1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc sử dụng yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận

11 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 511,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yếu tố biểu cảm có vai trò quan trọng, không chỉ bổ sung cho phương thức lập luận mà còn góp phần làm tăng tính truyền cảm và sức hấp dẫn cho bài văn nghị luận. Bài viết này tập trung nêu lên một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc sử dụng yếu tố biểu cảm một cách có hiệu quả trong bài văn nghị luận.

Trang 1

ThS.TRẦN VĂN CHUNG

Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Huế

Điện thoại: 0935878216 Email:

tranchungdhsphue@gmail.com

MỘT SỐ VẤN

ĐỀ LÍ LUẬN VÀ

CỦA VIỆC SỰ DỤNG YẾU TỐ

NGHỊ LUẬN

TÓM TẮT

Yếu tố biểu cảm có vai trò quan trọng, không chỉ bổ sung cho phương thức lập luận mà còn góp phần làm tăng tính truyền cảm và sức hấp dẫn cho bài văn nghị luận Bài báo này tập trung nêu lên một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc sử dụng yếu tố biểu cảm một cách có hiệu quả trong bài văn nghị luận

Từ khoá: nghị luận, biểu cảm, sử dụng

ABSTRACT

Theoretical and Practical Issues in the Effective Utilization of Expressive

Elements in Writing Argumentative Essays

Expressive elements play a vital role in writing discursive essays because they not only complement modes of discourse but also contribute inspirational and attractive essays Hence, this article focuses on theoretical and practical issues in the effective utilization of those elements in writing argumentative essays

Key words: argumentative essays, expressive, utilization

Mở đầu

Đổi mới dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay không chỉ hướng học sinh – những chủ nhân tương lai của đất nước – tìm về với những giá trị truyền thống, với cái đẹp của một dân tộc trọng tình cảm, trọng thiên lương hơn là sức mạnh

Trang 2

của sự áp đặt mà còn phải hình thành ở các em một cái nhìn dân chủ, một tư duy linh hoạt, một cá tính dám bộc lộ, dám bày tỏ chính kiến của mình Thiết nghĩ, những phẩm chất này ít nhiều đều tồn tại trong những tâm hồn ngây thơ, trong sáng của học sinh, và dạy học Ngữ văn phải góp phần làm cho nó trỗi dậy một cách mạnh mẽ, thành một làn sóng mới, thành một ngọn lửa có thể tỏa sáng mọi nơi ngay cả khi đối diện với giông tố bão bùng… Ngọn lửa đó chỉ có thể được nhen nhóm, được hình thành nếu chúng ta biết cách phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong mỗi bài học, lớp học; tôn trọng, nâng niu những cảm xúc vừa độc đáo, sáng tạo trong cách thể hiện của

các em

Nội dung

1

Lâu nay, hai mục tiêu cụ thể của dạy học Ngữ văn trong nhà trường là giúp học sinh có khả năng tiếp nhận và tạo lập văn bản Tiếp nhận để hiểu, để suy nghĩ, trăn trở

và tự ý thức về bản ngã của mình Tạo lập để “vật chất hóa” những tình cảm sâu sắc, những nỗi niềm riêng kín, những suy tư dằn vặt về lẽ thị phi trong cuộc đời và quan trọng nhất là phải biết bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình một cách “thấu tình đạt lí” Hai mục tiêu này có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ với nhau, tiếp nhận là tiền đề, là động lực kích thích quá trình tạo lập, ngược lại, tạo lập là con đường duy nhất để những điều tiếp nhận được hiện hữu một cách rõ ràng, cụ thể hơn, có sức mạnh tác động lớn hơn Vì lẽ đó, việc dạy học làm văn trong nhà trường phổ thông có vai trò và vị trí rất quan trọng không chỉ phục vụ cho nhu cầu giao tiếp của học sinh mà còn ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội

Làm văn trong nhà trường phổ thông hiện nay có mục tiêu cung cấp những kiến thức và hình thành những kĩ năng cần thiết để học sinh có khả năng tạo lập văn bản theo những thể loại khác nhau Từ quan niệm làm văn là sự biểu lộ, sự bày tỏ, các nhà nghiên cứu, biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay đã chia các thể loại làm văn dựa trên các phương thức biểu đạt nhưng cũng không quên giúp các em thấy được sự giao thoa, liên hệ giữa các thể loại này Bên cạnh đưa vào những bài học về đặc điểm của từng kiểu văn bản, sách giáo khoa hiện hành đã dành một thời lượng đáng kể giúp học có khả năng sử dụng linh hoạt các yếu tố đặc trưng của thể loại này vào việc tạo lập thể loại khác như sử dụng yếu tố tự sự miêu tả, nghị luận trong văn tự sự, tự sự và miêu tả trong văn nghị luận… Đây là những nội dung rất thiết thực, tạo cho việc làm văn sự uyển chuyển và linh hoạt hơn Nó cũng phù hợp với quá trình giao tiếp vốn dĩ vô cùng phức tạp với nhiều cung bậc, sắc thái và cách thể hiện khác nhau Muốn tạo nên một thông điệp, người viết không thể chỉ sử dụng một kiểu văn bản duy nhất mà phải biết sử dụng

Trang 3

kết hợp một cách linh hoạt nhiều yếu tố đặc trưng của các kiểu văn bản khác, yếu tố này

bổ sung, làm rõ cho yếu tố kia: “Trong văn biểu cảm cũng sử dụng khá phổ biến các yếu

tố như màu sắc, ánh sáng, âm thanh… nhưng chúng chỉ là phương tiện chứ không phải mục đích… Trong văn miêu tả, trái lại, cũng có nhiều yếu tố nhưng các yếu tố cảm xúc

đó cũng không nằm trong mục đích của người viết (nói) mà chỉ là phương tiện để miêu

tả con vật, con người thêm sinh động, có hồn” [8, tr 148]

Cùng với nhiều kiểu văn bản khác, văn nghị luận trong nhà trường phổ thông là một thể loại có vị trí rất quan trọng Rõ ràng, nghị luận không chỉ cần thiết trong nhà trường mà còn “kéo dài ra khỏi cửa ngõ học đường và còn tiếp nối ra đến ngoài đời thực tế… Gác ngoài sự may rủi ở đời và những tín ngưỡng về định mạng, nhân quả, sự thành công hay sự thất bại của ta trong trường tranh đấu giữa xã hội vốn tùy thuộc một phần ở tài nghị luận” [7, tr 2] Những vĩ nhân của dân tộc như Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh sở dĩ có thể tập hợp được sức mạnh của đông đảo nhân quần

để làm nên những bước ngoặt trong lịch sử cũng một phần biết cách sử dụng sáng tạo kiểu văn độc đáo này

Như nhiều kiểu văn bản khác, văn nghị luận cũng bị giới hạn bởi yêu cầu về thể loại “Văn nghị luận là loại văn trong đó trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất” [1, tr.137] Nghĩa là nó “cốt yếu lấy sự bàn bạc, thảo luận với người khác về đời

sống xã hội và văn học nghệ thuật làm chính” [4, tr 177] Mục đích của nghị luận là

thuyết phục nên những gì đề cập trong bài văn nghị luận phải trung thực, chính xác, là những bằng chứng không gì có thể lay chuyển được Nó không cho phép người ta liên tưởng một cách thái quá, hư cấu nên những hình tượng li kì, lạ lẫm mà chỉ là “hình tượng minh họa” [3, tr 400] Nó cũng không dùng lời nói đưa đẩy, ẩn ý để người đọc phải chìm đắm trong sự suy tư mà là “một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học, hoặc chính trị, đạo đức, lối sống… nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục.” [8, tr.132] Vì thế, có khi ngay

từ nhan đề, người ta đã biết văn bản nói lên điều gì Thứ duy nhất mà người ta quan tâm đến là khả năng lập luận, là cách biểu lộ tình cảm của người viết trong bài văn nghị luận như thế nào Nếu nhà văn là người “sáng tạo ra những gì chưa có, phát hiện ra những gì mới mẻ thì người viết văn nghị luận phải biết dùng những cái quen thuộc, gần gũi một cách “sáng tạo”, để người đọc phải ngỡ ngàng và thuyết phục

2

Trang 4

Sự sáng tạo trong văn nghị luận có lẽ không chỉ nằm ở quá trình lập luận hay cách thức sử dụng lí lẽ và dẫn chứng một cách phù hợp mà quan trọng hơn là sự phối hợp các phương thức biểu đạt khác vào quá trình tạo lập Bộc lộ quan điểm, ý kiến là điều ai cũng

có khả năng làm được nhưng biết làm cho ý kiến của mình trở nên ấn tượng, hấp dẫn, thu hút được sự chú ý của người khác là điều không hề đơn giản Cũng như nhà thơ, trong rất nhiều từ ngữ, nhiều cách diễn đạt, người làm văn nghị luận cũng phải biết cách chọn lấy một từ ngữ, một cách diễn đạt vừa có khả năng làm nổi bật vấn đề, vừa sáng tạo, độc đáo nhưng cũng không vi phạm vào giới hạn của thể loại Cũng như nhà văn, trong bức tranh hiện thực đời sống với vô vàn những hiện tượng “trắng và đen”, cao thượng và thấp hèn, thậm chí đan xen hòa lẫn với nhau, người làm văn nghị luận cũng phải chọn lấy một đối tượng phù hợp để minh chứng cho quan điểm của mình Điều đó cũng cho thấy rằng, dù muốn hay không, người ta cũng phải sử những yếu tố đặc trưng của các kiểu văn khác như biểu cảm, tự sự, miêu tả vào trong bài văn nghị luận Nếu sử dụng sáng tạo, hợp lí những yếu tố này không chỉ tạo nên tính thuyết phục mà còn tăng thêm tính truyền cảm cho văn nghị luận, không chỉ hướng vào lí trí mà còn lay động tình cảm của con người, làm cho khối óc và trái tim bị chinh phục hoàn toàn

Cùng với các yếu tố khác, biểu cảm có vai trò rất quan trọng, làm cho văn nghị luận không còn rơi vào sự khô khan, thuyết lí, làm cho “người đọc (người nghe) không chỉ bị thuyết phục bằng lí lẽ (lí tính) mà còn được cảm hóa thông qua những xúc động cụ thể, sâu sắc (tình cảm)” [2, tr 205] Biểu cảm đã làm cho những quan điểm, thái độ của người viết đến với người đọc một cách nhẹ nhàng, tự nhiên hơn mà không phải là sự huấn thị khô khan Muốn vậy, người viết văn nghị luận phải có một tình cảm chân thành, tha thiết chứ không phải sự giả tạo, hình thức Không có nó, mọi ngôn từ dù hấp dẫn bao nhiêu cũng chỉ là sự tô vẽ của một người thợ lành nghề, không có khả năng lôi cuốn người đọc Nói cách khác, biểu cảm là nguồn cảm hứng của bài văn nghị luận, bài văn nghị luận “có sinh khí mãnh liệt, lôi cuốn người đọc hay không cũng là ở chỗ, tác giả viết trong lúc có cảm hứng nhiều hay ít” Cảm hứng không phải là sự xúc động giả tạo mà phải là cảm hứng thực, “là cái cảm hứng thâm trầm thường chỉ nổi dậy khi ta ngẫm nghĩ, ôm ấp vấn đề ấy một cách nhiệt thành và trong một khoảng thời gian khá lâu” [10, tr 121] Cảm hứng thực đó “sẽ nảy ra không phải là một sự tối tăm huyền ảo

mà là một sự sáng suốt cao cả” [10, tr 150] Rõ ràng, ở mức độ nào đó, biểu cảm không chỉ đan xen trong văn nghị luận mà còn trở thành “ngọn đèn” dẫn đường cho nghị luận

“Bài văn trôi chảy, linh động nhiều hay ít là do sự tiến triển mạch lạc của tư tưởng trong toàn thể, mà cũng còn do sự chuyển biến liên tục của cảm hứng nữa Xét cho kĩ thì ngay

sự tiến triển mạch lạc của tư tưởng cũng chịu ảnh hưởng của sự chuyển biến liên tục trong cảm hứng mà tác giả đã trải qua giữa lúc cầm bút viết văn” [10, tr 121]

Trang 5

Tình cảm thì muôn đời vẫn thế, vẫn là sự ngợi ca hay phê phán, đồng tình hay mỉa mai, xót xa hay vô cảm nhưng mỗi người, mỗi thời lại có cách biểu hiện khác nhau Nếu thơ ca trung đại gửi nỗi buồn, tâm sự vào cảnh vật, đến như Tản Đà cũng chỉ dám nói với “chị Hằng” mà thôi thì Thơ mới ra đời đã thay đổi hẳn cách biểu thị tình cảm trong thơ, một Xuân Diệu không ngần ngại bày tỏ sự khao khát tình yêu, khao khát cuộc sống đến cuồng nhiệt, một Huy Cận làm cho sông nước mênh mông cũng nặng trĩu nỗi buồn Ở mỗi thể loại, người viết cũng có cách biểu lộ tình cảm khác nhau Nếu thơ thường biểu lộ tình cảm, cảm xúc một cách trực tiếp thì văn xuôi lại thường gửi gắm tình cảm vào thế giới nhân vật, vào bức tranh đời sống Người làm văn nghị luận không chỉ nuôi dưỡng cảm xúc chân thành mà còn phải tìm cho mình những cách thức phù hợp

để thể hiện điều này Nhưng có lẽ, tìm một khuôn mẫu để biểu thị tình cảm trong văn nghị luận là một điều không đơn giản Mỗi người có những cách thức biểu lộ khác nhau,

có khi bộc trực, có khi lại kín đáo và tế nhị Tuy nhiên, để giúp học sinh biết cách sử dụng yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận của mình, chúng tôi nêu ra một số định hướng cụ thể như sau:

Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với các từ giàu sắc thái biểu cảm

Về phương diện ngữ nghĩa, biểu cảm là một thành phần ý nghĩa rất quan trọng của

từ ngữ Tự nó đã tồn tại một ý nghĩa biểu cảm nhất định và giới hạn phạm vi sử dụng cho con người Loại từ có khả năng biểu đạt cảm xúc rõ ràng nhất là những từ, ngữ cảm thán như: chao ôi, hỡi ôi, than ôi, biết bao, xiết bao, biết chừng nào Loại từ này được

sử dụng để bày tỏ trực tiếp cảm xúc của người viết (người nói) Để tạo ra tính truyền cảm và thu hút sự chú ý của người nghe (người đọc), chúng ta cũng có thể sử dụng loại

từ này để tạo nên các câu cảm thán hay kết hợp với một nội dung thông báo nào đó trong bài văn nghị luận

- “Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!

(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

- “Biết bao hứng thú khác nhau ta tập hợp được nhờ cách ngao du thú vị ấy,

không kể sức khỏe được tăng cường, tính khí trở nên vui vẻ”

Bên cạnh đó, các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt cũng có khả năng bộc lộ thái

độ, tình cảm của người nói (người viết) một cách rất mạnh mẽ Vì thế, loại từ này cũng

có thể sử dụng và phát huy hiệu quả biểu cảm trong bài văn nghị luận, nhất là nghị luận

xã hội Trong đó, các đại từ ngôi thứ nhất số nhiều như: nhân dân ta, đất nước ta, ta, chúng ta, đồng bào thường biểu thị tinh thần đoàn kết, thống nhất trong suy nghĩ và

Trang 6

hành động Các đại từ ngôi thứ hai, thứ ba số ít hoặc số nhiều như: bọn, bọn bay, chúng, chúng bay, bọn chúng thường bày tỏ sự căm thù, khinh bỉ, đối nghịch:

“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào

Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta

đoàn kết

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những

bể máu

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân

Để công khai bày tỏ quan điểm, thái độ của mình, người làm văn nghị luận cũng

có thể sử dụng các từ mang ý nghĩa khẳng định (sự thật là, tin rằng, chắc chắn rằng, quả quyết rằng ) hay phủ định (không, không chịu, không được ), các từ biểu thị sự quyết tâm, kiên quyết (nhất định, quyết, phải được ) Những từ này vừa có khả năng

biểu đạt cảm xúc, thái độ mạnh mẽ vừa làm cho lời văn trở nên đanh thép hơn:

- “Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được bền lâu, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được

thích nghi Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi”

(Lí Công Uẩn, Chiếu dời đô)

- “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ

không phải thuộc địa của Pháp nữa

c.“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân

tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất

cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy

Ngoài ra, trong bài làm văn nghị luận, người viết còn có thể sử dụng thêm những

từ, cụm từ đậm phong cách khẩu ngữ vào câu văn nghị luận nhằm tạo được sự chú ý cho người đọc

Trang 7

- “Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ”

(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với các loại câu nhiều thành phần có kết cấu cân xứng

Ngoài từ ngữ, sức mạnh biểu cảm trong bài văn nghị luận còn được tạo nên bởi cách sử dụng và tạo lập câu của người viết Trong văn nghị luận, người viết phải cố gắng đi tìm những cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo Bên cạnh những câu ngắn dùng để nhấn mạnh, người viết có thể sử dụng những câu dài, nhiều thành phần có kết cấu cân xứng nhằm ra nhịp điệu và sức lan tỏa mạnh hơn:

“Chưa bao giờ ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ,

mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”

(Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam)

Trong một số trường hợp, người viết có thể dùng câu đơn không gắn với các thành phần phụ hay tách các vế câu ra thành câu độc lập nhằm mục đích nhấn mạnh một nội dung nào đó

“Một cái giật mình tái mặt khi nhận ra chân tướng của chính mình Một thái độ tự phê phán nghiêm khắc đầy hối hận khiến chúng ta kính trọng”

(Vũ Quần Phương, “Ánh trăng” của Nguyễn Duy – một tứ thơ sâu sắc”)

Ngoài ra, người viết văn nghị luận cũng cần đặt những câu có tính chất hội thoại, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày nhằm thu hút sự chú ý và hứng thú của người đọc, từ đó góp phần tăng thêm tính biểu cảm cho lời nói:

“Bọn thực dân pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn trước”

(Theo Hữu Đạt, Phong cách học Tiếng Việt)

Có thể nói, nhằm tạo ra tính biểu cảm cho bài văn nghị luận, việc sử dụng câu không theo một mô hình hạn định nào mà phụ thuộc vào năng lực sử dụng ngôn ngữ của người viết Đôi khi, không cần quá cầu kì trong câu văn nhưng người viết vẫn có thể tạo ra một bài văn nghị luận chặt chẽ, sâu sắc và truyền cảm

Sử dụng yếu tố biểu cảm gắn với một số biện pháp tu từ

Trang 8

Biểu cảm và tạo hình là hai chức năng chính của các biện pháp tu từ: “Biện pháp

tu từ, định nghĩa một cách khái quát nhất, đó là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ (không kể trung hòa hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tác dụng gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh, làm nổi bật ) do sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng” [2, tr 61] Nghĩa là, bất cứ biện pháp

tu từ nào, ngoài tác dụng gợi hình, còn có tác dụng gợi cảm Trong mỗi loại văn bản, biện pháp tu từ được sử dụng với những mục đích khác nhau Nếu như trong ngôn ngữ nghệ thuật, việc sử dụng biện pháp tu từ chỉ cốt yếu tạo ra tính hình tượng thì trong văn bản nghị luận, nó lại được sử dụng nhằm tăng thêm sức mạnh cho sự đánh giá, bình luận và tăng thêm tính truyền cảm cho lời văn, làm cho vấn đề nghị luận trở nên gần gũi, sinh động, câu văn nghị luận cũng trở nên “hài hòa, uyển chuyển về âm điệu, có thêm lượng nghĩa biểu cảm – cảm xúc” [2, tr 221] Vì vai trò quan trọng đó, không một bài văn nghị luận nào, nhất là các văn bản chính luận lại không sử dụng các biện pháp tu

từ Dưới đây là một số biện pháp tu từ thường được sử dụng trong bài văn nghị luận nhằm tạo ra hiệu quả biểu cảm:

- So sánh trong văn nghị luận chủ yếu làm cho vấn đề nghị luận hiện lên cụ thể,

vừa gần gũi vừa ấn tượng, dễ đi vào lòng người đọc hơn:

“Mỗi nét bút như một nhát khắc của một nghệ sĩ tạo hình làm cho các hình tượng như được chạm nổi, những khối hình như hằn lên trên bề mặt chữ nghĩa”

(Chu Văn Sơn, Cái đẹp nổi loạn trong “Chữ người tử tù”)

- Điệp ngữ là sự “lặp đi lặp lại có ý thức những từ, ngữ nhằm mục đích nhấn

mạnh ý, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người nghe Nhờ điệp ngữ, câu văn mới tăng thêm tính cân đối, nhịp nhàng, hài hòa, có tác dụng nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa, tình cảm nào đó, làm nổi bật những từ quan trọng, khiến cho lời nói trở nên sâu sắc, thấm thía, có sức thuyết phục mạnh” [2, tr

93 – 94] Với khả năng đó, điệp ngữ được sử dụng nhằm tạo ra được tính truyền cảm cho văn bản nghị luận:

“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc

đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được

tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”

- Câu hỏi tu từ: là loại câu có hình thức nghi vấn nhưng nội dung của nó đã bao

hàm ý trả lời Xét về hiệu quả biểu cảm, câu hỏi tu từ dùng để khẳng định hay phủ định một vấn đề nào đó được đề cập đến trong câu và tăng cường tính diễn cảm của lời nói

Trang 9

“Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không? Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không? Nếu vậy, rồi đây sau khi giặc dã dẹp yên, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa?”

(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

Ngoài ra, người viết cũng có thể sử dụng thêm nhiều phương tiện và biện pháp tu

từ khác nhằm tăng thêm tính biểu cảm và thuyết phục cho văn bản nghị luận như phép đối, phép sóng đôi, liệt kê

Có thể nói, biểu cảm thể hiện một cách hết sức đa dạng trong văn nghị luận Muốn

sử dụng hiệu quả yếu tố này này, học sinh không những phải hiểu rõ về khả năng biểu cảm của các đơn vị ngôn ngữ, các biện pháp tu từ mà còn phải có một thái độ nghiêm túc, một tình cảm chân thành thiết tha với vấn đề nghị luận Chỉ như vậy, bài văn viết ra mới có thể thuyết phục được lí trí và lay động được trái tim của người đọc, người nghe

3

Ngày nay, chúng ta cũng đã thấy vui mừng khi được đọc ngày càng nhiều những bài văn hay của học sinh Những bài văn nghị luận về “đồng tiền”, về “bài học của sự thành công”… không chỉ chặt chẽ, thuyết phục mà còn giàu cảm xúc, chín chắn trong suy nghĩ Những điều đó kết hợp với nhau tạo nên những trang văn khiến những người trưởng thành cũng phải thảng thốt, trầm trồ! Tuy nhiên, ta vẫn phải đọc rất nhiều những bài văn hời hợt về cảm xúc, rời rạc về ý tứ, những bài văn đơn điệu, nhàm chán là “bản sao” không hoàn chỉnh từ nhiều “bản sao” khác nên thiếu đi bản sắc, phong cách của ngòi bút Thực trạng này xuất phát từ đâu?

Trước hết, ta có thể khẳng định rằng, sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt nói chung và biểu cảm nói riêng là một việc làm không hề dễ dàng, ngay cả đối với những cây bút chuyên nghiệp Nó không chỉ đòi hỏi kiến thức về các phương thức này mà còn phải có kinh nghiệm giao tiếp và vốn sống, vốn ngôn ngữ nhất định Vì thế, những kiến thức về sử dụng kết hợp yếu tố biểu cảm khó có thể chuyển hóa thành kĩ năng nếu các em vẫn còn học tập một cách đối phó, càng không thể sử dụng được nếu các em tỏ ra hời hợt,

vô cảm với đề văn

Hơn nữa, những tri thức được trình bày sách giáo khoa vẫn còn mang tính khái quát, chủ yếu mới nhấn mạnh đến vai trò, nguyên tắc mà chưa chỉ ra cụ thể cách thức sử dụng sao cho phù hợp Các em sẽ lại càng khó khăn hơn nếu giáo viên không đầu tư một cách đúng mức vào bài học Chỗ dựa cuối cùng của người học chính là các nguồn tài liệu với những tên gọi rất mĩ miều là “những bài văn hay”, những bài văn mẫu” được bày bán tràn lan không ai kiểm soát Chúng ta không phủ nhận vai trò của bài văn mẫu nếu nó

Trang 10

xứng đáng với tên gọi này Những bài văn mẫu trích từ những nguồn uy tín đương nhiên rất hữu ích cho các em nhưng tiếc thay, rất nhiều tài liệu tham khảo dạng này được in ấn, bày bán mà thiếu sự chọn lọc, chỉnh sửa Nhiều tác giả sử dụng bài viết của học sinh rồi gọi nó là bài văn mẫu, kể cả khi vẫn còn những lỗi “ngớ ngẩn” trong các bài văn mẫu, vẫn còn sự kể lể lan man, dàn trải, không tiêu biểu cho một sự kết hợp nào cả! Điều này đã ảnh hưởng lâu dài đến cách nói, cách viết, triệt tiêu sự sáng tạo và phong cách riêng của các em và dần dần, chúng ta sẽ mất đi nhiều thứ khác nữa…

Một số đề nghị

Có thể thấy rằng, sử dụng kết hợp yếu tố biểu cảm nói riêng và các phương thức biểu đạt nói chung là yêu cầu tất yếu của quá trình tạo lập văn bản nghị luận Vì vậy, chương trình sách giáo khoa Ngữ văn sau năm 2015 nên dành thời lượng nhiều hơn nữa cho việc dạy học về sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản nói chung và văn bản nghị luận nói riêng ở THCS và THPT Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể giúp học sinh biết cách sử dụng ngôn ngữ để làm cho lời nói sinh động hơn, ý nghĩ và tình cảm cũng được thể hiện nổi bật và hấp dẫn hơn Đó cũng là cách để tạo cho thế hệ tương lai một trí tuệ sắc sảo

và một tâm hồn nhiệt thành, tích cực hơn với cuộc đời Ngoài ra, mỗi giáo viên cũng phải tìm những biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh trong việc

sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt vào việc tạo lập văn bản như thay đổi cách ra đề, cách đánh giá và giúp các em không còn lệ thuộc những bài vẫn mẫu “dởm” để tạo nên những “tác phẩm” thực sự của mình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê A, Nguyễn Trí (2001), Giáo trình Làm văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội

2 Hoàng Dân (2009), Văn nghị luận ở THCS và THPT, Nxb Thanh niên, Hà Nội

3 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên)(2011), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Việt Nam

4 Nguyễn Thanh Hùng (2008), Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS, Nxb ĐHSP Hà

Nội

5 Đinh Trọng Lạc (1999), 99 biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội

6 Đinh Trọng Lạc (chủ biên) (2004), Phong cách học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà

Nội

7 Ngô Văn Phát (1968), Phương pháp làm bài nghị luận, Bộ giáo dục – Trung tâm học

liệu, Sài Gòn

8 Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) (2008), Làm văn, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội

Ngày đăng: 25/08/2021, 13:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Nguyễn Trí (2001), Giáo trình Làm văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Làm văn
Tác giả: Lê A, Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
2. Hoàng Dân (2009), Văn nghị luận ở THCS và THPT, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn nghị luận ở THCS và THPT
Tác giả: Hoàng Dân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2009
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên)(2011), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
4. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2008
5. Đinh Trọng Lạc (1999), 99 biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
6. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) (2004), Phong cách học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
7. Ngô Văn Phát (1968), Phương pháp làm bài nghị luận, Bộ giáo dục – Trung tâm học liệu, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp làm bài nghị luận
Tác giả: Ngô Văn Phát
Năm: 1968
8. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) (2008), Làm văn, Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w