1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thống hiếu học của người việt nam trong thơ nôm nguyễn trãi và trong tục ngữ, ca dao

48 1,8K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Truyền thống hiếu học của người Việt Nam trong thơ nôm Nguyễn Trãi và trong tục ngữ, ca dao
Tác giả Nguyễn Thị Hiền Lương
Người hướng dẫn GVC. Th.s Hoàng Minh Đạo
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 286 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trớc hết, với t cách là danh nhân văn hoá thế giới, Nguyễn Trãi qua sáng tác thơ văn đã đợc Thủ tớng Phạm Văn Đồng trong bài Nguyễn Trãi- ngời anh hùng dân tộc khẳng định: “Truyền thống

Trang 1

Trờng Đại học vinh

Khoa ngữ văn -

KHOá LUậN TốT NGHIệP đại học

TRUYềN THốNG HIếU HọC CủA NGƯời việt nam trong thơ nôm nguyễn trãi và trong tục ngữ, ca dao

Giáo viên hớng dẫn: GVC Th.s Hoàng Minh Đạo

ngời thực hiện : Nguyễn Thị Hiền Lơng

Lớp : 44B2- Văn

Vinh 05/2007 Trờng Đại học vinh

Khoa ngữ văn -

nguyễn thị hiền lơng

TRUYềN THốNG HIếU HọC CủA NGƯời

Trang 2

việt nam trong thơ nôm nguyễn trãi và trong tục ngữ, ca dao

KHOá LUậN TốT NGHIệP đại học

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam I

Vinh 05/2007

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận này tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện giúp đỡ về vật chất cũng

nh tinh thần trong suốt quá trình tiến hành thực hiện đề tài.

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GVC.Th.S Hoàng Minh Đạo đã quan tâm tận tình hớng dẫn và giúp đỡ em để khoá luận

đợc hoàn thành Qua đây tác giả xin cảm ơn ngời thân và bạn bè đã

cổ vũ, động viên để tôi có thể quyết tâm và nghị lực thực hiện thành công đề tài

Trang 3

Rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo

và các bạn đồng nghiệp để khóa luận hoàn thiện hơn.

Chơng I Truyền thống hiếu học của ngời Việt Nam trong Quốc âm

Giới thuyết khái niệm truyền thống hiếu học và một số biểu hiện của nó

1.2 Khảo sát, thống kê, phân loại các bài thơ, các câu thơ trực tiếp

hay gián tiếp thể hiện truyền thống hiếu học trong Quốc âm thi tập 101.3 Giá trị nội dung và nghệ thuật của các bài, các câu thơ

thể hiện truyền thống hiếu học trong thơ nôm Nguyễn Trãi 16

Chơng II Truyền thống hiếu học của ngời Việt Nam trong tục ngữ,

2.1 Truyền thống hiếu học trong tục ngữ 23

2.2 Truyền thống hiếu học trong ca dao 32

Chơng III So sánh truyền thống hiếu học trong Quốc âm thi tập và

Trang 4

Phần Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu

1.1 Từ bao đời nay, con ngời Việt Nam trên mọi miền đất nớc đều coi trọng

việc học hành Đức tính quý báu đó đợc kết tinh thành truyền thống hiếu học cóthể ví nh dòng sông không bao giờ cạn trong đời sống tinh thần dân tộc Dòngsông trong mát ấy vừa là nơi tắm gội của các nhân tài, vừa là mạch nguồn củasáng tác văn chơng kể cả dân gian và bác học Truyền thống hiếu học khôngnhững đợc nhân dân lao động đúc kết trong tục ngữ, rung cảm trong ca dao mà

còn ngân vang trong những câu thơ ở Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi Tuy

cùng phản ánh một truyền thống nổi bật của con ngời Việt Nam nhng giữa thơNôm của ức Trai và tục ngữ, ca dao của ngời Kinh, truyền thống hiếu học đợcthể hiện dới nhiều góc độ, vừa có những chỗ tơng đồng, vừa có những điểm khácbiệt Để góp phần làm sáng tỏ thái độ, tình cảm của Nguyễn Trãi và của tác giảdân gian đối với một nét đẹp trong văn hoá nớc nhà, chúng tôi tìm hiểu vấn đề:

Truyền thống hiếu học của ng

“Truyền thống hiếu học của ng ời Việt Nam trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và trong tục ngữ, ca dao

1.2 Với vấn đề này, trong khuôn khổ một khoá luận tốt nghiệp, nhiệm vụ

đặt ra mà chúng tôi cần giải quyết là trình bày một cách đầy đủ các phơng diệncủa truyền thống hiếu học đợc thể hiện nh thế nào trong một tác phẩm tiêu biểucủa nền văn học trung đại Việt Nam và trong hai thể loại của văn học dân gian n-

ớc nhà Trên cơ sở đó giúp cho mọi ngời thấy rõ sự tơng đồng và khác biệt trongviệc thể hiện truyền thống hiếu học trong thơ Nôm của ức Trai và trong tục ngữ,

ca dao của ngời Kinh Vấn đề mà chúng tôi quan tâm nếu đợc giải quyết mộtcách thấu đáo hy vọng sẽ góp thêm tiếng nói dù chỉ là rất nhỏ đối với việc nhận

diện giá trị của Quốc âm thi tập vào kho tàng tục ngữ, ca dao trên bình diện bản

sắc văn hoá

2 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu

2.1.Phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu truyền thống hiếu học qua một số bài thơ mà nội dung của chúng

ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đề cập tới truyền thống đó trong Quốc âm thi tập

của Nguyễn Trãi Tập thơ Nôm này đã đợc giới thiệu một cách khá đầy đủ cùng

với sự chú giải, tra cứu trong cuốn Nguyễn Trãi toàn tập, uỷ ban Khoa học xã

Trang 5

hội Việt Nam, Viện Sử học in lần thứ hai có bổ sung và sửa chữa, Nxb Khoa họcxã hội, 1976 Đối với tục ngữ, ca dao; các câu, các bài có nói tới truyền thống

hiếu học đợc chúng tôi tìm hiểu trong cuốn Tục ngữ Việt Nam, Ngọc Quang (su tầm, tuyển chọn), Nxb Văn hoá- thông tin, 2007; Ca dao Việt Nam, Ngọc Quang

(su tầm, tuyển chọn), Nxb Văn hoá- thông tin, 2007

2.2.Phơng pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề, chúng tôi sử dụng các phơng pháp chủ yếu sau:

-Phơng pháp khảo sát, thống kê Phơng pháp này nhằm đa ra cái nhìnkhách quan về các phơng diện của truyền thống hiếu học đợc thể hiện trong thơNôm Nguyễn Trãi và tục ngữ, ca dao

-Khi đi vào một thể loại cụ thể để chứng minh cho truyền thống đó, chúngtôi sử dụng phơng pháp phân tích, tổng hợp Để thấy đợc sự tơng đồng, khác biệtcủa truyền thống hiếu học trong thơ Nôm của ức Trai và trong tục ngữ, ca dao,chúng tôi dùng phơng pháp so sánh

3 Lịch sử vấn đề

Có thể nói, cùng với đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, Nguyễn Trãi là tác gia

đợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc đi sâu tìm hiểu trên nhiều phơngdiện Phần lớn các bài nghiên cứu về tác gia này đã đợc Nguyễn Hữu Sơn tuyển

chọn, giới thiệu trong cuốn Nguyễn Trãi tác gia, tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2003.

Trong các bài nghiên cứu đợc tuyển chọn trong cuốn này, có một số bài trực tiếphay gián tiếp đã nói tới tình cảm, thái độ của ức Trai đối với truyền thống hiếu

học của con ngời Việt Nam trong Quốc âm thi tập.

Trớc hết, với t cách là danh nhân văn hoá thế giới, Nguyễn Trãi qua sáng

tác thơ văn đã đợc Thủ tớng Phạm Văn Đồng trong bài Nguyễn Trãi- ngời anh

hùng dân tộc khẳng định: “Truyền thống hiếu học của ngTâm hồn của Nguyễn Trãi sống một nhịp với non

sông, đất nớc tơi vui… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr813] Trong tâm hồn của ức Trai có dành một khoảng cho truyền thống hiếu họccủa con ngời Việt Nam Điều đó đã đợc một số nhà nghiên cứu nêu rõ qua một

số công trình sau:

Trong bài Nguyễn Trãi và nho giáo, Trần Đình Hợu đa ra một thực tế về

thái độ coi trọng việc học của ức Trai qua sáng tác thơ Nôm: “Truyền thống hiếu học của ngNguyễn Trãikhuyên con cái những gì? Con ngời hoàn hảo theo ông không chỉ có đức, cũng

cần phải có học, có nghề và có tài Nhng Tài thì kém đức một vài phân” [10, tr

103] Theo Trần Đình Hợu một trong những điều mà Nguyễn Trãi khuyên concái là phải chú ý việc học hành Không những thế, chỉ bằng một câu thơ trong

Trang 6

một bài ở Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã nêu rõ mối quan hệ giữa tài và đức

theo quan niệm của một nhà Nho

Trong một bài viết khác với tiêu đề Một vài nét về con ngời Nguyễn Trãi

qua thơ Nôm, Hoài Thanh cũng đã chỉ ra cho mọi ngời thấy: “Truyền thống hiếu học của ngNguyễn Trãi học

nhằm mục đích gì? Ngời thanh niên này không phải vì mình đi học, đi thi Đihọc, đi thi là cái nghĩa lớn đối với nhà nớc” [10, tr 618]

Tìm hiểu Thái độ của Nguyễn Trãi trong cuộc sống, Nguyễn Thiên Thụ

trong bài viết với tiêu đề đó đã khái quát thành đề mục: “Truyền thống hiếu học của ngVui với thú đọc sách”.[10, tr 493] Trong đề mục này, Nguyễn Thiên Thụ đã đa ra nhận xét “Truyền thống hiếu học của ngNguyễnTrãi vẫn giữ thái độ của một nho sỹ, bao giờ cũng trọng sự học, bao giờ cũng vuivới thú đọc sách chứ không vì danh lợi, vì công việc triều đình mà quên lãngcông việc của một ngời tri thức” [10, tr 494]

Nhà thơ Xuân Diệu với bài Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ cổ

điển Việt Nam đã khẳng định rõ thêm về giá trị giáo huấn trong thơ Nôm

Nguyễn Trãi, trong đó có sự giáo huấn đối với việc học hành: “Truyền thống hiếu học của ngThơ Nguyễn Trãilàm ta kính phục và làm ta cảm động… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr Chúng ta nhận bài học ở một tác phẩmvăn học vì tác phẩm ấy có những lời giáo huấn trực tiếp nh những châm ngôn,ngạn ngữ” [10, tr 627] Xuân Diệu viết tiếp: “Truyền thống hiếu học của ngNếu chúng ta cần những châmngôn răn dạy đời thì chúng ta có :

Nên thợ, nên thầy, vì có học

No ăn, no mặc, bởi hay làm ” [10, tr 613]

Những nhận xét tinh tế đó của Xuân Diệu đã xác nhận một sự thật: truyềnthống hiếu học đợc thể hiện trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi có những nét tơng

đồng với truyền thống ấy trong sáng tác dân gian của nhân dân lao động

Ngoài các ý kiến nhận xét của một số nhà nghiên cứu đã đợc điểm qua,trong một số bài viết khác của Trần Đình Sử, Nguyễn Hữu Sơn… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr, khi tìm hiểu

Con ngời cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, các tác giả cũng đã dành một

phần thích đáng để nói tới thái độ của nhà thơ đối với việc học Các ý kiến củacác nhà nghiên cứu về thơ Nôm Nguyễn Trãi tuy chỉ mới dừng lại ở những mức

độ khác nhau nhng đều thống nhất cho rằng: Nguyễn Trãi là nhà trí thức nhohọc, rất coi trọng việc học hành T tởng đó là sự tiếp nối truyền thống hiếu họccủa con ngời Việt Nam Truyền thống ấy không chỉ thể hiện trong thơ Nôm của

ức Trai mà còn dễ dàng bắt gặp trong kho tàng tục ngữ, ca dao của ngời Kinh ở

bộ phận sáng tác này, truyền thống hiếu học cũng đã đợc một số nhà nhiên cứu

l-u tâm

Trang 7

Trong cuốn Tục ngữ Việt Nam do Chu Xuân Diệu (chủ biên), Nxb Khoa

học xã hội, 1978, nhóm biên soạn đã dành hẳn một mục cho các câu tục ngữ nói

về truyền thống hiếu học của nhân dân ta Sau đó, trong bộ sách gồm hai tập

Kho tàng tục ngữ Việt Nam, nhóm biên soạn do Nguyễn Xuân Kính (chủ biên)

cũng đã đa các câu tục ngữ có nội dung khuyến học vào mục: “Truyền thống hiếu học của ngGiáo dục, họctập, văn hoá… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr” và có kèm theo những lời giải thích ngắn gọn Tìm hiểu giá trịcủa bộ phận tục ngữ này, gần đây có bài viết của ông Hoàng Minh Đạo với tiêu

đề Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hoá học, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 1/2006 Trong cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan ở phần giới thiệu

cuốn sách đã không quên nhắc tới giá trị của một số câu tục ngữ, một số bài cadao có nội dung thể hiện truyền thống hiếu học Đi vào ca dao của một số miềnquê cụ thể (Xứ Nghệ), các tác giả Ninh Viết Giao, Trơng Xuân Tiếu đều thốngnhất cho rằng: Ca dao xứ Nghệ có khá nhiều bài bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ

tình đối với việc học hành Trong bài Đất nớc, con ngời xứ Nghệ qua Kho“Truyền thống hiếu học của ng tàng

ca dao xứ Nghệ”., Trơng Xuân Tiếu nêu rõ: “Truyền thống hiếu học của ngMột nét đẹp đáng tự hào, đáng

khâm phục là đức tính hiếu học, là việc quý trong việc học hành, là tình cảm tôn

s trọng đạo đã tạo nên bản sắc văn hoá và tầm học vấn cao của con ngời xứNghệ” [12, tr 8]

Ông Khổng Đức Thiêm trong bài Phơng ngôn với truyền thống cử nghiệp

Kinh Bắc cũng khẳng định: “Truyền thống hiếu học của ngVăn học dân gian đặc biệt là kho tàng phơng ngôn

Kinh Bắc đã phản ánh đợc thực tại này… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr Tam Sơn là đất ba gò /Của trời vô tận

tục tìm hiểu vấn đề: Truyền thống hiếu học của ngời Việt Nam trong thơ Nôm

Nguyễn Trãi và trong tục ngữ, ca dao.

Trang 8

Phần Nội dung chính

Chơng I

Truyền thống hiếu học của ngời Việt Nam trong

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

1.1 Giới thuyết khái niệm truyền thống hiếu học và một số biểu hiện của nó trong lịch sử nớc nhà

Trong quá trình tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam đã hun đúc đợcnhiều truyền thống tốt đẹp, có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội Một trong số

đó có thể kể đến truyền thống hiếu học Cùng với truyền thống yêu nớc, nhân

ái… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr thì truyền thống hiếu học cũng là một truyền thống quý giá biểu thị nền vănhiến lâu đời của nhân dân ta Truyền thống đó gắn với truyền thống “Truyền thống hiếu học của ngTôn s trọng

đạo” Trong Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2001, khái niệm “Truyền thống hiếu học của nghiếu học” đợc

giải thích: “Truyền thống hiếu học của ngHiếu học là thái độ ham học” [16, tr 439] Còn truyền thống hiếu học

là thái độ ham học có tính phổ biến, tơng đối ổn định và đợc truyền từ đời nàysang đời khác

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã luôn luôn tỏ ra là mộtdân tộc rất hiếu học mặc dù phải liên miên đấu tranh quyết liệt chống thù tronggiặc ngoài để bảo vệ sự sống còn của mình Đối với một dân tộc “Truyền thống hiếu học của ngKhát học” nh-

ng không có quyền học nh dân tộc ta trớc đây thì nhu cầu về văn hoá cũng thiếtthân, cấp bách nh nhu cầu về độc lập tự do và nhân sinh

Khuyến học, cầu hiền bao giờ cũng là quốc sách đối với sự nghiệp dựng

n-ớc và hng thịnh của quốc gia Từ xa nhân dân ta đã có câu: “Truyền thống hiếu học của ngChẳng tham ruộngcả ao liền, tham vì cái bút cái nghiên anh đồ” Truyền thống hiếu học, “Truyền thống hiếu học của ngđạo cơngthờng”., “Truyền thống hiếu học của ngtrung hiếu”., “Truyền thống hiếu học của ngtu trị bình” và mục đích đào tạo, tuyển chọn ngời tài quaviệc học, việc thi thời phong kiến đã thôi thúc ông cha ta “Truyền thống hiếu học của ngnấu sử sôi kinh”.,

“Truyền thống hiếu học của ngđêm ngày đèn sách”.… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr để “Truyền thống hiếu học của ngchiếm bảng đề danh” đem tài đức học vấn phò vua,giúp nớc, cứu dân bởi ngời tài là “Truyền thống hiếu học của ngnguyên khí của quốc gia”., còn khoa cử là thân

đồ của học trò, là con đờng tiến thân duy nhất của nho sinh Nguyên khí mạnhthì thế nớc thịnh và lên cao, nguyên khí suy thì thế nớc yếu và xuống thấp Vìvậy, các đấng thánh đế minh vơng chẳng ai không lấy việc bồi dỡng nhân tài,kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên Từ đó tạo nên truyền

Trang 9

thống hiếu học ngàn đời của dân tộc Việt Nam Sự hùng mạnh của một thời đạinào cũng tuỳ thuộc vào chính sách dùng ngời, một dân tộc càng nhiều lớp ngờihiền tài bao nhiêu thì càng hùng cờng và vững chắc bấy nhiêu Bởi ở thời đại nàothì ngời tài cũng chính là sức mạnh đặc biệt của quê hơng, đất nớc

Một bộ phận xã hội, muốn bằng con đờng khoa bảng để có một địa vị trongxã hội hoặc một nghề nhàn hạ hơn nghề nông “Truyền thống hiếu học của ngbán mặt cho đất,bán lng chotrời” Truyền thống hiếu học còn đợc khơi dậy bởi nhận thức sâu xa: trí thức làyếu tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, chính sách khuyến học củanhà nớc là nhằm phát hiện, bồi dỡng, tuyển chọn nhân tài giúp nớc, cứu dân.Theo quan niệm của nhân dân ta, trong các tầng lớp xã hội, ngời sĩ phu chiếm vịtrí hàng đầu: “Truyền thống hiếu học của ngSỹ, nông, công, thơng”

Từ truyền thống hiếu học đã tạo nên ở mỗi ngời Việt Nam truyền thống tôn

s trọng đạo “Truyền thống hiếu học của ngMột chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” (Nhất tự vi s, bán tự vis) Hay “Truyền thống hiếu học của ngMuốn sang phải bắc cầu kiều Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”

Đó là ứng xử tốt đẹp đợc nhân dân ta truyền tải từ bao đời nay

Có thể thấy rằng, ngay sau khi đất nớc giành đợc độc lập từ chiến thắngBạch Đằng lịch sử của Ngô Quyền vào năm 938, dới các triều đại phong kiếnNgô, Đinh, Tiền Lê (939-1009), việc học tập lúc này chủ yếu đợc tổ chức trongcác trờng t và trờng chùa Mãi đến đời nhà Lý (Thế kỷ XI) triều đình lúc đó mớithực sự quan tâm đến việc phát triển giáo dục

Năm 1076, Nhà Lý lập ra Quốc Tử Giám (Trờng đại học đầu tiên ở ViệtNam) để dạy các con em Hoàng tộc

Đến năm 1253, Nhà Trần gọi là Quốc sử viện, thu nạp các hoàng tử và concái của các nhà quyền thế và cả các con em thờng dân u tú nhằm đào tạo quan lạiphong kiến Giáo dục đã đợc mở rộng hơn trớc

Đến năm 1397, vua Trần là Trần Thuận Tông ban chiếu mở trờng công ởchâu, huyện Việc học ở giai đoạn này đã có sự phát triển thêm một bớc mới

Đến đời nhà Trần- Hồ (1400-1407) Hồ Quý Ly cũng đã rất quan tâm đến việcgiáo dục để nhằm nâng cao dân trí và tuyển chọn ngời tài

Đến đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) thì quy mô của các trờng đã đợc

mở rộng hơn cho con em thờng dân đi học ở thời kỳ này có ba loại trờng là cáinôi đào tạo ra các nhân sỹ hiền tài cho đất nớc, đó là Quốc Tử Giám ở kinh đô

do nhà vua cai quản; một số trờng ở phố, huyện; phổ biến nhất là các loại trờng

t ở làng, xã

Minh chứng cho tinh thần hiếu học thời đó đã có 82 tấm bia đá ở VănMiếu- Quốc Tử Giám (Hà Nội) cho biết nớc ta đã có tới 1306 vị tiến sỹ trong đó

Trang 10

có tới 47 trạng nguyên (là thủ khoa của các kỳ thi tiến sỹ) Đó là một con sốkhông nhỏ đối với một dân tộc ở vào giai đoạn lịch sử chịu nhiều áp bức đè nén.

Để thấy tinh thần học hỏi, ham tìm hiểu luôn luôn là mục đích của mỗi con ngời

đất Việt với tâm niệm học để đóng góp sức mình cho đất nớc, chúng ta phải kể

đến tinh thần hiếu học của Nguyễn Hiền, quê ở làng Hà Dơng, huyện ThợngNguyên, tỉnh Nam Định, đỗ đầu kỳ thi năm Bính Ngọ (1246) đời Trần TháiTông, năm thi đình đỗ Trạng nguyên, năm ấy ông mới 12 tuổi Và đặc biệt làNguyễn Nghiêu Tú (1448); Dơng Tử Do (Trang Liệt, Tiên Sơn), từ một ngờinghèo thất học đã quyết chí đèn sách vào tuổi ngoại tứ tuần đỗ tiến sỹ (1458).Câu chuyện của Dơng Tử Do còn đợc tơng truyền: vốn là con nhà nghèo lại một

họ nhỏ ở trong làng, ông làm ruộng và thất học từ bé Đến năm 43 tuổi, bọn hàomục trong làng họp dân để tính việc phí tổn tu sửa đình quán, ông tố cáo chúng

ăn bớt xén của làng Bọn hào mục tức lắm, lại khinh ông mù chữ nên chúngquẳng sổ vào mặt ông mà mắng rằng: Sổ sách đây, mày giỏi thì đọc đi Bị sỉnhục giữa chốn đình trung và căm ghét bọn hào mục tham ô, Dơng Tử Do bỏlàng ra đi Mọi ngời đều nghĩ rằng ông chẳng dám về làng nữa Nhng sáu nămsau, bọn hào mục làng Trang Liệt đợc lệnh lên chuẩn bị đón ông nghè vinh quy.Chúng ngơ ngác không rõ là ai, đến khi nghe tên ông thì giật mình kinh ngạc, sợhãi vô cùng Dân làng thì hồ hởi lạ lùng Thì ra với ý chí ra đi và quan tâm họctập, ông đã đỗ tiến sỹ khoa Mậu Dần hiệu Diên Ninh năm 1458 Sau đó ông làmquan đến chức Công bộ Hữu thị lang Tên tuổi ông đợc khắc vào bia đá và tinhthần học tập của ông đợc ngời đời sau truyền tụng:

Bốn ba tuổi mới vỡ lòng

Đến năm bốn chín đã ông nghè rồi Dụng công có mấy năm trời

Hơn đời cốt ở tính ngời thông minh.

Trong suốt mời thế kỷ dới các triều đại phong kiến, nhà nớc mới chỉ tậptrung đào tạo quan lại phong kiến các cấp và các trờng học đều chịu ảnh hởng rấtlớn của t tởng nho giáo Nhng t tởng nho giáo lúc đó đợc các nhà nho đề cập nh

là một thành tố quan trọng của giáo dục T tởng đó coi giáo hoá con ngời bằng

“Truyền thống hiếu học của ngĐức” là phơng tiện, là biện pháp hiệu quả nhất để đào tạo con ngời, hoàn thiệnxã hội Nho giáo đánh giá cao vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhâncách của con ngời Chính vì coi trọng giáo dục mà chính quyền phong kiến đã

đặc biệt khuyến khích giáo dục, thi cử, mở trờng dạy học, lựa chọn nhân tài, qua

đờng thi cử Các nhà nho đều cho rằng, một xã hội tốt đẹp là một xã hội ổn định,thái bình, có trật tự, có kỷ cơng và mọi ngời đều hết sức thánh thiện, phải coi

Trang 11

giáo dục, giáo hoá con ngời hớng về cái thiện, làm theo điều thiện Đó chính là ttởng cốt lõi mà giáo dục Nho học luôn tìm cách vơn tới bằng con đờng giáo dục,

là hớng tới việc xây dựng nhân cách con ngời hớng thiện, vì việc thiện

Về đối tợng giáo dục, giáo hoá trong t tởng Nho giáo, nhiều nhà Nho đã bắt

đầu từ t tởng của Khổng Tử trong sách Luận ngữ “Truyền thống hiếu học của ngHữu giáo vô loài” (Giáo dụckhông phân biệt kẻ sang, ngời hèn, kẻ cao, ngời thấp) Đây chính là sự thể hiệntính nhân văn rất cao và đã có sự khơi nguồn quan niệm bình đẳng về giáo dụctrong t tởng Nho giáo

Về nội dung và phơng pháp giáo dục trong Nho học “Truyền thống hiếu học của ngDạy đạo làm ngời,

đạo cơng thờng” Nội dung giáo dục cụ thể phản ánh mối quan hệ về nghĩa vụ,trách nhiệm của con ngời với bản thân, gia đình và xã hội T tởng giáo dục Nhogiáo toát lên tinh thần khoan dung, sống có trách nhiệm giữa con ngời với nhau.Hiếu học là đặc điểm tốt đẹp của Nho giáo và đợc duy trì cho đến ngày nay

Nh vậy, có thể thấy rằng truyền thống hiếu học trong lịch sử dân tộc ViệtNam đã tồn tại hàng ngàn năm (Nguồn t liệu trong phần này chúng tôi lấy từ bàiviết của Nguyễn Đình Bu và Khổng Đức Thiêm Cả hai bài viết đều có ở mục Tàiliệu tham khảo ở cuối khoá luận)

1.2 Khảo sát, thống kê, phân loại các bài thơ, các câu thơ trực tiếp hay

gián tiếp thể hiện truyền thống hiếu học trong Quốc âm thi tập

1.2.1 Khảo sát, thống kê

Tập thơ này có tất cả 254 bài đợc viết bằng chữ Nôm, ngoài phần vô đề với

bài Thủ vĩ ngâm ít nhiều nói tới hoàn cảnh của Nguyễn Trãi khi viết các bài thơ trong Quốc âm thi tập, tập thơ Quốc âm đợc tác giả chia thành chín đề mục Theo sự khảo sát của chúng tôi, trong chín đề mục của Quốc âm thi tập, ở mỗi

đề mục số lợng các bài trực tiếp hay gián tiếp đề cập các phơng diện khác nhaucủa truyền thống hiếu học bằng cảm xúc của ức Trai đợc phân bố nh sau:

-Mục Ngôn chí có tất cả 19/21 bài đợc đánh số theo thứ tự bằng chữ số La

Mã (nh trong cuốn sách giới thiệu ở mục phạm vi nghiên cứu): II, III, V, VI, VII,VIII, IX, X, XI, XII, XIII, XIV, XV, XVI, XVII, XVIII, XIX, XX, XXI

Trong mục này có một số câu tiêu biểu:

Chè mai, đêm nguyệt dậy xem bóng Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu

(Bài II)

án sách, cây đèn hai bạn cũ Song mai hiên trúc một lòng thanh

(Bài VI)

Trang 12

-Mục Mạn thuật có các bài đợc đánh số III, V, VII, IX, XII, XIII

(6/14 bài)

Tiêu biểu nh một số câu trong các bài:

Hay văn hay võ thì dùng đến, Chẳng đã khôn ngay khéo đầy.

(Bài III)

ở chớ nề hay học cổ nhân, Lánh mình cho khỏi áng phong trần.

(Bài VII)

Am quạnh thiên hơng đọc ngũ kinh, Linh đài sạch một đờng thanh.

Nhà còn thi lễ âu chi ngặt;

Đời phạp văn chơng uổng mấy danh.

(Bài IX)

-Mục Trần tình có 3/9 bài theo các số: I, III, VI.

Trong ba bài đó có các câu:

Từ ngày gặp hội phong vân,

Bổ báo cha hề đặng mấy phân.

Tiêu biểu nh một số câu trong các bài:

Văn này ngâm thấy mấy chon von!

Thơng hải hay khao, thiết thạch mòn.

(Bài IV)

Thiên th án sách nên ngày tháng, Một khắc cầm nên mấy lạng vàng.

(Bài X)

Buồng văn đắp cửa lọn ngày thu,

Đèn sách nhàn làm thong thả nho.

(Bài XIII)

Trang 13

-Mục Tự thán có 16/41 bài, gồm các bài: II, III, VI, VIII, IX, X, XII, XVI,

XVII, XXI, XXII, XXIV, XXVII, XXXIII, XXXIV, XLI

Trong 16 bài đó có các câu:

Tỏ tờng phiến sách con Chu dịch;

Bàn bạc lòng nhàn cái quít chè.

(Bài IX)

Sách một hai phiên làm bầu bạn;

Rợu năm ba chén đổi công danh.

-Mục Tự thuật có 3/11 bài, gồm các bài: I, III, X.

Trong 3 bài đó có các câu:

Nớc kiến phong quang hầu mấy kiếp?

Rừng nho nấn ná miễn qua ngày.

Có nớc nhiễu song non nhiễu cửa;

Còn thơ đầy túi, rợu đầy bầu.

(Bài X)

Trang 14

-Mục Bảo kính cảnh giới có 19/61 bài, gồm các bài: I, V, X, XIX, XXII,

XXIII, XXVI, XXVIII, XXX, XXXII, XXXIX, XL, XLVI, LI, LVI, LVII,LVIII, LIX, LX

Tiêu biểu nh các câu:

Muốn ăn trái dỡng nên cây;

Ai học thì hay mựa lệ chầy.

(Bài X)

Nhiều của ấy chẳng qua chữ nghĩa;

Dỡng ngời cho, kẻo nhọc chân tay.

(Bài XIX)

Khóm ruộng ăn ngày tháng đủ.

Bạn cùng phiến sách tiếng đàn cầm.

(Bài XXIII)

Sách ngâm song có mai và điểm;

Đời ngó rèm lồng nguyệt một câu.

(Bài XXXII)

Ba thân hơng hoả nhờ ơn chúa;

Một nửa thi th dõi nghiệp nhà.

Bài cuối cùng của Quốc âm thi tập với tiêu đề Trâu trong nghiên là bài nói

về việc học qua những câu:

Đầm chơi bể học đã nhiều xuân;

Đời đến trên yên nằm quải chân.

Mày mỏ hôm dao, lòng mặc khách;

Trang 15

Kỳ mài ngày tháng của thi nhân.

Nh vậy, ở tất cả các đề mục trong Quốc âm thi tập, có tất cả 74 bài thơ trực

tiếp hay gián tiếp thể hiện truyền thống hiếu học chiếm tỷ lệ 28% (74/254 bài)

1.2.2.Phân loại

Các bài thơ, câu thơ có liên quan tới truyền thống hiếu học đã thống kê ởtrên đợc chúng tôi phân ra làm hai loại với tiêu chí tính chất và mức độ trong sựbộc lộ cảm xúc của Nguyễn Trãi đối với truyền thống tốt đẹp này

1.2.2.1.Trực tiếp thể hiện truyền thống hiếu học

Loại này bao gồm những bài thơ, câu thơ nói tới vai trò, tác dụng của việchọc đối với con ngời nói chung, tỏ rõ thái độ “Truyền thống hiếu học của ngtôn s trọng đạo” Các câu thơ trực

tiếp thể hiện truyền thống hiếu học trong Quốc âm thi tập đều có tính khái quát

cao, có dụng ý nói tới mọi ngời và rất coi trọng truyền thống quý báu đó

Tiêu biểu cho các loại này có các câu thơ:

- Nên thợ, nên thầy, vì có học

No ăn, no mặc, bởi hay làm.

-Ai học thì hay mựa lệ chầy

- ơn thầy, ơn chúa liễn ơn cha.

Số lợng các bài, các câu trực tiếp nói về truyền thống hiếu học trong Quốc

âm thi tập tuy không nhiều, chỉ có 12/74 câu (chiếm tỷ lệ 17%) nhng đều là

những câu thơ có giá trị giáo huấn cao, đợc ngời đời truyền tụng nh là phơngchâm xử thế Trong các công trình của các nhà nghiên cứu đã đợc điểm qua ởphần lịch sử vấn đề, hầu hết các tác giả đều tập trung chú ý trích dẫn các câuthuộc loại này, nhiều nhất vẫn là câu:

Nên thợ, nên thầy, vì có học

No ăn, no mặc, bởi hay làm.

1.2.2.2.Gián tiếp thể hiện truyền thống hiếu học

Loại này bao gồm những câu thơ còn lại trong tổng số các câu đã đợcthống kê 62/74 câu (chiếm tỷ lệ 83%) Truyền thống hiếu học trong 62 câu đókhông đợc nói tới một cách trực tiếp mà đợc gợi ra qua các hình ảnh nh: “Truyền thống hiếu học của ngánsách, cây đèn”., gắn các việc làm nh: đọc sách, ngâm thơ; diễn tả mối quan hệgiữa đức và tài, nói tới nợ công danh… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr Các bài, các câu có sự xuất hiện hình ảnh

quyển sách, cây đèn trở đi trở lại nhiều lần trong Quốc âm thi tập nh nỗi niềm thao thức, trăn trở của thi nhân Có tới 22 bài trong Quốc âm thi tập nói về quyển

sách cùng với thú đọc sách Đứng sau số lợng các bài nói về sách vở là các bài

Trang 16

nói tới văn, thơ, nhất là hình ảnh “Truyền thống hiếu học của ngKhách văn chơng” Truyền thống hiếu học củacon ngời Việt Nam trong các bài, các câu thơ thuộc loại này đã đợc Nguyễn Trãitiếp thu và biến thành cái của mình để nêu một tấm gơng về truyền thống đó.Mức độ khái quát ở các câu thơ thể hiện gián tiếp truyền thống hiếu học trongthơ Nôm ức Trai tuy không cao bằng các câu bộc lộ trực tiếp truyền thống nàynhng lại có chiều sâu bởi gắn với những suy nghĩ của một bậc danh nhân mangtầm nhân loại Tiêu biểu cho loại này có thể kể đến các câu thơ trong các bài:

Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng;

Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu.

(Ngôn chí- Bài II)

Nớc kiến phong quang hầu mấy kiếp?

Rừng nho nấn ná mãi qua ngày.

(Tự thuật- Bài I)

Buồng văn đắp cửa lọn ngày thu.

Đèn sách nhàn làm thong thả nho.

(Thuật hứng- Bài XIII)

1.3 giá trị nội dung và nghệ thuật của các bài, các câu thơ thể hiện truyền thống hiếu học trong thơ Nôm Nguyễn Trãi

1.3.1 ở các bài trực tiếp thể hiện truyền thống này

Tuy số lợng không nhiều nh đã chỉ ra ở trên, nhng các bài, các câu thuộcloại này đều có giá trị nội dung sâu sắc, có tầm khái quát cao và có hình thức thểhiện độc đáo

1.3.1.1 Về phơng diện nội dung

Từ thực tế cuộc sống, tiếp thu truyền thống hiếu học của dân tộc, NguyễnTrãi đã viết nên những câu thơ nhằm mục đích khẳng định vai trò, tác dụng củaviệc học đối với mỗi ngời:

Nên thợ, nên thầy, vì có học,

No ăn, no mặc, bởi hay làm.

Trong hai câu thơ đó, tác giả đã đa ra một thực tế hiển nhiên, có tính quyluật trong cuộc sống Đó là ngời ta muốn đợc làm thợ hay làm thầy, nghĩa là trởthành con ngời có ích cho xã hội thì phải coi trọng việc học hành Câu thơ đầunói rõ nguyên nhân dẫn tới sự thành đạt cho mỗi một con ngời

Trang 17

Thái độ khẳng định tầm quan trọng của việc học trong thơ Nôm Nguyễn

Trãi còn bộc lộ rõ trong các câu: Ai học thì hay mựa lệ chầy; Nhiều của chẳng

qua vì chữ nghĩa Trong câu thứ nhất Ai học thì hay mựa lệ chầy, tuy có các từ

cổ là “Truyền thống hiếu học của ngmựa lệ chầy” tạo nên sự khó hiểu đối với ngời hiện thời, nhng chúng tavẫn thấy đợc dụng ý của thi nhân là muốn nói mọi ngời về vai trò quan trọng của

việc học ý câu thơ này giống với ý câu tục ngữ Ăn vóc, học hay Không những thế, ở câu thứ hai: Nhiều của chẳng qua vì chữ nghĩa, Nguyễn Trãi lại tiếp tục

nói rõ nguyên nhân sự giàu có của con ngời không phải là điều khó hiểu Tất cả

là do có chữ, có nghĩa, chú trọng việc học hành Trong câu thơ này, tác giả còn

đề cập tới một yêu cầu trong việc học của con ngời: Học chữ đi đôi với hiểu

nghĩa trong từng câu chữ Yêu cầu đó còn đợc thể hiện rõ qua các câu thơ: Đọc

sách thì thông đòi nghĩa sách; hoặc là: Đọc sách thì xem thấy thánh hiền

Cũng nh con ngời Việt Nam nói chung, xuất phát từ nền tảng của truyền

thống hiếu học, trong Quốc âm thi tập còn có những câu thơ diễn tả giá trị của

tri thức đối với Nguyễn Trãi nói riêng và với tất cả mọi ngời nói chung Giá trị

đó đợc thể hiện qua hình ảnh “Truyền thống hiếu học của ngThiên th, án sách”

Thiên th án sách qua ngày tháng, Một khắc cầm nên mấy lạng vàng.

Viết những câu thơ này, chắc chắn Nguyễn Trãi đã chịu ảnh hởng sâu sắc

quan niệm về giá trị của việc học đợc gửi gắm trong các câu tục ngữ: Một kho

vàng không bằng một nang chữ; hoặc câu: Chữ thánh, gánh vàng

Do coi trọng việc học, rất hiếu học cho nên trong Quốc âm thi tập, Nguyễn

Trãi còn viết nên những câu thơ bày tỏ lòng biết ơn công lao thầy dạy dỗ, bộc lộ

thái độ “Truyền thống hiếu học của ngTôn s trọng đạo”.: Ơn thầy, ơn chúa, liễn ơn cha Công ơn của thầy đợc

ức Trai đa lên vị trí hàng đầu, có phần khác với quan niệm chung của những tríthức Nho học theo giáo lý tam cơng: “Truyền thống hiếu học của ngQuân, s, phụ” ở đây, ngời thầy đứng ở vịtrí thứ hai, sau vua và trớc cha T tởng đó của Nguyễn Trãi bắt gặp t tởng của

nhân dân với câu tục ngữ: Không thầy đố mày làm nên.

Trong một bài thơ khác, ở mục Bảo kính cảnh giới, (bài XLI), Nguyễn Trãi còn bảy tỏ suy nghĩ của mình về tác dụng cùng với mục đích của việc học: Một

nửa thi th dõi nghiệp nhà Với Nguyễn Trãi, thơ và sách (biểu hiện của việc học)

không ngoài mục đích dành một nửa vì đại nghĩa, còn một nửa để nối nghiệpnhà Trong quan niệm của nhân dân ta nghiệp nhà cũng là nghiệp nớc Do đó,nối nghiệp nhà cũng là vì việc nớc

Với những vần thơ đầy tâm huyết nh đã trình bày, chúng ta thấy rõ,Nguyễn Trãi đã cất lên tiếng nói bằng ngôn ngữ thơ ca để cùng với nhân dân,

Trang 18

cùng với non sông, đất nớc một lần nữa khẳng định truyền thống hiếu học trong

đời sống tinh thần dân tộc

1.3.1.2 Về phơng diện nghệ thuật

Nh đã trình bày sơ lợc ở phần phân loại, các câu thơ trực tiếp thể hiện

truyền thống hiếu học trong Quốc âm thi tập đều có tính khái quát cao, mang

đậm màu sắc của ca dao, tục ngữ Để tạo nên giá trị khái quát về ph ơng diện nộidung, Nguyễn Trãi đã sử dụng các từ ngữ có tính khẳng định, nhấn mạnh, nói rõnguyên nhân nh: “Truyền thống hiếu học của ngVì”., “Truyền thống hiếu học của ngchẳng qua”.… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr

Đặc biệt nhà thơ ức Trai còn dùng một số từ có tính khẩu ngữ, tạo ra nhữngcâu theo kiểu suy luận lôgic Điều thú vị là từ “Truyền thống hiếu học của ngthì” xuất hiện nhiều nhiều trong

một số câu đều có tính chất suy luận, giàu tính khái quát: Đọc sách thì thông đòi

nghĩa sách; Đọc sách thì xem thấy thánh hiền; Ai học thì hay mựa lệ chầy… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr Lốidiễn đạt này là do thơ Nôm Nguyễn Trãi rất gần gũi với lối nói của tục ngữ, cadao (sự tơng đồng ấy sẽ đợc trình bày ở chơng 3 của khoá luận)

Thái độ coi trọng, đề cao việc học của Nguyễn Trãi thờng đợc đặt trongnhững câu thơ có cấu trúc cân xứng Tiêu biểu vẫn là các câu:

Nên thợ, nên thầy, vì có học,

No ăn, no mặc, bởi hay làm.

Hoặc:

ơn thầy, ơn chúa, liễn ơn cha.

Sự điệp lại một số từ trong những câu thơ đó cũng tạo ra sắc thái ổn định,lâu bền nh là một truyền thống bất di bất dịch

Trong một vài câu thơ trực tiếp thể hiện truyền thống hiếu học, tác giả còndùng thủ pháp so sánh làm cho một khái niệm trừu tợng đã hiện hình cụ thể

Thiên th án sách qua ngày tháng

1.3.2 ở các bài gián tiếp thể hiện truyền thống hiếu học

1.3.2.1 Về phơng diện nội dung

Trang 19

Trong các bài thơ, câu thơ thuộc loại này, tác giả nói nhiều tới việc đọcsách, ngâm thơ, đến nợ công danh và quan niệm về tài, đức… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, trNgoài ra còn cómột số bài nói tới chữ “Truyền thống hiếu học của ngnhàn” trong quan hệ với một số biểu hiện của tinh thần

ham học ở một nhà nho khi đã lâm vào tình cảnh: Triều quan chẳng phải, ẩn

chẳng phải (bài Thủ vĩ ngâm).

Trớc hết, trong Quốc âm thi tập hiển hiện chân dung một con ngời đúng

nh nhà nghiên cứu Nguyễn Thiên Thụ đã từng nhận xét: “Truyền thống hiếu học của ngVui với thú đọc sách” Nguyễn Trãi nói tới quyển sách, phiến sách, hoàng quyển (sách vàng) cùng với

đọc sách, ngâm sách… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr rất nhiều lần trong các bài thơ ở Quốc âm thi tập thực

chất để bộc lộ niềm say mê của bản thân đối với việc học Ông luôn xem sách vở

là ngời bạn thân thiết: Sách một hai phiên làm bầu bạn; án sách, cây đèn hai

bạn cũ.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở bất cứ lúc nào, dù lúc còn trẻ hay đã về già,

dù khi còn làm quân s cho Lê Lợi hay đã lui về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi

đều chăm lo trau dồi tri thức, xem việc học là công việc phải suốt đời theo đuổi

Chính vì lẽ đó mà trong Quốc âm thi tập, hình ảnh một con ngời ngồi bên án

sách, thức khuya cùng ngọn đèn để đọc sách, xem sách, ngâm sách cứ trở đi trởlại nhiều lần trong một số bài, một số câu thơ Lúc đã về ở ẩn, để vơi bớt nỗibuồn trớc nhân tình thế thái:

Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn Lòng ngời quanh nớc non quanh

Nguyễn Trãi đã lấy việc đọc sách, ngâm thơ làm niềm vui thú ức Trai

muốn đợc làm một “Truyền thống hiếu học của ngkhách văn chơng” với Thơ đầy túi, rợu đầy bầu, để giữ trọn

tâm hồn trong sạch của con ngời đã từng đợc đào tạo từ “Truyền thống hiếu học của ngtrờng ốc” và trờng đời.Nguyễn Trãi theo nghiệp đèn sách không phải vì mình mà ông “Truyền thống hiếu học của ngđi học, đithi là vì cái nghĩa lớn đối với nhà nớc” Đúng nh Hoài Thanh đã từng khẳng định(Đã trích dẫn ở phần lịch sử vấn đề)

Trong số những câu gián tiếp thể hiện truyền thống hiếu học ở tập thơ

Quốc âm của ức Trai, có những bài, những câu tuy nói tới nợ công danh của

đấng nam nhi, của ngời quân tử nhng ẩn ý sâu xa trong đó vẫn có vai trò của việchọc hành Chẳng hạn nh câu:

Tài luận công danh hợp mọi bề Dại ngay nên thiếu kẻ khen chê

(Bài XIV- Tự thuật)

Trang 20

Hai câu thơ đó tuy tác giả luận về công danh nhng nội dung của nó có liênquan đến việc học vì rằng: Ngời có học thì mới khôn, nếu không sẽ trở thành kẻdại Mà đã dại khờ thì làm sao trả đợc nợ công danh Nhân dân ta cũng thờngnói: Muốn công thành danh toại thì phải tu chí học hành.

Có một số câu thơ ở tập Quốc âm, Nguyễn Trãi còn thể hiện quan niệm của bản thân về đức và tài: Có đức còn hơn nữa có tài; Tài thì kém đức một vài

phân… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, trMuốn trả nợ công danh, con ngời vừa phải có đức vừa phải có tài Nhnggiữa đức và tài theo Nguyễn Trãi, đức vẫn là điều cốt yếu bởi vì ông là một nhàtrí thức Nho học Các nhà nho chân chính, trong đó có Nguyễn Trãi đều coi

trọng đạo đức Cũng vì lẽ ấy, trong một bài thơ khác cũng ở tập Quốc âm,

Nguyễn Trãi đã tự dặn mình:

Chớ lấy hại ngời làm ích kỷ;

Hãy năng tích đức để cho con.

(Bảo kính cảnh giới- Bài XXII).

Tuy rất coi trọng đạo đức, nhng Nguyễn Trãi không hề phủ nhận tài năng.Con ngời muốn có đợc cả hai điều đó, tuy ức Trai không nói rõ nhng ngời ta vẫnhiểu ông khuyên là phải coi trọng việc học hành nh nhân dân thờng nói: phải rèn

đức luyện tài Việc học với Nguyễn Trãi còn gắn với quan niệm về chữ “Truyền thống hiếu học của ngnhàn”

Có những câu thơ bộc lộ rõ điều đó: Thiên hơng đọc sách quét con am, tác giả

hiện rõ trong câu thơ đó nh một ẩn sỹ, nh một nhà hiền triết phơng Đông

Tóm lại, truyền thống hiếu học vẫn là di sản tinh thần quý báu của mỗi

ng-ời dân Việt Nam đã đợc Nguyễn Trãi biến thành tài sản của riêng mình để có thể

sử dụng ở mọi nơi, mọi lúc Sự vận dụng ấy thể hiện qua các vần thơ, tập thơ ở

Quốc âm sở dĩ gây đợc sự truyền cảm với mọi ngời là do Nguyễn Trãi đã diễn tả

Trang 21

đó luôn ngồi bên án sách, thao thức cùng cây đèn, xem cuốn sách là quyển vàng.Cụm từ “Truyền thống hiếu học của ngphiến sách” vừa là một cuốn sách, vừa gợi lên một mảnh tâm hồn của

ức Trai, luôn lấy sách vở làm nguồn vui thú, sự đam mê và còn là món ăn tinhthần không thể thiếu Sự kết hợp giữa các từ nh vậy còn góp phần tạo nên sắcthái trang trọng, biểu lộ tình cảm, thái độ đề cao truyền thống hiếu học của dântộc

Bằng việc sử dụng các từ, các cụm từ giàu sắc thái biểu cảm, truyền thốnghiếu học trong thơ Nôm Nguyễn Trãi đã đợc diễn tả một cách cụ thể, sinh động,trực cảm, giàu tính tợng trng ớc lệ, có sức âm vang, lay động lòng ngời Khôngnhững thế, trong tập thơ Nôm này, chúng ta còn bắt gặp các hình ảnh: “Truyền thống hiếu học của ngBể học”.,

“Truyền thống hiếu học của ngrừng nho”., “Truyền thống hiếu học của ngbuồng văn”., “Truyền thống hiếu học của ngtrờng văn”., “Truyền thống hiếu học của ngtúi quyển”., “Truyền thống hiếu học của ngtúi thơ”., “Truyền thống hiếu học của ngthơ nhàn”., “Truyền thống hiếu học của ngthơ

đầy túi”., “Truyền thống hiếu học của ngkhách văn chơng”.… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr Tất cả các hình ảnh cũng có tính ớc lệ đó đều gợilên quan niệm của Nguyễn Trãi về truyền thống hiếu học Với ông, việc họcgiống nh bể rộng mênh mông đầy sóng gió mà con ngời phải lao vào đó để rènluyện, thử thách, phải kiên trì, chịu khó thì mới tới đợc bến bờ Việc học trongquan niệm của Nguyễn Trãi vừa là một thú vui, vừa đầy gian khổ Đây còn làquan niệm về việc học theo tinh thần trọng văn hơn võ của các nhà Nho thờiphong kiến

Chơng II

truyền thống hiếu học của ngời Việt Nam trong

tục ngữ, ca dao

2.1 Truyền thống hiếu học trong tục ngữ

2.1.1 Giới thuyết khái niệm

Tục ngữ tồn tại trên thực tế với t cách là một thể loại của văn học dân gian.Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, 1990, tác giảHoàng Tiến Tựu định nghĩa tục ngữ nh sau:

“Truyền thống hiếu học của ngTục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức,nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dới hình thứcnhững câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền Lời ít,

ý nhiều, hình thức nhỏ nhng nội dung rất lớn, tính khái quát rất cao, nhiều khi

“Truyền thống hiếu học của ngđáng giá hàng pho sách” (Gorki)” [13, tr 109] Định nghĩa đó đã khái quát đợc

đặc trng bản chất của tục ngữ trên các phơng diện nội dung, chức năng, hìnhthức và giá trị

Tục ngữ thực chất là một loại sáng tác của nhân dân lao động, là “Truyền thống hiếu học của ngmột hìnhthái tổng hợp đặc biệt của tri thức dân gian có tính chất phi nghệ thuật văn học,

Trang 22

là ở chỗ nó làm ra vì mục đích khoa học và triết lý” [13, tr 243] Tục ngữ là disản văn hoá phi vật thể của mỗi dân tộc trên thế giới, bộc lộ bản sắc văn hoá củatừng dân tộc Do thể loại này có tính khái quát cao, giàu tính triết lý và đợc nhiềungời chấp nhận, cho nên nó thờng đợc các nhà văn, nhà thơ trong nền văn họcviết sử dụng nh một loại chất liệu đặc biệt để sáng tác văn chơng, trong đó cóNguyễn Trãi

2.1.2 Khảo sát, thống kê, phân loại các câu tục ngữ nói về truyền thống hiếu học của con ngời Việt Nam

Trong cuốn Tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin do Ngọc Quang (su

tầm, tuyển chọn), ở mục: “Truyền thống hiếu học của ngDạy dỗ, học tập, thi đấu… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr” tác giả đã tổng hợp đợc

118 câu thuộc chủ đề này Trong tổng số đó chỉ tính riêng những câu nói về họctập theo sự thống kê của chúng tôi đã có 54 câu, chiếm tỷ lệ hơn 45%

Khảo sát trong cuốn Kho tàng tục ngữ ngời Việt do Nguyễn Xuân Kính và

Phan Đăng Nhật (Chủ biên), Nxb Văn hoá- thông tin, 2002 ở mục: “Truyền thống hiếu học của ngGiáo dục,học tập, văn hoá, văn học nghệ thuật, vật võ, chọi gà, đấu cờ”., các soạn giả đãtổng hợp đợc 471 câu thuộc chủ đề này Chúng tôi đã dựa vào sự khảo sát của

ông Hoàng Minh Đạo để làm cơ sở phân tích để hiểu cặn kẽ hơn truyền thốnghiếu học

Trong tổng số 471 câu có tới 195 câu nói về truyền thống hiếu học, chiếm

tỷ lệ 45% Con số đó cũng đã nói lên một thực tế: Trong việc đúc kết kinhnghiệm với những phán đoán có tính chất “Truyền thống hiếu học của ngKhuyên răn, dạy bảo” (Chữ dùng củaDơng Quảng Hàm), tục ngữ rất chú trọng lĩnh vực giáo dục, học tập đối với conngời Về chủ đề này, trong 195 câu, tục ngữ ngời Việt đề cập 5 phơng diện:Vai trò của việc học đối với sự hiểu biết, thành đạt của con ngời Phơngdiện này có 36 câu Tiêu biểu:

- Ăn vóc, học hay

- Chẳng học sao hay

- Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học

- Dao có mài mới sắc, ngời có học mới khôn

Quan niệm về mục đích của việc học, thái độ học và cách học có 72 câu

Về mục đích của việc học, tục ngữ đã đúc kết một thực tế Đó là ngời Việt Namhọc mong đỗ đạt để rồi đợc làm quan:

-Học hành thì ích vào thân, quyền cao chức trọng dần dần theo sau -Nhà không con cháu học hay, chức tớc sang trọng có ai đem vào

Còn về cách học, tục ngữ đúc kết đợc những kinh nghiệm quý:

- Học bất nh hành

Trang 23

- Chữ một nghĩ mời

- Học không bao giờ muộn

- Bảy mơi còn học bảy mơi mốt

Nêu gơng sáng các làng, các dòng họ có lắm ngời đỗ đạt và phong tục gắnvới việc học Phơng diện này có tất cả 35 câu, trong đó có những câu:

- Nam Châm tiến sỹ, Đồng Luỹ tiến triều

Kinh nghiệm dạy dỗ con cái có 19 câu, ví nh những câu:

- Non chẳng uốn, già nổ đốt

- Dạy con từ thuở còn thơ

- Mài mực dạy con, mài son đánh giặc

- Học nh quốc kêu mùa hè (Học vẹt)

Đặc biệt, do coi trọng công tác giáo dục, đề cao việc học cho nên ngời dânlao động nêu rõ:

- Chữ thánh gánh vàng

- Một kho vàng không bằng một nang chữ

Ngoài ra, bằng tục ngữ, ngời dân lao động nớc ta còn bộc lộ thái độ tôn strọng đạo Có một số câu có thể kết thành một chuỗi đều thể hiện truyền thốngtốt đẹp này:

- Không thầy đố mày làm nên

- Nhất tự vi s, bán tự vi s

- Nhất nhật vi s

- Trọng thầy lại đợc làm thầy

- Lạy lục khúm núm không bằng ghi tạc lời thầy

Trang 24

Tất cả các phơng diện trên đều hợp thành một “Truyền thống hiếu học của nghệ thống hữu cơ” (chữ dùngcủa Trần Ngọc Thêm khi định nghĩa về văn hoá) nói lên truyền thống hiếu họccủa con ngời Việt Nam Có đợc bức tranh tổng hợp đó về nét nổi bật của bản sắcvăn hoá Việt Nam là do chúng tôi đã tiếp cận tục ngữ trong cái nhìn hệ thống

2.1.3 giá trị nội dung và nghệ thuật của một số câu tục ngữ đúc kết truyền thống hiếu học

2.1.3.1 Gía trị nội dung

Nhân dân ra giàu tình nhân ái, cần cù, sáng tạo trong lao động, đặc biệt rấthiếu học Để giáo dục con cháu trong gia đình chăm chỉ học hành, ông bà cha

mẹ thờng lấy tục ngữ làm bài học thấm thía Phơng pháp học tập rất phong phú,

đa dạng, mục đích học tập vừa thiết thực, vừa sâu xa nên tục ngữ nói về việc họccũng nhiều vẻ Mỗi câu tục ngữ nói về việc học là một bài học quý đối với conngời

Nhân dân ta có truyền thống tôn s trọng đạo và rất hiếu học Mỗi gia đìnhViệt Nam dù khó khăn đến mấy, các bậc cha mẹ đều lo cho con cái đợc họchành nên ngời:

Tiên học lễ, hậu học văn

“Truyền thống hiếu học của ngTiên” là trớc, “Truyền thống hiếu học của nghậu” là sau “Truyền thống hiếu học của ngHọc lễ” nghĩa là học lễ nghĩa, đạo đức… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr

“Truyền thống hiếu học của ngHọc văn” nghĩa là học văn chơng, văn hoá, chữ nghĩa, khoa học kỹ thuật Tiênhọc lễ, hậu học văn nghĩa là trớc tiên phải học lễ nghĩa, đạo đức, đạo lý làm ng-

ời, sau đó mới học đến văn chơng, chữ nghĩa, học các kiến thức về khoa học xãhội, khoa học tự nhiên… là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” [10, tr Câu tục ngữ khẳng định việc lu truyền đạo đức cho họcsinh là vô cùng quan trọng để hình thành nhân cách văn hoá cho thanh thiếu nhi.Học để làm ngời, con ngời có nhân cách và có văn hoá; học để tài giỏi, ng-

ời công dân tốt, ngời lao động giỏi, đem đức tài làm rạng rỡ cho gia đình, cho Tổquốc

Đức và tài là hai nhân tố kết hợp thành nhân cách văn hoá Học để pháttriển đức và tài Đạo đức là cái gốc của con ngời, tài năng chỉ có thể phát triểnrực rỡ trên nền tảng của đạo đức Cây cối phải có sâu rễ, gốc bền mới có nhiềuhoa thơm, quả ngọt Con ngời cũng vậy, đạo đức, t cách là điều kiện làm nảy nở

tài năng Do đó, ngời dạy cũng nh ngời học phải biết Tiên học lễ, hậu học văn

một cách sâu sắc Một ngời học cha đợc giáo dục đến nơi đến chốn thì đừng vội

“Truyền thống hiếu học của nghọc văn” vì có “Truyền thống hiếu học của nghọc văn” cũng vô ích Kẻ có tài mà kém đức là vô dụng, chỉlàm nên những chuyện bất lơng

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chu Xuân Diên (chủ biên): Tục ngữ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
3. Hoàng Minh Đạo: Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hoá, VHDG, 2006, sè 1, tr 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hoá
4. Ninh Viết Giao (chủ biên): Kho tàng ca dao xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao xứ Nghệ
Nhà XB: Nxb Nghệ An
5. Nguyễn Xuân Kính (chủ biên): Kho tàng tục ngữ ngời Việt, tập 2, Nxb Văn hoá- thông tin, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng tục ngữ ngời Việt
Nhà XB: Nxb Văn hoá- thông tin
6. Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội (tái bản lần thứ 8), 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội(tái bản lần thứ 8)
7. Nguyễn Cảnh Phức: Cầu Kiều nghĩa là gì? VHDG, 1997, số 3, tr 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cầu Kiều nghĩa là gì
8. Ngọc Quang (su tầm, tuyển chọn): Tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hoá- thông tin, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá-thông tin
9. Ngọc Quang (su tầm, tuyển chọn): Ca dao Việt Nam, Nxb Văn hoá- thông tin, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá-thông tin
11.Khổng Đức Thiêm: Phơng ngôn truyền thống cứ nghiệp kinh Bắc, TCVH, 1994, sè 3, tr 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng ngôn truyền thống cứ nghiệp kinh Bắc
12.Trơng Xuân Tiếu: Đất nớc, con ngời xứ Nghệ qua Kho tàng ca dao xứ “ Nghệ”, VHDG, 1997, số 3, tr 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nớc, con ngời xứ Nghệ qua Kho tàng ca dao xứ"“"Nghệ
13.Hoàng Tiến Tựu:Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14.Hoàng Tiến Tựu: Bình giảng ca dao, Nxb Giáo dục, (tái bản lần thứ 9), 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giảng ca dao
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w