1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luật sư hành chính hồ sơ 12 Bài thu hoạch quyết định xử lý vi phạm hành chính

36 130 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 49,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ BÀI THU HOẠCH MÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Mã số: LS-HC 10/DA2 Khởi kiện Quyết định xử phạt v

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH MÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

(Mã số: LS-HC 10/DA2 Khởi kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính)

Họvàtên :……….

Sốbáodanh :………

Lớp :………

Ngàydiễn :………

Giảng viên hướng dẫn:………

1

Trang 2

MỤC LỤC

I TÓM TẮT NỘI DUNGVỤÁN 1

1. Tóm tắtnội dung: 1

2. Tài liệu chứng cứ trong hồsơ gồm: 2

II CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬTÁP DỤNG 2

III KẾ HOẠCHXÉTHỎI 3

1. Nội dung hỏi: 3

a) Người bị kiện: ông Dương Văn Thành (đại diện theo ủy quyền củaôngMinh) 3

b) Người khởi kiện ông Mai Tuấn Anh (đại diện theo ủy quyền củabàTuyết) 4

IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞIKIỆN LÀ BÀ NGUYỄNTHỊTUYẾT 4

V NHẬNXÉT 9

1. Thẩm phán: 9

2. Hộithẩm: 9

3. Kiểmsátviên 10

4. Thưký: 10

5. Ngườikhởi kiện: 10

6. Ngườibịkiện: 11

7. Luật sư ngườikhởikiện: 11

8. Luật sư ngườibị kiện: 13

2

Trang 3

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤÁN

- Người khởi kiện:BàNguyễn Thị Tuyết, sinh ngày1982

Địa chỉ: số 241 Lê Lai, tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh GL

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Mai Tuấn Anh, sinh năm 1977.Địa chỉ: số 33 Minh Khai, phường Bùi Thị Xuân, thành phố P, tỉnh GL

- Người bị kiện:ÔngTrần Ngọc Minh -Chánh Thanh tra Sở VH-TT-DL tỉnh GL

Địa chỉ: Số 06 Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnhGL

Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Dương Văn Thành – Phó Chánh Thanh tra Sở VH-TT-DL tỉnh GL

1 Tóm tắt nội dung:

Vào lúc 21h10’ ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở VH-TT-DL tỉnh GL

đã đến kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà Nguyễn Thị Tuyết tại số 241 đường Lê Lai, thànhphố P, tỉnh GL Sau khi kiểm tra Đoàn đã lập biên bản vi phạm hành chính trong hoạt độngVH-TT-DL số 11/BB-VPHC kết luận:

“Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thườngvà

bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn, đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục), phòng số 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang xem tivi Vào thời điểm kiểm tra tại phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn ThịLợi”.

Trên cơ sở Biên bản số 11, ngày 10/3/2014 ông Trần Ngọc Minh (Phó giám đốc kiêmChánh Thanh tra Sở VH-TT-DL tỉnh GL) đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực VH-TT-DL đối với bà Tuyết, hình thức phạt tiền là

15.000.000 đồng với lý do vi phạm tại khoản 1, Điều 25, Nghị định 167/2013:“thiếu

tinhthần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện

về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”.

Ngày 17/3/2014, Thanh tra Sở VH-TT-DL giao Quyết định số 23 cho bà Nguyễn thịTuyết Ngày 18/3/2014, phía Thanh tra Sở cho rằng do sơ sót về mặt hình thức nên có côngvăn đính chính Quyết định số 23

Ngày 24/3/2014, bà Tuyết có đơn khiếu nại lần đầu không đồng ý với nội dung Quyếtđịnh số 23 vì vi phạm thời hạn ra quyết định xử phạt xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định

số 23 không ghi đầy đủ về mặt nội dung và trên thực tế bà Tuyết không vi phạm nội dung nhưquyết định đãnêu

Trang 4

Ngày 07/04/2014, Sở VH-TT-DL tỉnh GL đã có Công văn số 167/CV-VHTTDL về việctrả lời đơn khiếu nại của bà Tuyết đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số

23 Ngày 20/4/2014, Thanh tra Sở đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTr với nội dung “giữ nguyên mức phạt 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Nguyễn ThịTuyết”

Nhận thấy việc ra Quyết định giữ nguyên nội dung như trên là không đúng pháp luậtxâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên ngày 02/5/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết đãlàm đơn khởi kiện Chánh Thanh tra Sở VH-TT-DL ra Tòa án nhân dân tỉnh GL, yêu cầu Tòahủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23 ngày 10/3/2014 đối với hành vi vi phạmtrong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảngcáo

2 Tài liệu chứng cứ trong hồ sơgồm:

- Quyết định số 23 ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở VH-TT-DL xử phạt trong lĩnh vực VH-TT-DL;

- Biên bản vi phạm hành chính số 11 ngày23/12/2013;

- Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh;

- Công văn số 167/CV-VH-TT-DL ngày 07/4/2014 của SởVH-TT-DL;

- Quyết định số 01/QĐ-TTr ngày 20/4/2014 về việc giải quyết đơn khiếu nại XPVPHC (lầnđầu);

- Công văn số 04/2014/CV-TTr ngày 29/5/2014 của Chánh Thanh tra Sở VH- TT-DL;

- Công văn số 02/2014/CV-TTr ngày 18/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở VH- TT-DL;

- Các bản tường trình của Nguyễn Thị Tuyết, Nguyễn Văn Thường, Nguyễn ThịLành, Phan Văn, Nguyễn ThịThùy

II CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT ÁPDỤNG.

- Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội;phòng cháy chữa cháy và phòng chống bạo lực giađình;

- Nghị định 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 Quy định chi tiết thi hành một

số điều của Pháp lệnh phòng chống mạidâm

Trang 5

III KẾ HOẠCH XÉTHỎI.

Những người cần hỏi gồm: ông Dương Văn Thành –Phó Chánh Thanh tra Sở

VH-TT-DL tỉnh GL, là đại diện theo ủy quyền của ông Trần Ngọc Minh và ông Mai Anh Tuấn là đạidiện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tuyết

Xác định thứ tự hỏi: Luật sư sẽ tiến hành hỏi người bị kiện là bên đối lập với thân chủ

mà luật sư bảo vệ trước sau đó hỏi thân chủ

1 Nội dung hỏi:

a) Ngườibị kiện: ông Dương Văn Thành (đại diện theo ủy quyền của ôngMinh)

Mục đích hỏi để làm rõ Quyết định số 23 đã được ban hành không đúng theo quy địnhcủa pháp luật về nội dung, thời hạn, thẩm quyền ra Quyết định XPVPHC Từ đó có cơ sở đểchứng minh yêu cầu khởi kiện hủy Quyết định số 23 của phía người khởi kiện

1 Ông cho biết căn cứ vào đâu để ra Quyết định số 23 xử phạt vi phạm của bàNguyễn ThịTuyết?

2 Có phải Thanh tra Sở đã áp dụng Nghị định 158/2013 để xác định hành vi viphạm của bà Tuyết không?

3 Nghị định 158/2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 đúngkhông?

4 Vậy việc lập Biên bản số 11 là vào ngày 23/12/2013, trước 07 ngày Nghị định

158 có hiệu lực đúngkhông?

5 Có phải đến ngày 10/3/2014 ra Quyết định xử phạt đúngkhông?

6 Có phải Luật XLVPHC 2012 quy định thời hạn ra Quyết định xử phạt là 07ngày kể từ ngày lập biên bản, trường hợp phức tạp thì được gia hạn nhưng cũngkhông quá 60 ngày đúng không?

7 Từ ngày 23/12/2013 đến ngày 10/3/2014 là 77 ngày đúngkhông?

8 Có phải Nghị định 167/2013 có hiệu lực kể từ ngày 28/12/2013 đúngkhông?

9 Biên bản số 11 lập trước 05 ngày Nghị định 167/2013 có hiệu lực đúngkhông?

10 Quyết định số 23 áp dụng khoản 1 Điều 25 NĐ 167/2013 để xử phạt bà Tuyếtđúngkhông?

11 Hành vi vi phạm của bà Tuyết được xác định trong QĐ số 23 là:“thiếu

tráchnhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện để

tổ chức hoạt động mại dâm”đúngkhông?

12 Biên bản số 11 này có chữ ký của bà Nguyễn Thị Thùy Trang Vậy cho hỏivai trò của bà Trang là như thếnào?

13 Việc kiểm tra là đột xuất hay có kếhoạch?

14 Ông cho biết như thế nào gọi là hoạt động “mạidâm”?

15 Tại thời kiểm tra, các ông có thấy việc giao nhận tiền bạc hoặc giá trị vật chấtcủa các đối tượng trênkhông?

Trang 6

16 Trong các bản tường trình về sự việc ngày hôm đó các đối tượng trên có khainhận về việc giao tiền, bạc haykhông?

17 Vậy ông cho biết căn cứ nào để xác định Tuyết thiếu trách nhiệm trong khikhông chứng minh đây là hoạt động mạidâm?

18 Các ông giao quyết định số 23 cho bà Tuyết vào ngày tháng nămnào?

19 Quyết định số 23 có quy định trong thời hạn 03 ngày Quyết định này được gửicho bà Tuyết để chấp hành đúngkhông?

20 Điều 70 Luật XLVPHC có quy định trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từngày ra QĐ XPVPHC có lập biên bản người có thẩm quyền xử phạt phải gửi cho cánhân, tổ chức vi phạm đúngkhông?

b) Ngườikhởi kiện ông Mai Tuấn Anh (đại diện theo ủy quyền của bàTuyết)

Mục đích hỏi để làm rõ thêm một số vấn đề chứng minh yêu cầu khởi kiện của phía người khởi kiện là đúng

1 Nhà nghỉ của bà Tuyết có đăng ký kinh doanh không? Khi hoạt động thì cónghe ai nói nam, nữa vào thuê phòng phải có giấy chứng nhận đăng ký kết hônkhông?

2 Ông cho biết tại sao phía người khởi kiện lại yêu cầu hủy QĐ số 23 ngày10/3/2014 của ông Chánh Thanh tra Sở VH-TT-DL?

3 Ông cho biết bà Tuyết nhận Quyết định số 23 vào ngày 17/3/2014 đúngkhông?

4 Đoàn kiểm tra đến nhà trọ của bà Tuyết ngày tháng năm nào? Khi lập biên bản

có đọc cho bà Tuyết nghekhông?

5 Quyết định số 23 có ghi ngày tháng năm phải thực hiệnkhông?

xử;Thưa vị đại diện Viện kiểm

sát; Thưa Luật sư đồng

nghiệp!

Tôi là Luật sư ……… thuộc Văn phòng Luậtsư ,

Trang 7

ĐoànLuậtsưThànhphốY.Hômnay,đượcsựchấpthuậncủaHộiđồngxétxửvàtheoyêu

Trang 8

cầu của người khởi kiện, tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho khách hàng của tôi là bà Nguyễn Thị Tuyết cũng là người khởi kiện trong vụ ánhành chính này.

Qua phần trình bày của các đương sự và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay

đã thể hiện rõ nội dung vụ án, tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung vụ án này

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến của phiên tòa hôm nay, tôi xin nêu một sốquan điểm để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ mình như sau:

Về đối tượng khởi kiện: Ngày 02/5/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết làm đơn khởi kiện đối

với người bị kiện là Chánh thanh tra Sở VH-TT-DL Theo đó đối tượng khởi kiện của vụ ánnày là Quyết định số 23/QĐ-XP QĐ Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực VH-TT-DLngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở VH-TT-DL Việc ban hành quyết định này làm ảnhhưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết, do đó bà Tuyết làm đơn yêu cầuTòa án nhân dân tỉnh GL hủy bỏ quyết định này Căn cứ vào khoản 1, Điều 30; khoản 3 Điều

32 Luật Tố tụng Hành chính 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấptỉnh Đồng thời, căn cứ Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính 2015 vụ án này cũng còn nằmtrong thời hiệu khởi kiện Do đó, Tòa án thụ lý giải quyết là đúng theo quy định của phápluậtTTHC

Về yêu cầu khởi kiện:Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết (đại diện theo ủy quyền

là ông Mai Tuấn Anh) yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định số 23 trên là có căn cứ và có cơ sở

để chấp nhận vì những lý do sauđây:

Thứ nhất:Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 do đoàn kiểm tra của Sở

VH-TT-DL lập không đúng quy định của pháp luật

- Biên bản căn cứ Nghị định 158/2013/NĐ-CP làm căn cứ xử phạt nhưng Nghị định này

có hiệu lực vào ngày 01/01/2014 trước ngày xảy ra hành vi vi phạm của bà Tuyết là 07 ngày.Việc áp dụng Nghị định này làm căn cứ xử phạt là trái với nguyên tắc áp dụng pháp luật

Tại điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 có quy định:

“1 Văn bản quy phạm pháp luật áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà vănbản đó đang có hiệu lực Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy địnhđó…”

Như vậy qua sự phân tích trên đã chứng minh rằng Biên bản số 11 mà đoàn kiểm tra của

Sở lập là không đúng theo quy định, trái nguyên tắc áp dụng pháp luật Nên biên bản

Trang 9

này hoàn toàn không có giá trị pháp lý do đó không thể làm căn cứ ra Quyết định xử phạt bà Tuyết.

Thứ hai:Quyết định số 23 ban hành trong khi đã hết thời hạn ra Quyết định Xử phạt vi

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trườnghợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày”.

Căn cứ vào quy định như trên thì thời hạn tối đa để Chánh thanh tra Sở VH-TT-DL raquyết định xử phạt đối với bà Tuyết (kể cả thời gian xin gia hạn thêm) là 60 ngày Bà Tuyết

bị lập biên bản ngày 23/12/2013 đến ngày 10/3/2014 mới ra quyết định xử phạt Vậy tổngcộng thời gian là 77 ngày vượt quá 17 ngày so với thời hạn luật định

Do đó, Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạmhànhchính

Thứ ba:Quyết định số 23 áp dụng Nghị định 167/2013/NĐ-CP chưa có hiệu lực tại thời

điểm vi phạm để xử phạt bà Tuyết

Thời điểm đoàn kiểm tra lập biên bản xử phạt bà Tuyết là vào ngày 23/12/2013 trước 05ngày Nghị định 167 có hiệu lực là ngày 28/12/2013 Căn cứ khoản 1, Điều 73 NĐ 167/2013điều khoản chuyển tiếp có nội dung: Đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực an ninh trật

tự, an toàn xã hội phòng chống tệ nạn xã hội xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực màsau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho cánhân, tổ chức viphạm

Tại khoản 1, điều 25 NĐ 167 hình thức xử phạt đối với hành vi thiếu trách nhiệm để xảy

ra hoạt động mại dâm là phạt tiền từ 15.000.000 đồng-20.000.000 đồng, trong khi đóNĐ178lànghịđịnhcũngxửphạthànhvinàynhưngcóhiệulựctrướcđóhìnhthứcphạt

Trang 10

tiền 10.000.000 đồng-15.000.000 đồng Việc áp dụng hình thức xử phạt của Nghị định chưa

có hiệu lực rõ ràng là không đúng quy định của pháp luật, trái với nguyên tắc áp dụng phápluật tại Điều 83 Luật ban hành VBQPPL 2008 mà tôi đã phân tích ở trên

Thứ tư:Chánh thanh tra Sở VH-TT-DL không có thẩm quyền ban hành Quyết định số

23

Căn cứ Điều 69 Nghị định 167/2013 thẩm quyền của thanh tra, quản lý thị trường thìThanh tra Sở VH-TT-DL có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại mục 4 chương II vi phạm hành chính về phòng chống bạo lực gia đình

Thứ năm:Nội dung của quyết định xác định bà Tuyết“thiếu tinh thần trách nhiệm

tạođiều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại âm”nhưng không làm rõ có hay không hành vi mua bán dâm.

Biên bản số 11 ghi nhận hành vi vi phạm của bà Tuyết như sau:“Tại thời điểm kiểmtra

nhà trọ Hoàng Lan phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phòng 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang xem tivi Tại thời điểm kiểm tra không có vào

sổ bà Nguyễn Thị Lành”.

Thanh tra Sở VH-TT-DL đã trả lời trong các công văn gửi cho Tòa án cũng như trìnhbày tại phiên Tòa hôm nay khẳng định hành vi quan hệ tình dục của ông Thường bà Lành làhoạt động mại dâm Đây là khẳng định không có cơ sở Bà Tuyết chỉ vi phạm khi không vào

sổ trường hợp của bà Nguyễn Thị Lành

Theo Pháp lệnh phòng chống mại dâm 2003 của UBTVQH Khóa XI:

“1 Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với một người khác để được trả tiềnhoặc lợi ích vật chất khác.

2 Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho

ngườibán dâm để được giaocấu.

3 Mại dâm là hành vi mua dâm, bándâm.”

Nếu xác định đây là hành vi mại dâm thì đồng thời phải làm rõ họ có hành vi mua dâm,bán dâm phải chứng minh họ có hành vi trả tiền nhận tiền với nhau hay cho, nhận lợi ích vậtchất khác Tại biên bản số 11 cũng như các bản tường trình của ông Thường và bà Lành hoàntoàn không có ghi nhận sự việc này Do đó để khẳng định có hoạt động mại dâm tại nhà nghỉHoàng Lan thì phải có chứng cứ chứng minh cho sự việc nêu trên Bà Tuyết chỉ vi phạm khikhông vào sổ trường hợp của bà Nguyễn ThịLành

Trang 11

Tại bản tường trình ngày 29/5/2014 của Chánh thanh tra đã nhiều lần yêu cầu bà Tuyếtchứng minh các đối tượng trên là vợ, chồng để làm căn cứ không xử phạt đối với hoạt động

mại dâm Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 3 Luật XLVPHC 2012 thì“Người có thẩm

quyềnXPVPHC có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện chứng minh mình không vi phạm hành chính” Theo chúng tôi việc yêu cầu như vậy là trái với nguyên tắc xử phạt vi phạm hành

chính, vì rõ ràng Luật không buộc bà Tuyết có nghĩa vụ là tự mình chứng minh mình không

vi phạm mà nghĩa vụ chứng minh vi phạm thuộc về cơ quan xử lý viphạm

Chính vì vậy Quyết định số 23 áp dụng nội dung trích dẫn như trên để xử phạt bà Tuyết

là không có cơ sở, không đúng sự thật khách quan của vụviệc

Thứ sáu:Nội dung của Quyết định số 23 ngày 23/12/2013 không đầy đủ theo quy định

của pháp luật

Tại Điều 2 của Quyết định không ghi ngày tháng năm giao Quyết định xử phạt đồngthời tại Điều 3 cũng không ghi thời điểm có hiệu lực của Quyết định Theo như phía người bịkiện trình bày tại phiên Tòa hôm nay do có những sai soát về mặt hình thức nên đã có Côngvăn số 02/2014 ngày 18/3/2014 để đính chính Nhưng theo lời trình bày của thân chủ tôi thìngày nhận Quyết định đính chính là ngày 31/3/2014 (Công văn số 167 ngày 07/4/2014 phíangười bị kiện cũng khẳng định là ngày 31 mới gởi Quyết định đính chính) Vì vậy trên thực tếCông văn ngày 18/3/2014 không tồn tại bên người bị kiện cũng không chứng minh được là đãgiao Quyết định vào thời giantrên

Trong khi đó cũng tại Điều 3 Quyết định số 23 này có quy định trong thời hạn 03 ngàyQuyết định này được gởi cho bà Tuyết nhưng Điều 70 Luật XLVPHC có quy định trong thờihạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra Quyết định có lập biên bản người có thẩm quyền raQuyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt Thời hạn quy định như trên tráivới thời hạn quy định của luật XLVPHC

Về bồi thường thiệt hại:Do Quyết định số 23 ban hành trái pháp luật làm ảnh hưởng

trực tiếp đến quá trình kinh doanh của nhà trọ, làm sụt giảm doanh thu và uy tính kinh doanhcủa bà Tuyết nên cần phải được bồi thường Đây là thiệt hại thực tế dựa trên tài liệu hóa đơnchứng từ nộp thuế mà phía bà Tuyết đã nộp cho Tòa Hôm nay phía bà Tuyết yêu cầu đượcbồi thường 50.000.000 đồng Yêu cầu này là hoàn toàn phù hợp với quy định Điều 7, Điều

139 Luật TTHC và Điều 3 Nghị quyết 02/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định củaLuậtTTHC

Từ những phân tích nêu trên có thể chứng minh Quyết định số 23 ngày 10/3/2014 củaChánh thanh tra Sở VH-TT-DL ban hành trái pháp luật

Do đó, tôi kính đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tuyết:

Trang 12

- Tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 23 ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở

VH-TT-DL tỉnhGL

- Buộc Chánh thanh tra Sở VH-TT-DL bồi thường 50.000.000 đồng

Cám ơn Hội đồng xét xử đã lắngnghe

LUẬT SƯ ĐỖ HOÀNG NAM

(ký tên)

V NHẬN XÉT

1 Thẩmphán:

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

2 Hộithẩm: ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 13

………

………

………

………

………

………

………

………

3 Kiểm sát viên: ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

4 Thưký: ………

………

………

………

………

………

………

………

5 Ngườikhởi kiện:

Trang 14

………

………

………

6 Ngườibịkiện: ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

7 Luật sư người khởikiện: ………

………

………

………

………

………

………

Trang 15

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 16

………

………

………

………

………

………

8 Luật sư người bịkiện: ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

Trang 17

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 18

I TÓMTẮT NỘI DUNG VỤÁN

Thứ nhất, về các đương sự, đối tượng khởi kiện và yêu cầu khởi kiện:

1 Ngườikhởikiện:BàNguyễnThịTuyết(theoKhoản8Điều3Luậttốtụnghành chính2015);

2 Người bị kiện: Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

(Khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính2015);

3 Ngườilàmchứngcácôngbà:NguyễnVănThường,NguyễnThịLành,Nguyễn Thị Thùy

và Phan Văn (Khoản 1 Điều 62 Luật tố tụng hành chính2015);

4 Đốitượngkhởikiện:Quyếtđịnhxửphạtviphạmhànhchínhsố23/QĐ-XPHC

ngày10/3/2014củaChánhthanhtraSởVănhóa,ThểthaovàDulịchtỉnhG.L (điểm aKhoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính2015);

5 Về yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành

chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch tỉnhG.L

Thứ hai, về nội dung vụ án:

Bà Nguyễn Thị Tuyết (1982) là chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ bình dân HoàngLan, hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh hộ kinh doanh cá thể số 39A

8005684 do Phòng Tài chính – Kế hoạch Ủy ban nhân dân Thành phố P cấp ngày19/11/2012, có địa chỉ tại tổ 09 phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh G.L (hồ sơtr.8)

Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 23 tháng 12 năm 2013, tại cơ sở kinh doanh dịchvụnhàtrọbìnhdâncủabàNguyễnThịTuyết,số241,đườngLêLai,thànhphốP,tỉnh G.L, Đoànkiểm tra của Thanh tra Sở Thể thao, Văn hóa và Du lịch tỉnh G.L đã tiến hành kiểm tra vàsau đó đã lập Biên bản số 11/BB-VPHC (sau đây gọi tắt là Biênbản

11) kết luận cơ sở của bà Nguyễn Thị Tuyết có những vi phạm như sau:

“Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng số 11 có ông Nguyễn

VănThườngvàbàNguyễnThịLànhcógiấykếthônđangquanhệvợchồng(quanhệtình

dục),phòngsố9cóôngPhanVănvàbàNguyễnThịThùykhôngcógiấykếthônđang

1

Ngày đăng: 25/08/2021, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w