1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số đề xuất góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thực hành giảng dạy của sinh viên sư phạm ngữ văn

8 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 505,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nhằm chỉ ra những điểm bất cập trong hoạt động thực hành giảng dạy của sinh viên sư phạm Ngữ văn. Bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường chất lượng cho hoạt động này như: Tăng thời lượng thực hành, đa dạng hóa các hình thức hoạt động thực hành, tạo môi trường thực tế cho sinh viên thực hành, thay đổi cách đánh giá và kiểm tra.

Trang 1

ThS NGUYỄN THỊ XUÂN

QUỲNH

Khoa Sư phạm Ngữ văn, Đại học Vinh

Điện thoại: 01696367363 Email:

nguyenthixuanquynh@g mail.com

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH GIẢNG DẠY CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM NGỮ VĂN

TÓM TẮT

Bài viết nhằm chỉ ra những điểm bất cập trong hoạt động thực hành giảng dạy của sinh viên sư phạm Ngữ văn Chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường chất lượng cho hoạt động này như: tăng thời lượng thực hành, đa dạng hóa các hình thức hoạt động thực hành, tạo môi trường thực tế cho sinh viên thực hành, thay đổi cách đánh giá và kiểm tra

Từ khóa: hoạt động thực hành giảng dạy, sinh viên sư phạm Ngữ văn, bất cập, học tập chủ động

ABSTRACT

Suggestions to improve the quality in Literature and Language arts pedagogical

student’s practicum

This article addresses the drawbacks of Literature and Language arts pedagogical student‟s practicum We strongly recommend some suggestions to improve the quality of practicum such as increasing practicum duration, diversification

of practicum activities, building actual environment for practicum, changings in evaluation and testing

Key words: practicum, Literature and Language arts pedagogical student,

drawbacks, active-learning

Trang 2

Giáo dục của chúng ta hiện đang đối mặt với thực tế rằng: học sinh phổ thông ngày càng mất dần hứng thú với môn Ngữ văn Điều này một phần xuất phát từ tính giáo điều của chương trình sách giáo khoa Ngữ văn Sự giới hạn những cách tiếp cận đối với các tác phẩm đã làm hạn chế thậm chí “giết chết” trí tưởng tượng phong phú và khả năng sáng tạo của học sinh trong quá trình tự kiến giải các giá trị của bài học Mặt khác, sự suy giảm chất lượng dạy và học Ngữ văn cũng nằm trong vấn đề bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được những yêu cầu xã hội Soi xét quá trình giáo dục từ phương diện người tham dự, chúng tôi nhận thấy rằng, để đáp ứng được với những thay đổi và chuyển biến liên tục của thời đại người giáo viên cần phải có tinh thần thích ứng và những kỹ năng ứng phó linh hoạt với mọi tình huống sư phạm; bản thân mỗi giáo viên cũng phải tích cực tham dự vào quá trình tự đào tạo, tự đổi mới liên tục Mỗi lần cải cách giáo dục sẽ đẩy theo rất nhiều hệ lụy như việc cấu trúc lại chương trình, thay đổi nội dung sách giáo khoa, thay đổi quy chế tuyển sinh, hệ thống thi cử và tiêu chí đánh giá… Để đối phó với tình trạng luôn bất ổn này, cần thiết phải đổi mới đồng bộ trên mọi phương diện của quá trình giáo dục, trong đó vấn đề bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ giáo viên là một khâu then chốt

1

Tuy nhiên, hiện nay có không ít những bất cập trong vấn đề đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nảy sinh từ chính môi trường đào tạo sinh viên sư phạm

1.1 Chất lượng đào tạo giáo viên phổ thông của chúng ta bị giảm sút một phần do chất

lượng đầu vào quá thấp, cộng thêm nguy cơ thất nghiệp và sự lạnh nhạt của xã hội đối với nghề sư phạm đã làm chùn bước rất nhiều học sinh có khả năng và giàu nhiệt huyết Thay vì theo đuổi nghề sư phạm đầy vất vả rồi khi ra trường phải chấp nhận mức lương

ít ỏi hoặc không xin được việc, lựa chọn một ngành học “hot” như kinh tế, luật, ngân hàng… thường là lựa chọn “an toàn” cho các em học sinh cũng như phù hợp với tâm lí của hầu hết phụ huynh Ngành sư phạm là nơi lẽ ra tập trung nhiều nhất những nhân tố khá giỏi lại trở thành một lựa chọn thứ yếu trong cơ hội nghề nghiệp của một số bạn học sinh Ở đây, chúng tôi không có ý định “cào bằng”, nhận định thiếu công bằng hay chủ quan cho tất cả các trường hợp lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên vì mỗi xu thế đều có tính hợp lí tại từng thời điểm và phản ánh những thay đổi nhất định trong tâm lý xã hội Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy rằng, ngay cả những học sinh dũng cảm lựa chọn theo đuổi nghiệp sư phạm cũng chưa hẳn đã hình dung ra được công việc mình sẽ làm trong tương lai, hay nói đúng hơn các bạn học sinh đang bị thiếu hụt kiến thức hướng nghiệp

từ trường phổ thông Chưa kể khi vào trường đại học, sự thiếu định hướng mục tiêu học tập của bản thân cùng với nỗi lo thất nghiệp trở thành nỗi ám ảnh nặng nề khiến làm suy giảm sự nhiệt tình và đam mê của những giáo viên tương lai Người giáo viên một khi

Trang 3

đã thiếu niềm tin và sự đam mê thì chất lượng của những sản phẩm giáo dục tạo ra không thể không bị ảnh hưởng ít nhiều

1.2 Hiện trạng chung về đào tạo giáo viên của nước ta cho thấy ở hầu hết các trường sư

phạm, việc đào tạo còn nặng về cung cấp kiến thức – thứ dễ dàng bị quá tải và lỗi thời (out of date) trong thời đại bùng nổ thông tin Vấn đề xây dựng khung chương trình còn chưa tương thích với mục tiêu và đối tượng đào tạo Khối lượng kiến thức đại cương chiếm quá nhiều trong lúc thời lượng dành cho thực hành chuyên môn, nghiệp vụ lại khá ít ỏi Giáo dục đại học vẫn chưa thoát khỏi nhược điểm: nhẽ ra trao cho người học

“cần câu” nhưng lại trao cho họ “con cá” Hệ quả, giáo dục cho ra đời những sản phẩm không phù hợp với yêu cầu, “thừa thầy, thiếu thợ” Sinh viên ra trường thiếu rất nhiều kĩ năng làm việc, thường lúng túng và không làm chủ được mọi tình huống, chưa kể những kiến thức được trau dồi ở nhà trường trở nên xa lạ đối với những nội dung thực tế mới của xã hội và ở trường phổ thông Truyền thông và báo chí gần đây đã liên tục cảnh báo về hiện tượng có không ít sinh viên sư phạm học lực khá giỏi nhưng kĩ năng và vốn thực tế quá ít nên khi ra trường cảm thấy loay hoay và không bám trụ được với nghề [1]

1.3 Việc hiện thực hóa mục tiêu giáo dục ở đại học đã thể hiện những bất cập do việc

quá chú trọng vào tiêu chí bồi dưỡng kiến thức mà chưa quan tâm thấu đáo tới vấn đề thực hành rèn nghề cho sinh viên Dù rằng, ở các trường đào tạo sư phạm, hàng năm luôn có một tháng phát động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm với các hình thức như: cuộc thi tìm hiểu nghiệp vụ sư phạm (tìm hiểu kiến thức, xử lí tình huống sư phạm, thiết kế giáo án ngoại khóa, hùng biện về nghề dạy học), cuộc thi giảng Do đặc thù của khung chương trình, những hoạt động này chỉ có thể hướng đến đối tượng là sinh viên năm thứ

3 – 4 đã học chuyên ngành và bắt đầu tiếp xúc với thực tế giảng dạy Sinh viên năm 1 –

2 phải dành thời lượng cho việc học các môn đại cương (khối kiến thức chung, kiến thức ngành văn học, kiến thức nghiệp vụ), đến năm thứ 3 – 4 sinh viên mới thực sự được làm quen với chuyên môn nghiệp vụ sắp tới của mình thông qua hệ thống đơn vị kiến thức chuyên ngành, cụ thể là các học phần Phương pháp dạy học Ngữ Văn (Phương pháp dạy đọc – hiểu tác phẩm văn học, phương pháp dạy học Làm văn, phương pháp dạy học Tiếng Việt, Thực hành phương pháp giảng dạy) Đáng kể nhất là sinh viên được đi kiến tập sư phạm trong hai tuần ở trường phổ thông vào năm thứ 3, và năm thứ 4, trước khi đi thực tập hai tháng tại các trường phổ thông, sinh viên được thực hành trước những kiến thức và kĩ năng cụ thể qua hoạt động tập giảng, nằm trong học phần Thực hành phương pháp giảng dạy Bản thân hoạt động tập giảng chỉ diễn ra tập trung trong một thời gian ngắn, việc đánh giá chủ yếu dựa trên thao tác soạn giáo án và thực hành giảng dạy trong vòng 45 phút (tương ứng một tiết dạy ở phổ thông) của sinh viên Chừng ấy hoạt động và thời lượng, thực sự chưa thể đáp ứng đầy đủ, thậm chí là quá ít ỏi đối với việc đào tạo một giáo sinh có đủ năng lực bước vào nghề, chưa kể đến

Trang 4

hiện của sinh viên hầu như là đối phó Cụ thể, qua thực tế hướng dẫn và quan sát chúng tôi nhận thấy rẳng, hầu như các bạn sinh viên khi được giao soạn giảng một bài học, thay vì bắt tay vào tự mày mò, tìm hiểu và lựa chọn cách giải quyết riêng thì thường (như một phản xạ có điều kiện) tìm kiếm các bài soạn mẫu trong vô số các sách thiết kế bài giảng trôi nổi trên thị trường, hoặc tìm kiếm và tải về (download) các bản giáo án tương tự từ thư viện giáo án điện tử trên mạng internet Trong khi đó, việc đánh giá của giảng viên hướng dẫn cũng bị khuôn vào những tiêu chí máy móc: giáo án tiến hành đủ

ba bước (Dẫn dắt vào bài, Nội dung triển khai, Kết thúc bài học), chia ba cột (Hoạt động của giáo viên, Hoạt động của học sinh, Nội dung kiến thức cần đạt), đi đúng trình tự, đảm bảo thời gian, có hoạt động phát vấn Tâm lí phổ biến của cả giảng viên hướng dẫn

và sinh viên đều coi tập giảng là một học phần thực hành nhẹ nhàng, mang tính thử sức Cách đánh giá của giảng viên vì thế thường chỉ mang tính chiếu lệ, “giơ cao đánh khẽ”; còn với sinh viên, hoàn thành xong tiết dạy đánh giá đồng nghĩa với mọi hoạt động thực hành cũng kết thúc

1.4 Những hạn chế về kĩ năng thực hành của sinh viên bộc lộ khá rõ trong quá trình

thực tập sư phạm tại các trường phổ thông Đa phần tâm lí sinh viên đều cảm thấy

“ngợp” khi về phổ thông, bởi áp lực vừa phải đảm nhiệm công tác chủ nhiệm vừa phải phụ trách giảng dạy chuyên môn Chưa kể việc soạn giáo án cũng có khác biệt về quy cách trình bày và hướng triển khai tùy theo từng giáo viên hướng dẫn khác nhau Do chưa được thực hành và rèn luyện nhiều thao tác đứng lớp nên khi giảng dạy trên thực

tế, giáo sinh thường mắc những lỗi cơ bản như: chưa cân đối được thời gian và phân chia hợp lí đơn vị kiến thức của bài giảng, quá ôm đồm kiến thức nên rơi vào độc thoại, thiếu tương tác với học sinh, lúng túng khi vận dụng những phương tiện dạy học hỗ trợ như Powerpoint và tổ chức các hình thức dạy học như thảo luận nhóm, phiếu thăm dò ý kiến, dạy học dự án… Sẽ có ý kiến phản đối rằng, những hạn chế này ngay đến một giáo viên lành nghề còn mắc phải huống hồ là những giáo sinh vừa mới bước chân vào thực tế nhà trường phổ thông Tuy nhiên, chúng tôi quan niệm rằng nếu thực sự chú trọng bồi dưỡng kĩ năng nghề và tạo môi trường thực hành cho sinh viên trong suốt quá trình ở đại học thì khi ngay ra trường chúng ta sẽ có một giáo viên vững vàng và chắc chắn vào nghề, rút ngắn thời gian cho quá trình “tự trưởng thành” Khi ấy, mỗi sinh viên

sư phạm tốt nghiệp ra trường đều đã là một sản phẩm “đạt chuẩn”, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của xã hội

2

Để góp phần nâng cao chất lượng cho hoạt động thực hành giảng dạy của sinh viên sư phạm, một hoạt động quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cũng như chuẩn bị tiền đề cho thực tập sư phạm trước khi ra trường của sinh viên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị và giải pháp cụ thể:

Trang 5

2.1 Trước hết, cần tăng thêm thời lượng cho hoạt động thực hành của sinh viên Hoạt

động thực hành giảng dạy phải được xác định là một nội dung học tập quan trọng, cần thiết phải duy trì thường xuyên trong toàn bộ quá trình học tập ở đại học của sinh viên

sư phạm Nội dung của hoạt động nên được chia đều cho các kì học Thay vì dồn dập mọi hoạt động thực hành vào kì thứ 7, trước khi sinh viên đi thực tập như hiện nay, từ năm đầu tiên sinh viên nên được tập đứng lớp, làm quen với việc đứng trên bục giảng

và diễn đạt một vấn đề cụ thể Dĩ nhiên, với kiến thức còn ít ỏi của năm đầu sinh viên chưa thể tự soạn giáo án cũng như chưa đủ năng lực và sự tự tin để truyền đạt kiến thức Nhưng, nếu được rèn luyện trước các kĩ năng mềm như kĩ năng đứng trước đám đông, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng làm chủ cảm xúc và xử lí các tình huống giao tiếp thông thường thông qua việc đứng lớp, sinh viên sẽ sớm có những hình dung rõ ràng

về nghề nghiệp từ đó có sự chuẩn bị cho việc rèn luyện nghề Học sinh sẽ được yêu cầu trình bày lại một vấn đề trong nội dung bài học, hoặc sẽ trình bày theo cách hiểu của mình về một nội dung mới trước các bạn trong lớp Tiêu chí đánh giá và mục tiêu dự kiến như vậy sẽ dựa trên khả năng điều chỉnh hành vi ngôn ngữ, hiệu quả tương tác với người nghe, cụ thể trong sự mạch lạc của lời nói và cách thức dẫn dắt vấn đề của mỗi sinh viên Kết hợp giờ thảo luận và giờ tự học vào trong cùng một buổi thực hành giảng dạy là một phương án vừa giúp tăng tính chủ động cho sinh viên trong giờ học vừa là biện pháp thiết thực hỗ trợ hình thành những kĩ năng sư phạm cơ bản Việc tăng giờ thực hành và thảo luận là yêu cầu cần thiết đối với mọi ngành đào tạo, mọi môn học, song riêng với đặc thù của nghề sư phạm, đặc biệt là ngành sư phạm Ngữ văn, hoạt động thực hành này càng có tầm quan trọng hơn Bởi ở một người giáo viên dạy Văn đòi hỏi rất nhiều tố chất trong đó có kĩ năng giao tiếp thành thục, năng lực truyền cảm hứng, tạo sự thu hút và gây ảnh hưởng tới người khác Giờ dạy học văn diễn ra thành công khi người thầy qua bài giảng lôi cuốn của mình truyền được cho học sinh niềm đam mê và khát vọng khám phá cuộc sống và bản thân Trên thực tế, năng khiếu

sư phạm phần nhiều có được là do sự rèn luyện chứ không thuần là một yếu tố bẩm sinh Do đó, nếu được triển khai đồng bộ và có kế hoạch cụ thể ở các học phần và các học kì, hoạt động thực hành chắc chắn sẽ đưa lại hiệu quả rõ nét cho chất lượng giảng dạy và học tập của cả giảng viên và sinh viên Ở từng học phần tùy vào khối lượng kiến thức, giảng viên sẽ bố cục chương trình sao cho phù hợp để lồng ghép được vào

đó các giờ thực hành giảng dạy Vấn đề thiết kế nội dung thực hành giảng dạy sẽ dựa trên việc gắn kết kiến thức phân môn với phương pháp giảng dạy đặc thù, những ứng dụng cụ thể của đơn vị kiến thực đó trong sách giáo khoa phổ thông

2.2 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức hoạt động thực hành giảng dạy Trong đợt tập

giảng, nhiệm vụ của mỗi sinh viên là soạn ít nhất 3 giáo án và chọn giảng 1 tiết trong 3 bài đã soạn Để tăng tính chủ động và rèn luyện việc thao tác linh hoạt cho sinh viên,

Trang 6

45 phút mỗi sinh viên có thể bốc thăm chọn giảng một phần, mục bất kì trong bài: phần Tiểu dẫn tác phẩm, phần Đọc hiểu chi tiết tác phẩm, phần Luyện tập các thao tác làm văn… Bên cạnh đó, để củng cố cho những phương pháp đã được học trong các học phần Phương pháp dạy học Ngữ văn, trong mỗi giờ thực hành giảng viên có thể yêu cầu sinh viên ứng dụng một phương pháp vào việc dạy một đơn vị kiến thức cụ thể Chẳng hạn, yêu cầu sử dụng phương pháp diễn giảng cho việc dạy mục Tiểu dẫn của

các bài Hạnh phúc của một tang gia, Chí Phèo, Vĩnh biệt Cửu trùng đài (sách giáo khoa 11, tập 1, cơ bản); ứng dụng phương pháp dạy học nhóm cho các bài Luyện tập về thao tác lập luận so sánh, Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản (Sách giáo khoa 11, tập 1, cơ bản), ứng dụng phương pháp dạy học dự án cho các bài Một số thể loại văn học: thơ, truyện (sách giáo khoa 11, tập 1, cơ bản), Một số thể loại văn học: kịch, nghị luận (sách giáo khoa 11, tập 2, nâng cao) Thêm nữa, danh mục các bài

trong sách giáo khoa được chọn để thực hành cần phải phong phú hơn, vừa có chương trình cơ bản vừa có chương trình nâng cao, có cả Làm văn, Tiếng Việt và Đọc - hiểu văn bản để sinh viên có dịp bao quát hết chương trình phổ thông, làm quen với mọi dạng bài Việc lựa chọn bài dạy có thể cho phép sinh viên bốc thăm hoặc đề xuất, khuyến khích thái độ chủ động nghiên cứu và tìm hiểu nội dung sách giáo khoa – công

cụ quan trọng của hoạt động giảng dạy

Hơn nữa, sinh viên sư phạm sau khi ra trường không chỉ trở thành những giáo viên mà còn là những nhà quản lí giáo dục tương lai, vì vậy cần khuyến khích các em tham gia vào quá trình nhận xét, phản biện và đóng góp cho chương trình sách giáo khoa Qua những giờ hoạt động thực hành, trên tinh thần trao đổi dân chủ giữa hai chủ thể của hai quá trình dạy và học, giảng viên yêu cầu sinh viên nêu những ý kiến phản hồi về công việc tương tác của mình đối với nội dung kiến thức được học cũng như với chương trình sách giáo khoa Sinh viên sư phạm sẽ thực sự trở thành một mắt xích quan trọng gắn kết và là “kênh” chuyển tiếp giữa khối lượng kiến thức đào tạo nghề ở đại học và kiến thức cụ thể của chương trình phổ thông Như vậy, giáo dục sẽ giảm thiểu tình trạng “học một đường, làm một nẻo”, tách rời giáo dục đại học và phổ thông, góp phần đưa giáo dục đại học đáp ứng đúng nhu cầu thực tiễn đời sống

2.3 Cần tạo thêm môi trường thực tế cho sinh viên sư phạm rèn luyện Một số trường

đại học sư phạm đã xây dựng mô hình trường phổ thông thực hành ngay trong trường Giảng viên đại học chuyên về phương pháp dạy học Văn có thể trực tiếp tham gia giảng dạy chương trình phổ thông với mục đích trực tiếp nắm bắt nhu cầu thực tế của phổ thông, đánh giá chất lượng của việc cải cách chương trình sách giáo khoa, ứng dụng hiệu quả một số phương pháp dạy học mới Bên cạnh đó, những giờ dạy của giảng viên phương pháp sẽ trở thành những giờ học trực quan, tiết dạy “mẫu” cho sinh viên học tập và rút kinh nghiệm Ngoài ra, cần thiết phải dành thêm không gian trường thực nghiệm cho hoạt động thực hành giảng dạy của sinh viên sư phạm Sinh viên năm

Trang 7

nhất, năm hai có thể tới quan sát và dự giờ, trong lúc sinh viên năm 3 và năm 4 sẽ trực tiếp thực hành hành giảng dạy một số tiết dưới sự giám sát và hướng dẫn của giảng viên Năm thứ 4, trước khi ra trường sinh viên cần dành nhiều thời lượng học tập cho việc thực hành tại trường thực hành, đặc biệt sinh viên nên được giao nhiệm vụ trợ giảng cho các tiết học thực hành và thảo luận

Các trường đại học cần chú trọng thêm về điều kiện cơ sở vật chất cho sinh viên thực hành Trong điều kiện chưa có trường thực hành, mỗi đơn vị đào tạo phải liên hệ

và bắt nối với các trường phổ thông ở các địa phương để sinh viên có địa điểm quan sát học tập và thực hành giảng dạy trực tiếp trong hai đợt kiến tập và thực tập Chủ động trong việc kết nối với các địa chỉ này không những giúp giải quyết bài toán về môi trường thực tế cho sinh viên rèn luyện nghiệp sư phạm mà còn giúp tăng khả năng ứng dụng và trải nghiệm kiến thức cho sinh viên về thực tế giáo dục hiện nay Ngay tại đại học, trường phải ưu tiên thiết kế những phòng thực hành dành riêng cho rèn luyện nghiệp vụ, được bố trí đầy đủ các thiết bị hỗ trợ như internet, máy chiếu, màn hình, hệ thống âm thanh… Ngoài ra, trong các học phần về phương pháp sinh viên cần được cập nhật và giới thiệu về những phương pháp và hình thức dạy học tiên tiến, mới mẻ Với môn Ngữ văn, sinh viên sẽ được bổ trợ thêm kĩ năng ứng dụng các phần mềm tin học để hỗ trợ cho bài giảng như: Power Point bài giảng điện tử, thư viện ảnh tư liệu từ Picasa, phần mềm download các video phim tư liệu trên Youtube…

2.4 Thay đổi cách đánh giá, cho điểm đối với hoạt động thực hành giảng dạy, kết hợp

đánh giá của giảng viên và tự đánh giá của sinh viên Theo quan điểm dạy học chủ động, giảng viên cần tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên tự đánh giá lẫn nhau Khi tập giảng, sinh viên cùng tham gia đóng vai thầy – trò, một sinh viên đứng lớp giảng bài trong khi những sinh viên khác sẽ đóng vai học trò Sau mỗi phiên giảng, sinh viên đó

sẽ phải tự đánh giá về tiết dạy của mình, nghe đánh giá và ý kiến đóng góp từ các bạn khác ở phương diện người học, và cuối cùng là nhận xét của giảng viên hướng dẫn ở phương diện người dự giờ Việc đánh giá của giảng viên với hoạt động thực hành nên linh hoạt, kết hợp từ nhiều kênh, xuyên suốt trong cả một quá trình dựa trên nhiều tiêu chí hoạt động cụ thể Như vậy, tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động không còn khuôn vào việc thiết kế giáo án và một giờ thao tác tập giảng như trước Sự thay đổi trên cả quan điểm lẫn hình thức đánh giá như thế sẽ kích thích tinh thần dân chủ cho sinh viên, giúp rèn luyện kĩ năng đánh giá và tự đánh giá thông qua quan sát và thực thi các nhiệm vụ Đây là một trong những mục tiêu hướng đến của quan điểm dạy học chủ động - đánh giá sự tiến bộ của hoc sinh thông qua trải nghiệm những hoạt động học tập

đa dạng, phong phú; người học được khuyến khích thử nghiệm những hình thức và phương pháp cải tiến mới cho nội dung học tập

Trang 8

Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông, dạy học Ngữ văn trong nhà trường đòi hỏi những thay đổi và chuyển biến tích cực từ nhiều phương diện Để thích ứng với nhu cầu đổi mới, vấn đề đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Ngữ văn “đạt chuẩn” vừa là nhiệm vụ then chốt vừa là một thách thức lớn đặt ra đối với các trường sư phạm Đối với sinh viên, trước khi thực sự bước vào nghề, cùng với việc học tập và trau dồi kiến thức đại cương, các em cần được trang bị đầy đủ những kiến thức về nghiệp vụ sư phạm, được rèn luyện nghề thông qua các hoạt động cụ thể Thực hành giảng dạy, theo đó là một nội dung học tập có ý nghĩa thiết thực và quan trọng, giúp tạo lập những tình huống thực tế cho sinh viên làm quen và thích ứng dần với công việc giảng dạy trước khi đi thực tập và ra trường Cũng thông qua hoạt động này, nhà trường có căn cứ để kiểm tra, đánh giá khả năng vận dụng và chuyển hóa kiến thức của mỗi sinh viên Có thể nói, trong thực tế “thừa thầy, thiếu thợ” của giáo dục Việt Nam hiện nay, việc chú ý đúng mức đến hoạt động thực hành giảng dạy cho sinh viên sư phạm sẽ thúc đẩy vấn đề đào tạo và rèn nghề, nâng cao chất lượng nhân lực cho đội ngũ giáo viên tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Anh (2013), “Sinh viên sư phạm còn “nghèo” kĩ năng và vốn thực tế”, Báo

Pháp luật TP HCM, ngày 05/12/2013

2 Nguyễn Thành Hải, Phùng Thúy Phượng, Đồng Thị Bích Thủy (2010), “Giới thiệu một số phương pháp dạy học cải tiến giúp học sinh chủ động và trải nghiệm, đạt các

chuẩn đầu ra CDIO”, Kỷ yếu Hội thảo CDIO, Đại học Quốc gia TP HCM, B-4/15

3 Trần Đình Sử (2013), “Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn”, nguồn:

trandinhsu.wordpress.com

4 Trần Đình Sử (2013), “Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên hiện nay – thực trạng và

giải pháp”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam, tr 939

Ngày đăng: 25/08/2021, 13:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w