BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VỊNH NGUYỄN THỊ LUÂN TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG CỦA LÀNG CỔ BÔN XÃ ĐÔNG THANH, HUYỆN ĐÔNG SƠN, THANH HÓA CHUYÊN NGHÀNH : LỊCH SỬ VIỆT NAM MÃ SỐ : 6022
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VỊNH
NGUYỄN THỊ LUÂN
TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG CỦA
LÀNG CỔ BÔN
(XÃ ĐÔNG THANH, HUYỆN ĐÔNG SƠN, THANH HÓA)
CHUYÊN NGHÀNH : LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ : 602254
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học :
TS VŨ QUÝ THU
VINH -2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Làng xã Việt Nam là một cơ cấu vững bền trải qua những cuộc biến thiên của lịch sử nước nhà Việt Nam cũng như bất kì dân tộc nào khác trên thế giới, buổi đầu tiên đã cùng tự họp thành làng Có người là có làng và có làng là có sinh hoạt cá nhân cũng như tập thể Các làng Việt dần dần được hình thành trong quá trình lịch sử với sự hiện diện của bộ máy chức dịch và hồn cốt là các tổ chức xã hội mang tính huyết thống tự nguyện tạo nên cuộc sống sôi động sau lũy tre làng Làng xã là một cộng đồng cư trú cơ bản của người Việt có nguồn gốc từ xa xưa, làng Việt vừa là cộng đồng kinh tế vừa là cộng đồng văn hóa, ở đó chứa đựng nhiều giá trị xã hội và văn hóa Việt Nam Đối với người Việt, làng còn có một ý niệm sâu sắc và thiêng liêng là tượng trưng cho quê cha đất tổ, là nơi thừa nhận đơn vị thành công và danh vọng của mỗi người Vì vậy vai trò của làng Việt ngày càng trở nên quan trọng không chỉ nổi lên như một vấn đề cấp thiết đối với sự phát triển chung của đất nước trong hiện tại mà còn gắn liền với quá khứ và góp phần quyết định tới tương lai
Đông Sơn là một vùng văn vật, giàu có của xứ Thanh, vùng đất này được kiến tạo từ rất sớm và ít có những biến động lớn về mặt địa chất Địa hình Đông Sơn nhìn chung là phức tạp nhưng thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống Những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của vùng đất này không chỉ được thể hiện các thành tựu về sản xuất, chiến đấu qua sản phẩm tiêu biểu của các nghề truyền thống mà còn được khẳng định qua những văn vật, những giá trị trường tồn cùng thời gian
Đông Sơn là nơi có lịch sử phát triển lâu đời với những mốc lớn về mặt lịch sử được nhiều nơi biết đến Di tích khảo cổ học Đông Sơn đã trở thành tên gọi của một nền văn hóa tiêu biểu của người Việt cổ thời kì dựng nước và
Trang 3giữ nước đầu tiên: Văn hóa Đông Sơn Các di tích Đông Sơn ở Thanh Hóa chính là những làng nông nghiệp cổ được hình thành hàng trăm năm cùng với
sự hình thành và phát triển của văn hóa Đông Sơn Quá trình hình thành, phát triển các di tích văn hóa Đông Sơn trên đôi bờ hạ lưu sông Mã là quá trình người Đông Sơn khai thác và làm chủ vùng đồng bằng hạ lưu sông Mã biến thành một vùng phát triển có tính chất trung tâm để bước vào ngưỡng của văn minh
Làng Cổ Bôn là một trong những làng cổ có văn hóa truyền thống đặc sắc ở châu thổ sông Mã thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa Làng Cổ Bôn nằm ở trung tâm huyện Đông Sơn và cũng gần như trung tâm của vùng đồng bằng châu thổ sông Mã Đây là làng quê văn vật nằm trong vùng được gọi là địa linh nhân kiệt của xứ Thanh Làng Cổ Bôn trong lịch sử đã để lại cho nhiều giá trị trường tồn về vật chất và tinh thần Đó là những dòng họ gắn liền với quá trình lập làng có truyền thống khoa bảng với nhiều người đỗ đạt cao, nhiều nhà nho nổi tiếng lưu danh cùng sử sách Nối
tiếp dân ta, người dân Cổ Bôn với “Cương thường, trung hiếu, tu tề trị bình”
đã không ngừng “Nấu sử sôi kinh” “Đêm ngày đèn sách” để “Chiếm bảng đề
danh” đem tài đức, học vấn phò vua giúp nước.
Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm độc lập đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn thế hệ trẻ:
“Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có vẻ
vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là phần lớn nhờ công học tập của các cháu ” Người dạy: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” Cố thủ tướng Phạm Văn
Đồng cũng đã nói: “Ngày hôm nay chúng ta đã làm việc như thế nào, thì ngày
mai chúng ta sẽ hưởng kết quả tương ứng với mức làm việc ấy… Ngày hôm nay chúng ta gieo hạt giống gì ngày mai chúng ta sẽ thu hoạch tương ứng với hạt giống đó’’[43; 10].
Trang 4Thấm nhuần quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vai trò của giáo dục đào tạo: Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phải là
quốc sách hàng đầu để hưng thịnh quốc gia Phải phát huy sức mạnh của làng
có bề dầy về truyền thống lịch sử và văn hóa Làng Cổ Bôn hôm nay đang tiếp nối những giá trị truyền thống của cha ông, tiếp tục ghi danh những tên tuổi mới làm rạng danh làng khoa bảng nhất nhì xứ Thanh để Cổ Bôn không chỉ là “Đệ nhất xứ Thanh” trong quá khứ mà trong cả hôm nay và ngày mai
Vì vậy, nghiên cứu về làng khoa bảng Cổ Bôn vừa có ý nghĩa khoa học vừa
có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Xuất phát từ những lí do trên đây, bản thân tôi đã chọn đề tài: “Truyền
thống khoa bảng của làng Cổ Bôn (xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa)” làm đề tài cho Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Lịch sử của mình.
2 Lịch sử vấn đề
Cổ Bôn là một trong những làng cổ có truyền thống đặc sắc ở lưu vực sông Mã nay thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Trong thời gian gần đây việc nghiên cứu về làng xã nói chung và làng Cổ Bôn nói riêng đã được nhiều tạp chí, sách báo và các nhà nghiên cứu đề cập ở những
góc độ khác nhau “Lịch triều hiến chương loại chí’’ của Phan Huy Chú (thế
kỉ XIX), Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Nam nhất thống chí đã đề cập một cách
khái quát về vùng đất cổ Đông Sơn
Ngoài ra còn có các tác phẩm nghiên cứu về vùng đất Đông Sơn và
làng Cổ Bôn được đề cập đến ở những khía cạnh nhất định: Lịch sử Đảng bộ
huyện Đông Sơn, Trò diễn dân gian vùng Đông Sơn của tác giả Trần Thị Liên,
hay cuốn Khảo sát vùng văn hóa truyền thống Đông Sơn.
Làng Cổ Bôn còn được các học giả nghiên cứu đặc biệt quan tâm với sự
ra đời của nhiều công trình nghiên cứu được xuất bản: Khảo sát văn hóa
truyền thống văn hóa làng Cổ Bôn của Trần Thị Liên, Phạm Minh Trị; Làng
Trang 5Cổ Bôn của tác giả Lương Đặng Dũng, Làng cổ truyền Việt Nam của GS.Vũ
Ngọc Khánh các công trình trên đã nghiên cứu và đề cập đến truyền thống khoa bảng như là đặc trưng, khía cạnh về truyền thống văn hóa ở làng Cổ Bôn
Ngoài ra, còn có nhiều lý lịch Di tích, gia phả dòng họ Lê, La, Nguyễn, Thiều…và các bài viết trên các báo, tạp chí chuyên nghành đã đề cập đến những nhân vật khoa bảng và đóng góp của họ đối với lịch sử dân tộc Tuy nhiên các công trình nghiên cứu nêu trên chưa đề cập một cách cụ thể về truyền thống khoa bảng của làng Cổ Bôn, chủ yếu đi vào nghiên cứu lĩnh vực văn hóa và lễ hội…Trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước tác giả mạnh dạn chọn đề tài này với mong muốn góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống, tương đối toàn diện
về thành tựu khoa cử của làng Cổ Bôn Đồng thời, góp phần phát huy truyền thống hiếu học của nhân dân làng Cổ Bôn nói riêng
và nhân dân Đông Sơn nói chung
3 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
- Đưa ra được những đề xuất kiến nghị…
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Trang 6Luận văn tìm hiểu về truyền thống khoa bảng của làng Cổ Bôn, bởi vậy đối tượng nghiên cứu trọng tâm là truyền thống khoa bảng của làng Cổ Bôn
xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa
3.3 Nhiệm vụ của nghiên cứu
- Luận văn góp phần vào việc nhận thức một cách đầy đủ về truyền thống khoa cử ở làng Cổ Bôn
- Bước đầu góp phần khẳng định giá trị của làng Cổ Bôn trong dòng chảy của lịch sử dân tộc và lịch sử Thanh Hóa
- Những đóng góp của làng Cổ Bôn đối với sự phát triển của làng xã trong lịch sử chống ngoại xâm và bảo tồn những giá trị văn hóa làng Việt Nam
- Mối liên hệ truyền thống hiện đại, sức mạnh phát triển của tương lai
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu.
4.1.1 Nguồn tài liệu thành văn.
Tài liệu thành văn là các công trình đã được công bố trong và ngoài
nước liên quan đến nội dung nghiên cứu như: Đại Việt sử kí toàn thư của tác giả Ngô Sĩ Liên, bộ Lịch Triều Hiến Chương loại chí của Phan Huy Chú
Ngoài các bộ sử biên niên, một nguồn tài liệu khác cũng được quan tâm khai thác đó là gia phả của các dòng họ lớn, quan trọng như họ Nguyễn, họ Lê Khả, họ Cao, họ Lưu… có quan hệ chặt chẽ với các sự kiện lịch sử, các gia phả dòng họ này đều được khai thác triệt để trong luận văn
4.1.2 Nguồn tư liệu vật chất (di tích, di vật lịch sử).
Trang 7Luận văn không phải là một công trình chuyên sâu về các hiện vật khảo
cổ của làng Cổ Bôn mà sử dụng di tích, di vật như một nguồn tư liệu
4.1.3 Nguồn tài liệu dân gian.
Để nghiên cứu tác giả còn sử dụng nguồn tư liệu dân gian, nguồn tư liệu này có một hạn chế lớn là tính thiếu chính xác Tuy nhiên, tư liệu dân gian lại
có giá trị phản ánh chân thật cuộc sống và cách nghĩ của nhân dân nên có thể
là nguồn tư liệu bổ sung có hiệu quả cho những thiếu hụt của chính sử
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nguồn tư liệu sưu tầm được, tác giả đã sử dụng các phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic nhằm phác họa lại một cách chân thực, khách quan bức tranh tổng thể về truyền thống khoa bảng của làng Cổ Bôn Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích… Đặc biệt, tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học trong quá trình nghiên cứu Tác giả đã trực tiếp khảo sát thực địa tại các di tích, di vật lịch sử, tham gia các sịnh hoạt văn hóa, quan sát thực tiễn, tìm hiểu phong tục tập quán, lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng
5 Đóng góp của luận văn.
- Luận văn đưa ra một cách hệ thống về thành tựu khoa cử và những nhân vật khoa bảng của làng Cổ Bôn
- Góp phần cung cấp tư liệu Lịch sử địa phương nhằm nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử Việt Nam và lịch sử địa phương
- Giáo dục và khơi dậy tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc của thế hệ người dân làng Cổ Bôn để tiếp tục phấn đấu, rèn luyện góp phần xây dựng quê hương đất nước
Trang 8- Đề xuất kiến nghị nhằm bảo tồn, lưu giữ và phát huy truyền thống khoa cử của làng trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn ngày nay.
Trang 96 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục Luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Khái quát về lịch sử, văn hóa của làng Cổ Bôn (xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa)
Chương 2 Những thành tựu về khoa cử của làng Cổ Bôn
Chương 3 Đóng góp của các nhà khoa bảng ở làng Cổ Bôn đối với quê
hương và dân tộc
Trang 10NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA LÀNG CỔ BÔN (XÃ ĐÔNG
THANH, HUYỆN ĐÔNG SƠN, THANH HÓA)
1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của làng Cổ Bôn
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đông Thanh là một trong 19 xã của huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đây là vùng đất của những làng quê trù phú hình thành từ lâu đời với những truyền thống văn hóa độc đáo Làng Cổ Bôn cách thành phố Thanh Hóa 11 km và cách huyện lỵ Đông Sơn 5 km về phía Đông dọc theo Quốc lộ
45 Xã Đông Thanh xưa gọi là làng Cổ Bôn được ví như bộ trà quý gồm có 4 thôn : Ngọc Tích, Phúc Triền, Kim Bôi và Quỳnh Bôi Làng Cổ Bôn là một trong những làng cổ, có văn hóa truyền thống độc đáo ở châu thổ sông Mã Làng Cổ Bôn nằm ở trung tâm huyện Đông Sơn và cùng gần như là trung tâm của vùng đồng bằng châu thổ sông Mã, trong vùng địa linh nhân kiệt của xứ Thanh, xung quanh làng là những vùng đất với những làng văn hóa làng võ, làng nghề, những trung tâm sinh hoạt văn hóa Phật giáo nổi tiếng
Phía Đông, là quê hương của Thiều Thốn (nay là xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn) vị dũng tướng dưới thời Trần Ông cũng là ông tổ của dòng họ
Thiều ở Cổ Bôn Trong “Đại Việt sử kí toàn thư” đã ghi nhận ông là người có
công giữ yên vùng biên giới phía Bắc và vỗ về binh lính ở biên ải Xã Đông Tiến là một trong những cái nôi đầu tiên của phong trào cách mạng Thanh Hóa, “Làng đỏ” Hàm Hạ là nơi Chi bộ Cộng sản đầu tiên của Thanh Hóa ra đời
Phía Tây, qua cánh đồng là làng Kẻ Rỵ, Kẻ Chè, nơi có nghề thủ công đúc đồng nổi tiếng và cũng là quê hương của nhà sử học đầu tiên của nước Việt Nam: Lê Văn Hưu, nơi ông đã sinh ra và lớn lên và dùi mài kinh sử Kẻ
Trang 11Chè, Kẻ Rỵ còn là quê hương của Bộc xạ tướng quân Lê Lương - một “Mạnh thường quân” ở thế kỷ X Người đã từng có công giúp Lê Hoàn phá Tống, mở mang vùng đất Cửu Chân
Phía Nam của làng là đất Viên Khê (nay thuộc xã Đông Anh) quê hương của Tể tướng Lê Hy người đã soạn thảo bộ “Bản kỉ tục biên” gồm 19 quyển góp phần hoàn chỉnh bộ Đại Việt sử kí toàn thư mà người có công đầu tiên là Lê Văn Hưu Là quê hương của Nguyễn Mộng Tuân, một trong những nhà Nho nổi tiếng thời Lê Và đây cũng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cả vùng đồng bằng châu thổ sông Mã, các kì lễ hội, trò diễn ra hàng năm, nơi đây là điểm hẹn của du khách thập phương Người dân nơi đây vẫn rất tự hào với lễ hội của vùng này:
“Năm năm một khóa trò lề Lấy chồng hàng tổng thì về mà coi
Ba năm một khóa trò chơi Đông, Tây, Nam, Bắc xin mời về đây [40; 216]”
Phía Bắc của làng là sông Chu, với những cảnh trên bến dưới thuyền tấp nập Như làng Go, làng Phú, làng Hồng được mọi người biết đến với lễ hội đua thuyền vào dịp đầu xuân Ca dao vùng này đã ghi lại quang cảnh tấp nập của lễ hội này:
“Năm làng bắt lái chèo bơi
Chèo từ làng Phú tới nơi làng HồngNước lên cho cánh chim tungNăm làng năm lá cờ chung cột lèo” [32; 366]
Dọc theo bờ Nam dòng sông Chu có nhiều di tích lịch sử tôn giáo nổi tiếng, trong đó chùa Vồm một trong những trung tâm Phật giáo của vùng với pho tượng Phật cao 9 m được tạc vào vách núi đã ven sông, đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa
Trang 12Giao thông đường bộ qua làng Cổ Bôn là những tuyến đường liên hương, liên huyện từ Giàng (xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa) qua Thiệu Giao về làng Quỳnh Bôi gặp được quốc lộ 45 ở phố Bôn Từ đây theo quốc lộ
45 để đi đến các huyện miền núi hoặc xuôi về thành phố Thanh Hóa - trung tâm văn hóa, kinh tế và chính trị của cả tỉnh, con đường này qua các bến sông, phố huyện tạo nên các thị tứ phố chợ, trong đó phố Bôn là một trong những điểm thương mại sớm được hình thành
Ngoài quốc lộ 45 chạy qua trung tâm làng Cổ Bôn dài 2 km còn có hệ thống đường liên thôn, liên xã đang được mở rộng phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế xã hội và sinh hoạt của người dân làng Cổ Bôn Hệ thống kênh mương tưới tiêu cả xã dài 10 km là điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp đủ sức chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt nắng lắm, mưa nhiều thực hiện thâm canh tăng vụ Làng Cổ Bôn có hai con sông chảy qua đó là phồn Giang hay còn gọi là kênh nhà Lê và Nông Giang là nguồn cung cấp nước chủ yếu tưới tiêu cho đồng ruộng, đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi
để phát triển giao thông đường thủy
Trước kia, từ kênh nhà Lê, thuyền bè ở làng Cổ Bôn có thể ngược ra sông Chu, sông Mã để lên vùng rừng núi thượng nguồn hoặc xuôi dòng ra biển cả vào Nghệ An hoặc đến những miền đất khác Cũng từ Cổ Bôn theo dòng Nông Giang thuyền bè qua lại đưa gỗ, luồng, nứa và các lâm sản khác từ Bái Thượng về xuôi buôn bán và rồi lại vận chuyển nông, hải sản ngược lên Sông chảy qua xã Đông Thanh là sông Phồn, địa phương còn gọi là Phồn Giang Sông Phồn chảy từ Tây sang Đông dọc theo chiều dài của xã Đây là con sông nhỏ chảy trong phạm vi của các huyện Thiệu Hóa, Đông Sơn, Quảng Xương Trên phạm vi các làng thuộc đất Đông Thanh, sông Phồn đã tạo nên những bến sông quê với những bến nước, mái đình, cây đa, góp phần
Trang 13làm cho các làng cổ thêm phần mơ mộng Những chiếc cầu nhỏ đã nối đôi bờ sông Phồn tạo điều kiện cho các làng thuộc Tứ xã Bôn mở rộng giao lưu.
Trong tâm thức của người dân Cổ Bôn xưa, Phồn Giang là con sông huyền thoại Đó là sông Hương (Sông thơm) nơi các nàng tiên nữ thường đến gội đầu, Đế thích đến ngắm cảnh, đánh cờ và cũng là nơi ra đời của huyền thoại tài nghệ của người thợ mộc bắc cầu qua sông Phồn Giang Là con sông gắn liền với những cuộc tuần du của các ông Hoàng, bà Chúa Tương truyền Phồn Giang xưa kia nước rất trong, có mùi và vị tinh khiết có lần Thái hậu nhà Trần (1225 - 1400) khi vãn cảnh du xuân đến bến sông Phồn, thấy nước trong thơm và xem đó như một sự kì lạ, thái hậu cho rằng phải có một vị thần nào đó cai quản đoạn sông này Vì vậy, Bà cho lập đền thờ thần ở đây và cho
tu sửa lại quai đê trước đây đã bị sụt lở Đồng thời, Bà còn cho xây dựng một giếng đá bên cạnh để lấy nước thờ cúng Hiện nay, giếng ngày vẫn còn được người dân gọi là “Giếng Hà thơm” Sông Phồn nay đã cạn dòng, nhiều chỗ dòng chảy bị vùi lấp nhưng có thời đã gắn bó với đời sống tinh thần của người Cổ Bôn xưa
Bên cạnh sông Phồn là một phần sông đào của hệ thống Nông Giang Bái Thượng mới được đào vào đầu thế kỉ XX Nếu sông Phồn ngày nay càng mất dần vai trò của nó thì đoạn sông đào chảy qua vùng đất thuộc xã Đông Thanh ngày càng phát huy tác dụng của một công trình thủy nông hiện đại
Núi ở Đông Thanh không cao chỉ có một ngọn núi nhỏ, thấp mang tên núi Quỳnh Núi Quỳnh (còn gọi là Quỳnh Lĩnh) ở địa phận làng Quỳnh (làng mang tên núi) Đây là một núi đá nhẵn, đất thấp và nhỏ so với những đồi núi ở huyện Đông Sơn thì núi Quỳnh thấp bé nhưng “Sơn bất tại cao” Từ thưở lập làng ngọn núi này đã có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân, do quá trình khai thác đá phục vụ cho nhu cầu xây dựng ngày càng tăng nên núi Quỳnh ngày nay chỉ còn lại trong tâm thức
Trang 14Mặc dù, sông cạn, núi mòn nhưng sông Phồn, núi Quỳnh đã một thời đi vào tiềm thức dân gian về vùng đất Cổ Bôn từ thuở còn là Bồ Lồ Trang :
“ Bồ Lồ Trang hữu tình sơn thủyNúi Quỳnh Bôi như lũy trường thành
Bốn mùa hoa trái tươi xanhSông Phồn uốn khúc vòng quanh trước làng” [2: 15]
Đồng ruộng ở Đông Thanh nằm trong hệ thông đồng bằng sông Mã, đất đai hình thành trải qua thời gian dài phần lớn đất mặt từ cát pha đến đất thịt trung bình, độ mịn khá cao, các chất dinh dưỡng trong đất phong phú, thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, có thể trong cấy hai vụ lúa và một vụ màu Đất đai phì nhiêu, truyền thống lao động cần cù là cơ sở cho các làng quê ổn định và phát triển Cổ Bôn là vùng đồng bằng nên địa hình khá ổn định, ít đồi núi Cư dân Cổ Bôn xưa nay quanh đường liên hương, liên huyện là quốc lộ
45 và dọc theo dòng Phồn Giang - kênh đào nhà Lê chảy qua làng Cổ Bôn
Do nằm trên vùng đất khá bằng phẳng, lại có hai con sông chảy qua địa phận của làng nên nơi đây không có nhiều biến động Vì vậy, đất đai ở Cổ Bôn được bồi đắp bởi phù sa, cho nên mùa màng cây cối trong vùng lúc nào cũng xanh tươi, mùa nào thức nấy tạo cho đời sống kinh tế của cư dân nơi đây thêm phần phồn thịnh
Với điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi, đã cho phép làng Cổ Bôn phát triển trồng lúa nước, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt Tuy vậy, làng Cổ Bôn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thiên nhiên cũng gây không ít khó khăn như bão lụt, hạn hán Đây cũng chính là thử thách với người dân làng Cổ Bôn, điều đó đặt
ra cho những người lãnh đạo, quản lí phải biết phát huy sức mạnh và khắc phục khó khăn để đưa làng Cổ Bôn - Đông Thanh vững bước đi lên
1.1.2 Điều kiện xã hội của làng Cổ Bôn.
Trang 15So với các xã khác trong huyện, Đông Thanh là một trong những xã lớn
có tổng diện tích tự nhiên là 576,1 ha Trong đó, đất thổ cư là 20,87ha; sông
hồ là 7,45ha; núi đồi là 0,25ha Dân số hiện nay là 6616 người (Số liệu năm 2009)
Trải qua hàng ngàn năm xây dựng và phát triển, nhân dân Cổ Bôn đã hun đúc truyền thống quý báu: đó là lòng dũng cảm trong chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc thân yêu, là tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, vượt khó vươn lên, dám nghĩ, dám làm trong xây dựng kinh tế Bên cạnh nghề nông trồng lúa nước làng Cổ Bôn từ khi lập ấp, dựng làng, thì nhiều nghề mới như: các nghề mộc, mây tre, đan lát, nghề hàng xáo, làm bún…Trong một gia đình ở Cổ Bôn có thể có tất cả nhân khẩu vừa làm nông nghiệp, kèm nghề thủ công lại vừa buôn bán Cũng có gia đình thì người này làm nghề nông, người kia làm thủ công nghiệp, người khác buôn bán nhưng lại hội tụ trong một gia đình nông nghiệp Từ đó, làng Cổ Bôn sớm trở thành một cơ sở giao lưu buôn bán nối liền làng Cổ Bôn với các trung tâm kinh tế, chính trị trong và ngoài tỉnh Chợ Bôn ra đời từ rất sớm và chí ít đến cuối thế
kỉ XV đã trở thành chợ lớn trong vùng Mặt hàng chính của người Cổ Bôn buôn bán ở chợ làng là the, lụa và các sản vật của quê hương:
Trang 16bán ở Cổ Bôn đã trở thành thành phần kinh tế quan trọng của làng Chợ đã tác động sâu sắc nhiều mặt trong đời sống của cư dân với kết cấu độc đáo là làng
và chợ làm một Vào các ngày phiên chợ, làng Cổ Bôn có dáng dấp như một thị trấn sầm uất
Mặc dù có sự đan xen như vậy, nhưng các nghề ở Cổ Bôn không bị coi
là nghề phụ như nhiều nơi khác Ở đây nghề nào tham gia thì đều được coi là nghề chính Trong cơ cấu kinh tế và phương thức tổ chức sản xuất, gia đình là một tế bào kinh tế hỗn hợp và làng là cộng đồng kinh tế liên kết các hỗn hợp
đó lại với nhau Vì lẽ đó, tính “ phường hội” trong các nghành nghề ở Cổ Bôn thì thấp nhưng tính làng thì rất cao Nhu cầu sản xuất và trao đổi đã buộc người dân Cổ Bôn phải hướng ngoại và chính sách “ hướng ngoại” là một nét đặc sắc trong cấu trúc làng Cổ Bôn Mặc dù, làng Cổ Bôn là một làng cổ nhưng lại rất khác với các làng cổ truyền thống khác Làng không có lũy tre bao bọc ngăn cách đường làng, không có điếm canh cổng làng sáng chiều gõ
mõ, mà làng được mọc lên giữa những cánh đồng màu mỡ phì nhiêu, bốn mùa đơm hoa kết trái Giữa làng là những con đường liên hương, liên huyện chạy qua nên làng Cổ Bôn trở thành làng kiểu “mở”
Do địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu cảnh quan đẹp, con người Cổ Bôn lại hiền hòa nhân hậu trọng nghĩa và mến khách Họ ít phân biệt sang hèn, giữa người bản địa với ngụ cư, bởi vậy có rất nhiều người đã đến Cổ Bôn sinh cư lập nghiệp Tuy từ các nguồn nhập cư khác nhau nhưng họ đã cùng sống đoàn kết, tương trợ để cùng xây dựng quê hương Cổ Bôn giàu đẹp Chính yếu tố đa dân cư ấy đã làm tăng thêm tinh thần thượng võ và ý chí vươn lên của nhân dân Cổ Bôn trong suốt quá trình lịch sử của làng Các làng quê ở Đông Thanh vừa có nét chung của làng quê truyền thống Việt Nam vừa
có những nét riêng của những làng quê vùng châu thổ sông Mã góp phần làm
Trang 17cho đất Đông Sơn sớm trở thành một trong những trung tâm văn hóa của xứ Thanh
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của làng Cổ Bôn.
1.2.1 Sự hình thành của cộng đồng dân cư và làng xã
Đông Sơn là một vùng văn vật của xứ Thanh, những giá trị văn hóa vật chất trên vùng đất này không chỉ được thể hiện qua các thành tựu về sản xuất, chiến đấu mà còn được thể hiện qua những di sản văn hóa được bàn tay, khối
óc của con người tạo dựng trên đất này Những công trình nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử đã khẳng định sự phát triển lâu đời và liên tục của con người trên vùng đất Đông Sơn
Đồng bằng sông Mã do phù sa của hệ thống sông Mã bồi đắp trên một vịnh biển nông Từ thời tiền sử con người đã chiếm lĩnh vùng đồng bằng trước núi để khai phá, dựng làng cho đến thời đại kim khí, cách ngày nay khoảng 4000 năm vùng trung tâm của châu thổ đã được khai khẩn Đến thời
kì văn hóa Đông Sơn cách ngày nay hơn 2000 năm vùng châu thổ hạ lưu sông
Mã đã hình thành các làng cổ Dấu tích các làng này là các di tích văn hóa Đông Sơn đã được phát hiện ngày càng nhiều trên vùng đất thuộc huyện Đông Sơn
Thời nhà Lý vùng đất Đông Sơn là một khu vực khá phát triển dân cư đông đúc, nhưng ngôi chùa có quy mô lớn trên đất Đông Sơn với những hoạt động Phật giáo tấp nập đã được phản ánh phần nào đời sống của người dân trên vùng đất này Chưa có nguồn tài liệu nào cho biết các làng ở Đông Thanh được thành lập khi nào nhưng sự phát triển của làng ở Đông Thanh cho thấy trước thời Trần làng được lập ở đây
Thời Trần, vùng đất Đông Sơn được xác định địa danh trên bản đồ Dòng sử truyền văn ở Đông Thanh cho biết thời Trần việc học hành ở vùng đất Đông Thanh khá phát triển nhà sử học Lê Văn Hưu đã từng theo học
Trang 18nhiều năm ở đây Quý mến người học trò thông minh, thầy học họ Nguyễn đã
gả con gái cho cậu học trò Lê Văn Hưu Cho đến nay ở đây vẫn còn truyền tụng nhiều giai thoại về trí thông minh và quan hệ giữa ông thầy học họ Nguyễn với cậu học trò họ Lê
Thời Lê, các làng ở Đông Thanh khá phát triển, các dòng họ lớn đã được hình thành, nhiều dòng họ có những người đỗ đạt cao, nhiều người được triều đình trọng dụng, các công trình kiến trúc có quy mô lớn, các tác phẩm điêu khắc có giá trị nghệ thuật mang dấu ấn thời Lê còn lại khá nhiều tại các làng xã ở Đông Thanh đã cho biết, các làng ở Cổ Bôn nổi tiếng là làng văn vật của xứ Thanh
Đầu thế kỉ XIX, Đông Sơn có 6 tổng là: Thọ Hạc, Thạch Khê, Đại Bôi, Vận Quy, Quang Chiếu, Lê Nguyễn, Đông Thanh thuộc tổng Thạch Khê
Năm Minh Mạng thứ V (1824), một số làng ở xã Đông Đông Thanh có
sự thay đổi về tên gọi:
Xã Ngọc Đôi đổi thành xã Ngọc Tích
Xã Phúc Thọ đổi thành xã Phúc Triền
Xã Ngọc Bôi đổi thành xã Kim Bôi
Trước năm 1945, huyện Đông Sơn gồm 7 tổng: Tuyên Hòa, Kim Khê, Thạch Khê, Quảng Chiếu, Viễn Chiếu, Thọ Hạc, Bố Đức Xã Đông Thanh nằm trong tổng Kim Khê cùng với xã Đông Tiến và Đông Minh Sau năm
1945 có sự điều chỉnh Đông Tiến tách ra khỏi Đông Thanh
Từ cuối năm 1945, đến đầu năm 1946 huyện Đông Sơn chia thành 22
xã Từ năm 1946 - 1953, 22 xã được chia thành 13 xã bắt đầu bằng chữ
“Đông” Từ năm 1953 - 1954 từ 13 xã lớn được chia thành các xã nhỏ trong
đó Đông Tiến chia thành Đông Tiến và Đông Thanh
Những chứng cứ vật chất từ ngàn xưa được phát hiện trong lòng đất Đông Sơn là những chứng cứ vật chất hùng hồn làm sống lại những trang sử
Trang 19sôi động của dân tộc Đồng thời, khẳng định trên đất Đông Sơn cùng với thời
kì dựng nước đầu tiên của các Vua Hùng Người Việt cổ đã đến Đông Sơn và chọn đây là nơi cư trú để lập nên các làng Việt Cổ Cùng với lao động sản xuất và chiến đấu họ đã sáng tạo ra nền văn hóa của mình mà sức lan tỏa của
nó đã đánh dấu thời kì quan trọng trong lịch sử Việt Nam thời kì văn hóa Đông Sơn
Kết quả khai quật nghiên cứu khảo cổ học ở di tích này cho biết: Đây là dấu tích làng cổ đã được hình thành và phát triển trong nhiều thời kì khác nhau Sớm nhất là dấu tích làng cổ cách ngày nay khoảng 4000 năm, sau đó là dấu tích làng cổ thời kì văn hóa Đông Sơn cách ngày nay hơn 2000 năm Những chứng cứ văn hóa vật chất từ ngàn xưa còn lưu giữ đến ngày nay đã khẳng định sự có mặt của người xưa và sự tồn tại của các làng cổ trên đất này, phát hiện khảo cổ quan trọng này cho biết: Từ thời châu thổ sông Mã mới được kiến tạo, con người đã chiếm lĩnh, khai phá và cho đến thời kì các vua Hùng dựng nước Văn Lang, các làng cổ ở đây vẫn tiếp tục hình thành và phát triển Các làng cổ được hình thành từ thời dựng nước đầu tiên nay đã góp phần làm cho vùng châu thổ sông Mã sớm được trở thành một trong những cái nôi của văn hóa dân tộc
Trên đất Đông Thanh chưa phát hiện được dấu tích làng cổ thời kì dựng nước đầu tiên nhưng những phát hiện về khảo cổ học ở sát cạnh Đông Thanh
Trang 20đã khẳng định vùng đất này nằm trong địa bàn hoạt động của chủ nhân văn hóa Đông Sơn và là nơi các làng cổ được hình thành Những dấu tích văn hóa vật chất thời kì Bắc thuộc như: Các loại đồ gốm thời Hán, Đường, các loại mộ táng niên đại Hán, Đường được phát hiện tại các làng trên đất Đông Thanh đã cho thấy hoạt động của con người thời kì này.
Trên một dải đất cách làng mấy trăm mét, tại cánh đồng xã Đông Tiến các nhà khảo cổ đã phát hiện ra một số dấu vết của hai khu làng cổ tồn tại từ trước khi có nền văn hóa Đông Sơn và cả sau khi có văn hóa Hán bành trướng nơi đây Trong địa phận các làng thuộc đất Cổ Bôn xưa, vẫn còn tìm thấy khá nhiều dấu tích của văn hóa Đông Sơn và cả văn hóa Hán Lịch sử địa phương không ghi chép về làng cổ trong vùng, nhưng dòng lịch sử dân gian và lịch sử dòng họ còn ghi chép truyền đời qua các gia phả cho thấy: Trong các thời kì
từ Lý, Trần, Lê mà đặc biệt là thời Lý, Cổ Bôn là một trong những làng nổi tiếng của xứ Thanh và đây không chỉ là làng cổ nổi tiếng với trò diễn dân gian đặc sắc, với những di tích lịch sử được xếp hạng mà nơi đây còn nổi tiếng bởi làng khoa bảng với truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt cao nhất nhì
xứ Thanh
Không rõ những người bổ nhát cuốc đầu tiên dựng làng xưa kia ở Cổ Bôn đã gọi làng là gì, nhưng tên xưa nhất được ghi trong gia phả dòng họ Nguyễn ở làng Phúc Triền thì vùng đất Cổ Bôn ngày nay, xưa kia có tên là Bồ
Lồ Trang Bên cạnh Bồ Lồ Trang là Nhạn Tháp Trang Đơn vị “Trang” hiện còn lưu giữ trong các tên làng cổ ở một số nơi quanh vùng đất Cổ Bôn
“Trang” không phải là đơn vị của làng mà là nơi quy tụ một số dân do một người tù trưởng cai quản gọi là trang chủ Trang có thể tự trị như một làng nhỏ và trong Trang có đủ đình, chùa, miếu như một làng Trang ở nước ta chỉ
là một làng nhỏ thiết lập trên một ngôi đất khô ráo nhưng dân cư không đông
Trang 21và thường xuyên bị cưỡng bức Vì vậy phải sát nhập vào làng lớn và thành thôn của làng, Trang mở mang thành làng.
Đến thời Lê, Bồ Lồ Trang được đổi thành Cổ Bôn (hay kẻ Bôn) và được nhắc đến nhiều trong ca dao ở đây cùng với các địa danh mang tên Cổ,
Kẻ trong khu vực Tên gọi “Kẻ” phân bố từ Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ, tuy nhiên đậm đà hơn cả vẫn là Bắc Bộ và Thanh Hóa thậm chí ở Thanh Hóa tên gọi khá cổ xuất phát từ tên gọi nơi tụ cư, cộng cư của các gia đình tiểu nông
mà sau này nó đồng nghĩa với tên gọi làng, thôn Hiện tại có nhiều cách cắt nghĩa tên “Kẻ”, có người cho rằng tên kẻ bắt nguồn từ “quel” trong tiếng Mường mà sau này thành từ “Quê” trong tiếng Việt Các địa danh Kẻ Bôn, Cổ Bôn, Bồ Lồ còn được lưu truyền trong ca dao, dân gian nói về vùng đất này
Người dân Cổ Bôn xưa rất đổi tự hào về phong cảnh vùng Cổ Bôn: “Có đâu bằng phong cảng Cổ Bôn ta
Trải bốn mùa đàn độc xướng ca
Kể trong trấn Thanh Hoa là đệ nhất” [2; 22]
Cô gái Kẻ Bôn rất tự hào đã tần tảo đi bán trầu miếng, chuối xanh nuôi chồng học hành và đỗ đạt:
“Em là con gái Kẻ Bôn
Đi bán trầu miếng nuôi chồng đi thi
Ba năm chàng đỗ kinh kì Chàng đi ngựa tía, thiếp đi võng đào” [2; 22]
Đến thời Nguyễn, Cổ Bôn thuộc tổng Thạch Khê gồm có 4 làng (gọi là
Tứ xã Bôn) đó là: Phúc Thọ - Phúc Triền, Ngọc Bôi - Kim Bôi, Ngọc Đôi - Ngọc Tích, Quỳnh Bôi Đến nay, tứ xã Bôn thuộc xã Đông Thanh huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa Xã Đông Thanh đã chia Cổ Bôn thành 12 thôn đặt
từ thôn 1 tới thôn 12 Cho đến đầu thế kỉ XIX, kinh tế ở xã Đông Thanh và các làng quê thuộc Đông Sơn vẫn là kinh tế sản xuất nông nghiệp Sản xuất
Trang 22nông nghiệp truyền thống ở đây là nông nghiệp trồng lúa nước, phụ thuộc vào thiện nhiên Người nông dân một nắng hai sương vất vả với ruộng đồng nhưng vẫn phải “Trông trời, trông đất, trông mây” cho đến khi hạt thóc vào
bồ mới yên tấm lòng Quá trình sản xuất, chống thiên tai để tồn tại, phát triển, xây dựng xóm làng đã tạo cho người dân nơi đây đức tính kiên trì sáng tạo và truyền thống lao động cần cù
Làng Cổ Bôn, ngay từ khi thành lập gia đình là đơn vị cơ bản, huyết hệ được coi là thành tố quyết định sự tồn tại của làng Mặc dù hệ thống hành chính của làng Việt không thông qua họ tộc, nhưng họ tộc lại quy định năng lực vị trí cá nhân thành viên trong hệ thống làng xã Các đơn vị khai khẩn mảnh đất Cổ Bôn, khi tạo dựng làng, đã dựa vào một số dòng họ có công đức như họ Nguyễn, Lê, Thiều, Cao… Trong 30 dòng họ ấy, bên cạnh các dòng
họ gốc ở Cổ Bôn như họ Nguyễn, họ Cao, họ Lê… thì còn có các dòng họ từ nới khác đến như dòng họ Lưu từ Bắc Hà đến và sau này còn nhiều dòng họ khác đến cư trú như họ Trần, họ Bùi, họ Phạm, họ Hồ, họ Trương… Sự hội nhập một loạt các họ tộc đã làm cho cư dân Cổ Bôn thêm đông đúc và pha loãng dần yếu tố huyết hệ, làm cho quan hệ hành chính của làng thêm đậm nét hơn quan hệ huyết hệ Trong số các dòng họ cùng chung sống trên vùng đất
Cổ Bôn thì có khoảng 10 họ lớn như họ Nguyễn, họ Lê, họ Thiều, họ Cao, họ Lưu, họ Hạ, họ Đỗ…
Họ Nguyễn: Là một trong những dòng họ lớn nhất ở Cổ Bôn, đây là dòng họ“ danh gia thế phiệt” có những bậc văn chương nổi tiếng một thời, có truyền thống học hành và khoa bảng, có nhiều người đỗ đạt nổi tiếng như: Thầy học họ Nguyễn, Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Khải, Nguyễn Trừng, Nguyễn Trí Hòa Dòng họ Nguyễn ở Cổ Bôn có 2 chi lớn, một chi họ Nguyễn
ở thôn Phúc Triền và một chi họ Nguyễn ở thôn Ngọc Tích
Trang 23Họ La là dòng họ nổi tiếng ở vùng ven biển phía Bắc Thanh Hóa, đến
Cổ Bôn lập nghiệp từ rất sớm Dòng họ La nổi tiếng với những nhân vật: La Đức Hà, La Đức Trang, La Đức Minh đã có công lớn với triều đình trong việc chống giặc ngoại xâm
Họ Thiều: Từ làng Nhuận Thạch (Đông Tiến) đến, ông tổ là võ tướng Thiều Thốn - người nổi tiếng trong việc dùng binh và nuôi dưỡng quân sĩ được sử sách lưu danh Dòng họ này có nhiều“ chi” có đóng góp trong việc xây dựng ở làng Cổ Bôn Họ Thiều có nhiều người đỗ đạt cao, tiêu biểu là Thiều Sĩ Lâm Ông đỗ Thám hoa khoa Canh Tuất đời vua Lê Huyền Tông (1670), ông làm đến chức tham chính Hiện nay ở Cổ Bôn vẫn còn nhà thờ của dòng họ Thiều
Họ Cao: Họ Cao gốc ở Cổ Bôn, là một “Dòng họ lớn” trong xã, từ xưa
đã nổi tiếng khoa bảng
Dòng họ Lê Khả: Dòng họ Lê Khả có nguồn gốc ở Cổ Bôn, đây cũng là một dòng họ có nguồn gốc khoa bảng, nổi danh một thời với những tên tuổi như Lê Khả Trù, Lê Khả Trinh…
Họ Lưu: Có nguồn gốc từ Viên Khê (Đông Anh) đến lập nghiệp tại Cổ Bôn từ thế kỉ XIV Dòng họ này khi đến cư trú ở Cổ Bôn rất nghèo khó nhưng nhờ có ý chí và nghị lực và sự giúp đỡ của dân làng nên đã dần dựng được cơ nghiệp Từ nghèo khó, về sau nhiều gia đình đã ăn nên làm ra Cho đến cuối thế kỉ XV dòng họ Lưu đã có người đỗ đạt cao Trong đời sống của các cư dân Cổ Bôn xưa cho đến nay họ rất coi trọng văn hóa làng Vì vậy, gia đình nào cũng trân trọng đình làng, ao làng, ruộng làng, lệ làng Làng với người dân là một vinh dự, miếng thịt làng bằng sàng thịt chợ cho nên gia đình nào cũng muốn làm đẹp cho làng bằng cách tự bản thân các nhà, các họ luôn luôn ý thức bằng công việc đầu tiên là tạo cho vườn mình nhà mình cảnh quan
Trang 24kỳ thú từ đó tô điểm cho vẻ đẹp của làng quê mình tạo thêm nét mới cho diện mạo đất nước
Ngoài những dòng họ lớn, có tiếng tăm, làng Cổ Bôn còn có khoảng hơn 20 dòng họ khác di cư từ nhiều nơi khác đến đây lập nghiệp vào những
thời điểm khác nhau “ Đất lành chim đậu” các dòng họ này đã có nhiều đóng
góp cùng những dòng họ khác chung tay xây dựng làm cho đất Cổ Bôn trở thành một trong những làng quê văn hiến nổi tiếng của châu thổ sông Mã
Quá trình hình thành Làng Cổ Bôn gắn liền với quá trình hình thành các dòng họ lớn Người dân Cổ Bôn từ xưa đến nay rất đổi tự hào về làng quê của mình - một làng quê có bề dày truyền thống văn hóa độc đáo được xếp vào hàng nhất nhì của xứ Thanh
1.2.3 Vài nét về truyền thống lịch sử, văn hóa làng Cổ Bôn.
1.2.3.1 Về truyền thống lịch sử.
Với truyền thống lao động cần cù, chịu khó trải qua quá trình lâu dài người dân nơi đây đã xây dựng vùng đất tứ xã Bôn thành một vùng quê có bề dày về truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm Trong dòng chảy của lịch
sử dân tộc người dân Đông Thanh đã có những đóng góp vào chiến công chung của đất nước Gia phả dòng họ Nguyễn ở Đông Thanh cho biết cụ tổ Nguyễn Hồ có công mở nước được vua Lê trọng dụng
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh do Lê Lợi lãnh đạo Lê Như Tốn có công lớn, đã được phong là công thần Đến cuối thế
kỉ XIX, hưởng ứng chiếu Cần Vương (1885) đông đảo các tầng lớp nhân dân huyện Đông Sơn, dưới sự chỉ huy của Lê Khắc Thảo, Nguyễn Hữu Hanh, La Văn Hạnh, La Huy Thành thành lập đội quân tại Bôn Tiếp ứng với các đội nghĩa binh của các tổng hăng hái xây dựng căn cứ kháng chiến ở Thanh Hóa, phong trào Cần Vương đã ghi nhận sự đóng góp của nhân dân Đông Sơn, trong đó có vai trò lớn của nhân dân xã Đông Thanh
Trang 25Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Đông Thanh hăng hái xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, tham gia diệt ba loại giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm tạo ra tiền đề quan trọng để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân trong xã đã huy động hàng trăm thanh niên vào bộ đội, du kích, xuất sắc, cán bộ, nhân dân trong xã đã được thưởng nhiều huân, huy chương và bằng khen, giấy khen các loại.
Phát huy thành quả trong kháng chiến chống Pháp, Đảng bộ xã Đông Thanh đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược vừa sản xuất vừa chiến đấu, góp phần giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta Trong hai cuộc kháng chiến, xã Đông Thanh có 46 người con của quê hương hy sinh vì Tổ quốc, 21 người đã để lại một phần xương máu trên chiến trường Ngày nay, nhân dân Đông Thanh đang cùng với cả nước tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới
1.2.3.2 Về truyền thống văn hóa.
Đất Cổ Bôn từ xưa đã là vùng văn hiến của xứ Thanh, truyền thống văn hiến của tứ xã Bôn, được thể hiện ở nhiều mặt trước hết là ở truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa ở Đông Thanh được biểu hiện trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần trong các làng ở tứ xã Bôn Tài liệu lịch sử cho biết
Cổ Bôn là một làng cổ có lịch sử phát triển lâu đời, những dấu ấn văn hóa vật chất còn lại cho thấy từ thuở châu thổ sông Mã vừa mới kiến tạo, con người
đã chinh phục, khai phá vùng đất này cho đến thời kì vua Hùng dựng nước, nơi đây đã hình thành các làng cổ sự biến đổi tên làng từ: Bồ Lồ Trang thời Trần, tứ xã Bôn thời Lê, rồi Kẻ Bôn - Cổ Bôn đã phản ánh sự phát triển của làng qua các thời kì lịch sử và dấu ấn của truyền thống văn hóa được thể hiện
Trang 26đa dạng mang đặc trưng riêng của làng quê văn hiến Nét nổi trội ở đây là trong các di tích lịch sử - văn hóa.
Là một làng quê có lịch sử lâu đời, Cổ Bôn là nơi có nhiều di tích lịch
sử - văn hóa nổi tiếng được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh (cho đến nay đã
có tới 8 di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng), trong đó có 1 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 7 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Các di tích lịch sử này
đã tạo nên chiều sâu văn hóa cho một vùng đất truyền thống lịch sử
Hiện nay, trên địa bàn xã có các di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật: Làng Kim Bôi có nghè Miếu Hạ thờ Đặng quận công Nguyễn Khải, bia Lê Như Tốn, đền Lưu Ngạn Quang, làng Kim Bôi có núi Quỳnh, dưới chân núi
có nghè thờ thần Cáo Bạch Cụm di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật Đền Bạch Vân Sơn thành và phủ Mẫu Làng Phúc Triền có đền thờ Nguyễn Nghi, từ đường họ Thiều thờ Thiều Sĩ Lâm, bia cầu Ngọc Khê làng Ngọc Tích có đền thờ Đế Thích, đền thờ Nguyễn Trừng Bên cạnh đó có các danh nhân tiêu biểu như: Nguyễn Nghi - danh nhân văn hóa; 2 tiến sĩ họ Lê Khả, 2 tiến sĩ họ La, tiến sĩ Lưu Ngạn Quang, tiến sĩ Cao Cử, Đặng Quận Công Nguyễn Khải, Thọ Như Hầu Nguyễn Chí Hòa, Tướng Công Nguyễn Trừng…
Là một làng quê sơn thủy hữu tình, sông Phồn chảy qua từ xã Bôn được
tô điểm bằng những cây cầu gỗ làm cho phong cảnh thêm hữu tình Trên địa bàn tứ xã Bôn có tới 12 cây cầu được tao dựng như: Cầu Ngân Đái, cầu Long Nhĩ, cầu Ngọc Khê, cầu Phúc Lai 5 nhịp, cầu Hữu Nhung 3 nhịp, cầu Mỹ Ngọc 3 nhịp Những cây cầu này phần lớn đền do Đặng quận công Nguyễn Khải tạo dựng, cầu được dựng công phu, đẹp đã trở thành những công trình
có giá trị văn hóa Đặc biệt là cầu Ngọc Khê là cây cầu đẹp đã đi vào truyện
kể dân gian
Trang 27Khu di tích đền thờ Nguyễn Văn Nghi và cầu Ngọc Khê đã trở thành công trình văn hóa tiêu biểu cho khu vực góp phần làm rạng rỡ thêm truyền thống văn hóa của tứ xã Bôn Các di tích lịch sử và văn hóa đều do nhân dân đóng góp xây dựng chứ không phải là đầu tư của nhà nước Đền thờ Nguyễn Văn Nghi là khu di tích lịch sử của một dòng họ nổi tiếng ở Cổ Bôn, là công trình kiến trúc đặc sắc ở Đông Sơn và cũng là một trong những công trình kiến trúc mang dấu ấn văn hóa thời Lê tiêu biểu ở Thanh Hóa Khu di tích này được xây dựng năm 1617 dưới thời vua Lê Kính Tông, đến năm 1628 con trai Nguyễn Văn Nghi là Nguyễn Khải mở rộng quy mô và để lại khu di tích được hoàn chỉnh dưới thời vua Lê Nhân Tông Công trình được xây dựng nhằm tôn vinh nghiệp của nho thần danh tiếng Nguyễn Văn Nghi - người được tôn làm thành hoàng của làng.
Công trình là một tổ hợp kiến trúc gồm đền thờ thành lũy và các tác phẩm điêu khắc bằng đá Đền thờ đến nay chỉ còn lại phần hậu cung nhưng căn cứ vào vật liệu xây dựng như: gạch vỡ, chân tảng cánh sen, vật liệu trang trí… có thể thấy rằng đây là công trình có quy mô hoành tráng Bao quanh khu đền thờ, là một bức tường thành hình chữ nhật được xây dựng công phu, đặc biệt là các tác phẩm điêu khắc bằng đá được tạo dựng ở khu di tích này Tại khu vực trước đền thờ được dựng nhiều khối tượng bằng đá, tượng vệ sỹ, tượng voi, ngựa rồng, chó đá, bia và nhà bia bằng đá Các công trình được nghệ nhân đục đá núi Nhồi (Đông Sơn) tạo dựng đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu cho nghệ thuật khắc đá thời Lê ở Thanh Hóa Khu di tích này được xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh Ở làng Cổ Bôn còn nhiều di tích lịch sử - văn hóa như: Đền thờ Lê Nhữ Tốn, đền thờ Thiều Sỹ Lâm, đền thờ Bạch Vân Đại Vương, bia đá, nhà cổ… đang lập hồ sơ để công nhận là di tích lịch sử - văn hóa các cấp Những công trình văn hóa, tín ngưỡng công cộng của làng mang nét riêng của một làng quê vùng châu thổ sông Mã, phản ánh
Trang 28truyền thống văn hóa của các làng trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, góp phần làm phong phú thêm truyền thống văn vật của đất Cổ Bôn
Một nét độc đáo tạo dấu ấn riêng của làng Cổ Bôn là hệ thống trò diễn dân gian đặc sắc mà người Thanh vẫn gọi là: Trò Bôn Kết quả điều tra, nghiên cứu văn hóa dân gian ở đây cho biết làng Cổ Bôn là trung tâm diễn xướng dân gian ở châu thổ sông Mã, trong đó nổi bật nhất là hệ thống ngũ trò Đây là các trò diễn dân gian truyền thống được nhân dân yêu thích, được các nghệ nhân làng trình diễn trong các kì lễ hội của làng và tham dự - trình diễn cùng với các làng khác ở Nghè Sâm (Đông Anh) trong các kì thi diễn trò theo định kỳ của các làng xưa ở ba tổng Ngũ trò có 5 trò diễn dân gian: Trò Tiên Cuội, trò Hà Lan, trò Ngô, trò Thủy và trò Lăng Ba Khúc
Các trò diễn dân gian ở đây được các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian xếp hạng là các làng nghệ thuật dân gian truyền thống Đối với người dân Cổ Bôn, việc tổ chức diễn trò là một việc quan trọng của làng Trong dịp hội làng, tứ xã Bôn muốn diễn trò thì quan viên phải trình với nha môn, nha môn phải trình với văn trưởng, văn trưởng phải trình bày với hương lão Hội đồng hương lão bàn bạc và quyết định có tiến hành diễn trò hay không? Nếu hội đồng hương lão quyết định cho diễn trò thì đưa ra chữ “Trung”, nếu đưa ra chữ “Thượng” là mở hội đánh cờ, và nếu đưa ra chữ “Hạ” thì tế kỳ phúc bình thường Để lưu truyền cho các thế hệ sau, làng đã cho khắc in văn bản các trò diễn, văn bản trò diễn được khắc in vào năm 1883 Việc in văn bản diễn trò đã cho thấy trò diễn có vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa truyền thống của làng
Làng dành riêng một khu đất để diễn trò, nhiều người trong làng xã được nổi tiếng bởi vai diễn của mình Tứ xã Bôn trở thành một trong những trung tâm diễn xướng dân gian xứ Thanh Có trò diễn dân gian được nhân dân rất yêu thích, nên được toàn dân tham gia từ việc đồng cúng đến việc luyện
Trang 29tập, diễn trò Nhiều người đóng trò trở thành nghệ nhân tên gọi gắn liền với con trò, nhiều đoạn ca, lời hát của trò trở thành đồng giao phổ biến trong vùng Làng Cổ Bôn trở thành làng trò và là một trung tâm diễn xướng dân gian ở đồng bằng sông Mã, các dịp diễn trò được nhân dân rất yêu thích Tuy
có bị mai một nhưng phần lớn trò diễn ở Cổ Bôn xưa vẫn còn được lưu truyền Nét văn hóa dân gian đặc sắc trong sinh hoạt văn hóa truyền thống ở
Cổ Bôn xưa đang được khai thác, bảo tồn và phát huy trong việc xây dựng làng văn hóa ngày nay Trước đây, cứ đến ngày 20 tháng 1, các làng tổ chức
lễ hội, ngày 10 tháng 2 làm lễ cầu phúc và ngày 12 tháng 3 (Âm lịch) bà con
cả tứ xã Bôn rước bóng về Bồ Lồ Trang, những ngày lễ hội này các làng tổ chức các trò truyền thống: vui chơi, tế lễ, cầu phúc được mùa…Cùng với các trò diễn dân gian đặc sắc tứ xã Bôn còn là nơi có kho tàng ca dao, dân ca phong phú Kho tàng văn hóa dân gian truyền thống ở đây đã tô đậm truyền thống văn hóa của một vùng quê văn hiến và góp phần làm cho huyện Đông Sơn sớm trở thành một trong những vùng văn hóa đặc sắc của xứ Thanh Ngoài ra, một nét truyền thống văn hóa của làng Cổ Bôn xưa đến nay vẫn có nhiều phong tục khác như : Tục giỗ chung, tục thờ thành Hoàng, lễ cầu mưa hay vẫn gọi là “Đảo Vũ” tục cúng cơm mới, lễ Hạ Điền, Thượng Điền, tục thờ cúng tổ tiên, tục khảo thí, tục khảo rể Hiện nay, những phong tục ấy có bị mai một đi nhưng dấu ấn của một làng quê văn hiến vẫn trở thành niềm tự hào cho người dân Cổ Bôn
* *
*Như vậy, Cổ Bôn là một làng cổ có lịch sử phát triển lâu đời, những dấu ấn văn hóa vật chất còn lại cho thấy từ thuở châu thổ sông Mã vừa mới kiến tạo, con người đã chinh phục, khai phá vùng đất này cho đến thời kì vua
Trang 30Hùng dựng nước, nơi đây đã hình thành các làng cổ Sự biến đổi tên làng từ
Bồ Lồ Trang thời Trần, tứ xã Bôn thời Lê, rồi Kẻ Bôn - Cổ Bôn đã phản ánh
sự phát triển của làng qua các thời kì lịch sử, và dấu ấn của truyền thống văn hóa, truyền thống khoa cử được thể hiện đa dạng mang đặc trưng riêng của làng quê văn hiến
Do nằm ở khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi cộng với con người nơi đây hiền hòa, nhân hậu, thông minh, hiếu học, Cổ Bôn có đầy đủ yếu tố
để phát triển kinh tế đa nghành và các mối quan hệ xã hội gần gũi gắn bó giữa anh em trong dòng họ và các dòng họ với nhau Người dân Cổ Bôn trong lịch
sử từ rất sớm có bề dày truyền thống lịch sử kiến tạo làng cùng nhân dân cả nước đấu tranh chống ngoại xâm ghi tên những chiến công, những con người giàu lòng yêu nước sẵn sàng hi sinh cho sự bình yên của Tổ quốc và truyền thống văn hóa độc đáo của một làng quê nông thôn Việt Nam Trong các truyền thống đó, làng Cổ Bôn còn nổi tiếng với truyền thống khoa bảng có nhiều người đỗ đạt cao nhiều nhà nho đức nghiệp lưu danh cùng sử sách góp phần làm cho vùng đất này sớm trở thành vùng đất học “Làng văn hiến” của
xứ Thanh
Chính truyền thống lao động cần cù, yêu nước chống ngoại xâm, truyền thống văn hóa là cơ sở để nhân dân xã Đông Thanh hôm nay dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục vượt qua khó khăn thử thách vươn lên giành nhiều thắng lợi mới
Trang 31Chương 2 NHỮNG THÀNH TỰU VỀ KHOA CỬ CỦA LÀNG CỔ BÔN
2.1 Truyền thống hiếu học của người dân làng Cổ Bôn.
Khuyến học cầu hiền bao giờ cũng là quốc sách đối với sự nghiệp dựng
nước, giữ nước và hưng thịnh quốc gia Từ xưa nhân dân ta đã có câu “Cho
ruộng cho tiền không bằng cho nghiên cho bút” Tỉnh Thanh Hóa vừa rạng rỡ
đất văn vừa oai phong đất võ Sử sách còn ghi lại vùng nào trong tỉnh cũng xuất hiện những danh sĩ hào kiệt nổi tiếng Thanh Hóa là một tỉnh có dân số thuộc loại đông nhất nước ta Thanh Hóa là một tỉnh đa tộc người và là vùng đất lịch sử lâu đời Có lẽ hiếm có vùng đất nào như Thanh Hóa lại có đầy đủ những mốc nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn lớn của lịch sử từ tối cổ đến tận ngày nay Do vậy, thiên nhiên và văn hóa xứ Thanh đều thấm đượm sắc màu
lịch sử Thanh Hóa là vùng đất vừa mang tính huyền thoại vừa mang tính lịch
sử, huyền thoại vì vùng đất này cũng là cái nôi hình thành các dân tộc, hình thành quốc gia, hình thành văn hóa, do vậy không thiếu gì những hiện tượng mang tính huyền thoại Lịch sử vì trên mảnh đất này chứng kiến bao sự kiện lịch sử hào hùng, nơi sinh thành nhiều vị vua sáng nghiệp, nhiều anh hùng lừng danh và vô danh Điều này đã để lại những dấu ấn sâu sắc không chỉ trên trang sử được ghi chép qua các triều đại mà còn trong các lễ nghi, phong tục, hội hè Đó là lịch sử được ghi khắc trong tâm thức của nhân dân trở thành một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được thiêng liêng hóa, tín ngưỡng hóa
Thanh Hóa - xứ Thanh không phải là tứ trấn nội kinh (xứ Bắc, xứ Đông, xứ Đoài, xứ Nam vây quanh Thăng Long xưa tương ứng với các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ tiếp giáp với Hà Nội ngày nay) mà là ngoại trấn, là trại, là đất phên dậu là vùng ngoại vi của trung tâm văn hóa chính trị Thăng Long hay Huế - Phú Xuân Vị trí địa chính trị, địa văn hóa này đã tạo cho xứ Thanh
Trang 32- Thanh Hóa những sắc thái văn hóa mang tính đặc thù Thanh Hóa từ lâu được mệnh danh là đất của các bậc đế vương sáng nghiệp, ít nhất cũng đã từng có 3 dòng họ đế vương như vậy phát tích từ xứ Thanh: Vương triều Hồ, Vương triều Lê, Vương triều Nguyễn Xứ Thanh còn là vùng đất của những
“Quân vương” và của nhiều sự kiện, nhân vật lịch sử khác nữa như Lê Phụng Hiểu một võ tướng có công với dân tộc, là người duy nhất được hưởng lộc
“Thác đao điền”, như Nguyễn Hữu Cảnh là người Hà Trung có công chinh phục đất Chiêm Thành, Chân Lạp Vùng đất xứ Thanh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt” thấm đẫm sắc màu của lịch sử của lịch sử, văn hóa, con người xứ Thanh từ lâu được nuôi dưỡng trong dòng chảy lịch sử văn hóa đã tạo nên tố chất con người cần cù, chịu khó, thông minh hiếu học sẵn sàng vượt qua khó khăn gian khổ
Thế kỉ thứ VIII Khương Công Phụ người thôn Cẩm Cầu, xã Sơn Bôi, huyện Yên Định nay là thôn Tường Vân, xã Định Thành, huyện Thiệu Yên là nhân sĩ đầu tiên của cả nước thi đỗ Đại Khoa (Tiến sĩ) bên Trung Quốc đời Đường Đức Tông (780 - 804) được phong Lưỡng quốc trạng nguyên Ở trong nước, dưới chế độ phong kiến hầu như khoa thi nào Thanh Hóa cũng có người
đỗ đại khoa, khoa Kỷ Sửu (1589) triều đình nhà Mạc (Mạc Mục Tông) - (1562-1592) chọn bốn tiến sĩ đều là người Thanh Hóa Toàn tỉnh có trên 200
vị thi đỗ đại khoa và nhiều danh sĩ khác Ngày nay dưới chế độ mới, số giáo
sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ quê ở Thanh Hóa cũng rất nhiều, các vị đó đang đem tài năng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân
Là địa đầu của miền Trung, như những danh nhân thuộc: xứ Nghệ, Thành Nam, Tràng An, Kinh Bắc…vốn chiều dài và bề dày lịch sử, trong hoàn cảnh địa lí chung của cả nước, với văn hóa Núi Đọ, Đa Bút, Hoa Lộc, Đông Sơn Với truyền thống yêu nước, đấu tranh kiên cường, bất khuất, lao động cần cù, thông minh sáng tạo Thanh Hóa là nơi phát tích của nhiều triều đại phong
Trang 33kiến đồng thời là nơi nảy sinh những tài năng, những “Danh nhân, danh sĩ”
mà tên tuổi, sự nghiệp của họ lưu danh cùng sử sách
Hồ Chủ tịch trong bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ, trí thức tỉnh
Thanh Hóa ngày 20 – 2 - 1947 đã đánh giá: “Tỉnh Thanh có tiếng là văn vật”,
điều đó nói lên trình độ văn hóa và dân trí của nhân dân Thanh Hóa Hiếu học, thương con, quý thầy luôn luôn là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta Thanh Hóa cũng vậy, từ xưa là vùng đất học tuy đời sống còn nhiều khó khăn, nhưng cha ông ta đã biết chăm lo mở mang dân trí cho con cháu Những yếu tố hòa đồng và yếu tố đặc thù đã làm nên vùng đất Thanh Hóa trở thành một trong những cái nôi nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài cho đất nước Những nhân tài xứ Thanh đã từng lập hoặc trợ giúp cho các bậc đế vương, đã từng góp phần lớn lao cho công cuộc dân yên, nước thịnh như Khương Công Phụ,
Lê Văn Hưu, Nguyễn Mộng Tuân, Lê Trạc Tú, Lưu Đình Chất, Nguyễn Quán Nho, Đào Duy Từ… Dù cảnh đời có khác nhau, nhưng họ đều có một chí hướng chung là muốn bồi đắp cho cương thường giữ gìn chính giáo hoặc lấy
sự nghiệp mà phò vua giúp nước, lấy phẩm hạnh mà làm mẫu mực cho người đời, lấy giáo hóa mà tác thành hậu tiến…nên đều được xã hội đương thời tôn trọng
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 được sự chăm lo của Đảng và Chính phủ về sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo, sự học của Thanh Hóa có những bước phát triển mới Đến nay số giáo sư, tiến sĩ, phó giáo sư, phó tiến sĩ là con em Thanh Hóa được phong tặng và đào tạo trong thời đại mới có trên 300 người, đó là con số đáng kể, học sinh giỏi đạt giải cao ngày càng nhiều Từ năm học 1980 - 1981 đến 1993 - 1994, Thanh Hóa đã có trên 400 học sinh đoạt giải qua các kì thi học sinh giỏi toàn quốc, có 8 học sinh đoạt giải quốc tế
về môn Toán, Vật lí, Cờ vua Thành tích đó nói lên Thanh Hóa là vùng đất học, sự học hành đỗ đạt của các em học sinh là nhờ công lao dạy bảo của thầy
Trang 34cô giáo Sự quan tâm của Đảng bộ, của nhân dân các dân tộc trong tỉnh cho phép chúng ta tin tưởng sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo tỉnh ta trong những năm tới sẽ có những bước phát triển mới về chất lượng dạy và học.
Mỗi người Thanh Hóa, đặc biết đối với thế hệ trẻ, càng thấy tự hào về truyền thống tốt đẹp xưa, không ngừng ra sức học tập để vươn tới đỉnh cao của khoa học, góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp, tổ quốc phồn vinh để xứng danh với truyền thống của cha ông
Đông Sơn xưa là vùng đất học của xứ Thanh, người dân nơi đây có
câu: “Thi Hoằng Hóa, khóa Đông Sơn Đông Sơn Tứ Bôn, Hoằng Hóa Lưỡng
Bột” Các làng ở tứ xã Bôn với truyền thống học hành đỗ đạt đã góp phần tạo
nên “Đất học” Đông Sơn Đất Cổ Bôn đến nay vẫn lưu truyền nhiều câu chuyện về tấm gương chịu khó, kiên trì học tập, tài trí thông minh trong việc dạy dỗ, học hành của người xưa
Trên đất Cổ Bôn xưa có rất nhiều thầy học giỏi, từ thời Trần đã nổi tiếng với người thầy học họ Nguyễn Gia phả dòng họ của nhà sử học nổi tiếng Lê Văn Hưu cho biết : Thuở nhỏ ông nhiều năm dùi mài kinh sử tại nhà thầy họ Nguyễn ở Cổ Bôn nhờ sự kèm cặp, dạy dỗ của người thầy đức độ có học vấn uyên thâm của thầy họ Nguyễn ở làng Cổ Bôn mà Lê Văn Hưu đã đỗ Tiến sĩ ở tuổi 18 trở thành nhà Sử học tài danh của đất nước dưới triều vua Trần Thái Tông (1247) Những câu chuyện về người học trò Lê Văn Hưu sau này là Hàn lâm viện học sĩ, Binh bộ Thượng thư tước nhân uyên hầu, nhà sử học tác giả của tập đại thành “Đại Việt sử ký” đã khẳng định rằng đất Cổ Bôn không chỉ là nơi sản sinh ra những nhân tài cho đất nước mà chính nơi này từ rất sớm đã là nơi đào tạo ra những tài năng với những người thầy đức nghiệp giàu lòng nhân ái Dù rằng đến nay tên tuổi của người thầy họ Nguyễn vẫn chưa được xác định rõ ràng nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng đất Cổ Bôn là “Đất học” đất văn, đất của những nhà khoa bảng nổi danh đóng góp
Trang 35cho lịch sử dân tộc và đất của những người thầy mẫu mực Đất địa linh - nhân kiệt xứng đáng với tên tuổi đã được khẳng định qua từng thời kì, từng tên đất tên làng và tên của những nhân tài góp phần khẳng định tên tuổi của Cổ Bôn xưa và nay.
Đất Cổ Bôn xưa còn gắn với giai thoại về người học trò họ Lưu: Lưu Ngạn Quang sinh ra trong một gia đình nghèo khó nhưng ông luôn vươn lên cùng với sự chăm chỉ cần cù cộng với trí thông minh sẵn có, ông đã quyết tâm vượt ra khỏi cảnh túng quẩn, nghèo khó bằng con đường học hành Chính sự kiên trì học tập và tình yêu thương bao bọc của mẹ hiền, vợ thảo, Lưu Ngạn Quang đã đỗ Hương cống vào năm 33 tuổi Từ đó Lưu Ngạn Quang tiếp tục lên kinh để dùi mài kinh sử và cuối cùng ông đã đỗ Hoàng Giáp (Tức đệ nhị giáp tiến sĩ) vào khoa thi Tân Sửu (1481) Dòng họ Lưu ở đây không đông nhưng đã góp phần làm cho vùng đất Cổ Bôn trở thành vùng đất học ở trấn Thanh Hoa, đồng thời cho thấy người Cổ Bôn xưa kiên trì và có nghị lực, vượt khó khăn để học tập, thành đạt Truyền thống khoa cử, đỗ đạt là truyền thống tốt đẹp trở thành tài sản văn hóa, tài sản trí tuệ của quê hương Các dòng họ ở Cổ Bôn với những nhân vật, tên tuổi tài danh đã góp phần làm nên tên tuổi của vùng đất nổi tiếng văn vật của xứ Thanh
Thời Lê, sử sách nhắc đến đất Cổ Bôn với nhiều nhà nho danh tiếng trong đó tiêu biểu là nho thần Nguyễn Văn Nghi Họ Nguyễn là họ lớn nhất ở
Cổ Bôn có truyền thống khoa bảng từ xưa đến nay, vì thế họ Nguyễn được xếp vào hạng dòng dõi “Danh gia thế phiệt” với những tên tuổi nổi tiếng Nguyễn Văn Nghi đỗ Giáp nhất chế khoa Thuận Bình (1554) đời vua Lê Trung Tông Ông là người giỏi văn chương, đã viết những câu chuyên được vua khen là “Thần cú” và đã từng là thầy học của hai vua Lê Ông là người có công lớn đối với triều Hậu Lê, được ba vua tri ngộ Nhà sử học Phan Huy Chú trong ‘Lịch triều hiến chương loại chí’ đã xếp Nguyễn Văn Nghi vào danh
Trang 36sách các nhà Nho đức nghiệp cùng với các nhà nho danh tiếng khác: Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Vũ Quỳnh, Nguyễn Bỉnh Khiêm…ông được vua
Lê phong là Phúc Thần
Con Nguyễn Văn Nghi là Nguyễn Khải là người mưu lược, có công lớn đối với đất nước nên được phong đến Binh bộ Thương Thư và là bậc nhất Quốc lão tham gia triều chính (Đại Việt sử kí toàn thư) Đến đời cháu của Nguyễn Văn Nghi là Nguyễn Văn Lễ là nhà khoa bảng đỗ đạt cao, ông đỗ Hoàng giáp khoa Nhâm Dần (1602) đời vua Lê Kính Tông, ông làm tới chức Hàn Lâm viên hiệu Lý Tước Nam Cùng với dòng họ Nguyễn, dòng họ La mặc dù không phải là dòng họ có nguồn gốc ở Cổ Bôn nhưng dòng họ này góp phần quan trọng vào quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng vùng đất Cổ Bôn được như ngày nay
Truyền thống hiếu học của người dân làng Cổ Bôn không chỉ xuất phát
từ vùng đất có truyền thống khoa bảng từ xa xưa mà còn trong mỗi con người
Cổ Bôn đều mang trong mình dòng máu và ý chí để thế hệ trước làm gương cho thế hệ sau soi mình và tiếp bước Các dòng họ ở Cổ Bôn đến vùng đất này lập nghiệp đồng thời cũng là quá trình họ làm nên tên tuổi của vùng đất này lưu danh cùng sử sách nhờ những con người tài danh xuất chúng Các dòng họ Cổ Bôn thay nhau ghi tên mình vào bảng vàng khoa bảng của dân tộc Cùng với họ Nguyễn, họ La, họ Thiều cũng là một dòng họ lớn, có tiếng
ở Cổ Bôn và cũng là một trong những dòng họ có công lớn trong việc xậy dựng làng Cổ Bôn thành vùng đất học nghìn năm văn vật của xứ Thanh được nhân dân trong vùng quý trọng
Gia phả dòng học Thiều ở Cổ Bôn gắn liền với tên tuổi của Thiều Sĩ Lâm Ông đậu Thám hoa khoa Canh Tuất (1670) đời vua Lê Huyền Tông và
Trang 37ông làm đến chức Tham Chính, là người có công với nước, là vị quan có tiếng trong triều.
Họ Cao là một dòng tộc gốc ở Cổ Bôn xưa, theo văn bia tại đền thờ họ
ghi: “Dòng họ ta vốn là một dòng họ lớn trong xã từ xưa đã có người nổi danh
khoa bảng” [12; 37] Đó là Cao tiên sinh (tức Cao Cử) ngoài Cao tiên sinh
còn có hai người nữa cùng đỗ đạt làm quan đó là ông sinh đồ Cao Công Tráng
và ông Cao Công Nhiềm
Họ Lê Khả cũng là một trong những dòng họ có truyền thống khoa bảng nổi tiếng của vùng đất Cổ Bôn Từ xưa dòng họ này đã nổi danh có nhiều người tài giỏi đức độ, đặc biệt đến đời Lê Khả Trù, rồi Lê Khả Trinh thì danh tiếng của dòng họ đã phát triển đến đỉnh cao Nối tiếp các thế hệ cha ông, con cháu làng Cổ Bôn đang ra sức phấn đấu để làm rạng danh quê hương
Vùng đất xứ Thanh từ xa xưa đã nổi tiếng là văn vật, là nơi phát tích của nhiều triều đại phong kiến đồng thời cũng là nơi nảy sinh những tài năng, những danh nhân, danh sĩ mà tên tuổi, sự nghiệp của họ được sử sách lưu danh, nhân dân ngưỡng mộ Làng Cổ Bôn nằm trong cái nôi phát sinh ra những danh nhân, danh sĩ Vì vậy xa xưa làng Cổ Bôn bên cạnh nền kinh tế
đa dạng phong phú, làng quê nổi tiếng với những trò diễn dân gian đặc sắc mang dấu ấn của làng quê thuộc đồng bằng sông Mã… Làng Cổ Bôn còn nổi tiếng với truyền thống hiếu học, truyền thống học giỏi, thi đỗ cao đã góp phần làm cho đất Cổ Bôn trở thành “Đất học” “Làng văn hiến” của xứ Thanh
Sự nghiệp xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh và tiến bộ là công sức của toàn dân mà xưa kia hay nói là của trăm họ trong đó từ người lãnh đạo đến người dân, tuy ở những dòng họ khác nhau song họ nào cũng có người tài giỏi những nhân vật lịch sử hoặc danh nhân văn hóa đóng góp to lớn cho Tổ quốc cho nhân dân và dân tộc Những truyền thống tốt đẹp của nhân
Trang 38dân ta như yêu nước, bất khuất, nhân nghĩa hiếu học trọng đạo lý, đoàn kết trong lao động cũng như trong chiến đấu chống ngoại xâm Những đóng góp
đó đã trở thành tài sản văn hóa, tài sản trí tuệ của quê hương
2.2 Những tên tuổi gắn liền với niềm tự hào khoa bảng của người dân làng Cổ Bôn.
Khoa bảng là bảng danh dự, liệt kê tên họ các thí sinh đỗ đạt học vị trong các kì thi cử nho học, từ đó phần lớn được tuyển chọn làm quan chức trong triều đại phong kiến Khoa bảng là tính từ chỉ người đỗ đạt này
Các kì thi Nho học Việt Nam bắt đầu từ năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông và chấm dứt vào năm 1919 đời vua Khải Định, trong 845 năm đó đã có nhiều khoa thi khác nhau Mỗi triều đại có một đặc điểm chung là các khoa thi đều do triều đình đứng ra tổ chức, chỉ đạo thi, kì thi cử tuyển người làm quan này gọi là Khoa cử Ngày nay khái niệm khoa cử đổi thành “Thi cử nho học’’
Các dòng họ ở Cổ Bôn qua các thời kì từ khoa thi đầu tiên đến năm
1919 (khoa thi Hán học cuối cùng), có tới 8 người đỗ đại khoa, chỉ trong 25 năm đầu thế kỉ XVII riêng ở Cổ Bôn đã có 5 vị đỗ Tiến sĩ, Hoàng giáp, Thám hoa Xin nêu ra đây một số người đỗ đạt cao đã được lưu danh “ Bảng vàng, bia đá”
* Lưu Ngạn Quang (1457-?)
Theo tài liệu điền dã và sách“ Khảo sát truyền thống văn hóa Đông
Sơn” thì dòng họ lưu có nguồn gốc từ xã Viên Khê nay thuộc thôn Viên Khê
xã Đông Anh, Đông Sơn Họ Lưu chuyển đến vùng đất Cổ Bôn từ thời cha Lưu Ngạn Quang tức khoảng thế kỉ XIV cha ông là người mồ côi cha mẹ nhưng chịu thương chịu khó, đến làng Cổ Bôn với hai bàn tay trắng Ông đã sinh cơ lập nghiệp ở đây rồi sinh ra Lưu Ngạn Quang Cha mẹ vất vả nuôi
Trang 39con, nhưng điều không hay đến với gia đình ông là cha ông mất sớm, phải nhờ vào sự đùm bọc thương yêu của mẹ và bà con hàng xóm.
Trước khi bước lên tuổi trưởng thành, Lưu Ngạn Quang phải đi ở hết nhà này đến nhà khác để trừ nợ và giành tiền nuôi mẹ, khi trừ nợ xong Lưu Ngạn Quang trở về làm thuê cùng mẹ, nhìn cảnh làm thuê cuốc mướn chẳng
ăn thua gì Lưu Ngạn Quang nảy ra ý định đi buôn, buôn nhỏ trở thành buôn lớn, nhưng trớ trêu thay dưới sự đàn áp của bọn tham quan ô lại kìm hãm dân lành, ông mất sạch vốn Lưu Ngạn Quang luôn vươn lên cùng với sự chăm chỉ cần cù và sự thông minh sẵn có, ông đã quyết tâm vượt qua cảnh túng quẫn, nghèo khó bằng con đường học hành
Từ khi bị bọn tham quan cướp của, Lưu Ngạn Quang trở về ban ngày đi làm thuê ban đêm đi học, khi thì trở về đi buôn rau quả khắp chợ này đến chợ
nọ, nơi này sang nơi khác Nhưng vẫn không sao nhãng việc học hành, hơn nữa lại sáng dạ thông minh, thầy dạy thấy vậy thương tình không lấy tiền công, dân làng thấy thế ai cũng mến phục Lưu Ngạn Quang được người bán nước thương tình gã con gái cho Kể từ đó vợ chồng yên ổn ban ngày đi làm, ban đêm về lo dùi mài kinh sử
Học hết 3 năm thì Lưu Ngạn Quang tròn 33 tuổi, năm đó triều đình mở khoa thi hương Lưu Ngạn Quang từ biệt mẹ và vợ vác lều chỏng đi thi quả nhiên đỗ ngay Hương cống (cống sinh) Từ khi ấy anh tiếp tục lên kinh theo học nhờ sự đùm bọc của mẹ hiền vợ thảo Đến kì thi hội, Lưu Ngạn Quang vượt qua một cách dễ dàng, đến kì thi Đình, lúc ấy vào triều Lê sơ khoa thi Tân Sửu (1481) đời vua Lê Thánh Tông, ông ứng thí đỗ ngay Hoàng Giáp (tức đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ), kể từ đấy sự nghiệp bần hàn của Lưu Ngạn Quang chấm dứt Ông đem tài trí ra phò vua giúp nước cứu dân, nhớ lại cảnh xưa nghèo túng, đói rét, giờ đây công thành danh toại, mẹ con, vợ chồng gặp nhau trong một tâm trạng vui mừng trong nước mắt
Trang 40Cuộc đời Ngạn Quang là người nghèo đói cơ hàn, gốc vốn không phải
là Cổ Bôn xưa Nhưng theo gia phả dòng họ thì tôn xưng ông là ông tổ dòng
họ Lưu Từ khi đỗ ra làm quan, Lưu Ngạn Quang rất mực thanh liêm chính trực, là người vốn xuất thân từ cảnh cơ hàn, lớn lên lại phải chịu bao sóng gió cuộc đời, nên Lưu Ngạn Quang rất hiểu nỗi khổ của người dân, ông suốt đời làm điều phúc cho dân
Để tưởng nhớ công lao của Hoàng Giáp tiến sĩ Lưu Ngạn Quang, khi ông qua đời, đền thờ ông được xây dựng Song do biến thiên lịch sử, di tích gốc không còn mà chỉ là công trình được phục hồi vào thời Nguyễn, thế kỉ XIX với công trình kiến trúc quy mô Mặc dù trải qua bao thăng trầm của lịch
sử, chiến tranh phá hoại cộng với sự bào mòn của nắng mưa bão lụt, nhưng ngày nay bà con dòng họ đã cùng nhau tu bổ ngày một khang trang đẹp đẽ hơn Đền thờ Lưu Ngạn Quang góp phần tô đẹp thêm nét đẹp bình dị cho làng quê Việt, đồng thời làm đẹp thêm truyền thống hiếu học của cha ông, cùng sánh vai với các nhân vật ở vùng khác, cùng vươn lên và phát triển không ngừng
Triều Lê Sơ là một triều đại nổi tiếng thịnh vượng, đặc biệt dưới thời vua Lê Thánh Tông Đây là một triều đại có một không hai trong lịch sử Việt Nam với nhiều dấu hiệu thay đổi đáng mừng, đáng tự hào, cho dân tộc ngày nay như sự ra đời của hệ văn học đầu tiên ở Việt Nam hội “Tao đàn” thông qua hoạt động của “Nhị thập bát tú” 28 ngôi sao sáng đẹp Đó là sự ra đời của
Bộ luật Hồng Đức, đê Hồng Đức Chính vì thế, để tưởng nhớ công lao của ông, khi mất được dòng họ, nhân dân lập đền thờ ở văn miếu Quốc Tử Giám
và ở đình thờ tiên hiền làng đặc biệt là nhà thờ ông và dòng họ Lưu Ngạn Quang mãi mãi là con người bất hũ, sống trong tâm khảm của người dân xứ Thanh Công lao của ông đã được sử sách ghi lại trong Đại Việt sử kí toàn thư