Trong bài viết này, trên cơ sở tìm hiểu việc giảng dạy văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới muốn xác định lại tên gọi cho hệ thống văn bản thông tin và đưa ra một số gợi ý về việc giảng dạy loại văn bản này trong chương trình Ngữ văn của nước ta sau năm 2015.
Trang 1ThS NGUYỄN THỊ NGỌC
THÚY
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0983830424 Email:
ngocthuy24483@yahoo.com
TRONG CHƯƠNG
VĂN CỦA MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
TÓM TẮT
Từ trước đến nay, chương trình Ngữ văn của chúng ta chưa thật sự quan tâm nhiều đến việc phát triển năng lực đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh Trong bài viết này, chúng tôi trên cơ sở tìm hiểu việc giảng dạy văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới muốn xác định lại tên gọi cho hệ thống văn bản thông tin và đưa ra một số gợi ý về việc giảng dạy loại văn bản này trong chương trình Ngữ văn của nước ta sau năm 2015
Từ khóa: văn bản thông tin, chương trình Ngữ văn, năng lực đọc hiểu
ABSTRACT
Informational Texts in some Literature and Linguistics Curriculums of some
Countries in the World
Our current literature and linguistics curriculum has not really cared about developing the competence in reading comprehension informational texts for students
up till now In this article, basing on searching the teaching informational texts in some literature and linguistics curriculums of some countries, we want to rename for the system of informational texts and give some suggestions about the teaching this type of text in our literature and linguistics curriculum after 2015
Trang 2Key words: informational text, literature and linguistics curriculum, reading
comprehension competence
Ngày nay, cơ hội để học sinh hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu rất phong phú và đa dạng, vì hàng ngày cả trong môi trường lớp học và môi trường xã hội, học sinh được tiếp xúc với nhiều loại văn bản khác nhau Tùy theo tiêu chí phân loại, văn bản sẽ được sắp xếp theo những hệ thống khác nhau, ví dụ như văn bản in và văn bản điện tử, văn bản liên tục và văn bản không liên tục (văn bản gồm chữ và các số, chữ
và biểu đồ, bảng biểu, v.v), văn bản hư cấu và văn bản phi hư cấu, văn bản văn chương
và văn bản thông tin
Trong chương trình Ngữ văn của chúng ta hiện nay, học sinh chủ yếu chỉ được tìm hiểu hệ thống văn bản văn chương Còn một hệ thống văn bản khác có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới hiện thực, không sử dụng những yếu tố hư cấu, tưởng tượng, thực hiện chức năng chủ yếu là cung cấp thông tin (sau đây xin gọi là “văn bản thông tin”) thì lại chưa được quan tâm giảng dạy đúng mức, tương xứng với vị trí và tầm quan trọng của nó trong cuộc sống xã hội Đó là một vấn đề bất cập Nhà trường phổ thông của chúng ta không chỉ dành quá ít thời gian cho việc rèn luyện năng lực đọc hiểu loại văn bản này mà ngay cả những kiểu văn bản cụ thể thuộc loại này cũng chiếm một số lượng rất khiêm tốn trong toàn bộ chương trình Ngữ văn Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn trình bày một số kinh nghiệm thu nhận được từ sự khảo sát việc giảng dạy loại văn bản này trong cấu trúc chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới,
từ đó đưa ra một số gợi ý đối với vấn đề giảng dạy kiểu văn bản này trong tương lai
1 Về khái niệm văn bản thông tin
1.1 Vấn đề tên gọi văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước
Chương trình Ngữ văn của một số nước đã dùng những tên gọi khác nhau để chỉ loại văn bản có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới hiện thực, không sử dụng những yếu tố hư cấu, tưởng tượng, thực hiện chức năng chủ yếu là cung cấp thông tin Chẳng hạn như:
– Trong khung chuẩn cơ bản chương trình Tiếng Anh nghệ thuật của liên bang ở
Mỹ (sau đây xin gọi là chương trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mĩ), khái niệm văn bản
thông tin (informational text) được sử dụng trong mối tương quan với khái niệm văn bản văn chương (literary text) để tạo thành hệ thống văn bản hoàn chỉnh
Trang 3– Khung chương trình Tiếng Anh ở bậc Tiểu học và Trung học năm 2010 của Singapore (sau đây xin gọi là chương trình Tiếng Anh của Singapore) xác định rõ hai
loại văn bản chính được giảng dạy là văn bản văn chương (literary text) và văn bản
thông tin (informational text) hay còn được gọi là văn bản chức năng (functional text)1
– Ở Öc, khung chương trình Tiếng Anh của quốc gia sử dụng những khái niệm
văn bản tưởng tượng, hư cấu (imaginative text), văn bản thông tin (informative text), văn bản thuyết phục (persuasive text) trong cấu trúc hệ thống văn bản của chương
trình2 Trong đó, văn bản thông tin và văn bản thuyết phục là những văn bản có nội
dung liên quan trực tiếp đến thế giới hiện thực và không sử dụng các yếu tố hư cấu, tưởng tượng
– Còn trong khung chương trình Tiếng Anh của Anh thì “tất cả học sinh đều
được khuyến khích đọc rộng ở cả hai loại văn bản: văn bản hư cấu (fiction) và văn bản phi hư cấu (non-fiction) để phát triển kiến thức của họ cũng như những hiểu biết về thế giới mà họ đang sống, để thiết lập một nhận thức đúng đắn cùng tình yêu đối với việc đọc và cũng để tích lũy kiến thức thông qua chương trình.” [7, tr.14]
– Tương tự với chương trình của Anh, chuẩn cơ bản của khung chương trình đọc – viết cho trẻ từ 1 đến 8 tuổi của New Zealand cũng qui định rõ hệ thống văn bản sử
dụng trong chương trình là văn bản hư cấu (fiction text) và văn bản phi hư cấu (non-fiction text)
Từ việc điểm qua hệ thống khái niệm văn bản được sử dụng trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới, chúng tôi nhận thấy một điểm chung là ở tất cả các nước, khung chương trình Ngữ văn đều sử dụng đa dạng loại văn bản trong dạy học đọc hiểu Ít nhất là có hai hệ thống văn bản cùng tồn tại trong chương trình, một hệ
thống liên quan đến những tác phẩm văn chương, tạm gọi là văn bản văn chương và
1
Một trong hai mục tiêu quan trọng trong chương trình Tiếng Anh của Singapore là: “Nghe, đọc và quan
sát với thái độ phê phán, đánh giá, sự chính xác; hiểu và đánh giá được những văn bản thuộc hai loại văn bản là văn bản văn chương và văn bản thông tin/ văn bản chức năng ở cả dạng văn bản in và văn bản đa phương tiện.” [8, tr.10]
2
Khái niệm về từng loại văn bản được xác định dựa theo mục đích của văn bản, trong đó văn bản thông
tin và văn bản thuyết phục được định nghĩa như sau:
Văn bản thông tin (informative text): “là những văn bản mà mục đích chính là cung cấp thông tin Chúng bao gồm những văn bản có nội dung quan trọng về phương diện văn hóa trong xã hội và nội dung thông tin có thể được đánh giá như một kho lưu trữ tri thức hoặc chỉ là một phần của cuộc sống hàng ngày.” [1, tr.137]
Văn bản thuyết phục (persuasive text): “là những văn bản mà mục đích chính là đưa ra một quan điểm và thuyết phục người đọc, người xem hoặc người nghe.” [1, tr.137]
Trang 4một hệ thống khác có nhiệm vụ cung cấp và truyền tải thông tin, tạm gọi là văn bản
thông tin Trong đó tên gọi của hệ thống văn bản có chức năng cung cấp và truyền tải
thông tin thay đổi tùy theo từng nước, ví dụ như informational text trong chương trình của Mỹ và Singapore, informative text và persuasive text trong chương trình của Úc và
non-fiction text trong chương trình của Anh và New Zealand Đó là điểm khác biệt giữa
các chương trình Tuy nhiên trong khung chương trình của bang California (Mỹ), bên
cạnh khái niệm informational text còn một khái niệm khác được nhắc tới với ý nghĩa tương đương, đó là expository text, tạm dịch là văn bản trình bày, bình luận
1.2 Về các khái niệm có liên quan đến văn bản thông tin
Việc xác định tên gọi của loại văn bản này trong chương trình Ngữ văn của chúng ta sau năm 2015 sao cho khoa học và hợp lí cũng rất quan trọng vì quan niệm về định danh sẽ chi phối cách lựa chọn kiểu văn bản cụ thể để dạy và học
Trong chương trình Ngữ văn của các nước, hệ thống văn bản thông tin được sử
dụng với nhiều tên gọi khác nhau Vấn đề đặt ra là nên hiểu các khái niệm này như thế nào?
1.2.1 Về khái niệm văn bản phi hư cấu (non-fiction text)
Theo Wikipedia, văn bản chủ yếu được phân chia thành hai loại phổ biến là văn
bản phi hư cấu (non-fiction) và văn bản hư cấu (fiction) “Văn bản phi hư cấu là một
câu chuyện được xây dựng dựa trên sự kiện và thông tin có thật Văn bản phi hư cấu có thể là một câu chuyện kể, một văn bản miêu tả lại sự việc đã xảy ra, hoặc là một sản phẩm giao tiếp khác mà tác giả của nó tin rằng sự khẳng định và miêu tả là có thật Những sự khẳng định và miêu tả này có thể chính xác hoặc không, có thể mô tả đúng hoặc sai về đối tượng Tuy nhiên, người ta cho rằng tác giả của những văn bản ấy tin rằng chúng đúng sự thật tại thời điểm mà họ soạn thảo, hoặc ít nhất đã khiến người tiếp nhận văn bản tin rằng chúng đúng về phương diện lịch sử hoặc theo kinh nghiệm Việc báo cáo về niềm tin của mọi người đối với những văn bản loại này không nhất thiết là
sự chứng thực về tính chân thực của chúng, chỉ đơn giản nó đúng sự thật khi mọi người tin nó (…) Văn bản phi hư cấu không nhất thiết chỉ là văn bản viết, vì tranh ảnh và phim cũng có nội dung miêu tả sự thật về một đề tài, vấn đề nào đó.” Từ định nghĩa
trên, Wikipedia đã xác định những kiểu văn bản cụ thể thuộc loại văn bản này: “bài tiểu
luận, bài báo, ký sự, nhật ký, các tài liệu, văn bản khoa học, tranh ảnh, tiểu sử, sách giáo khoa, sách hướng dẫn du lịch, bản vẽ chi tiết, tài liệu kỹ thuật, sách hướng dẫn sử dụng, biểu đồ, v.v.”
Nhưng sự phân loại này chỉ có ý nghĩa tương đối vì một số văn bản có thể được xếp vào loại văn bản hư cấu hay văn bản phi cấu đều hợp lý, chẳng hạn như những văn
Trang 5bản tự biểu hiện, thư từ, tạp chí và những văn bản có yếu tố tưởng tượng, hư cấu Mặc
dù chúng có thể thuộc về loại này hay loại kia, nhưng vẫn có thể tồn tại sự pha trộn đặc điểm của cả hai loại văn bản ấy Một số văn bản hư cấu có thể bao hàm những yếu tố phi hư cấu Trong khi đó, một số văn bản phi hư cấu lại chứa đựng những yếu tố tiền giả định, sự suy diễn hoặc điều tưởng tượng, hư cấu không thể xác minh, kiểm chứng Việc bao gồm những điều còn đang bỏ ngỏ, chưa được kiểm tra về độ xác thực có thể khiến
người đọc hiểu sai bản chất của văn bản phi hư cấu Vì thế thuật ngữ văn bản phi hư
cấu có tính văn chương (literary non-fiction) xuất hiện để chỉ những văn bản phi hư cấu
có sử dụng yếu tố văn chương Đó là khái niệm được sử dụng trong quan hệ đối lập với khái niệm văn bản phi hư cấu thuần túy Những yếu tố có tính sáng tạo và văn chương thường được cho là không phù hợp để sử dụng trong văn bản phi hư cấu, nhưng chúng vẫn xuất hiện trong một số văn bản và thường chìm khuất đi để không làm mờ đi thông tin của văn bản Sự đơn giản, sáng rõ và trực tiếp là những điều quan trọng được cân nhắc khi tạo lập văn bản phi hư cấu Khái niệm này được cũng được nhắc đến trong
khung chuẩn cơ bản chương trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mỹ
1.2.2 Về khái niệm văn bản thông tin (informational text/ informative text)
Duke1 (2003) đã từng đưa ra định nghĩa về văn bản thông tin như sau: “Mục
đích chính của văn bản thông tin là truyền tải thông tin về thế giới tự nhiên và xã hội, điển hình là từ những người được cho là biết thông tin đến những người được cho là không biết.” [9, tr.16] Từ định nghĩa trên, Duke cho rằng: “…Tiểu sử là văn bản phi hư cấu nhưng không phải là văn bản thông tin vì mục đích chính của nó là truyền tải thông tin về cuộc đời của một cá nhân Văn bản miêu tả các quy trình hay là văn bản hướng dẫn các thao tác cũng chỉ là văn bản phi hư cấu, không phải văn bản thông tin vì mục đích của nó là hướng dẫn thao tác chứ không phải chuyển tải thông tin về một điều gì
đó Những văn bản phi hư cấu có tính chất kể chuyện hoặc là “những câu chuyện kể về
sự thật” cũng là văn bản phi hư cấu chứ không phải là văn bản thông tin vì mục đích chính là kể về một sự kiện hoặc một chuỗi các sự kiện đã xảy ra.” [9, tr.16] Từ sự phân
biệt đó, Duke (2003) đã một mực khẳng định văn bản thông tin có đặc điểm là trình bày toàn bộ các phân lớp của sự vật (khác với tiểu sử – một loại văn bản phi hư cấu chỉ tập trung vào một cá thể, một cá nhân) và nhìn đối tượng theo cách phi thời gian (khác với tiểu sử, chỉ tập trung vào những điểm thời gian đặc biệt) Do đó, văn bản thông tin có
1
Theo Duke và Tower (2004), văn bản phi hư cấu được chia thành 5 loại như sau: văn bản thông tin, sách trình bày khái niệm, văn bản miêu tả quá trình, tiểu sử và những văn bản là tài liệu tham khảo Cách
sử dụng thuật ngữ văn bản thông tin (informational text) của họ hẹp hơn cách mà các nhà nghiên cứu
khác vẫn thường sử dụng
Trang 6nội dung bao quát hơn, tổng quan hơn Trên cơ sở đó, Duke đã trình bày tóm tắt định nghĩa về văn bản thông tin như sau:
“Văn bản thông tin là:
– Loại văn bản mà mục đích chính của nó là chuyển tải thông tin về thế giới tự
nhiên và xã hội
– Loại văn bản có những nét đặc trưng tiêu biểu chẳng hạn như hướng đến toàn
bộ các lớp, loại của sự vật trong cách tiếp cận, không chịu sự chi phối bởi các yếu tố thời gian
– Loại văn bản được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, gồm có: sách, tạp
chí, thông cáo, bản tin, tài liệu quảng cáo, CD-ROMs, và Internet
Văn bản thông tin KHÔNG PHẢI là:
– Loại văn bản mà mục đích chính của nó là những mục đích khác, ngoài việc
chuyển tải thông tin về thế giới tự nhiên và xã hội, chẳng hạn như kể chuyện về cuộc đời của một cá nhân, về một sự kiện/ chuỗi các kiện hoặc kể về quy trình thực hiện một điều
gì đó
– Loại văn bản luôn luôn chỉ có những đặc điểm riêng biệt, cụ thể; trái lại đặc
điểm của loại văn bản này sẽ thay đổi theo từng kiểu văn bản cụ thể
– Chỉ là sách.” [9, tr.17]
Từ định nghĩa này, nhóm nghiên cứu của Duke đã xác định đặc điểm cơ bản của văn bản thông tin như sau: văn bản có sự trình bày và lặp lại của đề tài, chủ đề; miêu tả những thuộc tính và những sự kiện đặc thù; sử dụng cấu trúc so sánh/ tương phản và phân loại; sử dụng từ ngữ kỹ thuật; minh họa bằng thực tế hoặc hình ảnh; các chương mục; giúp đỡ, hỗ trợ, định hướng cho người đọc bằng mục lục, số trang, đề mục và những phương tiện hình ảnh đa dạng như biểu đồ, bảng biểu và sơ đồ Do đó việc đọc hiểu văn bản thông tin không đơn giản chỉ là đọc lần lượt theo từng dòng; mà còn phải đọc những sơ đồ, bảng biểu và suy nghĩ, tính toán; rồi tiếp tục đọc văn bản và xem xét lại sơ đồ, bảng biểu hoặc tính toán Việc đọc cứ trở đi trở lại nhưng không theo đường thẳng; mà có thể tiến về phía trước rồi lại cho phép đọc lùi về sau và khai thác tối đa hiệu quả thông tin từ những phương tiện thể hiện đặc thù mà loại văn bản này mang lại
để giúp cho việc đọc hiểu sâu hơn, rõ ràng hơn Chẳng hạn như trong văn bản thông tin, việc sử dụng hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ, v.v (tạm gọi là những cách trình bày thông tin bằng hình ảnh trực quan) hỗ trợ rất tích cực cho người đọc trong quá trình giải mã thông tin Vì thế theo Diana M.Barone (2011), sự minh họa thông tin bằng những công cụ trực quan như thế rất đa dạng trong một văn bản, mỗi một hình ảnh trực quan được sử dụng
Trang 7làm nổi bật những thông tin cần thiết hỗ trợ cho quá trình đọc hiểu Người đọc vì thế cần được trang bị kỹ năng đọc hiểu những loại công cụ trực quan này để họ có thể sẵn sàng giải mã chúng chứ không phải là bỏ qua chúng trong quá trình đọc
Về hình thức thể hiện của văn bản thông tin, có nhiều loại khác nhau Theo Duke (2003), có những hình thức như sau: sách tham khảo, sách giáo khoa, sách chuyên ngành, sách viết về những thông tin mang tính quá trình (ví dụ như sách miêu tả về vòng đời của một loài động vật, sách viết về quá trình tạo ra và biến đổi của một loại vật chất, v.v.) và những loại văn bản khác không phải là sách, chẳng hạn như tạp chí, báo,
áp phích quảng cáo, trang web và CD-ROM, v.v
1.2.3 Về khái niệm văn bản trình bày, bình luận (expository text)
Trong chương trình của một số quốc gia, khái niệm văn bản trình bày, bình luận
(expository text) được sử dụng để thay thế cho khái niệm văn bản phi hư cấu hay văn bản thông tin Khái niệm này xuất hiện trong cách nhìn nhị phân của một số tác giả về
các loại văn bản, bao gồm narrative text (tạm dịch là văn bản trần thật) và expository
text (tạm dịch là văn bản trình bày, bình luận) Barbara Moss (2004) đã đưa ra cách định
nghĩa expository text như sau: “Trong khi mục đích của “narrative text” là kể chuyện,
thì mục đích của “expository text” là thông báo, miêu tả hoặc báo cáo, tường thuật Trong “narrative text” thì tác giả sẽ tưởng tượng, hình dung ra nhân vật, sự kiện và sử dụng cấu trúc của một câu chuyện kể để tạo ra câu chuyện Còn khi viết văn bản thông tin, tác giả sẽ tổ chức bài viết của mình theo hướng đạt đến những thông tin về chủ đề
mà họ muốn hướng đến Họ sẽ tổ chức, sắp xếp thông tin sao cho hợp lý và hấp dẫn bằng cách sử dụng các cấu trúc khác nhau của “expository text” […] Những văn bản dạng “expository text” cũng có cấu trúc riêng của nó Những cấu trúc này sẽ cung cấp cho người học một sơ đồ chỉ dẫn họ khám phá, tìm hiểu nội dung văn bản Sự nhận thức của người học về cấu trúc và cách thức tổ chức của văn bản “expository text” càng lớn bao nhiêu thì việc họ nắm bắt thông tin của người viết sẽ càng nhanh hơn ấy nhiêu.”
[2, tr.712]
1.2.4 Điểm thống nhất và khác biệt giữa các khái niệm
Từ định nghĩa về các khái niệm, người viết nhận thấy tuy chương trình của các nước sử dụng những tên gọi khác nhau để định danh cho loại văn bản ấy nhưng nhìn chung các tên gọi đều được dùng để chỉ một loại văn bản có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới thực (không chứa những yếu tố của sự hư cấu, tưởng tượng) Trong đó
được sử dụng rộng rãi nhất là hai khái niệm văn bản phi hư cấu (non-fiction) và văn bản
thông tin (informational text)
Trang 8Cả hai loại văn bản này đều được tạo lập từ những thông tin có thật Có tác giả cho rằng hai khái niệm này đồng nhất với nhau, vậy nên họ thường dùng hai khái niệm này thay thế cho nhau Nhưng cũng có một số nhà nghiên cứu như nhóm của Nell K.Duke (2003) lại cho rằng hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau, họ
cho rằng văn bản thông tin chỉ là một loại rất quan trọng của văn bản phi hư cấu vì văn
bản phi hư cấu bao gồm tất cả các văn bản viết về những sự việc có thật Theo Duke
(2003) “văn bản thông tin khác với các loại khác của văn bản phi hư cấu ở mục đích,
đặc điểm và hình thức” [2, tr.16] Vì vậy một số tiểu loại của văn bản phi hư cấu lại
không được nhóm của Duke xếp vào loại văn bản thông tin, chẳng hạn như tiểu sử, tự truyện và những văn bản thuyết minh về quy trình hoặc thao tác thực hiện Sự phức tạp trong việc xác định khái niệm và phân loại văn bản thông tin là một minh chứng cho thấy ranh giới giữa các loại văn bản là hết sức mong manh Vì vậy, việc xác định, lựa chọn những kiểu văn bản cụ thể của loại văn bản này trong chương trình Ngữ văn của một số nước cũng rất khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi quốc gia nhưng nhìn chung vẫn phải bảo đảm được những đặc trưng cơ bản của văn bản thông tin
Còn về khái niệm văn bản trình bày, bình luận Khái niệm này liên quan như thế
nào với hai khái niệm trên để có thể được dùng như là một khái niệm tương đương với
khái niệm văn bản thông tin? Như ở trên đã nói, khái niệm này xuất hiện trong cách
nhìn nhị phân của một số tác giả về các loại văn bản Các nhà nghiên cứu thường có khuynh hướng nhị phân các loại văn bản theo hai hướng như sau: hướng thứ nhất chia
các loại văn bản thành fiction (văn bản hư cấu) và non-fiction (văn bản phi hư cấu); hướng thứ hai chia các loại văn bản thành narrative text (văn bản trần thuật) và
expository text (văn bản tình bày, bình luận) Hướng phân loại thứ nhất chủ yếu căn cứ
vào nội dung của văn bản, còn hướng phân loại thứ hai chủ yếu dựa vào cách thức tổ
chức của văn bản Mục đích của văn bản trần thuật (narrative text) là kể chuyện nên
thường được tổ chức theo kết cấu một câu chuyện với các phần mở đầu, phát triển và kết thúc, do đó loại văn bản này thường có nhân vật, bối cảnh, mâu thuẫn và đề tài Còn
văn bản trình bày, bình luận (expository text) thường được tổ chức theo những dạng cấu trúc sau để giải thích thông tin: miêu tả, nguyên nhân – kết quả, tiến trình thời gian, so
sánh – tương phản, nêu vấn đề – giải quyết vấn đề Từ đó có thể thấy mục đích của văn
bản thông tin (informational text) và văn bản trình bày, bình luận (expository text) là
giống nhau Thật ra, hai loại văn bản này chỉ là một, sở dĩ có hai tên gọi như vậy là do tiêu chí định danh khác nhau, một số nhà nghiên cứu gọi văn bản thông tin
(informational text) vì căn cứ để phân loại và đặt tên là nội dung của văn bản, còn nếu gọi là văn bản trình bày, bình luận (expository text) thì căn cứ định danh lại dựa vào cấu
trúc của văn bản
Trang 9Vậy có thể thấy vấn đề tên gọi của loại văn bản này cũng khá phức tạp và gây tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu Nhưng nhìn chung trong chương trình của các nước, loại văn bản này có thể được gọi với nhiều khái niệm khác nhau nhưng đều phản ánh những sự việc, sự kiện có thật trong thế giới hiện thực, khác với văn bản văn chương – những văn bản được xem là sản phẩm của hư cấu, tưởng tượng
Từ việc tìm hiểu những khái niệm trên, chúng tôi cho rằng trong chương trình Ngữ văn của nước ta sau năm 2015 hệ thống những văn bản có nội dung liên quan đến người thật, việc thật; không sử dụng các yếu tố hư cấu, tưởng tượng và thực hiện mục
đích chính là cung cấp thông tin nên được gọi là văn bản thông tin Tên gọi ấy khái quát
được nhiều kiểu loại văn bản Nếu xác định như thế thì trong chương trình Ngữ văn của chúng ta, tiểu sử và tự truyện sẽ không thuộc loại văn bản này và tất cả những kiểu văn
bản thuộc văn bản trình bày, bình luận (expository text) và văn bản thuyết phục
(persuasive texts) trong chương trình của Singapore và Öc nên được xếp vào loại văn
bản này vì chúng vẫn mang những đặc điểm của văn bản thông tin
2 Một số kinh nghiệm thu được từ việc khảo sát chương trình giảng dạy văn bản thông tin trong khung chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới
Qua khảo sát việc giảng dạy văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước, chúng tôi nhận thấy chương trình Ngữ văn của nước ta sau năm 2015 có thể tham khảo một số kinh nghiệm sau:
2.1 Trong chương trình Ngữ văn của một số nước, việc giảng dạy văn bản thông tin
có một vai trò rất quan trọng
Kết quả đánh giá quốc gia về sự phát triển giáo dục (NAEP) của Mỹ năm 2009
đã chỉ ra rằng trong khung chương trình đọc hiểu của nhà trường phổ thông tỷ lệ văn bản thông tin được giảng dạy ngày một tăng lên theo cấp lớp:
Sự phân bố văn bản văn chương và văn bản thông tin theo cấp lớp trong khung chương trình đọc hiểu của NAEP (2009)
[5, tr.5]
Trang 10Theo Chương trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mĩ: “Phần lớn chương trình đọc
hiểu bắt buộc trong những trường cao đẳng và chương trình đào tạo nhân lực là những văn bản được viết theo cấu trúc văn bản thông tin và chứa đựng nhiều thử thách về nội dung; chương trình giáo dục bậc sau trung học vừa đặc biệt cung cấp cho sinh viên cả khối lượng đọc hiểu nhiều hơn chương trình học phổ thông vừa đem đến cho người học
cả những kiểu cấu trúc văn bản tương đối đầy đủ.” [5, tr.4] Do đó chương trình giáo
dục phổ thông phải quan tâm đến vai trò của văn bản thông tin trong việc rèn luyện kỹ năng đọc hiểu để học sinh được chuẩn bị đầy đủ hơn trước khi bước vào những bậc học cao hơn trong tương lai Vì vậy, theo kết quả đánh giá từ NAEP, tỷ lệ đọc hiểu văn bản văn chương sẽ giảm dần theo cấp lớp, còn tỷ lệ của văn bản thông tin sẽ tăng dần theo cấp lớp và chiếm khối lượng đáng kể trong chương trình đọc hiểu đế đáp ứng mục tiêu của những bậc đào tạo sau trung học, đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp và cuộc sống của người học trong tương lai
2.2 Văn bản thông tin được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn của một số nước rất đa dạng về kiểu loại
– Chương trình Tiếng Anh của Singapore đã chia văn bản thông tin (informational text)/ văn bản chức năng (functional text) thành hai tiểu loại: “văn bản
thông tin (informational text) (chẳng hạn như văn bản hành chính, văn bản kể lại sự thật việc thật, văn bản tường thuật thông tin và văn bản giải thích) thường trình bày các
ý chính và có những ý chi tiết hỗ trợ; còn văn bản trình bày, bình luận (exposition) lại trình bày mối liên hệ giữa các lập luận (chẳng hạn như tiểu sử, các bài báo, tạp chí, tập san)” [8, tr.34]
– Chương trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mĩ xác định văn bản thông tin
(informational texts) được dạy với những loại cụ thể như:
Trong chương trình từ mẫu giáo đến lớp 5, văn bản thông tin được xác định với
những loại cụ thể như: “văn bản phi hư cấu có tính văn chương (Literacy Nonfiction)
gồm tiểu sử và tự truyện; văn bản về lịch sử, khoa học (Historical, Scientific Texts) gồm sách viết về lịch sử, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và nghệ thuật, văn bản thuộc lĩnh vực kỹ thuật (Technical Texts) gồm những văn bản hướng dẫn, những mẫu đơn và những văn bản trình bày về nhiều lĩnh vực được thể hiện dưới dạng đồ thị, biểu đồ, sơ
đồ hoặc dữ liệu thông tin đã được số hóa, v.v.” [5, tr.31]
Trong chương trình từ lớp 6 đến lớp 12, văn bản thông tin chỉ còn được giảng
dạy với một loại là văn bản phi hư cấu có tính văn chương (Literacy Nonfiction) được
chia thành những tiểu loại cụ thể như: “những kiểu văn bản giải thích; văn bản thể hiện
sự tranh luận; văn bản chức năng dưới hình thức những bài tiểu luận, những bài phát