Tính chất quan trọng của kì thi tuyển sinh vào các trường Trung học phổ thông cùng với yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục sau năm 2015 đặt ra vấn đề phải có những biến chuyển phù hợp ngay từ thời điểm hiện tại. Xác định đổi mới thi cử là khâu quan trọng, mang tính đột phá nhằm tác động mạnh mẽ và tích cực đến hoạt động dạy học ở bậc phổ thông, bài viết đề xuất cách kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn tuyển sinh lớp 10 tại Thành phố Hồ Chí Minh theo định hướng đánh giá năng lực của học sinh.
Trang 1ThS TRẦN TIẾN
THÀNH
ThS NGUYỄN PHƯỚC BẢO KHÔI
- Sở Giáo dục và Đào tạo
TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 0909799184 Email:
tienthanhsgd@yahoo.co
m
- Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0903629314 Email:
npbkhoiaval@yahoo.com
ĐỔI MỚI ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN TUYỂN SINH VÀO TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH THEO HƯỚNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
TÓM TẮT
Tính chất quan trọng của kì thi tuyển sinh vào các trường Trung học phổ thông cùng với yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục sau năm 2015 đặt ra vấn đề phải có những biến chuyển phù hợp ngay từ thời điểm hiện tại Xác định đổi mới thi cử là khâu quan trọng, mang tính đột phá nhằm tác động mạnh mẽ và tích cực đến hoạt động dạy học ở bậc phổ thông, bài viết đề xuất cách kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn tuyển sinh lớp 10 tại Thành phố Hồ Chí Minh theo định hướng đánh giá năng lực của học sinh
Từ khóa: thi tuyển sinh, trung học phổ thông, kiểm tra, Ngữ văn, thành phố Hồ
Chí Minh
ABSTRACT
The innovation of Literature and Language arts test in high school entrance
examination in Ho Chi Minh City according to the capability assessment
The importance of high school entrance examination and the requirements for comprehensive innovation in education after 2015 bring into question the demand of appropriate changes Determining that innovation in examination is an important step and a breakthrough aimed at strong and positive influence on teaching, the article
proposes the method of evaluation of Literature and Language arts test in high school
entrance examination in Ho Chi Minh City according to the students‟ capability assessment
Trang 2Từ khóa: entrance examination, high school, testing, Literature and Language
arts, Ho Chi Minh City
1 Cấu trúc đề thi môn Ngữ Văn tuyển sinh lớp 10 tại thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay
Mục tiêu của môn Ngữ văn là giúp học sinh (HS) có những kiến thức phổ thông,
cơ bản, hiện đại, hệ thống về văn học và tiếng Việt Từ đó bắt đầu hình thành cho HS
năng lực tiếp nhận và tạo lập các kiểu văn bản ở cấp trung học cơ sở (THCS) và nhằm
nâng cao năng lực đọc – hiểu văn bản và làm văn ở cấp trung học phổ thông (THPT)
Đặc biệt ở cấp THPT phải hình thành và phát triển các năng lực ngữ văn với yêu cầu
cao hơn cấp THCS: năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện ở bốn kĩ năng cơ bản (nghe,
nói, đọc, viết), năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học và năng
lực thực hành ứng dụng
Thế nhưng trên thực tế đề tuyển sinh lớp 10 môn Ngữ văn tại thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng và đa số các tỉnh thành khác nói chung vẫn chủ yếu tập trung kiểm tra
kiến thức, sự hiểu biết về các văn bản HS được học trong sách giáo khoa, ít gắn với thực
tế cuộc sống
Bảng 1: Cấu trúc đề thi môn Ngữ Văn tuyển sinh lớp 10 tại thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay
Câu 1: Kiểm tra
kiến thức văn học:
tác gia, tác phẩm
văn học Việt Nam
HS trả lời câu hỏi ngắn về tác gia, tác phẩm văn học Việt Nam đã được học
Đánh giá khả năng ghi nhớ, nhận biết, thông hiểu của HS
1
Câu 2: Bài tập tiếng
Việt
Giải bài tập tiếng Việt theo yêu cầu;
ngữ liệu chủ yếu ở sách giáo khoa Ngữ văn 9
Đánh giá khả năng sử dụng các kiến thức, khái niệm cơ bản về tiếng Việt
để giải quyết một vấn đề quen thuộc
đã học hoặc tương tự
1
Câu 3: Viết bài văn
nghị luận xã hội
Tạo lập một văn bản NLXH ngắn (khoảng
- Đánh giá khả năng nhận thức về các vấn đề thuộc về tư tưởng đạo lí và hiện
3
Trang 3(NLXH) 1 trang giấy thi) theo
nội dung, chủ đề cụ thể được yêu cầu
tượng xã hội gần gũi, quen thuộc với HS;
- Đánh giá khả năng vận dụng những kiến thức về đặc trưng thể loại, kết hợp các thao tác nghị luận và phương thức biểu đạt để viết bài NLXH
Câu 4: Viết bài văn
nghị luận văn học
(NLVH)
Tạo lập một văn bản NLVH: cảm nhận, phân tích đoạn thơ bài thơ, nhân vật văn học đã được học
Đánh giá khả năng vận dụng những kiến thức về tác giả, tác phẩm, về đặc trưng thể loại, kết hợp các thao tác nghị luận và phương thức biểu đạt để viết bài nghị luận
5
Theo cấu trúc trên, đề thi chưa thể hiện một qui trình đánh giá khoa học, người
ra đề chủ yếu ra đề theo hiểu biết cá nhân, kinh nghiệm Đề thi thường định sẵn hướng trả lời câu hỏi, nếu HS trả lời chệch hướng đáp án sẽ bị coi là lạc đề Hơn thế, hướng dẫn chấm thường đơn giản, xuôi chiều, ít cho HS thể hiện quan điểm cá nhân và phát huy được cá tính sáng tạo của các em Như vậy đề thi sẽ mang tính may rủi cao, làm nảy sinh tình trạng học tủ, học vẹt và việc luyện thi tràn lan Đáng nói hơn chính là ở việc đề thi chưa đa dạng về hình thức, chưa đánh giá sâu sát, toàn diện về các cấp độ tư duy và năng lực học sinh Với quan niệm “thi gì học nấy” như hiện nay thì đề thi không thể thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp dạy học và không đáp ứng được yêu cầu tuyển chọn những học sinh đủ năng lực để học tiếp bậc THPT
2 Đổi mới đề thi theo hướng đánh giá năng lực
Hướng đổi mới môn Ngữ văn sau năm 2015 được đề ra trong hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông là đẩy mạnh đổi mới phương pháp
và hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát triển năng lực HS Quan điểm mới về đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực giờ đây nhằm mục đích cung cấp thông tin chính xác, khách quan để điều chỉnh hoạt động dạy và học nâng cao dần năng lực cho học sinh; xác định năng lực của học sinh dựa theo chuẩn cấp học, chuẩn môn học
Để đánh giá đúng năng lực học sinh ở mỗi lớp học và sau cấp học cần phải thực hiện đa dạng các hình thức, phương pháp như quan sát, vấn đáp, kiểm tra trên giấy, trình diễn,
dự án học tập, hồ sơ học sinh,…; phối hợp chặt chẽ nhiều hình thức như đánh giá chẩn đoán, quá trình và tổng kết, đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, đánh giá của nhà trường, gia đình, cộng đồng và xã hội Do vậy, phải đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh, công cụ đánh giá như câu hỏi phát vấn, đề kiểm tra, bài luận, bài tập lớn, báo
Trang 4cáo thực hành, dự án học tập, mẫu biểu quan sát, tự đánh giá,… mới đảm bảo được việc
đo lường phổ năng lực từ thấp đến cao trong tình huống thực tiễn
Vì vậy việc đổi mới đề thi tuyển sinh vào lớp 10 là rất cần thiết trong bối cảnh dạy và học hiện nay Xác định đổi mới thi cử là khâu quan trọng, mang tính đột phá nhằm tác động mạnh mẽ và tích cực đến hoạt động dạy học ở bậc phổ thông, chúng tôi xin đề xuất việc cấu trúc lại đề thi môn Ngữ Văn tuyển sinh lớp 10 tại Thành phố Hồ Chí Minh theo định hướng đánh giá năng lực của học sinh
Thực tế giáo dục cho biết có ba loại thi chính [2, tr.11 – 12], trong đó kì thi tuyển sinh ở bất kì cấp học nào do tính chất đặc thù nên đề thi phải được cấu trúc với mục đích đánh giá năng lực theo đúng các tiêu chí tuyển chọn dự kiến Việc đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá đặt ra yêu cầu thay thế dần đánh giá thuộc kiến thức (hiểu, biết, vận dụng) như hiện nay bằng đánh giá năng lực nhận thức, thay đổi đánh giá mang
tính số lượng bởi đánh giá mang tính chất lượng
Trong nội dung đề xuất các nhóm năng lực chung của học sinh trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra ba nhóm năng lực chung gồm: nhóm năng lực về làm chủ và phát triển bản thân, nhóm năng lực về quan hệ xã hội và nhóm năng lực công cụ [1, tr.161 – 166] Đối chiếu những nội dung trên với mục tiêu cụ thể của phân môn, chúng tôi nhận ra những năng lực cụ thể mà việc dạy, học, kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn hướng đến thuộc nhóm năng lực công cụ, chủ yếu tập trung vào năng lực sử dụng ngôn ngữ với những yêu cầu sau:
(1) Sử dụng tiếng phổ thông hiệu quả:
Thành thạo các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết: khi tiếp xúc, trao đổi, chia sẻ thông tin HS hiểu được từ ngữ; tóm tắt được văn bản; ghi chép được ý chính; sử dụng, thay đổi ngôn ngữ, phù hợp với các mục đích, ngữ cảnh khác nhau
Tương tác, giao lưu hiệu quả: khi tiếp xúc, trao đổi, chia sẻ thông tin HS biết lắng nghe, hiểu thông tin, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, hoạt động ở trên lớp cũng như khi thảo luận; giải thích và phân tích, trao đổi, chia sẻ, diễn đạt về vấn đề đang quan tâm một cách dễ hiểu; đưa ra được chính kiến hay kết luận, nhận định, phù hợp
Hỗ trợ cho tư duy: biết sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt rõ ràng, chính xác,
dễ hiểu về tư duy, suy nghĩ, ý tưởng của mình
(2) Thấu hiểu văn bản, thông tin:
Đọc hiểu được văn bản, thông tin (với các kênh khác nhau như âm thanh, hình ảnh, văn bản, văn bản kĩ thuật số,…): hiểu thông tin cần thiết; hiểu, tóm tắt, ghi được ý chính khi tiếp cận thông tin, văn bản
Trang 5 Tạo lập được những văn bản, thông tin đáp ứng nhu cầu cá nhân: biết thu thập, tổ chức, quản lí thông tin nhằm tạo được các loại văn bản, thông tin đúng ngữ pháp, ngữ nghĩa, đáp ứng được nhu cầu, mục đích
(3) Đánh giá được văn bản, thông tin:
Phân tích, tổng hợp và đánh giá, nhận định được: Qua phân tích và tổng hợp, trình bày được những nội dung đã lĩnh hội; lập được đề cương cho một chủ đề học tập hay nghiên cứu; đánh giá được giá trị và sử dụng hợp
lí, hiệu quả thông tin, văn bản để giải quyết vấn đề thuộc nhận thức hay thực tiễn
Có hiểu biết về văn hóa: Qua sử dụng tiếng phổ thông (hoặc ngôn ngữ, tiếng của vùng, của khu vực) hiểu biết thêm về đất nước, con người và nền văn hóa bản ngữ
Thế nhưng, trong giai đoạn “quá độ” của giáo dục và đào tạo hiện nay, cũng như yêu cầu cụ thể của một kì thi tuyển sinh như đã nói trên; chúng tôi hiểu rằng trước khi
có thể kiểm tra đánh giá với mục tiêu vì hoạt động học tập và như hoạt động học tập vẫn cần phải sử dụng kiểm tra đánh giá kết quả học tập làm chính với sự điểu chỉnh sao cho hợp lí, đa dạng hơn Trên cơ sở cân nhắc sự kết hợp hai quan điểm đánh giá truyền thống và đổi mới [1, tr.127; 2, tr.40], chúng tôi định hình phương hướng cấu trúc đề thi tuyển sinh vào lớp 10 như sau:
Bài thi vẫn được thực hiện trên giấy với thời lượng 120 phút vào cuối năm học lớp 9
Đề thi và đáp án trong những năm sắp đến vẫn theo qui định của hệ thống, chưa thể giao hoàn toàn cho người dạy và người học chủ động
Việc lựa chọn câu hỏi và tiêu chí đánh giá được nêu rõ từ trước
Tập trung vào năng lực thực tế là chính, bên cạnh đó vẫn có những nội dung
cụ thể dựa vào kiến thức sách vở
Từ phương hướng trên, chúng tôi xác định các năng lực cụ thể cần đánh giá sẽ là:
Năng lực tái hiện và vận dụng kiến thức
Năng lực đọc – hiểu, giải mã văn bản
Năng lực sáng tạo
Năng lực tạo lập văn bản
Hướng đổi mới đề thi theo Bảng 2 và Bảng 3 sau:
Bảng 2: Nội dung đổi mới đề thi môn Ngữ Văn tuyển sinh lớp 10 theo hướng đánh
giá năng lự
Trang 6Năng lực
giá
Năng lực tái
hiện và vận
dụng kiến
thức
Trả lời các câu hỏi trắc nghiệm khách quan hoặc câu hỏi tự luận ngắn về văn học và tiếng Việt đã học
Đánh giá khả năng ghi nhớ, nhận biết, tái hiện và vận dụng các đơn vị kiến thức cơ bản, cần thiết, nền tảng đã học về văn học và tiếng Việt
20
Năng lực
sáng tạo
- Viết đoạn văn tự sự, miêu tả, nghị luận với phương pháp, kĩ năng, cách đọc hiểu và vận dụng kiến thức mới lạ, độc đáo về văn học và tiếng Việt
- Sáng tác câu thơ, bài thơ
- Đặt một nhan đề mới; hoàn thành văn bản với một kết thúc mới
- Đánh giá năng lực tư duy sáng tạo, tư duy phản biện
Khả năng thể hiện quan điểm
cá nhân và năng lực bản thân
- Đánh giá khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức,
kĩ năng từ nhiều lĩnh vực, môn học
10
Năng lực
đọc – hiểu,
giải mã văn
bản
Trả lời các câu trắc nghiệm khách quan hoặc câu hỏi tự luận ngắn về các văn bản hư cấu và phi hư cấu đã học trong sách giáo khoa hoặc văn bản ngoài sách giáo khoa có chủ
đề tương tự, phù hợp
- Đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng, phương pháp để đọc hiểu, tiếp nhận văn bản với các thể loại khác nhau
- Đánh giá năng lực tư duy hình tượng và tư duy logic
30
Năng lực
tạo lập văn
bản
- Viết bài NLXH ngắn về một
tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng đời sống gần gũi, phù hợp lứa tuổi HS
- Viết bài NLVH ngắn về đoạn thơ, câu thơ; một ý hay trong một bài thơ, một tác phẩm tự
sự trong hoặc ngoài sách giáo khoa
- Đánh giá năng lực cảm thụ thẩm mĩ; năng lực sử dụng tiếng Việt để bộc lộ, biểu đạt
tư tưởng, tình cảm
- Đánh giá khả năng thu thập,
xử lí thông tin và khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức,
kĩ năng để giải quyết một vấn
đề trong cuộc sống
40
Trang 7- Triển khai một luận điểm cho sẵn về một vấn đề xã hội hoặc văn học
- Đánh giá khả năng nhận thức, khám phá bản thân và thế giới xung quanh; khả năng thấu hiểu các giá trị nhân văn
Thang
đánh giá
Mức độ cao (80 điểm đến 100 điểm)
Mức độ khá (66 điểm đến 79 điểm)
Mức độ trung bình (50 điểm đến 65 điểm)
Mức độ thấp (< 50 điểm)
Với cấu trúc như vậy, đề thi sẽ bao gồm các nội dung cụ thể sau:
Bảng 3: Cấu trúc đề thi môn Ngữ Văn tuyển sinh lớp 10 theo hướng đổi mới
1 Kiểm tra kiến thức văn học đã học 1.1 đến 1.2 10
2 Kiểm tra kiến thức Tiếng Việt đã học 2.1 đến 2.2 10
4 Đọc hiểu văn bản hư cấu theo thể loại trữ
tình
4.1 đến 4.5 10
5 Đọc hiểu văn bản hư cấu theo thể loại tự sự 5.1 đến 5.5 10
3 Đề minh họa
Câu 1(10 điểm)
1.1 (5,0 điểm): Hình ảnh sau gợi cho em nghĩ đến tác phẩm nào đã học trong
chương trình Ngữ văn 9 ? Hãy cho biết tác giả và xuất xứ của tác phẩm ấy
Trang 8a Mẹ hiền dạy con, Ôn Như Văn Ngọc và Trần Lê Nhân dịch từ Liệt nữ truyện
của Trung Quốc
b Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, trong Truyền kì mạn lục
c Nói với con của Y Phương, trong Thơ Việt Nam 1945 – 1985
d Bếp lửa của Bằng Việt, trong Hương cây – Bếp lửa
1.2 (5,0 điểm): Hãy chép chính xác hai câu cuối trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Hai câu thơ ấy cho em biết phẩm chất gì của người
lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn ?
a Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước/ Chỉ cần trong xe có một trái tim Phẩm
chất của người lính lái xe: yêu nước
b Không có kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật, bom rung, kính vỡ
đi rồi Phẩm chất của người lính lái xe: dũng cảm, gan dạ
c Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời,nhìn thẳng Phẩm chất của
người lính lái xe: lạc quan, yêu đời
d Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới/ Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi Phẩm chất
của người lính lái xe: vui tươi, đoàn kết
Câu 2 (10 điểm)
2.1 (5,0 điểm) Hãy kể tên một phương châm hội thoại đã học Ghi lại một câu ca
dao, tục ngữ liên quan đến phương châm hội thoại ấy
2.2 (5,0 điểm) Tìm thành phần phụ chú trong đoạn trích sau và cho biết chúng bổ
sung điều gì
Bước vào thế kỉ mới, muốn “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” thì chúng ta sẽ phải lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu Muốn vậy thì khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là hãy làm cho lớp trẻ – những người
Trang 9chủ thật sự của đất nước trong thế kỉ tới – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất
(Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới –Vũ Khoan)
Câu 3 (10 điểm ) Đọc văn bản sau và hoàn thành các yêu cầu bên dưới
(…) “Đốt” thời gian trên “phây”
Vừa ra chơi, nhiều nhóm học sinh (HS) trường THPT X (TP.HCM) cùng tụm đầu vào những chiếc điện thoại cài ứng dụng “phây” (Facebook) để "tám" về một trạng thái nào đó được chia sẻ mà nhiều HS quan tâm Họ cùng bàn luận, phân tích những nội dung, hình ảnh hay những comment (bình luận) mới vừa được đưa lên Có bạn còn tranh thủ luôn giờ nghỉ giải lao chỉ vài phút để đưa lên những trạng thái mới hoặc gửi
đi phản hồi nào đó ngay trên điện thoại của mình (…) Ngọc Tuyết cho biết, hôm nào lớp hoặc nhóm có hoạt động, sự kiện chung gì đổ lên Facebook thì nhiều bạn trong lớp đều thức rất khuya để cập nhật, phản hồi liên tục “Nhiều hôm em nhắc mình đúng 12 giờ là đi ngủ nhưng lại ráng thêm chút, gửi đi gửi lại thì đã đến 1 - 2 giờ sáng Lên
“phây” là cách “giết” thời gian hiệu nghiệm nhất, mỗi ngày em mất 3 - 4 giờ cho nó”, Tuyết bộc bạch Không ít HS xem Facebook là nhật ký hàng ngày của mình nên mọi hoạt động ăn chơi, ngủ nghỉ đều cập nhật liên tục Có em còn dành nhiều thời gian chăm sóc, tỉa tót, chú trọng đến từng bức ảnh, từng nét trang trí… để gây sự chú ý Phó hiệu trưởng một trường phổ thông ở Q.3, TPHCM cho hay, nếu cách đây vài năm có một bộ phận học trò đến lớp với tinh thần mệt mỏi, lờ đờ, nằm rạp trên bàn vì nghiện game online thì bây giờ bộ phận này có thêm các em nghiện Facebook, kể cả HS giỏi Dùng Facebook có thể không nguy hiểm như game online nhưng các em tham gia thiếu kiểm soát thì tốn rất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến việc học và cũng không thích thú với các hoạt động xã hội
Phải biết làm chủ bản thân
Nhiều phụ huynh đau đầu khi nhìn con mê mẩn “đốt” thời gian với Facebook Có người phải dùng đến biện pháp mạnh như cắt tiền tiêu của con, cắt internet hay tìm đến các phần mềm ngăn chặn con vào Facebook Bà Lê Minh Hoa (chuyên viên đài 1080) cho hay bản thân bà gặp rất nhiều câu hỏi từ các bạn trẻ cho rằng nghiện Facebook là điều không đáng lo ngại nhưng các bạn chưa biết cách làm chủ bản thân Thường thì khi vào Facebook rồi các bạn dễ bị lôi cuốn theo và quên luôn thời gian nên cần trước hết phải chủ động cài báo thức, hoặc nhờ người thân nhắc nhở mình Không phủ nhận những tiện ích của Facebook trong việc chia sẻ, kết nối nhưng ThS Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu (ĐH Sư phạm TPHCM) cho rằng Facebook là một "mê cung" có sức mê hoặc rất lớn mà nếu thiếu kiểm soát thì rất dễ bị lôi cuốn bởi những giá trị ảo Khi người dùng thiếu tự chủ thì Facebook trở thành “kẻ cắp” thời gian, sức khỏe Bởi thế, mỗi người phải biết đặt ra những quy tắc như mỗi ngày chỉ vào 1 hay 2 giờ đồng hồ
Trang 10trong khoảng thời gian nào đó nhất định để tạo thành một thói quen Đối với phụ huynh, theo các chuyên gia, việc cấm cản kịch liệt con dùng Facebook chưa phải là biện pháp phù hợp mà cần giúp con sử dụng đúng cách, đúng mức vì chúng có những tiện ích không thể phủ nhận Phụ huynh cần có những quy ước với con trẻ như vào Facebook trong thời gian bao lâu, tránh những phát ngôn về chửi bới, nhục mạ hay bêu xấu người khác, biết chọn lọc những điều hay trên mạng xã hội… Nếu con vi phạm thì
áp dụng những cách xử lý hay hình phạt nào để trẻ biết giới hạn của mình Đồng thời cha mẹ phải cùng con xây dựng những mục tiêu, công việc cụ thể trong học tập và cuộc sống thì khi đó dù có ham vui nhưng trẻ vẫn hiểu trách nhiệm với bản thân và cả mọi người xung quanh
(Theo Hoài Nam – Báo Mực Tím online)
3.1 Văn bản trên chủ yếu đề cập đến vấn đề gì ?
3.2 Hãy chỉ ra một lí do lên facebook của các bạn trẻ trong văn bản trên
3.3 Theo bài viết, việc “nghiện” facebook đã gây ra những hậu quả gì ?
3.4 Giải pháp phù hợp mà cha mẹ nên có để giúp con mình không “nghiện” facebook là gì ?
3.5 Em học tập được gì sau khi đọc văn bản trên ?
Câu 4 (10 điểm) Đọc văn bản sau và hoàn thành các yêu cầu bên dưới
“Trong sóng có người gọi con:
"Bọn tớ ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn Bọn tớ ngao du nơi này nơi nọ
mà không biết từng đến nơi nao"
Con hỏi: "Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được ?"
Họ nói: "Hãy đến rìa biển cả, nhắm nghiền mắt lại, cậu sẽ được làn sóng nâng đi"
Con bảo: “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà, làm sao có thể rời mẹ mà đi
được?”
Thế là họ mỉm cười, nhảy múa lướt qua
Nhưng con biết trò chơi khác hay hơn
Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ,
Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ
Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào”
(Mây và sóng, R.Ta-go, SGK Ngữ Văn 9, tập hai, tr 87)