ở nhiều trường hợp, nhiều mức độ và nguyên nhân khác nhau Việc điều tra, truy tố, xét xử sai có cả nguyên nhân do vô ý, cố

ý từ phía những người tiến hành tố tụng, từ việc thiếu thận trọng, thiếu khách quan hay áp dụng sai pháp luật, đánh giá sai lệch về chứng cứ hoặc sự kiện khách quan không bộc lộ được đúng bản chất của vụ án Sai trong tố tụng hình

sự có thể là quy kết không đúng hành vi của người phạm tội hoặc tính chất, mức

độ hành vi dẫn đến việc đưa ra quan điểm xử lý, mức xử lý không phù hợp, không đầy đủ Tuy nhiên, sai cũng có thể là vô ý hay cố ý dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý không đúng với bản chất hành vi, sự việc hoặc mức xử lý quá nhẹ so với tính chất của nó Sai trong tố tụng hình sự cũng có nhều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp oan sai nào cũng được Nhà nước bồi thường Thực tiễn ở nước ta cũng như các nước trên thế giới Nhà nước chỉ bồi thường cho những trường hợp bị sai ở mức độ nhất định, việc xác định mức

độ này theo pháp luật các nước khác nhau là khác nhau Do vậy, chỉ có oan sai được pháp luật quy định mới được Nhà nước bồi thường Trong thực tế thường xảy ra các khả năng sau đây:

- Tạm giữ sai là việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng đối với người bị bắt mà sau thời hạn tạm giữ cơ quan điều tra đã không xác định đủ căn cứ khởi tố bị can và có quyết định của cơ quan điều tra tiến hành tố tụng có thẩm quyền xác định việc tạm giữ là không có căn cứ

- Tạm giam sai là biện pháp ngăn chặn mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã áp dụng đối với một người mà hậu quả của nó là đã cách li người

đó với xã hội trong một thời gian nhất định và bị hạn chế một số quyền tự do của công dân mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền là việc tạm giam là không có căn cứ

Trang 27

- Truy tố oan sai là quyết định của cơ quan Viện kiểm sát được thể hiện dưới hình thức cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố một người ra trước tòa án để xét xử mà có quyết định của cơ quan tố tụng có thẩm quyền xác định cáo trạng truy tố không có căn cứ, người bị truy tố vô tội bản án tuyên người đó không phạm tội

- Xét xử oan sai là Bản án hoặc Quyết định của Tòa án tuyên bằng một phán quyết đối với một người xác định trách nhiệm hình sự của người đó phải chịu một hình phạt nhất định mà có bản án quyết định của cơ quan tố tụng có thẩm quyền xác định người đó không phạm tội hoặc hành vi đó không cấu thành tội phạm

- Thi hành án oan sai là hành vi của giám thị, quản giáo… mà hậu quả của

nó là thời gian giữ đối với bị án bị kéo dài hơn so với bản án đã được tuyên và các hành vi trái pháp luật khác gây thiệt hại cho người bị án về tính mạng, sức khỏe, tài sản một cách trái pháp luật

Vì vậy, sai sót và những tổn thất mà người có thẩm quyền THTT gây ra cho công dân trong hoạt động tố tụng về pháp lý, thuộc trách nhiệm của Nhà nước, khi Nhà nước thực hiện công quyền gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước không chỉ nhằm khôi phục các tổn thất tài sản mà còn phải bù đắp những tổn thất tinh thần cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại Về nguyên lí, trách nhiệm BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây

ra trước hết là trách nhiệm nhà nước BTTH do xâm phạm quyền tư pháp và sau nữa là trách nhiệm nhà nước BTTH gây ra cho công dân do yêu cầu của công

vụ Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tài sản,

bù đắp những tổn thất về tinh thần trong trường hợp người thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước vì lợi ích chung đã gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tài sản, uy tín của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác

Trang 28

1.3.1.2 Đặc điểm pháp lí của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nên trách nhiệm BTTH do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra mang đầy đủ các đặc điểm chung của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT còn có những điểm khác biệt sau đây:

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra là trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Pháp luật Việt Nam kể từ BLDS 1995 đến nay đều quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra, theo đó quan hệ bồi thường nhà nước là quan hệ pháp luật dân sự

Xét về tính chất, BTTH do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây

ra là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việc xác định tính chất của quan hệ bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra chịu ảnh hưởng của chính sách pháp lý Tuy nhiên, xuất phát

từ tính tất yếu của việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra, vì vậy, cá nhân người có thẩm quyền của Cơ quan THTT cũng như các chủ thể thông thường khác, phải bồi thường khi gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức Do đó, quan hệ bồi thường nhà nước

là quan hệ pháp luật dân sự Trong quá trình thực hiện những hoạt động tố tụng

mà cá nhân người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì Cơ quan THTT nói chung và cá nhân người có thẩm quyền của

Cơ quan THTT nói riêng sẽ phải bồi thường Việc bồi thường không phải do vi phạm các nghĩa vụ về hợp đồng, chính vì vậy trách nhiệm bồi thường do người

có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng đối với các thiệt hại gây ra bởi hoạt động công quyền là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 29

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra không chỉ là trách nhiệm tài sản mà còn là trách nhiệm khôi phục lại những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra như đã khẳng định là trách nhiệm dân sự Như vậy, trách nhiệm này bao gồm trách nhiệm về tài sản trong trường hợp tài sản bị thiệt hại và trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tinh thần trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Có thể nói điều này đã được khẳng định trong pháp luật Việt Nam hiện hành, cụ thể là trong phần xác định thiệt hại của BLDS và quy định về việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại bởi hoạt động tố tụng hình sự quy định tại Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 và các văn bản hướng dẫn thi hành Đây là những quy định đã được kế thừa khi hoàn thiện Luật TNBTCNN 2009

- Yếu tố “lỗi” trong quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra

Khoản 1 Điều 308 BLDS 2005 quy định: "Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý " Trách nhiệm này được xác lập trên cơ sở lỗi do không

thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, gây thiệt hại cho chủ thể khác, và lỗi của người đại diện được xác định là lỗi của pháp nhân hay lỗi của cơ quan nhà nước Người gây thiệt hại muốn giải thoát khỏi trách nhiệm thì phải chứng minh mình không có lỗi, hoặc thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại

- Yếu tố "công vụ" trong quan hệ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây ra

Chế định pháp luật về TNBTTH của Nhà nước chỉ điều chỉnh trường hợp người có thẩm quyền của Cơ quan THTT gây thiệt hại trái pháp luật cho cá nhân, tổ chức khi nhân danh quyền lực công - tức là Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp gây ra thiệt hại khi công chức thực thi công

Trang 30

vụ Tuy nhiên, hiểu như thế nào về khái niệm công vụ có ý nghĩa quan trọng vì đây là một trong những yếu tố quyết định việc có phát sinh hay không trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước Ngoài ra, công vụ có gì khác với công việc trong chế định trách nhiệm bồi thường của pháp nhân đối với những thiệt hại gây ra khi thực hiện công việc của pháp nhân Xét ở góc độ xã hội hóa, hoạt động quản lý nhà nước, theo đó có nhiều tổ chức trong xã hội được Nhà nước giao một số nhiệm vụ quản lý nhất định thì liệu những hành vi này có được coi

là công vụ hay không Có học giả đã khẳng định rằng cần phải coi những hành

vi "mang tính chất hành vi công quyền do các cơ quan và tổ chức không phải là

bộ phận hữu cơ của bộ máy nhà nước" nếu gây thiệt hại thì cũng phát sinh trách

nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

Công vụ cũng có sự khác biệt nhất định so với công việc trong chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp nhân Trong chế định này pháp nhân phải bồi thường cho mọi thiệt hại gây ra khi thực hiện các công việc của pháp nhân, mà những công việc này không nhất thiết phải thuộc về chức năng hoạt động chính của pháp nhân

Công vụ, hay nói một cách đầy đủ là hành vi công quyền, là những hành

vi trực tiếp hoặc nhằm thực hiện chức năng chính của Nhà nước là chức năng quản lý xã hội Chỉ những hành vi nào trực tiếp hoặc nhằm thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước mới được coi là công vụ Như vậy, đối với những hành vi không nhằm thực hiện chức năng quản lý của nhà nước thì không được coi là công vụ

- Yếu tố trái pháp luật của việc gây thiệt hại được hiểu theo nghĩa rộng

Về lý luận, một chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm nếu thực hiện hành vi trái pháp luật và gây thiệt hại cho một chủ thể khác Điều này đồng nghĩa với việc coi tính trái pháp luật là một thuộc tính của hành vi gây thiệt hại Tuy nhiên, liệu giới hạn của chính sách pháp lý được mở rộng theo hướng quy định

cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong trường hợp hành vi là hoàn toàn đúng pháp luật nhưng xét về hậu quả thì lại trái pháp luật - tức là vẫn

Trang 31

gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức - thì cơ chế điều chỉnh đối với trách nhiệm bồi thường trong hai trường hợp này có giống nhau Một trong những loại hoạt động của Nhà nước dù đúng luật nhưng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất lớn trong việc gây thiệt hại cho người dân là các hoạt động tố tụng hình sự Về mặt kỹ thuật, nghiệp vụ cũng như cơ sở pháp lý để thực hiện các hoạt động tố tụng thì trong rất nhiều trường hợp Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố, Tòa án đã thực hiện đúng pháp luật nhưng xét về hậu quả vẫn gây ra thiệt hại cho người bị bắt, truy

tố, xét xử Đây là vấn đề rất quan trọng vì nó có liên quan đến ngân sách của Nhà nước vì nếu mở rộng phạm vi được bồi thường thì ngân sách nhà nước sẽ phải gánh chịu thêm nhiều khoản chi, mặt khác nó còn thể hiện được vai trò của Nhà nước đối với những thiệt hại của các cá nhân, tổ chức chịu thiệt hại từ những hành vi của Nhà nước cho dù hành vi đó là đúng pháp luật hay trái pháp luật Trong pháp luật dân sự, thông thường một chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường khi hành vi gây thiệt hại của mình là hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, trong quan hệ bồi thường nhà nước thì nếu áp dụng tương tự như vậy thì bên bị thiệt hại sẽ rất thiệt thòi Điều này đã gây nên một thực trạng đáng báo động trong hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hiện nay là e ngại làm oan, sợ trách nhiệm và giảm sút tinh thần đấu tranh, phòng chống tội phạm

Như vậy, xét một cách toàn diện từ việc bảo đảm quyền, lợi ích cho người

bị thiệt hại đến vai trò quan trọng của Nhà nước đối với lợi ích chung của toàn

xã hội thì xác định tính trái pháp luật đối với việc gây thiệt hại của Nhà nước cần phải hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và hành vi đúng luật nhưng xét về hậu quả là trái pháp luật - vẫn gây ra thiệt hại

Tóm lại, trên đây là những căn cứ cần thiết để xác định phạm vi, mức độ chịu trách nhiệm BTTH để giải quyết việc BTTH do người có thẩm quyền của

cơ quan THTT gây ra Mỗi căn cứ này có những ý nghĩa khác nhau Đối với vô việc có oan, sai, hành vi xâm phạm quyền tư pháp, là yếu tố quyết định để xác định có hay không trách nhiệm Nhà nước BTTH do người có thẩm quyền THTT gây ra

Trang 32

1.3.2 Cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

1.3.2.1 Cơ sở lý luận

Về mặt lý luận, thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đó bởi vì đây là loại trách nhiệm pháp lý BTTH ngoài hợp đồng mà chủ thể chịu trách nhiệm là chủ thể đặc biệt - Nhà nước Việc xác định TNNN BTTH do người có thẩm quyền THTT gây ra phải bắt đầu bằng việc làm sáng tỏ bản chất pháp lý của mối quan

hệ giữa Nhà nước với công dân nói chung và bản chất mối quan hệ pháp luật tố tụng giữa người có thẩm quyền THTT với người tham gia tố tụng và người có liên quan khác nói riêng Đây là một dạng quan hệ pháp luật phát sinh từ mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong hoạt động tư pháp So với nhiều mối quan hệ pháp luật khác, mối quan hệ pháp luật tố tụng giữa các cơ quan có thẩm quyền THTT với công dân phản ánh trực tiếp và sâu sắc bản chất dân chủ của Nhà nước, đồng thời cụ thể các quyền, nghĩa vụ cơ bản mang tính hai chiều giữa Nhà nước và công dân

Trước hết, quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân con người là giá trị của

xã hội mà Nhà nước, bằng pháp luật bảo đảm cho giá trị đó được thừa nhận chung Trong mối quan hệ pháp luật giữa Nhà nước và công dân, hệ thống các quyền và nghĩa vụ cơ bản của Nhà nước tương ứng với các quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân Nghĩa là, Nhà nước coi quyền của công dân là nghĩa vụ pháp lý của mình và cũng là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, còn công dân cũng coi quyền của Nhà nước là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của công dân Trong mối quan hệ đó, Nhà nước vừa có tư cách là tổ chức quyền lực quản lý công dân bằng pháp luật, vừa là công cụ nhằm bảo đảm và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Như vậy, giữa Nhà nước và công dân đã tồn tại mối quan hệ pháp luật hai chiều và phù hợp với quan hệ này, công dân có được những quyền rất cơ bản từ sự bảo đảm thực hiện bằng pháp luật của Nhà nước, như quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được pháp luật bảo vệ và bảo hộ tính mạng,

Trang 33

sức khỏe, tài sản, danh dự, uy tín nhân phẩm, quyền được bình đẳng trước Tòa án Mối quan hệ hai chiều này về bản chất là quan hệ thống nhất về quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý Đây thực sự là nhận thức đúng đắn về mối quan hệ pháp luật giữa Nhà nước và công dân

Tóm lại, việc xác định TNBTTH do người có thẩm quyền THTT gây ra xuất phát từ bản chất của mối quan hệ pháp lý biện chứng, thống nhất, không tách rời giữa Nhà nước với công dân, từ bản chất của việc thực thi quyền tư pháp trong hoạt động tố tụng Từ nền tảng cơ bản này, phạm vi quyền hạn của

cơ quan THTT được pháp luật quy định để bảo đảm hoạt động chức năng của các cơ quan THTT không đi ngược lại lợi ích của Nhà nước và của công dân, vì mỗi hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới hoạt động tố tụng đều đồng thời liên quan đến cả hai khách thể của pháp luật tố tụng là tính đúng đắn trong hoạt động

tố tụng và tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dù uy tín, nhân phẩm cá nhân Yêu cầu của chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân,

tổ chức, của cơ quan THTT tạo cơ sở để xác định chế định trách nhiệm nhà nước BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra

1.3.2.2 Cơ sở pháp lý

Về mặt pháp lý, vấn đề xác định cơ sở pháp lý của trách nhiệm nhà nước BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra dựa trên các quy định pháp luật về trách nhiệm này Trước hết, trong đạo luật cơ bản của Nhà nước là Hiến pháp 2013 đã thống nhất quy định những quyền cơ bản mà công dân được Nhà nước bảo đảm thực hiện như, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được Nhà nước bảo hộ Từ những quyền cơ bản này, Hiến pháp 2013 khẳng định:

"Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật" (Khoản 5 - Điều 31) Ngoài ra cũng có nhiều văn bản pháp luật khác

của Việt Nam đã quy định và được áp dụng để giải quyết các vấn đề trách nhiệm

Trang 34

BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra BLDS 2005 cũng quy định các điều luật có ý nghĩa định hướng, định khung cho giải quyết BTTH nói chung bao gồm các điều: 604 (trách nhiệm BTTH); 608 (BTTH do tài sản bị xâm phạm); 609 (BTTH do sức khỏe bị xâm phạm); 610 (BTTH do tính mạng bị xâm phạm); 611 (BTTH do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm); 612 (thời hạn hưởng BTTH do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm) Riêng Điều 620 BLDS

2005 dành để xác định trách nhiệm BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan

THTT gây ra: "cơ quan THTT phải BTTH do người có thẩm quyền của mình gây

ra trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án"

Quyền được bồi thường này của công dân còn được ghi nhận ở những văn bản pháp lý khác, như tại Điều 29 và Điều 30 BLTTHS Việt Nam 2003 nêu rõ:

“Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền lợi được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự quyền lợi

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải khôi phục lại danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị oan, người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”

Bên cạnh quy định của Hiến pháp 2013 và các bộ luật, nhiều quy định của văn bản dưới luật, các nghị định, thông tư hướng dẫn BTTH do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan THTT gây

ra đã cụ thể hóa một phần trách nhiệm BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra

Với những quy định pháp luật về BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT được viện dẫn ở trên, mặc dù còn nhiều vấn đề cần phải bàn đến cả

về nội dung lẫn hiệu quả điều chỉnh thực tế, nhưng về cơ bản, các quy định này

đã tạo một cơ sở pháp lý cho việc áp dụng và giải quyết loại trách nhiệm này trong thực tiễn hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền THTT Từ những quy định pháp luật đó, các cơ quan THTT có nghĩa vụ bồi thường có thể căn cứ vào mức độ sai lầm của người có thẩm quyền và các căn cứ pháp lý khác để gánh

Trang 35

chịu một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm Song tính chất của sự gánh chịu trách nhiệm này của Nhà nước không hoàn toàn xuất phát từ cơ sở pháp lý đơn thuần

mà còn xuất phát từ những cơ sở thực tế rất khách quan và hiện thực, làm cho việc thừa nhận trách nhiệm đó trong luật là tất yếu

1.3.2.3 Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn giải quyết BTTH cho người bị oan, sai do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra cho thấy có nhiều bất cập dẫn đến việc giải quyết không đảm bảo khách quan, không thoả đáng và không bù đắp được những gì mà người bị oan, sai phải gánh chịu Đặc biệt là trong tố tụng hình sự, những thiệt hại gây ra cho cá nhân, tổ chức lại xuất phát từ chính các cơ quan tiến hành tố tụng mà trong đó có cả Toà án và Viện kiểm sát nên thực tiễn cho thấy yêu cầu bồi thường của bên bị thiệt hại thường không được giải quyết thoả đáng dẫn đến việc vi phạm nghiêm trọng quyền lợi của công dân Chính vì lí do này mà Nhà nước đang tự tạo ra nguy cơ làm suy giảm uy tín của mình, còn pháp luật thì mất tính công bằng vốn có của nó Mặt khác, thực tiễn cũng cho thấy có sự khác biệt rất rõ nét trong quan niệm về tranh chấp Người ta thường nói đến sự tranh chấp giữa công dân, tổ chức với nhau mà ít khi coi việc xung đột quyền lợi giữa một bên là Nhà nước với một bên là công dân, cơ quan, tổ chức là tranh chấp Tuy nhiên, trong quan hệ BTTH ngoài hợp đồng nói chung

và BTTH do hành vi gây oan, sai của người tiến hành tố tụng gây ra, mà bên gây thiệt hại nhân danh Nhà nước, bên bị thiệt hại là công dân, cơ quan, tổ chức và nếu không thỏa thuận được cách thức giải quyết và mức bồi thường thì xung đột

đó chính là sự tranh chấp Sự nhận thức đó xuất phát từ sự mất cân bằng về địa

vị xã hội của mỗi bên, mặc dù địa vị pháp lý trong lý luận về quan hệ pháp luật BTTH ngoài hợp đồng là ngang nhau Và chính sự mất cân bằng đó tạo sự bất bình đẳng trong quan hệ đối xử khi cơ quan Tòa án phải thực hiện nhiệm vụ phán xét, phân xử đối với Cơ quan THTT khác hoặc đối với chính mình

Điều quan trọng khác là, pháp luật không chỉ quy định chức năng, tổ chức của bộ máy nhà nước mà còn xác định nhiệm vụ cũng như thẩm quyền của từng

Trang 36

cơ quan và từng công chức nhằm để Nhà nước vừa quản lý được xã hội, vừa không làm đảo lộn mọi hoạt động của xã hội Cơ quan và công chức nhân danh Nhà nước thực thi quyền lực nhưng không có quyền lạm dụng quyền lực nhà nước để gây thiệt hại cho công dân Chính vì thế, thực tiễn hoạt động của người

có thẩm quyền THTT khiến Nhà nước không thể khước từ trách nhiệm của mình trước công dân khi mà công chức nhà nước thi hành nhiệm vụ đã luôn nhân danh Nhà nước để đem lại lợi ích cho Nhà nước, cho xã hội và toàn thể công dân chứ không phải là cho riêng cá nhân người ấy Việc công chức nhà nước phải tự chịu trách nhiệm bồi thường trong khi thực thi công vụ thực tế sẽ làm ảnh hưởng đến tính chủ động, tích cực trong công tác của họ Các vấn đề này không phải là sự giả thiết mà là thực tế khách quan làm cho sự hình thành của chế định pháp lý về trách nhiệm nhà nước BTTH do người có thẩm quyền THTT gây ra và việc thực hiện trách nhiệm đó trở nên có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống dân sự của mỗi một quốc gia

Trang 37

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ

QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA

2.1 Các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

2.1.1 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Nhà nước là chủ thể đã trao quyền cho các cá nhân có thẩm quyền THTT, nên khi các cá nhân này trong khi thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm nhưng Nhà nước đại diện chi trả tiền bồi thường tổn thất, sau

đó Nhà nước có quyền yêu cầu hoàn lại khoản mà Nhà nước đã chi ra bồi thường tổn thất từ cá nhân có hành vi gây ra thiệt hại mà Nhà nước đã đại diện

để chi trả phí bồi thường cho người bị thiệt hại

Tại điều 620 BLDS 2005 có quy định “ Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ” Chính vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng được BLDS nước ta

xác định là chủ thể có trách nhiệm bồi thường đầu tiên có trách nhiệm thụ lý và giải quyết các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với người bị oan sai Sau đó

là trách nhiệm bồi thường của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của các cơ quan đó với hình thức là trách nhiệm hoàn lại Mặt khác, Luật TNBTCNN 2009 quy định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động TTHS là CQĐT, VKSND, TAND quản lý trực tiếp người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thường thiệt hại đã phát sinh trong các giai đoạn tố tụng trước

Trang 38

đó Riêng đối với một số trường hợp như: cơ quan trực tiếp quản lý người tiến hành tố tụng hình sự đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc người tiến hành tố tụng hình sự không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường hoặc có sự uỷ quyền, uỷ thác thực hiện công vụ thì việc xác định cơ quan có trách nhiệm BTTH được thực hiện theo quy định như trên Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự là các cơ quan được quy định tại các điều 30,

31, 32 của Luật TNBTCNN 2009 Theo đó thì CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp:

“Đã ra quyết định tạm giữ người nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền đã

có quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ đó vì người bị tạm giữ không có hành vi

vi phạm pháp luật; đã ra quyết định khởi tố bị can nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền không phê chuẩn quyết định khởi tố vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi phạm tội.”( Điều 30)

Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm BTTH trong các trường hợp được quy định tại Điều 31 LTNBTCNN năm 2009 trong các trường hợp:

“Đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ của CQĐT có thẩm quyền nhưng người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;

Đã phê chuẩn lệnh tạm giam của CQĐT có thẩm quyền hoặc ra lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Đã có quyết định truy tố bị can nhưng Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;

Ngày đăng: 25/08/2021, 15:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 2. Bộ luật Gia Long3. Bộ luật Hồng Đức Khác
4. Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
5. Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước năm 2009 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
6. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
7. Bộ luật tố tụng hình sự 2003 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 8. Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
9. Nghị định 47/1997/NĐ-CP, ngày 03/05/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Khác
10. Nghị Quyết 388/2003/UBTV-QH11, Về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Khác
11. Nghị định 16/2010/NĐ-CP, của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Khác
12. TS. Hoàng Thị Minh Sơn – Chủ biên, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2007 Khác
13. Luật gia Trịnh Thị Thanh Hương, Tìm hiểu Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2004 Khác
14. Lê Thị Mận, Oan sai trong tố tụng, nguyên tắc, thủ tục bồi thường, Tạp chí khoa học pháp luật 2005 Khác
15. Lê Mai Anh, Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học luật Hà Nội Khác
16. Lê Mai Anh, Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, Luận văn tiến sỹ Luật học, Đại học luật Hà Nội Khác
17. Báo cáo tình hình oan sai của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội tại phiên họp thứ 37 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội khoá XIII Khác
19. Báo cáo tình hình oan sai của Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2014 20. Trang thông tin điện tử:- http//:www.chinhphu.vn - http//:www.mof.gov.vn - http//:www.luatviet.com Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w