NỘI DUNG
CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận
Đánh giá là quá trình thể hiện giá trị của tự nhiên đối với các yêu cầu kinh tế cụ thể, phản ánh thái độ của chủ thể đối với khách thể qua giá trị sử dụng và khả năng của chúng Chủ thể ở đây là yêu cầu kinh tế - xã hội, trong khi khách thể là tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên Đánh giá liên quan đến mối quan hệ giữa các đơn vị đất đai và yêu cầu kinh tế - xã hội, như cây trồng Kết quả đánh giá, dù tốt hay xấu, phụ thuộc vào sự so sánh giữa đặc điểm tự nhiên và nhu cầu cụ thể của con người Một đặc điểm tự nhiên có thể không phù hợp với một hoạt động nhất định nhưng lại có thể thích hợp với hoạt động khác.
Đất đai là một vùng đất với các đặc tính tự nhiên và kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến khả năng khai thác của nó Những đặc trưng của đất đai bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật, cùng với tác động của con người trong quá khứ và hiện tại.
Theo hai nhà đánh giá đất đai Brinkman và Smith (1973) thì đất
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Đánh giá Đánh giá là thể hiện giá trị của tự nhiên đối với một yếu cầu kinh tế cụ thể, là biểu hiện thái độ của chủ thể đối với khách thể về phương diện giá trị sử dụng, khả năng và kết quả sử dụng của khách thể Trong đó chủ thể là yêu cầu kinh tế - xã hội, khách thể là tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nói cách khác, đánh giá là xem xét mối quan hệ giữa đối tượng đánh giá là các đơn vị đất đưai với chủ thể là yêu cầu kinh tế - xã hội (cây trồng) Khi đánh giá tốt hay xấu, thích hợp hay không thích hợp là kết quả của sự so sánh tự nhiên đó đối với yêu cầu cụ thể của con người Đặc điểm của tự nhiên là đơn vị, giá trị kinh tế của đặc điểm đó là giá trị Một điều kiện của tự nhiên có thể không thích hợp với hoạt động này nhưng lại có thể thích hợp với hoạt động khác (Trần An Phong, 1995)
1.1.1.2 Đất đai Đất đai (Land): là một vùng đất mà đặc tính của nó bao gồm những đặc trưng cả về tự nhiên và kinh tế - xã hội, quyết định đến khả năng và mức độ khai thác của vùng đất đó Đặc tính của đất đai gồm có: địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng và sinh vật và những tác động quá khứ cũng như hiện tại của con người
Theo Brinkman và Smith (1973), đất bề mặt Trái đất có những thuộc tính ổn định hoặc thay đổi theo chu kỳ dự đoán được, liên quan đến sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới Những yếu tố này bao gồm không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực động vật cư trú, cũng như các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại, ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của con người trong hiện tại và tương lai.
Để xác định giá trị và đánh giá tiềm năng đất đai của một khu vực, cần có ít nhất ba nguồn tư liệu quan trọng: khí hậu, thổ nhưỡng và kinh tế - xã hội.
1.1.1.3 Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit - LMU) Đơn vị bản đồ đất đai là một hợp phần của hệ thống sử dụng đất trong đánh giá đất LMU là một khoanh/vạt đất được xác định cụ thể trên ĐVBĐĐĐ với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng LUT, có cùng điều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng (đặc tính và tính chất) riêng và nó thích hợp với một LMU nhất định (FAO, 1993) Tập hợp các ĐVBĐĐĐ trong khu vực/vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai
Theo Hội Khoa học Đất Việt Nam, ĐVBĐĐĐ là những vùng đất tương ứng với các khoanh đất trên bản đồ, có sự đồng nhất tương đối về tính chất và đặc điểm của đất Các ĐVBĐĐĐ được phân biệt dựa vào sự khác biệt của một hoặc nhiều yếu tố chỉ tiêu đã được xác định và phân cấp Đây là sự tổng hợp của loại hình đất với các yếu tố liên quan đến sử dụng Một vùng đất có khả năng sử dụng tương đồng và mức độ thích nghi nhất định cho một loại hình sử dụng đất cụ thể được xác định là một ĐVBĐĐĐ.
1.1.1.4 Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT)
LHSDĐ là một loại hình sử dụng đất đặc thù, được xác định qua các thuộc tính như sản phẩm, lợi ích, định hướng thị trường, khả năng vốn, lao động, kiến thức và kỹ thuật Tuy nhiên, không phải tất cả các thuộc tính này đều được nhấn mạnh như nhau trong các dự án LE Việc lựa chọn và mức độ chi tiết của các thuộc tính phụ thuộc vào tình hình sử dụng đất tại địa phương, cũng như yêu cầu và mục tiêu cụ thể của từng dự án.
Trong sản xuất nông lâm nghiệp, LHSDĐ được định nghĩa là các hình thức sử dụng đất để trồng cây hoặc chăn nuôi trong một hoặc nhiều chu kỳ Đánh giá đất đai là quá trình xác định mức độ phù hợp của đất đối với LHSDĐ, nhằm phân hạng và cải thiện hiệu quả sử dụng đất.
1.1.1.5 Đánh giá đất đai (Land Evaluation - LE)
Theo FAO (Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Thế giới), đánh giá đất đai được định nghĩa là quá trình so sánh các đặc điểm tự nhiên của một khu đất với các yêu cầu sử dụng đất cụ thể.
Khoảng 4 thập niên trở lại đây, công tác đánh giá phân hạng đất đai đã trở thành phổ biến và đạt được nhiều kết quả ở trên thế giới và ở nước ta
Các nhà khoa học thổ nhưỡng đang nghiên cứu sâu về quá trình hình thành đất và tạo ra các bản đồ thổ nhưỡng với nhiều tỉ lệ khác nhau Họ đã tổng hợp và xây dựng bản đồ đất đai toàn cầu với tỉ lệ 1:5.000.
Các nhà khoa học và người dân đã nghiên cứu sâu về các khía cạnh liên quan đến từng đối tượng cụ thể, áp dụng những kết quả thực tiễn từ lao động sản xuất trên đồng ruộng (FAO-UNESCO-1998).
Đánh giá đất cho các vùng sinh thái khác nhau nhằm tạo ra sức sản xuất ổn định và bền vững Trong quá trình này, đất được xem như một diện tích bề mặt của trái đất với các thuộc tính ổn định hoặc thay đổi theo chu kỳ, bao gồm không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, động thực vật, và hoạt động của con người Những yếu tố này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai.
Việc đánh giá đất cần được thực hiện trên một phạm vi rộng, bao gồm các yếu tố không gian, thời gian, tự nhiên và kinh tế - xã hội Trong quá trình đánh giá và phân hạng, mặc dù có nhiều đặc điểm cần xem xét, nhưng thường chỉ nên tập trung vào những đặc điểm chính có tác động trực tiếp và ý nghĩa quan trọng đối với đất đai trong khu vực nghiên cứu.
1.1.1.6 Phân hạng thích hợp đất đai
Phân hạng thích hợp đất đai là kết quả cuối cùng của quá trình đánh giá đất theo tiêu chuẩn FAO, kết hợp các tính thích hợp của từng đặc tính đất để tạo thành lớp thích hợp tổng thể cho một đơn vị quản lý đất (LMU) cụ thể Theo hướng dẫn của FAO, phân hạng này được chia thành bốn cấp độ: loại, hạng, hạng phụ và đơn vị.
- Loại/Bộ (Orders): phản ánh các loại thích nghi Trong loại/bộ phân làm 2 lớp: thích hợp (S) và không thích hợp (N)
- Hạng (Class): Phản ánh các cấp của sự thích hợp trong một loại Cấp này được chia thành:
+ S1 – S3: các hạng thích hợp đất
+ N1 – N2: các hạng không thích hợp
Cơ sở thực tiễn về đánh giá thích hợp đất đai
Kết quả từ các nghiên cứu đánh giá thích hợp đất đai đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất tại địa phương Bản đồ đánh giá thích hợp đất đai cung cấp thông tin quý giá, hỗ trợ các nhà quy hoạch và quản lý trong việc lựa chọn phương án bố trí sử dụng đất cho các loại cây trồng đã được đánh giá.
1.2.1 Tình hình đánh giá thích nghi đất đai trên thế giới
Đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan trên toàn cầu đã có một lịch sử lâu dài Qua tổng quan các nghiên cứu, có thể nhận thấy sự phân chia thành hai trường phái chính: trường phái Liên Xô cũ cùng các nước Đông Âu và trường phái Mỹ cùng các nước Tây Âu.
- Ở Liên Xô và các nước Đông Âu, từ những năm 20 của thế kỉ
XX đã thực hiện nhiều công trình đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan phục vụ cho nông nghiệp, dựa trên cơ sở cảnh quan và các đơn vị cấp cao hơn hoặc thấp hơn Các địa tổng thể được phân chia theo tiêu chí phân vùng cảnh quan mà không chỉ riêng cho mục đích nông nghiệp Đặc biệt, trong thập kỷ 60-70 của thế kỷ XX, nhiều công trình đánh giá nổi bật đã được tiến hành, như của các tác giả KV.Passcan, G.Iu.Prila (1980), B.A.Maxcimop (1978), K.B.Z vozukin (1984) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu về chất lượng tổng thể tự nhiên phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng đã được thực hiện, như của Billwist và Schmidt (1975) Hầu hết các công trình đánh giá này đều có giá trị quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp.
Xô (cũ) và các nước Đông Âu áp dụng phương pháp thang điểm để đánh giá các yếu tố địa tổng thể Hệ thống chấm điểm này có thể được chia thành 3 bậc (từ 1 đến 3) hoặc 5 bậc (từ 1 đến 5) Ngoài ra, các công trình còn sử dụng phương pháp đánh giá riêng biệt và tổng hợp cho các thành phần, có thể có hoặc không có trọng số, và nhân các thang điểm đánh giá riêng để đưa ra kết quả chính xác hơn.
Ở Mỹ và Tây Âu, việc đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan ban đầu chủ yếu phục vụ cho lợi ích nông nghiệp Nghiên cứu tập trung vào các yếu tố như độ dốc sườn, loại đất và điều kiện dòng chảy, đồng thời đánh giá các kiểu sử dụng đất như đất canh tác, đồng cỏ và rừng Một ví dụ điển hình là hệ thống bản đồ đất nông nghiệp Hoa Kỳ do các nhà Địa Lý của Đại học Chicago thực hiện vào những năm 1920-1930.
Tác giả D Hudson đã áp dụng phương pháp đánh giá tổng hợp để quy hoạch vùng sông Tenes, đồng thời bổ sung các yếu tố như cường độ xói mòn, độ lẫn đá, độ dày tầng đất và độ phì nhiêu Những khu vực được xác định trong quy hoạch này được gọi là "Unit area".
Năm 1938, Anh thực hiện đánh giá đất đai theo phương pháp của Stamp, dựa trên việc tổng hợp nhiều nguồn tài liệu mà không cần khảo sát thực địa Bản đồ đánh giá này được xuất bản trong tập "planning maps" vào năm 1944-1945.
Việc đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan được thực hiện mạnh mẽ từ những năm 70 – 80 của thế kỷ XX, tập trung vào việc đánh giá đất nông nghiệp tại châu Âu, châu Á và châu Phi Đồng thời, việc đánh giá mức độ thích nghi cây trồng cũng được đẩy mạnh Chẳng hạn, D.J Radcliffe đã nghiên cứu về thời vụ gieo trồng, trong khi D.J Radcliffe và K Rochette đã tiến hành nghiên cứu cây ngô ở Mozambique và đưa ra các chỉ tiêu đánh giá đất đai.
Công trình tiêu biểu về đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan là các dự án của FAO, được áp dụng rộng rãi Những dự án này thực hiện đánh giá đất đai bằng cách phân chia lãnh thổ thành các "đơn vị đất" và tiến hành đánh giá theo các kiểu sử dụng đất khác nhau.
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và đánh giá thích hợp đất đai ở Việt Nam
Kể từ những năm 80, Việt Nam đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu về đánh giá khả năng sử dụng đất đai Một trong những công trình quan trọng là "Đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc" do Tôn Thất Chiểu và nhóm nghiên cứu thực hiện vào năm 1984, đã đặt nền tảng cho lĩnh vực này.
Trong nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất khai hoang tại Việt Nam (Bùi Quang Toản và nhóm nghiên cứu, 1985), phương pháp phân loại khả năng sử dụng đất của FAO đã được áp dụng để xác định tiềm năng và hạn chế của từng loại đất.
Tại đồng bằng sông Cửu Long, các nghiên cứu về đất đã áp dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO trong một số khu vực nhỏ, như được trình bày bởi Lê Quang Trí và Trần Kim Tính vào năm 1986.
Việt Nam đã tiến hành những thử nghiệm đầu tiên trong việc ứng dụng các phương pháp đánh giá đất đai định lượng, kết hợp với yếu tố kinh tế trong sử dụng đất Qua đó, khả năng đất đai được đánh giá không chỉ từ góc độ tự nhiên mà còn từ khía cạnh kinh tế - xã hội.
1.2.3 Tình hình nghiên cứu và đánh giá thích hợp đất đai ở Hà Tĩnh Ở Hà Tĩnh các công trình nghiên cứu về đánh giá thích nghi sinh thái cây trồng còn rất hạn chế và đánh giá thích nghi sinh thái bằng công nghệ ALES – GIS chưa được quan tâm và chưa có báo cáo chính thức Riêng về cây bưởi Phúc Trạch, đã có nhiều dự án nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát triển cây bưởi như đề tài: “Đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp phát triển bưởi Phúc Trạch” của Đào Nghĩa Nhuận hay “Dự án bảo tồn nhân giống khôi phục và phát triển cây bưởi Phúc Trạch theo hướng hàng húa” của Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư Hà Tĩnh (Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tĩnh) song các dự án chưa đi sâu vào đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan cây bưởi mà chủ yếu còn đề ra các giải pháp trên cơ sở phân tích các yếu tố kinh tế - xã hội và thị trường tiêu thụ cho cây bưởi Phúc Trạch
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THÍCH HỢP ĐẤT ĐAI MỘT SỐ CÂY TRỒNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ THẠCH TÂN HUYỆN THẠCH
HÀ TỈNH HÀ TĨNH 2.1 Khái quát đặc điểm địa lí xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh
Xã Thạch Tân, thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, có diện tích 9,31 km² và tọa độ địa lý là 18°18'46'' vĩ độ Bắc và 105°53'12'' kinh độ Đông.
Đánh giá thích hợp đất đai một số cây trồng trên địa bàn xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh
2.2.1 Đánh giá thích hợp đất đai một số cây trồng trên địa bàn xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh
2.2.1.1 Thực trạng sản xuất một số cây trồng a, Thực trạng sản xuất cây lúa
Lúa là cây lương thực chủ yếu của xã Thạch Tân, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và cung cấp nguồn thực phẩm không chỉ cho địa phương mà còn cho các vùng lân cận.
Theo thống kê từ năm 2010 đến 2014, diện tích gieo trồng lúa tại xã Thạch Tân có xu hướng giảm nhẹ, mặc dù lúa được trồng phổ biến ở các xóm, chủ yếu tại những khu vực đất phù sa Mặc dù diện tích giảm, năng suất lúa lại tăng nhanh, đạt mức cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn tỉnh Hà Tĩnh nhờ vào việc áp dụng giống mới như Nhị Ưu 838 Tuy nhiên, năng suất lúa trung bình toàn xã chỉ đạt 50 tạ/ha, thấp hơn so với nhiều vùng khác trong cả nước Việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất vẫn gặp khó khăn, đặc biệt ở khu vực ngoài đê, nơi chủ yếu chỉ trồng lúa một vụ Hơn nữa, việc thu hoạch và bảo quản lúa sau thu hoạch cũng gặp nhiều thách thức do thiếu cơ sở chế biến công nghiệp trong xã.
Lạc là cây trồng đứng thứ hai trong ngành trồng trọt, chỉ sau cây lúa, và đã đạt được một số kết quả tích cực trong những năm qua Những vùng trồng lạc như Mỹ Triều, Đông Tân, và Tiến Bộ có năng suất và sản lượng cao nhờ vào diện tích đất pha cát và đất bạc màu Tuy nhiên, diện tích lạc khá ổn định và ít biến động, trong khi năng suất lại bấp bênh và chỉ ở mức trung bình so với toàn tỉnh Đặc biệt, năm 2014 ghi nhận năng suất lạc giảm mạnh so với các năm trước Mặc dù lạc đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp xã, việc sản xuất vẫn chưa được chú trọng, chưa mang tính hàng hóa và chủ yếu diễn ra ở quy mô nhỏ, thiếu áp dụng khoa học kỹ thuật và phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên.
Ngô đã trở thành cây lương thực phụ quan trọng trong nông nghiệp xã Thạch Tân, với diện tích trồng tăng mạnh từ năm 2010 đến nay Đặc biệt, diện tích ngô năm 2014 đã tăng gấp 5 lần và sản lượng tăng 7,2 lần so với năm 2010, nhờ vào nhu cầu thị trường lớn và sự hỗ trợ từ nhà máy chế biến thực phẩm trong xã Các dịch vụ nông nghiệp như giống, phân bón và thuốc trừ sâu cũng được cung cấp đầy đủ, cùng với chính sách hỗ trợ cho người trồng ngô Tuy nhiên, sản xuất ngô vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ và chưa thực sự trở thành cây trồng chính tại Thạch Tân Bên cạnh đó, đậu xanh cũng là cây trồng quan trọng, chiếm diện tích lớn trong cơ cấu gieo trồng hàng năm của xã, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân.
Sản xuất đậu xanh tại xã Thạch Tân đang gặp khó khăn với năng suất không ổn định, giảm 25% từ năm 2010 đến 2014 Sự biến động về diện tích và năng suất dẫn đến sản lượng đậu cũng thay đổi mạnh mẽ Đậu xanh được trồng ở hầu hết các xóm trong xã với quy mô khác nhau, nhưng chủ yếu mang tính thủ công, lạc hậu và chưa áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đồng thời chưa phát triển thành sản xuất hàng hóa.
2.2.1.2 Đặc điểm sinh thái một số cây trồng a ,Đặc điểm sinh thái cây lúa
Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của lúa, với mức lý tưởng từ 25-28°C Khi nhiệt độ dưới 17°C, lúa sẽ phát triển chậm, và dưới 13°C, quá trình sinh trưởng sẽ ngừng lại, có thể dẫn đến chết cây nếu kéo dài Nhiệt độ cao từ 28-35°C thúc đẩy sự phát triển nhanh nhưng giảm chất lượng, trong khi nhiệt độ trên 45°C gây ra sự sinh trưởng xấu, đặc biệt khi có gió nóng và khô, làm tăng tỷ lệ lép Mỗi giai đoạn sinh trưởng của lúa yêu cầu nhiệt độ khác nhau: giai đoạn nảy mầm cần nhiệt độ cao, giai đoạn vươn lá có thể chịu nhiệt thấp hơn, và giai đoạn trổ bông, vào chắc thì cần nhiệt độ cao Tổng tích ôn cho một vụ lúa thường dao động từ 2.500-3.000°C cho giống ngắn ngày và 3.000-4.000°C cho giống dài ngày.
Bảng 2.6: Bảng đánh giá thích nghi nhiệt độ trong các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Giai đoạn sinh trưởng
Tổng nhiệt độ của một vụ lúa từ khi nảy mầm đến khi thu hoạch thường 2500 – 3000 0 C đối với giống ngắn ngày và 3000 – 4000 đối với giống dài ngày
Ánh sáng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cây lúa, ảnh hưởng đến cả cường độ và thời gian chiếu sáng Thời gian chiếu sáng trong ngày tác động đến quá trình phát dục và ra hoa, trong khi cường độ chiếu sáng, hay lượng bức xạ mặt trời, quyết định hiệu quả quang hợp của cây.
+ Thời gian chiếu sáng trong ngày
Ngày ngắn được định nghĩa là thời gian chiếu sáng trong ngày dưới 13 giờ, và lúa là cây ngắn ngày Lượng và chất lượng ánh sáng có ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa Cụ thể, nếu giảm 50% lượng chiếu sáng trong giai đoạn sinh trưởng, năng suất sẽ giảm 11% so với khi có đủ ánh sáng Tương tự, nếu giảm 50% ánh sáng trong giai đoạn làm đòng và chín, năng suất sẽ giảm từ 28% đến 38%.
Cây lúa không bị ảnh hưởng khi lượng bức xạ trung bình đạt từ 200-300g Calo/cm²/ngày Tuy nhiên, nếu bức xạ dưới 210g Calo/cm²/ngày, đặc biệt trong giai đoạn trổ bông, sẽ dẫn đến tỷ lệ lép lửng cao.
Cây lúa cần lượng nước lớn hơn so với các loại cây khác, với nhu cầu mưa trung bình từ 6-7 mm/ngày trong mùa mưa và 8-9 mm/ngày trong mùa khô Việc thiếu hoặc thừa nước đều có tác động tiêu cực đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa.
Lúa có thể được trồng trên nhiều loại đất khác nhau, bao gồm đất phù sa, đất phèn, đất mới biến đổi, đất xám và đất đỏ Tuy nhiên, để đạt năng suất cao, cần phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định.
+ Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình
+ Hàm lượng dinh dưỡng N- P – K tổng số khá
+ Độ pH từ 4.5 – 7 (thích hợp nhất từ 5- 6.5)
+ Độ mặn < 0.5% tổng số muối tan
Cây lúa cạn yêu cầu các chỉ tiêu pH và tổng số muối tan tương tự như cây lúa nước, nhưng cần đất nhẹ hơn với thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nhẹ, và độ dốc đất không vượt quá 5%.
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của cây lạc Là cây có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, lạc phát triển tốt nhất trong điều kiện độ ẩm và nhiệt độ trung bình khoảng 25 – 30 độ C suốt vòng đời.
Nhiệt độ là yếu tố chính ảnh hưởng đến thời gian mọc và sinh trưởng của cây lạc, cùng với độ ẩm đất Trong giai đoạn cây con, nhiệt độ đóng vai trò quan trọng nhất trong việc phát triển dinh dưỡng của cây lạc.
Thời kỳ nảy mầm của lạc cần nhiệt độ trung bình từ 25 – 30 độ C, với tốc độ nảy mầm nhanh nhất ở 32 – 34 độ C Nhiệt độ cao hơn 54 độ C có thể làm giảm sức sống và khả năng nảy mầm của hạt Nếu nhiệt độ quá thấp, thời gian nảy mầm sẽ kéo dài; hạt có thể chết ở 5 độ C, trong khi nhiệt độ tối thiểu cho quá trình nảy mầm là 12 độ C Trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, cây lạc cần tổng nhiệt độ tích ôn từ 700 – 1000 độ C, với nhiệt độ trung bình lý tưởng là 20 – 30 độ C.
25 0 C Nhiệt độ không khí quá cao (30 – 35 0 C), rút ngắn thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, làm giảm số quả, trọng lượng hạt Nhiệt độ thấp