1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn trần thị trường trong bối cảnh đổi mới của truyện ngắn việt nam sau năm 1986

118 468 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Truyện Ngắn Trần Thị Trường Trong Bối Cảnh Đổi Mới Của Truyện Ngắn Việt Nam Sau 1986
Tác giả Trần Thị Trà Giang
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí Luận Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết của Thu Hà nhan đề “Trần Thị Trường với Tình như chút nắng” lại tập trung ghi nhận một cuốn sách tập hợp hơn 27 truyện ngắn được nhà văn sáng tác trong thời gian gần đây với ăm

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Thực hiện nghiên cứu đề tài “Truyện ngắn Trần Thị Trường trong bối cảnh đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1986”, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đinh Trí Dũng - Khoa Ngữ văn - Trường Đại Học Vinh

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điệu kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.

Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học - Trường Đại Học Vinh, đã có đã có nhiều góp ý chân tình, sâu sắc cho tôi trong quá trình thực hiện công trình này

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn

bè - những người luôn dành tình cảm ủng hộ, động viên tôi nỗ lực để hoàn thành tốt luận văn.

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Trần Thị Trà Giang

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp mới của luận văn 6

6 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1 BỨC TRANH TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1986 VÀ ĐÓNG GÓP CỦA TRUYỆN NGẮN TRẦN THỊ TRƯỜNG 7

1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội 7

1.2 Bức tranh truyện ngắn Việt Nam sau 1986 10

1.3 Vị trí của truyện ngắn Trần Thị Trường 18

1.3.1 Vài nét về cuộc đời con người 18

1.3.2 Đóng góp của truyện ngắn Trần Thị Trường 21

Chương 2 ĐÓNG GÓP CỦA TRUYỆN NGẮN TRẦN THỊ TRƯỜNG TRÊN MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 25

2.1 Cái nhìn mới về cuộc đời và con người 25

2.1.1 Cái nhìn về cuộc đời và con người trong văn học trước đổi mới 25

2.1.2 Cái nhìn mới về cuộc đời và con người trong truyện ngắn Trần Thị Trường 30

2.1.2.1 Cái nhìn mới về cuộc đời trong truyện ngắn Trần Thị Trường 32

2.1.2.2 Cái nhìn mới về con người trong truyện ngắn Trần Thị Trường 43

2.2 Cảm hứng sáng tạo mới mẻ 58

2.2.1 Cảm hứng sáng tạo trong văn xuôi Việt Nam 1945-1975 58

2.2.2 Cảm hứng sáng tạo trong truyện ngắn Trần Thị Trường 60

2.2.2.1 Cảm hứng ngợi ca 60

2.2.2.2 Cảm hứng thân phận con người cá nhân 62

Trang 4

2.3.1 Đề tài trong văn xuôi Việt Nam từ 1945-1975 65

2.3.2 Hệ đề tài mới trong văn xuôi sau 1986 67

2.3.3 Đề tài trong truyện ngắn Trần Thị Trường 71

2.3.3.1 Đề tài thường gặp trong truyện ngắn của Trần Thị Trường 71

2.3.3.2 Đổi mới của Trần Thị Trường trong khai thác xử lý đề tài 73

Chương 3 ĐÓNG GÓP CỦA TRUYỆN NGẮN TRẦN THỊ TRƯỜNG TRÊN MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 77

3.1 Đóng góp trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 77

3.1.1 Khái niệm 77

3.1.2 Thế giới nhân vật đàn ông 78

3.1.3 Thế giới nhân phụ nữ 83

3.2 Đóng góp về giọng điệu 87

3.2.1 Khái niệm 87

3.2.2 Giọng trữ tình sâu lắng 89

3.2.3 Giọng giãi bày tâm sự 93

3.2.4 Giọng thâm trầm triết lý 94

3.3 Đóng góp về ngôn ngữ trần thuật 96

3.3.1 Khái niệm 96

3.3.2 Sử dụng ngôn ngữ trần thuật linh hoạt 98

3.3.3 Sử dụng ngôn ngữ trần thuật giản dị, đời thường 100

3.4 Đóng góp trong việc tổ chức câu văn 102

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tháng 4 năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, lịch

sử dân tộc đã bước sang một trang mới Theo đó văn học sau 1975 đến nay cũng

có nhiều sự đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu đáng khẳng định

Đặc biệt từ tháng 12-1986 đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI phát độngcông cuộc đổi mới Sự kiện này tác động sâu sắc tới hầu khắp mọi lĩnh vựcthuộc đời sống xã hội: kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hoá nghệ thuật Yêu cầuđổi mới trở thành nếp sống cho mọi ngành, mọi người Đường lối đổi mới dođại hội VI vạch ra đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội, của văn học nghệ thuật.Văn xuôi Việt Nam phát triển khởi sắc, trong đó truyện ngắn và tiểuthuyết là hai thể loại gặt hái được nhiều thành công Truyện ngắn với nhữngcách tân về nội dung và hình thức nghệ thuật đã mang đến cho nền văn họcnước nhà nhiều khí sắc mới Cùng với sự vững vàng và chín chắn của nhữngnhà văn được nhắc tới với vai trò của lớp người đi tiên phong như: NguyễnKhải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng…là sự xuất hiện của hàng loạt câybút trẻ đầy triển vọng như: Lê Lựu, Dương Thu Hương, Chu Lai, NguyễnHuy Thiệp, Lưu Minh Sơn, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê MinhKhuê, Trần Thị Trường, Hồ Anh Thái…Một trong số đó Trần Thị Trường lànhà văn có sức viết khoẻ và đặc biệt có duyên với truyện ngắn

1.2 Trần Thị Trường xuất hiện trên văn đàn vào những năm đầu của thập

kỉ 90 thế kỉ XX Có trong tay hai cuốn tiểu thuyết, năm tập truyện ngắn và rấtnhiều bài báo cống hiến cho bạn đọc những quan sát và hiểu biết của mình vềthế giới xung quanh Gần đây, nhà văn còn đang thử sức mình trong cả lĩnhvực kịch bản sân khấu Truyện ngắn là lĩnh vực mà nhà văn nữ này đã cónhiều thành công, được độc giả hào hứng đón nhận Nghiên cứu truyện ngắn,đặc biệt là truyện ngắn sau 1986 hiện nay rất được chú trọng nhưng truyệnngắn của Trần Thị Trường vẫn chưa được quan tâm và nghiên cứu một cách

Trang 6

có hệ thống Truyện ngắn của chị vì thế vẫn còn hàm chứa nhiều điều bí ẩnđang rất cần được khám phá, chú ý hơn nữa.

1.3 Tìm hiểu Truyện ngắn Trần Thị Trường trong bối cảnh đổi mới

của truyện ngắn Việt Nam sau 1986, trước hết, chúng ta thấy được nét riêng

của truyện ngắn Trần Thị Trường trong bức tranh văn học Việt Nam sau

1986 Qua đó, góp phần tìm hiểu phong cách truyện ngắn của một nhà văn nữtrong một giai đoạn văn học có nhiều biến động Đồng thời, góp thêm những

tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu học tập giảng dạy về mảng văn học sau

1975 trong nhà trường được thuận lợi

Trên đây là những lý do để chúng tôi chọn đề tài “Truyện ngắn Trần

Thị Trường trong bối cảnh đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1986”.

2 Lịch sử vấn đề

Truyện ngắn Trần Thị Trường đã và đang được độc giả tiếp nhận vàquan tâm Người ta dễ nhận thấy ở nữ nhà văn này có một vốn hiểu biết, vốnsống phong phú và nhiều nét sắc sảo, độc đáo trong sáng tác Từ 1989-2006chị đã liên tục sáng tác những tác phẩm có giá trị Những tác phẩm xuất sắc

ấy đã nhận được nhiều giải thưởng lớn của Liên hiệp các hội văn học nghệthuật Việt Nam (2002), Hội nhà văn Việt Nam (2003)

Song có một thực tế là giới nghiên cứu, phê bình hầu như chưa quan tâmđúng mức tới truyện của chị Khảo sát và tìm hiểu lịch sử vấn đề truyện ngắnTrần Thị Trường tư liệu còn rất ít, chỉ có một số bài báo giới thiệu về nhà vănnói chung, ngoài ra các chuyên luận mang tính chất nghiên cứu hầu như chưacó

2.1 Nguyễn Việt Chiến trong bài viết “Trần Thị Trường, nhà văn của

phái đẹp” đã có những đề cập ban đầu về nhà văn với thành công đầu tay là

cuốn tiểu thuyết Lời cuối cho em (1989) Từ góc nhìn về cuộc đời và tác

phẩm đầu tay của nhà văn, Nguyễn Việt Chiến đã khẳng định: “Đọc tác phẩmcủa chị thì thấy đó là nhà văn luôn đồng cảm và ca ngợi vẻ đẹp của người phụ

nữ Với chị khi các nhân vật này đau khổ cũng đẹp, bị vùi dập cũng đẹp,

Trang 7

chung thuỷ cũng đẹp và ngoại hình cũng đẹp Đến với các nhân vật đó, độcgiả sẽ chia sẻ với họ, vì mỗi người phụ nữ đều có một đời sống tinh thần sâukín của họ” Bài viết mới chỉ dừng lại ở mức độ đề cập khái quát về nhà văn

và tiểu thuyết “Lời cuối cho em”, chưa đi sâu, khái quát được các mảng đề tài

và thể loại khác của nhà văn đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn

2.2 Bài viết của Thu Hà nhan đề “Trần Thị Trường với Tình như chút

nắng” lại tập trung ghi nhận một cuốn sách tập hợp hơn 27 truyện ngắn được

nhà văn sáng tác trong thời gian gần đây với ăm ắp hơi thở cuộc sống đươngđại: ồn ào, gấp gáp nhưng để lại nhiều khoảng trống và rỗng trong tâm hồncon người

Vốn viết nhiều và thành thục với những trang miêu tả tâm trạng của nữ

giới, trong Tình như chút nắng Trần Thị Trường dành ra khá nhiều trang khai

thác nỗi lòng của người phụ nữ trong hoàn cảnh thiếu tình yêu, thiếu sự chia

sẻ, cảm thông trước những áp lực của cuộc sống hiện đại

Bên cạnh đó, nhà văn còn thể hiện “Những suy ngẫm của mình về nhữngvấn đề lớn lao hơn của đất nước, của thời cuộc qua những truyện ngắn lớn

hay thế sự như: Sóng nhồi vào sóng, Sóng vỗ mạn thuyền, Ngày cuối cùng

của dâm phụ, Chúng ta đang ở ga nào? Còn lại, lẫn vào trong tập là một vài

truyện mang dáng dấp của ký, dấu vết của con người nhà báo trên một nhà

văn Trần Thị Trường như Cò đậu cành mềm…hay những truyện không giàu

có chi tiết nhưng ngập tràn cảm xúc và hoài niệm như Thời gian ngoảnh mặt,

thể hiện đời sống nội tâm mong manh và tinh tế của một người phụ nữ yêuvăn chương nhưng từng gặp không ít long đong với nghiệp cầm bút”

Dễ dàng nhận thấy trang viết của tác giả Thu Hà chỉ dừng lại ở nhữngđánh giá ban đầu về một tập truyện cụ thể, chưa đủ để khái quát giá trị đặc sắctrong sáng tác ở thể loại tự sự cỡ nhỏ dưới ngòi bút Trần Thị Trường

2.3 Nguyễn Thụy Kha trong bài viết: “Bốn văn nghệ sĩ tuổi Dần mà tôi

biết” cũng có những đề cập ban đầu về nhà văn Trần Thị Trường “Mạnh mẽ,

xốc vác và ý chí lạ thường” Nhưng bài viết cũng mới chỉ là nhìn nhận một

Trang 8

cách chung chung về bản thân nhà văn, chưa có sự tìm hiểu sâu sắc về sángtác của chị.

2.4 Nguyễn Xuân Khánh (tác giả của bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng Hồ

Quý Ly) có bài “Nhân đọc truyện ngắn Trần Thị Trường” đã khẳng định

“Trần Thị Trường là nhà văn có nhiều khả năng miêu tả tâm tưởng của ngườiphụ nữ Một phụ nữ đã luống tuổi, khi một chút gió mùa thức dậy đã làm thứcdậy trong lòng chị những khát khao ấm áp…” Từ đó tác giả Nguyễn XuânKhánh đã chỉ ra được 3 mảng đề tài trong truyện ngắn của Trần Thị Trường:Dòng truyện lịch sử “nhà văn đã biết khai thác lịch sử để làm phong phú chotập truyện của mình”, tiếp đến là những truyện ngắn xoay quanh tâm trạngcủa tầng lớp thị dân thời hiện đại “một bi kịch về một người đàn bà làm giámđốc một vấp váp tình yêu giữa hai nền văn hóa khác nhau, một người đànông yêu vợ nhưng vẫn tơ tưởng đến cô hàng xóm đã lấy chồng…” cuối cùng,nhà văn Nguyễn Xuân Khánh chỉ ra mảng đề tài thứ ba trong truyện ngắnTrần Thị Trường: đó là những bút ký, kỷ niệm, truyện mang nhiều chất ký

“Tháng sáu là cảm nghĩ hoài niệm suy ngẫm của một con người hoạt đọng trước bàn phím máy tính, Cò đậu cành mềm là cái tình người của một ông già

huyền thoại…”

Từ góc độ bao quát một tập truyện cụ thể tác giả Nguyễn Xuân Khánh đã

đề cập tới một lối viết “truyện có duyên, khi đọc xong vẫn dư âm cảm giác

ấm áp và nhân hậu” ở nhà văn Trần Thị Trường Bên cạnh việc chỉ ra 3 mảng

đề tài trong truyện ngắn Trần Thị Trường tác giả của bài viết đã có nhữngcảm nhận ít nhiều về phong cách truyện ngắn của nhà văn Nhưng tất cả cũngchỉ dừng lại ở một góc nhìn rất khái quát, chưa có những khám phá cụ thể,sâu sắc, chưa chỉ ra được những đặc sắc trong phong cách truyện của nhà vănTrần Thị Trường

2.5 Ở một vị thế khác, với tư cách là một người yêu mến và am hiểu về thế

hệ nhà văn sau 1986, nhà văn Tô Hoài cũng đã có những phát hiện về nét nổi bậttrong phong cách viết của Trần Thị Trường: “Một thể hiện có phong cách riêng,

Trang 9

truyện kết cấu đôi khi chỉ là một ý nghĩ bất chợt, một quang cảnh có ý nghĩa mànhư tự nhiên Được như vậy do chính câu chuyện diễn ra không gò bó phải cólắt léo Trần Thị Trường không cắt nghĩa bề ngoài mà mọi phân tích và ý tứđược ẩn vào trong tâm trạng Mỗi nhân vật đều mang hình ảnh con người đươngtrong cuộc sống hôm nay Trần Thị Trường đã quan tâm nhiều và đi sâu hiểubiết về lứa tuổi một lớp thị dân với sinh hoạt và ứng xử của họ…”

Nhà văn Tô Hoài đã đề cập tới một góc nhỏ trong bức tranh về cuộc sốngdưới ngòi bút của Trần Thị Trường Tất cả “Mọi sự dẫn đến yên lành hay tan

vỡ, hay là thế nào, biết bao uẩn khúc và trớ trêu đã được Trần Thị Trườngkhắc họa sắc sảo, có thái độ mạnh mẽ qua những câu chuyện với tình tiết sinhđộng” Và cuối cùng nhà văn Tô Hoài cũng chỉ dừng lại ở dạng một bài viếtkhái quát chưa quá một trang giấy Cũng cùng một điểm chung với các tác giảkhác, những đánh giá của ông chỉ ở góc độ khái quát về phong cách truyệnTrần Thị Trường

Ngoài ra, còn một số bài phỏng vấn, trao đổi giữa nhà văn Trần ThịTrường với phóng viên các tờ báo, tạp chí Thông qua các cuộc trao đổi, nhàvăn đã bộc lộ nhiều quan điểm về văn học nghệ thuật

Như vậy, lược sử vấn đề về tác giả đã chỉ ra rằng các ý kiến đáng giá củacác nhà nghiên cứu, phê bình về truyện ngắn Trần Thị Trường còn rất ít dùđược nhìn nhận ở nhiều phương diện và khía cạnh khác nhau Đặc biệt làchưa có một công trình nào đạt đến mức độ quy mô khoa học khi nghiên cứu

về đóng góp của Trần Thị Trường ở thể loại này

Là độc giả yêu mến truyện ngắn Trần Thị Trường, chúng tôi không chỉmuốn cảm nhận truyện của chị ở mức độ ban đầu, khái quát mà còn mongmuốn nghiên cứu sâu tác phẩm của chị để học tập, nhìn nhận những giá trịthẩm mĩ đặc sắc

Đề tài: Truyện ngắn Trần Thị Trường trong bối cảnh đổi mới của

truyện ngắn Việt Nam sau 1986 sẽ góp phần khẳng định đóng góp của nhà

văn cho truyện ngắn Việt Nam đương đại

Trang 10

3 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Tìm hiểu bức tranh của truyện ngắn Việt Nam sau 1986

- Tìm hiểu đóng góp của truyện ngắn Trần Thị Trường trên một sốphương diện nội dung

- Tìm hiểu đóng góp của truyện ngắn Trần Thị Trường trên một sốphương diện hình thức nghệ thuật

4 Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn sẽ kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: phương pháp phânloại thống kê, phương pháp cấu trúc - hệ thống, phương pháp so sánh - đốichiếu, phương pháp phân tích tổng hợp

5 Đóng góp mới của luận văn.

Đặt truyện ngắn Trần Thị Trường trong bối cảnh truyện ngắn Việt Namsau 1986 để nghiên cứu, lần đầu tiên truyện ngắn Trần Thị Trường được xemxét dưới góc độ lý luận và thực tiễn một cách có hệ thống Xuất phát từ mụcđích trên, truyện ngắn Trần Thị Trường sẽ được chúng tôi khảo sát, phân tích,

lý giải một cách toàn diện, cụ thể, chi tiết những nét đặc sắc ở các phươngdiện nội dung và hình thức nghệ thuật

6 Cấu trúc luận văn

Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết thúc và Tài liệu tham khảo sẽ đượctriển khai trong ba chương:

Chương 1: Nhìn chung về bức tranh truyện ngắn Việt Nam sau 1986 vàđóng góp của truyện ngắn Trần Thị Trường

Chương 2: Đóng góp của truyện ngắn Trần Thị Trường trên một sốphương diện nội dung

Chương 3: Đóng góp của truyện ngắn Trần Thị Trường trên một sốphương diện nghệ thuật

Trang 11

CHƯƠNG 1 BỨC TRANH TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1986 VÀ ĐÓNG GÓP

CỦA TRUYỆN NGẮN TRẦN THỊ TRƯỜNG

1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội

Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mang lại độc lập, tự do và thống nhấtcho tổ quốc, cũng như việc cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội đã mở ra nhữngchân trời mới cho sự phát triển của văn học Công cuộc cải tạo xã hội chủnghĩa ở vùng mới giải phóng, những bước đi lên của cuộc sống dựng xây,chiến công của sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, những khó khăn của buổi trưởngthành, hậu quả nặng nề của chiến tranh cũng như ký ức còn tươi nguyên vềcuộc kháng chiến anh hùng và hy sinh vô bờ bến của nhân dân đã gợi ra biếtbao đề tài và chủ đề mới cho văn học

Bước sang những năm 80 của thế kỷ 20 tình hình trên thế giới có nhiềubiến động Đáng chú ý nhất là công cuộc cải tổ tại Liên Xô được Tổng bí thưĐảng Cộng Sản Liên Xô Goocbachop phát động vào tháng 6-1987 Vớinhững tuyên bố: “Cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều chủ nghĩa xã hộihơn”, “Chúng ta sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn chứ không phải đi rangoài nó”, “Chúng ta tìm trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội chứ khôngphải ở ngoài giới hạn của nó những câu trả lời cho các vấn đề do cuộc sốngđặt ra”, Đảng Cộng Sản Liên Xô đã chủ trương tiến hành cải tổ nhằm mụcđích đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và xây dựng một hìnhthái chủ nghĩa xã hội như chính bản chất lý tưởng của nó

Kéo dài trong vòng 6 năm, công cuộc cải tổ tại Liên Xô đã mắc phảinhiều sai lầm nghiêm trọng, xa rời nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lê Nin Nhưmột hậu quả tất yếu, không những không thể khắc phục được khủng hoảng

mà tệ hơn còn đẩy Liên Xô vào tình trạng bế tắc toàn diện, cuối cùng là sự tan

rã của nhà nước Liên bang Xô Viết, sự xụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên

Xô và một loạt các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sau hơn 70 năm tồn tại

Trang 12

Bài học từ Đảng Cộng Sản Liên Xô đã chỉ ra rằng sụp đổ là kết quả tấtyếu của những sai lầm từ một mô hình chủ nghĩa xã hội được xây dựng vớinhiều khuyết tật và thiếu xót Như không phù hợp với quy luật khách quantrên nhiều mặt phát triển kinh tế xã hội, chủ quan duy ý chí, thực hiện cơ chếtập trung- quan liêu về chính trị, bao cấp về kinh tế…Điều này đã có tác độngrất lớn tới tình hình trong nước ta lúc bấy giờ, mà trước hết là ở đường lốisách lược và chiến lược của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mớiđược khởi xướng từ năm 1986.

Tại Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI (từ 15đến 18-12-1986)Đảng ta đã phát động công cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực Đường lối chínhsách của đại hội đã tác động tích cực đến tất cả các lĩnh vực của cuộc sống,đặc biệt đã mở ra một cánh cửa lớn cho văn học nghệ thuật

Không lâu sau đó, vào hai ngày từ 6 đến 7-10-1987 tại Hà Nội Tổng bí thưĐảng Cộng Sản Việt Nam - Nguyễn Văn Linh đã có cuộc trò chuyện, trao đổithân mật, thẳng thắn với gần 100 văn nghệ sĩ và các nhà hoạt động văn hoá Giới trí thức văn nghệ sĩ có lẽ sẽ không thể nào quên được khi Tổng bíthư kêu gọi anh em “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”, “tự cởi trói mình”

để nói lên sự thật từ cuộc sống một cách thẳng thắn, còn nếu “Vì lý do gì đó

mà không sử dụng ngòi bút thì thà im lặng còn hơn là bẻ cong nó” Điều ấykhông có ý nghĩa gì khác hơn như là một bức thông điệp về tự do cho tri thức

và văn nghệ sĩ

Giống như những kẻ lữ hành trên sa mạc gặp được nguồn nước máttrong, cuộc gặp gỡ giữa Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với các văn nghệ sĩkhông những được xem như cuộc gặp đầu tiên thể hiện tư duy mới của lãnhđạo Đảng với văn học nghệ thuật, với văn nghệ sỹ mà còn là sự đồng cảm, sựthấu đạt đến tận nguồn gốc sâu xa những trăn trở của anh chị em văn nghệ sỹbấy lâu nay Đáp lại sự thân mật và sâu sắc của đồng chí Tổng bí thư là mộtcuộc tranh luận hết sức sôi nổi diễn ra như đã được chờ đợi từ rất lâu Nhà thơHuy Cận chủ trương “Đưa con người trở về với cộng đồng”, nhà lý luận Hồ

Trang 13

Ngọc đề cập thẳng đến một vấn đề nóng bỏng và thật là rất “khó”, khó bởi vìlâu nay ta vẫn thường né tránh nó như một thứ “húy kỵ”, đó chính là mốiquan hệ giữa văn nghệ và chính trị “Vấn đề vướng mắc, cần được tháo gỡkhông chỉ về mặt quan niệm, nhận thức… mà ở khâu tổ chức cán bộ Đảnghiện đang làm nhiệm vụ lãnh đạo quản lý văn nghệ …”, nhà văn NguyễnKhắc Viện không rào đón “Văn học nghệ thuật của ta chưa đóng góp đượcđầy đủ vai trò của nó Vì bị trói buộc Sự lãnh đạo văn nghệ trong mấy nămqua nhiều lúc còn thô sơ, tỉa cành bắt sâu trong một vườn hoa quý lại dùngdao búa làm rừng khai hoang”, nhà văn Anh Đức, nhà viết kịch Tào Mạtkhông tự đóng khung ý kiến của mình trong những vấn đề “nghề nghiệp” mà

đề cập tới yêu cầu của nhân dân, của xã hội “Yêu cầu dân chủ hoá”, hoạ sĩPhan Kế An nói về những sai lầm hẹp hòi, thiển cận, cứng nhắc, thô bạo đốivới văn học nghệ thuật, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ nhấn mạnh một sự “Baocấp về tư tưởng”, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh nói về hai chữ “tự do”của “Con chim văn nghệ”, nhà văn Nguyễn Quang Sáng chỉ ra cái nghèo củavăn học nghệ thuật mấy năm qua là cái nghèo từ người lãnh đạo đánh giánhầm lẫn “Cái hay thì chê là dở, cái dở lại tưởng là hay, bốc lên Càng hại …”

Có lẽ sẽ còn rất lâu nữa mới có thể hiểu hết, đánh giá hết ý nghĩa và tácđộng của cuộc gặp gỡ này Song như một niềm tin được chắp cánh, văn nghệ

sĩ hy vọng những sợi dây ràng buộc họ sẽ bị cắt đi và nghành ta sẽ tung cánh,bay cao trên bầu trời tươi xanh, văn học nghệ thuật sẽ giàu có, phong phú Niềm tin ấy như được nhân đôi, như được đền đáp khiến cho cánh cửavăn học nghệ thuật đã được chờ đợi từ rất lâu có cơ hội mở toang đón luồnggió mới Nghị quyết 05 của bộ chính trị về văn hoá văn nghệ xuất hiện vàocuối năm 1987 đã thực sự trở thành một cú hích cho sự “thay đổi tư duy”, “tựcởi trói mình” và tạo nên sức bật lớn cho văn học nghệ thuật

Chính sách “tự do” đối với văn học nghệ thuật được đáp lại bằng mộtphong trào báo chí phê phán các mặt tiêu cực của cơ chế cũ dấy lên mạnh mẽ.Cái hành lang hẹp mà lâu nay văn nghệ sĩ “Tự bạt chiều cao cho thấp đi khỏi

Trang 14

chạm trần, tự ép khuôn khổ chiều ngang lại để khỏi kềnh càng” đã được phá

vỡ Nhà văn được trở lại công việc viết văn với những ý nghĩa đích thực nhất

Họ được viết về những trăn trở của mình trước cuộc sống, được thả hồn vàonhững ước mở, dự định, nhằm tìm kiếm và thiết lập những giá trị phong phúcủa đời sống tinh thần con người Trên cơ sở những bước chuyển biến tưtưởng ấy suy nghĩ của con người trong cuộc sống và tâm lý bạn đọc trong vănhọc cũng có thể tham gia tích cực vào sự hình thành một khuynh hướng vănhọc mới

Đất nước thoát khỏi chiến tranh, trở lại sinh hoạt thời bình, từ hoàn cảnhsống không bình thường trở về cuộc sống bình thường Trong hoàn cảnh mớinày con người được quyền sống với nhiều nhu cầu phong phú và phức tạp vềvật chất và tinh thần Quan hệ giữa nhiệm vụ và quyền lợi, giữa cống hiến vàhưởng thụ, giữa đời công và đời tư, cái chung và cái riêng…so với thời chiếntất nhiên phải đổi khác

Đứng về phía tâm lý bạn đọc mà xét, sau 1986 trong hoàn cảnh hoà bìnhnhu cầu thẩm mĩ của bạn đọc đã thay đổi Công chúng đòi hỏi mỗi nhà vănphải đáp ứng sự tìm hiểu hiện thực cuộc sống của đất nước một cách toàndiện chứ không phải một chiều, một mặt như văn học thời chiến Điều này đòihỏi các nhà văn buộc phải thay đổi cách viết, thay đổi tư duy nếu không muốn

bị bạn đọc bỏ quên Người ta bắt đầu nhìn nhận lại nhiều giá trị cũ, người tatiến hành bàn bạc lại một số chân lý của thời đã qua, dường như mọi thứ đềumuốn được đo đạc lại bằng những tiêu chí mới Bởi vậy, bước ngoặt của lịch

sử dân tộc, những đòi hỏi từ phía người tiếp nhận đã kéo theo sự thay đổi củangười sáng tạo văn học Tất cả đã tạo đà cho sự chuyển mình, sự thay đổi dữdội và quyết liệt của văn học sau 1986

1.2 Bức tranh truyện ngắn Việt Nam sau 1986

Sau những năm 80 của thế kỷ XX, văn học Việt Nam phát triển trongkhông khí dân chủ, cởi mở cùng với nhu cầu và ý thức giao lưu, hội nhập, mởrộng ngày càng rõ rệt Vì thế văn học trong nước vừa gia sức làm mới mình

Trang 15

và mặt khác cũng rất tích cực tiếp xúc, lĩnh hội những giá trị đích thực vàthành tựu to lớn của văn học thế giới Vai trò lãnh đạo, quản lý văn nghệ củaĐảng cũng có những thay đổi nhất định, nhà văn được tôn trọng trong cá tínhsáng tạo nghệ thuật, chế độ đãi ngộ xứng đáng cũng làm cho đội ngũ nhữngnhà văn mới xuất hiện thêm phần đông đảo Trong nước là đội ngũ của nhữngnhà văn bền bỉ gắn chặt với hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, kết hợpvới sức trẻ, sức vươn mạnh mẽ của các nhà văn mới xuất hiện Ngoài nước là

sự hỗ trợ không ngừng của các nhà văn hải ngoại Tất cả đều góp phần to lớnvào sự nghiệp đổi mới văn học Bên cạnh đó không thể không kể tới sự thuậnlợi của nền kinh tế thị trường, việc in ấn tác phẩm, xuất bản và quảng cáo tácphẩm cũng dễ dàng và hiệu quả hơn… những thay đổi của thời đại xã hội lịch

sử là duyên cớ trực tiếp dẫn tới cuộc cách mạng thực sự trong văn học nghệthuật thuộc về thế hệ nhà văn thời kỳ sau 1986

Cùng với nhu cầu thẩm mĩ mới của người đọc và sự khuyến khích độngviên của Đảng, văn học Việt Nam đã thực sự có những cách tân đổi mới Sựđổi mới đó bắt đầu từ sự thay đổi về tư duy sáng tác của các nhà văn “Nếunhư văn học trước đây quan tâm đến số phận, hạnh phúc chung của cả cộngđồng, cả dân tộc thì nay các nhà văn giành nhiều tranh viết để quan tâm đến

số phận cá nhân” Cảm hứng sử thi của văn học thời chiến với hình ảnh nhữngcon người tiên tiến, con người ngợi ca, con người anh hùng của một thời vinhquang, oanh liệt, xả thân vì nghĩa lớn dần được thay thế bởi những con người

“đời thường” nhất Nói cách khác, con người như một “tiểu vũ trụ”, một sự

“tổng hòa của các mối quan hệ” hiện lên chân thật và gần gũi trong văn họcViệt Nam sau 1986 đã chứng minh cho sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật củacác nhà văn

Điều này đã khẳng định con đường đi của mỗi nhà văn được xây dựngbởi quan điểm nghệ thụât, kinh nghiệm sác tác luôn đi kèm với những ảnhhưởng của hoàn cảnh xã hội, lịch sử, truyền thống tư tưởng và văn hoá dântộc Nhà văn cũng phải vật lộn với hoàn cảnh, nghĩa là phải sống, chiến đấu

Trang 16

thật sự với chính hiện thực đó, mặt khác lại phải vật lộn với chất liệu nghệthuật, chữ nghĩa và với chính bản thân mình để chống lại sự dễ dãi, đáp ứngnhững khả năng mới và yêu cầu ngày càng cao của xã hội Và khi hoàn cảnhlịch sử xã hội đổi thay cũng là lúc văn nghệ sĩ phải có những bước chuyển đổi

tư duy sáng tạo không ngừng nhằm bắt kịp với nhịp sống hiện đại, khai tháctriệt để các vấn đề tồn tại trong cuộc sống hàng ngày

So sánh với cách tư duy nghệ thuật trước đây ta thấy, nhà văn thường nhìncon người với cái nhìn đơn giản, một chiều và có phần phiến diện thì giờ đâycon người được nhìn nhận từ nhiều góc độ, trong mọi mối quan hệ vô cùng phứctạp Vì thế, nhân vật trong các tác phẩm là những cá tính hoàn toàn không giốngnhau nhưng luôn hiện hữu trong muôn mặt của cuộc sống đời thường

Sự thay đổi tư duy nghệ thuật đã gián tiếp chỉ ra rằng: sau năm 1986 vănhọc đã được nhìn nhận trong bản chất đặc thù của nghệ thuật ngôn từ Xuấtphát từ quan niệm mang tính cá thể của người cầm bút sự chuyển đổi này thểhiện rõ trong quan niệm của các nhà văn Với Lê Minh Khuê “văn chươngluôn có sự sáng lên, sự mất đi, có cái cao cả cũng như cái bình thường”, hayvăn chương chính là “khát vọng của con người”, là “một trò chơi vô tăm tích”

và “viết là một phép ứng xử”

Rõ ràng cách nhìn văn học chỉ như một thứ vũ khí tuyên truyền phục vụcho mục đích chính trị dường như đã lùi vào quá khứ Các nhà văn đã thayđổi một thứ văn chương luôn được tô hồng, ngợi ca bằng một nền văn đậm đàchất hiện thực của cuộc sống Văn chương được sống với chính cái sức sống

tự nhiên, với chính bản chất thuộc về một “con chim nghệ thuật” tự do củanó

Sau những thay đổi về quan niệm văn học, tất yếu nhà văn sẽ xác lậpđược một tâm thế mới, một vị thế mới trong sáng tạo và thưởrng thức vănhọc Đầu tiên là sự thiết lập mối quan hệ bình đẳng với người đọc, giành chobạn đọc quyền kết luận cuối cùng về tác phẩm của họ Nhiệm vụ của nhà vănkhông chỉ là tái hiện cuộc sống, thiết lập những chân lý mà còn phải thức tỉnh

Trang 17

tình cảm trong tâm hồn con người Chính vì thế nhà văn và bạn đọc trong mốiquan hệ với tác phẩm phải thực sự duy trì được nguyên tác đối thoại, cùngđưa ra những nhận xét, đánh giá hay một lời đề nghị tìm kiếm lời giải đápthuyết phục nhất cho cuộc sống Vì thế vai trò của người đọc cũng đã cónhững thay đổi nhất định Họ không chỉ dừng lại ở vị trí tiếp nhận thụ động

và đánh giá tác phẩm trong những quy định về sự ràng buộc vô hình của hệthống các quan điểm từ xã hội Bạn đọc văn trong một nền văn học mới làngười cảm nhận và đánh giá tác phẩm xuất phát từ chính sự cảm nhận nhiềuchiều của họ, không những thế họ còn có quyền lựa chọn một tác giả họ mến

mộ, một tác phẩm họ thích và bày tỏ những tình cảm ấy! ở đây vai trò đồngsáng tạo của bạn đọc được nhắc tới như một trong những nhân tố quan trọng

để hoàn thiện tác phẩm, cũng là một trong những nhân tố góp phần tạo nênkhông khí dân chủ trong đời sống văn học sau 1986

Hiện thực cho những thay đổi về tư duy nghệ thuật, về quan niêm vănchương sau 1986 có lẽ thuyết phục nhất là sự hiện hữu ngay trong những sángtác cụ thể Bước chuyển mình của văn học không những được thể hiện quathơ, kịch, văn xuôi mà truyện ngắn cũng là một trong những thể loại có sựbiến đổi rõ rệt

Truyện ngắn tự nó đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trongmột hình thức nhỏ xinh, gọn gẽ và truyền dẫn cực nhanh những thông tin mới

mẻ Đây là thể loại văn học có nội khí “Một lời mà thiên cổ, một gợi mà trămsuy” Nằm trong hệ thống chung của thể loại văn kể chuyện truyện ngắn quantrọng nhất ở những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mangnhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những khám phá chiều sâu chưa nói hết Cũng làmột thể loại văn học gần gũi với đời sống hàng ngày, dễ đọc và gắn liền vớihoạt động báo chí nên truyện ngắn có tác động và ảnh hưởng kịp thời đối vớicuộc sống

Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sựnghiệp sáng tác nghệ thuật văn chương chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất

Trang 18

sắc của mình Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng thế kỷXIX) nhưng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bìnhminh của nhân loại, khi con người biết sử dụng văn chương Trải qua hàngngàn năm, với bao biến cố thăng trầm của thể loại ngày nay, truyện ngắn đãchiếm lĩnh được vị trí quan trọng hàng đầu trên văn đàn văn học hiện đại.Raymond Carver - một trong những bậc thầy của truyện ngắn thế giới ghinhận: “Ngày nay, tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn nhất và thoả mãn nhất

về nhiều mặt, thậm chí có lẽ tác phẩm có cơ hội lớn nhất để trường tồn chính

là tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn”

Có thể nói truyện ngắn là một thể loại văn học rất năng động, có khảnăng lớn trong việc đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống Tuy

nó là thể loại văn học “cỡ nhỏ” nhưng nó lại là thể loại phát hiện nghệ thuậtđời sống theo chiều sâu vì thế mà dung lượng của truyện ngắn rất lớn Nhàvăn Nguyên Ngọc đã khẳng định “Trong độ ba trang, mấy nghìn chữ mà rõmặt của một cuộc đời, một kiếp người, một thời đại Các truyện ngắn bây giờrất nặng Dung lượng của nó là dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết” Với hìnhthức nhỏ gọn nhưng lại có “sức chứa” lớn và đặc biệt nhanh nhạy với sự pháttriển không ngừng của xã hội, vì thế truyện ngắn luôn đáp ứng được nhu cầutâm lý, thị hiếu của độc giả cùng với nó là sức thu hút, sự sáng tạo của rấtnhiều thế hệ những người cầm bút

Nhìn lại vị trí của truyện ngắn trên văn đàn Việt Nam những năm trướcđổi mới có thể thấy rằng thể loại này gần như “Lịm đi, bị đè bẹp dưới sứcnặng của tiểu thuyết dã chiến ngồn ngộn” Sau 1986, truyện ngắn bỗng nổibật lên hàng đầu như Nguyên Ngọc từng nhận định: “Bây giờ len qua kẽ hởcủa vô số tiểu thuyết ngổn ngang kia, nó ngoi lên và bừng nở Tôi có cảm giácchúng ta đang đứng trước một vụ mùa truyện ngắn Truyện ngắn đông, nhiều

và thật sự có một số truyện ngắn hay” Đúng vậy, sau 1986 truyện ngắn trởnên nhạy cảm với công cuộc đổi mới của đất nước và đạt được nhiều thànhtựu xuất sắc

Trang 19

Đứng ở vị trí nòng cốt và là người đại diện cho dòng truyện ngắn truyềnthống Việt Nam gắn với tên tuổi của Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, NguyễnMinh Châu, Đỗ Chu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Quang Thân…Nhưngcũng có không ít những nhà văn trong số đó và cả những người thuộc thế hệsau đã bắt đầu cảm thấy cần thiết đặt lại vấn đề cảm quan và bút pháp truyềnthống Tuy ở những mức độ khác nhau nhưng nói chung họ đều muốn “đổimới” truyện ngắn Bước phát triển của truyện ngắn tiếp tục ghi tên các nhàvăn như Lê Lựu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu đều lànhững cây bút tiên phong của dòng văn học thời kỳ đổi mới, tiếp đến là sựxuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Vịêt

Hà, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, ĐỗHoàng Diệu… đã đưa tiến trình đổi mới truyện ngắn tiến thêm một bước nữa

Một khối lượng đồ sộ những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu như Cỏ lau,

Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra, Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài khơi, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, cho đến Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp),

rồi Hai người đàn bà xóm trại (Nguyễn Quang Thiều), và các tác phẩm như

Đùa với tạo hoá (Phạm Hoa), Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh ), Biển cứu rỗi (Võ Thị Hảo), Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), Bức Thư gửi mẹ

Âu Cơ (Y Ban)…thực sự đã mang đến một luồng sinh khí mới cho văn học

thời kỳ đổi mới Tốc độ phát triển của truyện ngắn còn thể hiện ở cả các phongtrào thi viết truyện ngắn “Cuộc thi truyện ngắn 2001-2002 do tạp chí Văn nghệQuân Đội tổ chức có gần 2000 tác phẩm dự thi bằng số lượng truyện ngắn củabốn năm 1978-1979; 1983-1984” (theo Bùi Việt Thắng) Điều đó cho thấytruyện ngắn sau đổi mới đạt được nhiều thành tựu Cùng với sự gia tăng nhữngtên tuổi mới và số lượng tác phẩm, truyện ngắn thời kỳ này đã mở ra nhiềuhướng tìm tòi cả trong tiếp nhận hiện thực lẫn thi pháp thể loại

Nếu như văn học trước thời kỳ đổi mới chủ yếu phản ánh những sự kiệnlịch sử trọng đại của dân tộc, đất nước thì kể từ sau 1986 đến nay, văn học đã

có sự chuyển mình thay đổi rõ rệt khi phản ánh hiện thực cuộc sống Chính vì

Trang 20

thế đổi mới trong cái nhìn về hiện thực và con người là một trong những đặcđiểm nổi bật của truyện ngắn Việt Nam sau 1986.

Truyện ngắn thời kỳ đổi mới đi sâu vào mọi vấn đề của cuộc sốngthường nhật Đó là chiều sâu triết lý và những cảm nhận về nỗi cô đơn củathân phận con người, là những mất mát của người lính bước ra khỏi cuộcchiến, là những vấp váp của nhân cách trước những cám dỗ của đời sống kinh

tế thời mở cửa, là những hận thù của dòng họ gia tộc… Đan xen giữa cái ảo

và cái thực, giữa cõi vô thức và hữu thức…mọi cung bậc, mọi xúc cảm củađời sống đều sống dậy trên câu chữ Bao nhiêu dư vị, khoảnh khắc từ hạnhphúc đến đau khổ, từ đắng chát đến ngọt ngào đều soi tỏ tận cùng, chân xácnhững phương diện của đời sống Sau mỗi câu chuyện ta thấy ẩn hiện thấpthoáng đâu đó một đời người, một kiếp người, và không khí của cả một xãhội, cả một thời đại

Khi các nhà văn hoà mình vào cuộc sống, cùng trải nghịêm và trăn trởvới chính cuộc sống ấy thì tất yếu cảm hứng sáng tạo sẽ phong phú, đa dạnghơn Đó cũng chính là một trong những lí do khiến cho văn xuôi sau 1986chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời tư Xuất hiện trong vănxuôi lúc này không còn là những con người anh hùng với giọng điệu ngợi cađầy hào sảng mà là những số phận cá nhân đời thường chân thực và gần gũinhất Hay bằng cái nhìn con người và hiện thực theo lối đơn giản, một chiều

và có phần phiến diện thì truyện ngắn sau đổi mới đã nhìn con người và hiệnthực từ nhiều góc độ, trong mọi mối quan hệ vô cùng phức tạp

Bước chuyển đổi của truyện ngắn sau 1986 còn là sự đổi mới trong hìnhthức nghệ thuật

Nếu trước đây, cốt truyện đóng vai trò chủ yếu trong truyện ngắn nói riêng

và trong văn xuôi nói chung thì truyện ngắn sau đổi mới yếu tố cốt truyện khôngcòn đóng vai trò độc tôn nữa Thậm chí không cần đến cốt truyện là sự lựa chọncho rất nhiều truyện ngắn của các nhà văn Chi tiết và sự kiện lên ngôi Chính vìyếu tố cốt truyện không còn quan trọng cho nên trong truyện ngắn lối viết theo

Trang 21

dòng suy tưởng, lối viết phân mảnh rời rạc, lộn xộn theo kiểu “có chủ ý” là hiệntượng thường gặp trong các sáng tác sau 1986 Chính vì thế sự xuất hiện củanhân vật trong tác phẩm đôi khi cũng chỉ cần một biểu tượng hoặc kí hiệu nghệthuật nào đó Nhà văn thường hướng vào những suy tư tiềm thức hoặc dòng ýthức thay cho kể, tả dẫn truyện ở ngôi thứ ba

Sức hấp dẫn của truyện ngắn sau 1986 còn thể hiện ở những tìm tòi củanhà văn trong việc khám phá hiện thực Một trong những thành công được ghinhận đó là sự gia tăng yếu tố kì ảo, huyền thoại để tạo nên chiều sâu trongkhám phá hiện thực của truyện ngắn sau 1986 Nguyễn Huy Thiệp, Võ ThịHảo là những cây bút tiêu biểu cho kiểu khám phá này

Không ngừng tìm tòi trong cách viết, đa dạng trong cảm hứng, truyệnngắn sau 1986 còn thể hiện được đặc điểm linh hoạt trong bút pháp sáng tạo.Bên cạnh sự thay đổi về quan niệm bút pháp tả thực đã có từ trước là việc thửnghiệm và phát huy tối đa hiệu quả nghệ thuật của bút pháp phúng dụ huyềnthoại, rất nhiều tác giả đã thành công với loại bút pháp này như Võ Thị Hảo,Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp… Sự có mặt của bút pháp phúng dụ huyềnthoại bên cạnh bút pháp tả thực đã giúp các nhà văn khám phá chiều sâu hiệnthực bằng những cách khác nhau, đồng thời tạo nên sự hấp dẫn đối với ngườiđọc Sự đa dạng trong bút pháp sáng tạo chính là một trong những nguyên nhântạo nên sự đa dạng trong hình thức truyện Bên cạnh loại truyện viết theo hìnhthức truyện kỳ ảo còn có những hình thức sáng tạo khác như truyện ngắn giả cổtích, truyện ngắn kiểu kịch, và truyện viết theo dòng ý thức

Từ sau 1986 nhờ công cuộc đổi mới, văn học nói chung, truyện ngắn nóiriêng đã có những bước đột khởi Với tinh thần dân chủ nhìn thẳng vào sựthật đã tạo nên không khí dân chủ, cởi mở trong văn học, những sáng tác mới

mẻ và có phần táo bạo của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn ThịThu Huệ, Phan Thị Vàng Anh…đã làm nóng đời sống văn chương sau đổimới Đặc biệt trong 10 năm trở lại đây, đời sống văn học liên tục đón chàonhững nhà văn nữ sáng tác thành công và tạo nên một dòng chảy liên tục cho

Trang 22

nền văn học nước nhà như: Y Ban, Trần Thị Trường, Võ Thị Hảo, NguyễnNgọc Tư, Lê Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh… Họ viết bằng tất cả sự say

mê, quyết liệt và trung thực của một nhà văn Có lẽ vì thế tác phẩm của họ đãlàm lay động nhiều trái tim độc giả và được đón nhận nồng nhiệt Chính têntuổi của họ đã làm cho bức tranh truyện ngắn Việt Nam sau 1986 trở nên đadạng, phong phú và chân thực hơn

1.3 Vị trí của truyện ngắn Trần Thị Trường

1.3.1 Vài nét về cuộc đời con người

Trần Thị Trường sinh năm 1950 tại Tuyên Quang, quê gốc của chị ở ĐanPhượng, Hà Tây Hiện nay chị đang sống tại Quận Đống Đa- Hà Nội Chị tốtnghiệp Đại học báo chí và là hội viên hội nhà văn Việt Nam năm 1994

Năm 1969, ở cái tuổi 19 Trần Thị Trường vác ba lô vào Vinh theo đoànquân cứu hộ giao thông của Bộ giao thông vận tải Năm 1972 chị lập gia đình.Đam mê hội hoạ đến lạ lùng đã khiến cho cô gái ở cái tuổi 23 thi đậu khoagốm sứ Đại học mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội Tuổi 23, gái một con chị vẫncắp giá vẽ đến trường và những năm tháng không bình yên trong cuộc đời chịcũng đến từ đây

Cuộc sống gia đình với đồng lương ít ỏi từ thu nhập của chị và công việcngày càng ít đi của chồng đã vô hình tạo ra những vết nứt về niềm tin và cátính của hai người Sau 5 năm lập gia đình và khi đứa con trai thứ hai ra đờicũng là lúc cuộc hôn nhân của chị bên bờ đổ vỡ Năm 1981 ở tuổi 27 TrầnThị Trường đã tìm lối thoát cho cuộc sống của mình khi bỏ dở việc học Đạihọc giữa chừng và nhà văn đã mạnh dạn ghi tên mình vào đội quân đi xuấtkhẩu lao động sang tận đất nước Bungari xa xôi

Khoảng thời gian ở xứ người Trần Thị Trường được biết đến là một côngnhân làm nghề thợ may nhận may quần áo bò, váy cho người Thổ Nhĩ Kỳ.Đây cũng là những năm tháng chị nung nấu ý định cầm bút, viết văn Về nướcnăm 1986, cơ quan giảm biên chế, chị lại quay sang làm thợ hàn Có lẽ nhữnggian truân tuổi Canh Dần, những ngày lao động cực khổ ấy đã khiến cho Trần

Trang 23

Thị Trường hoàn thành cuốn tiểu thuyết Lời cuối cho em Cuốn sách ban đầu

in một vạn bản (sau đó tái bản nhiều lần) ngay lập tức gây tiếng vang vớinhiều dư luận khác nhau Trần Thị Trường thành danh và ba năm sau chị trởthành hội viên Hội nhà văn Việt Nam Sau thành công ban đầu, Trần ThịTrường đi làm báo, in 4 tập truyện ngắn và phối hợp với bạn bè thành lập mộtcông ty chuyên tổ chức biểu diễn âm nhạc Công ty này đã tổ chức 150 đêmdiễn cho ca sĩ Ngọc Tân

Năm 2010 Trần Thị Trường đã có trong tay 2 cuốn tiểu thuyết, 4 tậptruyện ngắn và rất nhiều bài báo cống hiến cho bạn đọc những quan sát vàhiểu biết về thế giới xung quanh Đến nay, chị vẫn hăng say làm việc trongnhiều lĩnh vực, từ tổ chức biểu diễn nghệ thuật, đến tổ chức các cuộc thi sángtác âm nhạc và vẫn theo đuổi nghiệp sáng tác văn chương Trong thời giangần đây, chị đang cùng người bạn thân của mình là nghệ sĩ nhân dân ThanhHoa hoàn thành cuốn tự truyện và sẽ ra mắt độc giả trong một vài tháng tới

Hiện nay, chị là phóng viên báo Người công giáo Việt Nam.

Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, thành danhsau thời kỳ đổi mới, cuộc đời Trần Thị Trường trải qua biết bao truân chuyên,khó nhọc Trong kí ức của nhà văn, quá khứ lẫn lộn những buồn vui nhưngdường nhưng nó gắn với chữ không bình yên Khao khát học Đại học nhưngphải ngậm ngùi từ bỏ bởi chiến tranh không cho người ta có quyền lựa chọn,thế rồi lập gia đình, chồng là một họa sĩ, vì yêu chồng nên muốn cùng chungluôn lý tưởng sống hay vì nghệ thụât là niềm đam mê có sẵn trong chị khiếnchị đã dấn thân vào con đường học tập để trở thành một họa sĩ Con đường đicủa chị có lẽ vốn sinh ra đã không bằng phẳng nên chị lại phải bỏ dở việc học

để tìm cách mưu sinh Trần Thị Trường không chỉ biết đến với tư cách là mộtnhà văn chính ở điểm này, trước khi “viết những gì chị nghĩ” chị đã làm mộtcông nhân lao động ở xứ người, một thợ hàn, một chủ quán ăn bình dân…chỉ

để vượt lên những thiếu thốn vật chất của thời kỳ bao cấp

Trang 24

Hẳn là người phụ nữ bình thường tạo hoá luôn ban cho họ cái bản năngmẫn cảm với cuộc đời, với chính mình, với Trần Thị Trường, một phụ nữ sâusắc, tinh tế mà tuổi trẻ đã trải qua không ít những “trôi nổi” trước cuộc đời thì

sự nhạy cảm và tâm tư còn lớn hơn nhiều Vì thế, đến với văn chương ban đầuchị không hề cho rằng sáng tác là một “nghề mới” để mưu sinh mà với chịchỉ là kể lại những gì mình nghĩ, cũng là một cách để nhà văn vơi đi nhữngnỗi niềm không biết chia sẻ cùng ai

Khi con người ta không tính toán có lẽ những bất ngờ lại đến nhanh hơn

bao giờ hết Đó cũng là lý do khiến tiểu thuyết Lời cuối cho em của chị nhanh

chóng được độc giả đón nhận và với nhà văn nhuận bút từ tác phẩm đầy tay

đã giúp chị xây được một ngôi nhà 17mét vuông Trần Thị Trường khởi sựnghiệp cầm bút kể từ đó, năm 1989

Đọc truyện của chị, dễ hình dung tác giả hẳn là người đàn bà buồn, đacảm, đầy tâm trạng, nhưng ngoài đời chị lại là một phụ nữ khá cứng rắn, sắcsảo, mạnh mẽ và quyết đoán Trên những trang văn của mình dường như chịđang chia sẻ với cuộc đời, với con người nhiều hơn là những hờn giận hay bấtlực đến mức không thể hoá giải trước hiện thực Có lẽ là người cá tính chỉ làmột cách để chị tự động viên mình vượt lên số phận, còn từ trong sâu thẳmchị vẫn là một phụ nữ dịu dàng mang nhiều nét truyền thống của người phụ

nữ Việt Nam Nét dịu dàng đó được nhà văn giữ nguyên khi viết về nhữngthân phận người phụ nữ Hình ảnh những nhân vật là phụ nữ trong tác phẩmTrần Thị Trường luôn giữ lại cái mặn mà, bản tính hy sinh cam chịu cho giađình và xã hội, họ gánh vác tất cả điều đó bằng một tấm lòng nhân hậu và mộttrái tim yêu thương giản dị nhất

Đến với văn chương lúc đầu chỉ là một cách Trần Thị Trường chia sẻ vớicuộc đời Dần dần, những chia sẻ đó trở thành niềm đam mê trong chị Đam

mê viết, đam mê sáng tác và bày tỏ quan niệm sống của mình trên từng trangviết, với mong muốn tột cùng chỉ là để cống hiến cho đời những suy nghĩtrung thực, và tạo dựng niềm tin tốt đẹp cho cuộc sống Chị đã xem văn

Trang 25

chương là nơi để nhân đôi niềm vui và chia vơi nỗi buồn nên viết đối với chịkhông chỉ dừng lại là niềm đam mê mà còn là trách nhiệm của một nhà văn.Trách nhiệm đó đã được nhà văn thực hiện bằng sự kiên nhẫn và lặng lẽ khisống và viết để có được thành công như hôm nay

“Vì biết hy sinh một phần khát vọng của mình nên tôi đã có một gia đìnhhạnh phúc Giờ đây, không còn phải lo lắng bất kỳ chuyện gì nữa, tôi sẽ dànhtoàn bộ thời gian, tâm sức của mình cho văn chương và sống trọn vẹn với nó”

1.3.2 Đóng góp của truyện ngắn Trần Thị Trường

Trần Thị Trường sáng tác chủ yếu ở hai thể loại chính là tiểu thuyết vàtruyện ngắn Ở chị bao giờ cũng bộn bề công việc với những dự định về nghề báo,nghiệp văn và niềm đam mê nghệ thuật Chị đã xuất bản những tác phẩm sau:

- Lời cuối cho em, tiểu thuyết (1989)

- Kẻ mắc chứng điên, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Hội nhà văn (1991)

- Bâng khuâng, tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Hội nhà văn (1993)

- Truyện ngắn Trần Thị Trường, tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Lao

Động (1999)

- Thời gian ngoảnh mặt, tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Hội nhà văn (2003)

- Tình như chút nắng, tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Thanh Niên (2007) Xuất hiện trên văn đàn ở cái tuổi 39 với tiểu thuyết đầu tay Lời cuối cho

em Trần Thị Trường chưa phải là một hiện tượng văn chương gây tiếng vang

lớn, song trong bức tranh phong phú của truyện ngắn Việt Nam sau 1986không thể không nhắc tới chị Vào một thời điểm mà truyện ngắn có nhiềukhởi sắc với những tên tuổi như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…Truyệnngắn Trần Thị Trường không dễ để cuốn hút người đọc bằng cái lạ trongnhững cái tưởng như rất quen thuộc Song chiều sâu tư tưởng và thành côngcủa nhà văn trên những phương diện hình thức nghệ thuật đã tạo nên vị trí củaTrần Thị Trường trên văn đàn như hiện nay

Truyện ngắn sau 1986 hướng vào cuộc sống thường nhật, khám phá mọivấn đề của đời sống ở những góc độ khác nhau Truyện ngắn Trần Thị

Trang 26

Trường cũng không nằm ngoài những đối tượng phản ánh ấy, chị đặc biệt

hướng ngòi bút của mình đến những vấn đề nhân tính trong xã hội Những

con người, những sự kiện, những đổi thay trong cuộc đời đã thấm sâu trênnhững trang kí ức, và tâm hồn chị Đọc tác phẩm của chị ta thấy ẩn khuấttrong đó là sự suy tư, chiêm nghiệm đậm chất đời, chất người Không làm tacảm thấy khó chịu đến mức ngột ngạt như khi đọc truyện của Nguyễn ThịThu Huệ hay Phạm Thị Hoài, cảm giác về một thứ nghệ thuật đọng lại trongtruyện ngắn của Trần Thị Trường chỉ là những lo nghĩ, những băn khoăn đôilúc làm ta sợ hãi hay bối rối trước cuộc đời Có thể nói cái tài của nhà vănkhông phải là ở chỗ khiến chúng ta phải hành động mà là ám ảnh chúng taphải nhìn lại chính mình và cải thiện cả một xã hội bằng cuộc đấu tranh vớilương tri Những bất an, lo sợ cùng nỗi háo hức, chờ đợi và tiếp tục khám phá

là cảm giác mà nhà văn đã để lại trong bạn đọc sau mỗi tác phẩm

Đã là nhà văn, hẳn mỗi người đều có một cách riêng để tạo dấu ấn đối vớiđộc giả của mình Trần Thị Trường cũng đi theo một lối rẽ riêng để chỉ khi đọctruyện, nghe truyện người thưởng thức dễ nhận ra một phong cách “kiểu” TrầnThị Trường Đó là những tên truyện khơi gợi những lớp tư duy giản dị nhất

như Trời rét như cắt, Nỗi buồn con hoa mơ, Cơn dông, Mùi của kinh nghiệm…

Đó là một gia đình gồm những nhân vật mà nhà văn rất ít khi đặt tên, họ chỉxuất hiện trong “Những nàng”, “Những chàng” đầy âu ếm và trăn trở, ở đó nhàvăn dẫn truyện bằng một phong cách kể chuyện rất “cổ”, các ngôi trần thụât,cách xưng hô, gọi tên nhân vật thường ít có sự thay đổi, ít tình huống Đối vớinhà văn đó chính là một thế mạnh của chị “Khi tôi đọc những người viết trẻhiện nay, tôi hiểu rằng nếu tôi đổi mới phong cách viết như họ thì tôi khôngthay đổi được nữa, còn tôi vẫn phải giữ nét viết cổ điển đó”

Nếu như nhân vật trong văn của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái,Nguyễn Bình Phương bước ra từ nền kinh tế thời mở của ở dáng dấp củanhững con người đã bị biến dạng, méo mó cả về nhân hình lẫn nhân tính thìtrong sáng tác của Trần Thị Trường hầu như không có những nhân vật mang

Trang 27

vẻ dị dạng về ngoại hình Dù nhân vật của chị có lúc phải “bán mình” tìm

cách mưu sinh (Nô tỳ được trang sức, Ảo giác), phải mặc cả với nghệ thuật để

có một bình nóng lạnh (Trời rét như cắt), phải tìm cách giả danh để có những chiếc phong bì (Chữ nghĩa sắp hàng)…thì họ vẫn giữ lại trong mình sự tự

nhận thức và mong muốn được quay trở về là chính mình

Trong thế giới nhân vật của mình Trần Thị Trường dành nhiều tình cảmcho những người phụ nữ Những thân phận bé mọn và lạc lõng cô đơn, lầmlụi và nhọc nhằn trước những tổn thương về tình cảm và trước những thiệtthòi của đời sống kinh tế thị trường thời mở cửa Bóng dáng người phụ nữtrong truyện của chị luôn sống với rất nhiều đam mê khát vọng và cũng không

ít những khổ đau Chia sẻ với họ bằng cái chất chiêm nghiệm, triết lý hài ướccủa đàn bà nhà văn còn hoà lẫn mình vào họ để cảm thông sâu sắc với mộtkiếp người chịu nhiều thua thiệt trong cuộc sống

Nếu như người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ mạnh mẽđến táo bạo và sẵn sàng đánh đổi tất cả để có được hạnh phúc thì người phụ

nữ từ truyện của Trần Thị Trường lại nhẫn nại cam chịu trước số phận Họthường khao khát yêu đương và hy sinh tất thảy cho gia đình, dù khi sống

trong cảnh không chung thuỷ của chồng (Thuỷ chung- bài ca của đàn bà), khi cả đời phải nhẫn nhịn trong nỗi cô đơn (Kìa xuân đang đến), khi phải tự bằng lòng làm Một chút gió mùa qua đi hay khi phải mòn mỏi chờ đợi một người chồng bỏ đi (Dưới bóng quỳnh) thì họ vẫn gánh vác sự cam chịu ấy

bằng tất cả tình thương, đức hy sinh vốn có của một người phụ nữ Nhà văn

đã tâm sự rằng: “Tôi đã sống một cuộc sống đầy mâu thuẫn, tôi tận mắt thấynhững biểu hiện văn hoá của người xứ khác nhưng không dám thay đổi vàbước theo những ước muốn của mình Tôi cố trải mình trong mọi nỗi vất vảcủa một người phụ nữ Việt Nam chấp nhận bất công Có thể khao khát thayđổi và muốn người khác, thế hệ khác có cuộc sống khác đi, công bằng hơn,văn minh, văn hóa hơn đã khiến tôi say mê viết về những thân phận phụ nữđau khổ”

Trang 28

Viết về thân phận người phụ nữ hay khi viết về những số phận con ngườitrước cuộc đời Trần Thị Trường luôn đặt niềm tin mãnh liệt vào những thayđổi tốt đẹp của cuộc sống Sau mỗi câu chuyện ta cảm thấy một cái nhìn đầy âuyếm và bao dung của nhà văn, cũng thấy ẩn hiện đâu đó một tia hy vọng ấm áp

về những gì tốt đẹp luôn hiện hữu trong cuộc đời Truyện của chị đôi khi chỉ làmột ý tưởng, một cảm giác, một ký ức đã thuộc về ngày hôm qua nhưng vẫnluôn đánh thức chút tấm lòng nhân hậu vốn có trong mỗi con người

Dù chưa phải là một cây bút xuất sắc nhất nhưng sẽ thật thiếu sót nếu nóiđến truyện ngắn Việt Nam sau 1986 mà không nhắc đến Trần Thị Trường.Đọc truyện của chị ta luôn cảm nhận được sau nỗi buồn là niềm vui, sau cayđắng là vị ngọt ngào, sau mất mát là sự hội ngộ, đoàn viên… Không kểchuyện bằng một lớp từ ngữ gọt rũa chau chuốt hay sắc sảo đến lạnh lùng,truyện của chị luôn giản dị và chân thực bằng một lối văn phong vừa cũ vừamới, vừa quen vừa lạ nhưng để lại biết bao băn khoăn, trăn trở trong lòngngười đọc

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐÓNG GÓP CỦA TRUYỆN NGẮN TRẦN THỊ TRƯỜNG TRÊN MỘT

SỐ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Cái nhìn mới về cuộc đời và con người.

2.1.1 Cái nhìn về cuộc đời và con người trong văn học trước đổi mới

Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1985 trải qua hai thời kỳ Đó là khoảngthời gian ba mươi năm văn học sau cách mạng và mười lăm năm văn học sauchiến tranh Hoàn cảnh lịch sử với những sự kiện chính trị quan trọng đã ảnhhưởng lớn đến sự phát triển của văn học, đặc biệt là cái nhìn về cuộc đời vàcon người của người cầm bút

Mang ý nghĩa như ngọn cờ đầu trong phong trào giải phóng dân tộc ởcác nước thuộc địa thế kỷ XX đầy phức tạp và biến động, cách mạng tháng 8

đã trở thành cảm hứng nghệ thuật cho cả một thời kỳ văn học, thời kỳ

1945-1975 Phát triển trong hoàn cảnh ác liệt của đời sống chiến trường, văn họcViệt Nam từ 1945 đến 1975 thực sự là thời kỳ văn học có sự “Nhận đườngquyết liệt và triệt để nhất về trách nhiệm đối với tổ quốc và dân tộc” Vai tròcủa văn học được xác định là vũ khí tư tưởng sắc bén tham gia tích cực vào sựnghiệp chung của dân tộc Được xem như một mặt trận chiến đấu tư tưởng vàcác văn nghệ sĩ là “Các chiến sĩ trên mặt trận ấy” văn học 1945-1975 bộc lộ

rõ sự nhạy cảm với những vấn đề chính trị, lịch sử Nói cách khác chính trị trởthành nội dung trực tiếp của tác phẩm và nhà văn có nghĩa vụ tuyên truyềnnhững quan điểm chính trị, những nhiệm vụ của công tác chính trị trong sángtác của mình

Trong kháng chiến cũng như bao người khác, các văn nghệ sĩ đều bướcxuống thuyền trong dòng chảy xiết của bao biến cố lịch sử dồn dập Họ ý thứcđược rằng nhà văn không chỉ biết cầm bút mà con biết luyện cho ngòi bút đóánh ngời lên chất thép của cách mạng dân tộc Hình tượng tác giả và cảmhứng sáng tạo vì thế để lại nhiều dấu ấn đặc sắc, bộc lộ cao nhất phẩm chất

Trang 30

tâm hồn, khát vọng cháy bỏng của giải phóng dân tộc, khát khao hòa bình, tự

do và yêu thương Chính nhờ sức mạnh gắn bó với đời sống, nhờ sức mạnhcủa lý tưởng giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, văn học đã tạo rađược những tác phẩm chứa đựng tình cảm chân thành, xúc động góp phầnvào thắng lợi của kháng chiến

Hiện thực những năm tháng mà tổ quốc và nhân dân sống, chiến đấu cho

lý tưởng cách mạng đã được các văn nghệ sĩ nhiệt tình khẳng định ngợi ca.Cuộc đời với những mất mát, những đau thương, sự sống luôn cận kề cái chết,dựng xây gắn với bom đạn và đổ vỡ, danh giới của những buồn vui, hy vọngrồi tuyệt vọng luôn rất mong manh Song cuộc đời ấy khi đi vào văn học dướicái nhìn đầy lạc quan của người nghệ sĩ là một hiện thực đầy sức lý tưởng.Bởi đơn giản là nhà văn phải miêu tả cuộc sống ấy sao cho nhân dân thấy yêumến chế độ, tin tưởng vào thắng lợi cách mạng vào tương lai của chủ nghĩa xãhội Vì thế cái bi là một phạm trù không được phép tồn tại trong thời đại chiếnthắng của chủ nghĩa xã hội, trong xã hội mới Mỗi biểu hiện của nỗi buồn,đau thương đều dễ làm nảy sinh những tình cảm tiêu cực, cảm hứng anh hùngnhư một dòng chảy chủ đạo xuyên suốt văn học thời kỳ 1945-1975 Giữachiến trường văn học đã truyền tải trung thực tình cảm của nhà văn và cả dântộc Khát vọng giải phóng làm cho văn học đậm chất hào hùng bay bổng Nhàvăn viết trung thực, đi đến tận cùng về số phận con người, về cái “tôi” nhưngkhông phải trong quan hệ với chính cái “tôi” cá nhân đơn thuần mà là trongquan hệ với số phận, dân tộc, đất nước Con người được phản ánh trong vănhọc thời kỳ này là kết tinh cho những phẩm chất cao quý của cộng đồng, củatập thể Cho nên trong các sáng tác của văn nghệ sĩ luôn vươn tới cao nhất,mạnh mẽ nhất việc thể hiện nguyện vọng, hình ảnh của con người cầm súngthay cho con người bình thường, con người vì lý tưởng thay cho con ngườiriêng tư: “Có thể ngày hôm nay, điều ấy cũng thường tình, tôi ngã xuống Nếunhư vậy, thì có sao đâu, bởi vì giá như sau đấy vì một sự kỳ diệu, tôi được

Trang 31

sống trở lại thì cũng xin cho tôi được sống trong ngày hôm nay của dân tộc

ta” (Đường chúng ta đi - Nguyễn Trung Thành)

Xuất phát từ cái nhìn về con người trong thời đại cách mạng, các nhà văn

đã xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học là những nhân vật gắn liền vớihành động Nhiều trang viết của các nhà văn giữa chiến trường vì thế mà cósức mạnh làm thao thức những trái tim trong dòng đời luôn sôi sục, cuộnchảy Nhân vật mà họ xây dựng luôn “Sống và chiến đấu vì lý tưởng của tổquốc” Vì thế họ trở nên gần gũi và giản dị với lẽ sống mà cả dân tộc đangtheo đuổi Có thể xem đó là sự hoá thân kỳ diệu của người nghệ sĩ vào sốphận của đất nước và nhân dân mình Và với nhà văn đó là một sự tái hiện kỳdiệu hình ảnh con người cách mạng trong thực tế tồn tại dưới dạng nhân vậtvăn học

Thực tế đau thương và hào hùng của cuộc kháng chiến đã giúp các nhà

văn viết nên những tác phẩm trung thực và cảm động: Rừng U Minh (Trần Hiếu Minh), Người Mẹ Cầm Súng (Nguyễn Thi ), Rừng Xà Nu, Những sự tích

ở đất thép, Đường chúng ta đi (Nguyễn Trung Thành), Về làng(Phan Tứ), Hòn đất (Anh Đức), Sống như anh (Trần Đình Vân)… đều là kết tinh cho

một thời kỳ cách mạng hào hùng Tiếng lòng và tình cảm, khát vọng và niềmtin, phẩm chất và hoài bão, lạc quan và lý tưởng…tất cả cuộc đời với nhữngcon người sống cho lý tưởng đều góp phần tạo nên bức tranh văn học sinhđộng và sâu sắc thời kỳ 1945-1975

“Mảnh đất hôm nay bạn bè chúng tôi nằm

Nơi máu đổ phải sống bằng thực chất”

(Thanh Thảo - Thử nói về hạnh phúc)

Sau đại thắng mùa xuân 1975 đất nước thu về một mối, cả dân tộc hàohứng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng phải đối mặt với

vô vàn những khó khăn chồng chất: Khủng hoảng trầm trọng về kinh tế, hậuquả của chiến tranh bắt đầu toả sức nặng, cơ chế quản lý cũ bộc lộ nhiều bấtcập…đòi hỏi phải có sự đổi mới Đất nước hòa bình nhưng cuộc sống lại vận

Trang 32

hành một cách khó nhọc và nặng nề, mâu thuẫn giữa những cái lỗi thời lạchậu và tiến bộ trở nên gay gắt Văn học thu nhận sự biến đổi trong đời sống

xã hội nhưng vẫn chưa hoàn toàn thoát ra khỏi sự ràng buộc của yêu cầu vănhọc cách mạng thời kỳ 1945 - 1975

Dấu hiệu cho sự chuyển mình của văn học 1975 - 1985 đầu tiên phải kể đến

là sự xoá bỏ sức ám ảnh của những đề tài cũ Không chỉ đơn giản là tập trung vàonhững đề tài sản xuất, chiến đấu quen thuộc như trước đây, văn học 1975 - 1985

đã tái hiện lại một hiện thực với những đề tài rộng hơn, sâu sắc hơn

Những cuộc đời, những số phận, những trạng thái tinh thần trong vănhọc được mở rộng biên độ Cuộc sống được phản ánh vào trong tác phẩmkhông chỉ là cái nhìn anh hùng, cao cả mà còn thấm thía bao nỗi buồn Vừanhân hậu, ấm áp vừa nhếch nhác, lấm lem Nhân vật có thể đi đến nhữngmiền khuất, những mặt trái của đời sống với chiều sâu tâm linh con người Ở

đó cuộc đời và thân phận mỗi cá nhân đã góp phần làm rõ chân dung của lịch

sử, soi chiếu trở lại những vấn đề của lịch sử đồng thời đem lại những thăm

dò mới, mở ra những nhận thức mới về con người Nỗi buồn chiến tranh

không còn là một tác phẩm đơn thuần viết về chiến tranh thời hậu chiến, nócòn nói lên một cách thấm thía những nỗi đau, những trải nghiệm của sự hy

sinh Phiên chợ Giát lại thông qua một nhân vật nông dân cho thấy bao biến

đổi tang thương của lịch sử và thân phận con người Con người trở thànhtrung tâm chú ý của văn học, văn học hướng về con người với tất cả sự sâusắc của nhận thức, với tất cả những tình cảm của sự trân trọng thiết tha, sựđồng cảm và trắc ẩn nhiều nhất

Văn học sau 1975 trở lại với hiện thực đời thường, chọn những conngười, những số phận bình thường, quan sát và làm giàu thêm cho nhận thức

và sinh hoạt tinh thần của con người trong cuộc sống hòa bình Có con người

trong lịch sử (Hồ Quý Ly - Nguyễn Xuân Khánh; Giàn thiêu - Võ Thị Hảo), cũng có con người trong chiến tranh (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh), lại xuất hiện cả con người tự đánh mất mình (Tướng về hưu- Nguyễn Huy

Trang 33

Thiệp), đan xen là con người thời hậu chiến (Bến không chồng - Dương Hướng), và sự góp mặt của con người với những khát vọng, đam mê (Bức thư

gửi mẹ Âu Cơ - Y Ban)… Phạm vi hiện thực của văn học đặc biệt được mở

rộng khi nhà văn soi chiếu vào đời sống sinh hoạt thường nhật của con nguời.Chính ở khía cạnh này văn học đã thể hiện chân thực những phức tạp trongcác mối quan hệ gia đình, xã hội, sự nghiệp, lý tưởng…Cuộc sống trong vănchương dần bớt đi sức tô vẽ thay vào đó là cảm giác gần gũi thân thiện từcuộc đời

Thời gian của người, Trong cõi nhân gian bé tí của Nguyễn Khải ngoài

việc kể lại một cảnh ngộ, một đời người với những đổi thay của xóm làng nhà

văn còn thể hiện những biến chuyển đang dần diễn ra trong xã hội Bức tranh,

Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, Bi kịch nhỏ của Lê

Minh Khuê…đã khẳng định sự trở lại của văn học với đời thường và với sốphận riêng của mỗi người Con người trong văn học hôm nay được nhìn nhận

ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ Đó là con người xãhội, con người của gia đình, gia tộc, con người gắn liền với phong tục tậpquán, thiên nhiên, với những người khác và với chính mình, vì vậy phần lớntrong các tác phẩm văn học sau 1975 con người không còn được nhận thức vàmiêu tả đơn giản, một chiều, sơ lược như trước nữa mà luôn là con người có

sự đan xen, giao tranh giữa bóng tối và ánh sáng, giữa rồng phượng và rắn rết,thiên thần và quỷ sứ, giữa cái cao cả và cái tầm thường Cũng vì thế nên cuộcđời con người không chỉ có hạnh phúc, chiến thắng, lý tưởng mà còn đầynhững rủi ro, thất bại và đau khổ Cá nhân được phát hiện trong quá trình hìnhthành nhân cách dưới sự chi phối của các yếu tố xã hội Theo đó những bikịch cá nhân được đặt ra một cách mạnh mẽ để hướng con người tới quá trình

tự nhận thức

Từ một nền văn học tập trung phản ánh con người trong quan hệ với sốphận của cộng đồng và lịch sử của dân tộc, sau 1975 nền văn học đó chuyển

Trang 34

cái nhìn sang con người trong các mối quan hệ đa chiều với đời sống xã hội,văn học 1975 - 1985 đã khẳng định được bước chuyển mình trong cái nhìn vềcon người và cuộc đời trước hiện thực cuộc sống Chính sự “thay da đổi thịt”của văn học 1975 - 1985 đã phản ánh sự thức tỉnh ngày càng cao của nhà văn

về con người, cuộc đời nói chung và con người cá nhân nói riêng Văn nghệ sĩ

đã đi sâu khám phá thế giới nội cảm của con người, tạo ra một thế giới nhânvật đa dạng có đời sống tâm lý phức tạp

2.1.2 Cái nhìn mới về cuộc đời và con người trong truyện ngắn Trần Thị Trường

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nhờ vào đường lối đổi mới củaĐảng cùng với không khí dân chủ, cởi mở trong văn học đã tạo nên sức bậtlớn cho các nhà văn

Xuất phát từ việc xác định lại vai trò và chức năng của văn học, từ việcnhìn thấu “Văn học là bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hoá”

có thể nói sau 1986 văn học được trả về đúng nghĩa với tên gọi của nó

Là một loại hình nghệ thụât đặc biệt nhạy cảm với những vấn đề củacuộc sống, lấy ngôn ngữ làm chất liệu văn học luôn hướng tới thể hiện nhữngkhát vọng đẹp đẽ của con người về cái chân, thiện, mĩ , không những vậy vănhọc còn luôn chứa đựng ý thức về sự cảm hoá, sự thức tỉnh để bồi dưỡng tâmhồn, tình cảm cho con người và làm đẹp cho xã hội

Khi ý nghĩa của văn học được nhìn nhận lại và xem xét toàn diện hơncũng là lúc nhà văn có cơ hội để cởi bỏ bộ áo gồng ghềnh, khiên cưỡng vàcứng nhắc bấy lâu để khoác lên mình bộ trang phục mới, xác lập đúng nghĩa

vị thế của nhà văn trong môi trường văn học nghệ thuật nói riêng và trongcuộc sống nói chung Nhà văn được tự do sáng tạo, được nhìn thẳng vào sựthật, phản ánh đúng sự thật mà không còn sợ sệt những thứ “huý kỵ” vô hìnhràng buộc họ

Cuộc cách mạng trong tư duy nhận thức của người nghệ sĩ chính là độnglực thúc đẩy cái nhìn mới về cuộc đời và con người trong văn học sau 1986

Trang 35

Nếu như trước đây, cuộc đời được nhìn nhận trong sự toàn vẹn, tròn trịacủa lý tưởng thời đại thì giờ đây những góc cạnh thô ráp, xù xì của cuộc đời

đã được chiếu rọi Cuộc sống không phải chỉ có sự tồn tại của những cái duynhất mà luôn đan xen, xáo trộn những trạng thái đa cực Những mâu thuẫn,những nghịch lý, những éo le nhức nhối của hiện thực hậu chiến đã được phơibày Nhà văn không ngần ngại khi rượt đuổi, bám sát vào thực tế đời sống đểtìm thấy tất cả những âm hưởng chân thực nhất của thời đại mà chúng ta đangsống Họ không ngần ngại nhìn thẳng, nhìn trực diện và đi sâu vào những mặttrái của xã hội Từ đó mọi gam mầu, mọi mảng ánh sáng, mọi góc cạnh từhiện thực đời sống tất yếu phải bung mở và đa phương Người ta phát hiện ramột sự thực, cuộc sống chưa bao giờ là một chuỗi những niềm tin và lý tưởngduy nhất, cũng sẽ không bao giờ chỉ có một chân lý cuối cùng Bức tranh vềhịên thực trong văn xuôi sau 1986 không dừng lại là hịên thực hào hùng, kỳ

vĩ, lớn lao mà là một thứ hiện thực đời thường nhất, trần thế nhất, nghiệt ngã

và tàn nhẫn nhất Nhà văn đã phát hiện ra sự biến đổi của cuộc sống khôngchỉ dừng lại ở bề rộng mà còn ở cả chiều sâu “Con người không thể hoá thânđến cùng vào cái thân xác xã hội - lịch sử hiện hữu Chẳng có hình hài nào cóthể thể hiện được hết mọi khả năng và yêu cầu con người ở nó, chẳng có tưcách nào để nó có thể thể hiện cạn kiệt hết mình cho đến lời nói cuối cùngnhư nhân vật của sử thi, chẳng có khuôn hình nào để có thể rót nó vào đầy ắp

mà lại không chảy ra tràn ra ngoài Bao giờ cũng vẫn còn phần nhân tính dưthừa chưa được thể hiện”

Đúng như M.Bakhtin đã khẳng định, con người trong văn học luôn ẩnchứa những điều phức tạp nhất và con người trong văn học Việt Nam sau

1986 cũng không nằm ngoại lệ Hiện lên giữa những vòng quay bất tận củacuộc sống mang nhiều khuôn hình khác nhau, con người luôn mang trongmình cái thiện, cái ác, lý trí và dục vọng, bản lĩnh và sự sa ngã, cái chung vàcái riêng Bản tính của con người luôn tồn tại trong nhiều trạng thái, cung bậc

và ẩn chứa những điều bất ngờ lúc nhạt nhẽo, cam chịu, gồng gánh và cũng

Trang 36

có thể biến thành những kẻ ăn thịt đồng loại lúc đói khát…Những ngõ ngách

ẩn sâu trong cái thế giới tinh thần muôn mầu sắc ấy đã được nhà văn tiếp cận,

đi sâu khám phá bằng tất cả sự “bén ngọt của ngòi bút” và sự nhạy cảm củagiới mình Bởi vậy, không có gì lạ khi niềm vui, nỗi buồn của con người luônkhông giống nhau, buồn đấy rồi vui đấy, đói khát cũng buồn và no ăn cũngbuồn, có người hiền lành là thế mà chốc lát đã thành kẻ sát nhân… Đúng nhưC.Mac đã khẳng định “Con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội”đồng thời là “tổng số những hành động của chính nó” Vì thế con người luôntồn tại lý trí và cảm xúc, có khi hành động theo sự chỉ huy của ý thức của lýtrí tỉnh táo, lại có khi bị chi phối bởi tiếng nói tâm linh của vô thức, bản năng.Nếu nhà văn không nghiêm túc với công việc của mình thì thật khó có thểphản ánh được đúng bản chất người ở mỗi nhân vật

Từ chỗ nhận thức con người là một thực thể phức tạp, không nhất quánvới chính mình văn học từ sau 1986 ít thấy có nhân vật đẹp hoàn hảo, nóiđúng hơn là “Nó bị lấn át, bị lu mờ của thế giới nhân vật đời thường phàmtục” Con người trong sáng tác của các tác giả Nguyễn Minh Châu, NguyễnHuy Thiệp, Trần Duy Anh, Hồ Anh Thái… là những nhân vật luôn tồn tại haimặt đối lập, phần người và phần quỷ, khao khát danh vọng và quyền lực, sẵnsàng chà đạp lên luân thường đạo lý, cũng có những con người méo mó bởinhân tính bởi niềm tin mù quáng, đáng sợ hơn là những con người bị biếndạng bởi đồng tiền, độc ác bởi dục vọng và đớn hèn bởi khiếp sợ quyền lực…Soi chiếu cuộc đời và con người ở nhiều phương diện, tìm ra những ẩn khuất

ở những miền tối nhất cái nhìn về hiện thực cuộc sống không ẩn chứa sự biquan, chán nản của các nhà văn mà đó là cái nhìn đầy chân thực, dũng cảmchứng tỏ cho sự thay đổi, quan tâm đến con người nhiều hơn trong văn họcsau 1986

2.1.2.1 Cái nhìn mới về cuộc đời trong truyện ngắn Trần Thị Trường

Đối với mỗi nhà văn cuộc đời chính là một kho tư liệu sống để giúp họ

“nhìn ngắm” và bao quát vào tác phẩm của mình Cái nhìn về cuộc đời trong

Trang 37

mỗi nhà văn là không thể giống nhau bởi trong cái nhìn ấy luôn chịu sự chiphối của vốn sống, tài năng nghệ thuật, môi trường và quan niệm thời đạicũng khác nhau Cái nhìn về cuộc đời trong mỗi văn nghệ sĩ là sự thể hiện chonhững nét độc đáo, riêng biệt tạo thành đặc trưng phong cách của mỗi nhàvăn Với Trần Thị Trường cái nhìn về cuộc đời được tái hiện lại bằng cái nhìncủa một hoạ sĩ, một nghệ sĩ, một công nhân lao động, một nhà báo, một nhàvăn…nên có những nét không thể bị lu mờ bởi bất kỳ ai Truyện ngắn của chịluôn toát lên cái nhìn thế sự đầy cảm thông, giản dị, lạc quan và cũng hết sứcsâu sắc

Không như nhiều nhà văn khác cùng thời, truyện ngắn Trần Thị Trườngghi nhớ trong lòng bạn đọc không phải từ chỗ nhà văn tập trung tái hiện lạicác mối quan hệ về cuộc đời một cách căng thẳng, dồn dập Truyện của chịcũng không bao quát, ôm chứa quá nhiều những vấn đề tồn tại trong cuộcsống Song những gì nhức nhối của cuộc sống thuộc về ngày hôm qua dù đãqua đi và ngày hôm nay khi mới chỉ bắt đầu cũng đều được nhà văn quan tâm,thể hiện

Đất nước sau chiến tranh đã có sự “thay da đổi thịt”, nền kinh tế thịtrường thời mở cửa đã dần cải thiện đời sống cho con người một cách rõ rệt.Song không thuận chiều với nó là đời sống tinh thần và nhiều mặt nhân cáchcon người bị giảm sút Viết về cuộc sống của những con người hiện đại, TrầnThị Trường đã nhẹ nhàng bóc từng lớp vỏ của những sự thật đến phũ phàng:Những con người của cuộc sống hiện đại hôm nay sống tỉnh táo hơn, bonchen hơn, lạnh nhạt hơn trong mối quan hệ với con người và với gia đình, xãhội Có lẽ vì sự thay đổi đó nên xã hội trong bức tranh rộng lớn từ truyện củanhà văn đã thấy xuất hiện đầu tiên những rạn vỡ, sự rạn vỡ về trách nhiệm với

gia đình, sự rạn vỡ trong nhân cách Trong Trời rét như cắt nhà văn đã cắt

nghĩa sự ngơ ngác, thở dài của một thạc sĩ chuyên ngành phê bình nghệ thuậtdân gian một cách chua chát Dậu, một cử nhân khoa học luôn bận tối tămmặt mũi với không ít các tập tranh gửi đến, với không ít cảm giác tự hào về

Trang 38

những lời lẽ như: “Xin anh xem xét kỹ cho Tôi có còn sống và vẽ vời đượcnữa không là nhờ anh Chỉ có anh mới là người có đôi mắt thần Đời bâygiờ…”, Dậu miệt mài ngắm nghía, đeo kính lúp và luôn hướng tới sự côngbằng ở đời Càng lâu trong nghề, anh càng thêm yêu quý cái muôn hình muôn

vẻ của nó Và một “phi vụ” làm ăn đến với Dậu Không chỉ là những dòng

“gửi ông Dậu” thông thường mà kéo theo là cả một account để làm phí nghiêncứu…“ái chà chà”… Lần đầu tiên trong đời Dậu nhận ra cái ngạt thở tronglồng ngực, lần đầu tiên Dậu nhận thấy máu muỗi bốc mùi tanh tanh và cầnphải đi tắm Nhưng “Trời tháng chạp qúa rét Dậu toan nghĩ tới cái bình nướcnóng” Với khoản account được đề nghị Dậu sẽ có cái bình nước nóng đó Mọi chuyện có lẽ sẽ êm đẹp và cái tết năm đó hẳn Dậu sẽ được một cáibình nóng lạnh như ý nếu như Nguyễn Văn Minh Bạch vẫn còn làm ở tỉnh,vẫn muốn mở triển lãm tranh dân gian …Thay vì một khoản accout “béo bở”được chuyển qua ngân hàng sau khi Dậu hòan tất công việc phê bình tranhdân gian thay cho Nguyễn Văn Minh Bạch, Dậu chỉ nhận được một số tiền500.000 ngàn “Gọi là chút lòng mến như nhuận bút đương thời để ông tiêuvặt”…Mọi thứ chốc lát sụp đổ dưới chân Dậu Vanh-Xăng (tên gọi khác củaDậu) bỏ đi trong cái “bộ mặt như đít nhái” và chơi vơi trong khoảng khôngcủa phố phường Cay đắng hơn đối với Dậu là ở Viện bộ sưu tập tranh mà anh

là người phê bình lại có thể bán với giá 100.000 ngàn đô la Úc…Đi tìm ýnghĩa của cuộc sống từ những thứ cao cả, đầy khát vọng, song Dậu đã phảixót xa nhận ra cái mùi thực bốc lên từ chính cuộc sống ấy Anh nhận ra cả sựlung tung khập khiễng của phố phường, cũng nhận ra bên cạnh những

“buldinh” sạch sẽ là những con phố đầy bãi rác, đường đầy ổ gà, ổ trâu, xeđạp thồ rau đi nghênh ngang, chó sủa oăng oẳng… Mùi từ cuộc sống đãkhông giản đơn như Dậu tưởng tượng và mong ước Mặt anh thấy ran rát bởilớp mưa bụi hay cõi lòng anh rát cháy bởi chút tính toán đã ăn sâu vào nghệthuật và tiếc thay sự tính toán đấy lại trả cho anh những thứ không xứng đáng

dù chỉ là “cái bình nóng lạnh”!

Trang 39

Câu chuyện về Dậu buồn nhất là ở những đêm tiết trời 30, rét như cắt

“Anh bỗng ngứa ngáy toàn thân khi nhìn thấy dòng người hối hả trên phố, ai

ai cũng có những bó mùi gà Chẳng ai là không tắm tất niên và “làm thế nào

để có cái bình nóng lạnh hả Vanh Xăng?” hay là “Quay trở lại, lấy đi bức congà”, “Chỉ khi ấy anh mới có tiền anh bạn ạ” … Là tiếng của ai đây? của ai vôhình đang nói với Dậu hay của chính Dậu? “Nhưng như thế nghĩa là ăn cắp”.Truyện kết thúc bằng một dòng suy tư không lời giải đáp Chúng ta, nhữngngười đọc có quyền tư duy cái kết ấy theo nhiều chiều Dậu đã thay đổi là vìgì? vì những tỉnh táo, những tính toán, dù lòng anh “ấm nóng” bởi nghệ thuậtnhưng cuộc đời lại “lạnh quá” Anh những tưởng mình sẽ được thoả nguyệnbằng cách đó Nhưng mọi chuyện lại không êm đẹp Đó mới chính là cuộcđời Cuộc đời trong cái nhìn của Trần Thị Trường luôn chứa đựng những điềubất ngờ mà chúng ta không thể lường trước được Trong cuộc đời đó, nhữngvết rạn về lòng tin, về lý tưởng sống, về niềm đam mê dù mạnh mẽ đến đâucũng có thể bị cơ chế thị trường đang dần ăn sâu và làm cho hoen rỉ Conngười có quyền tự đặt ra câu hỏi cho chính mình và sau đó, chính mình không

ai khác sẽ là người giải đáp nó Quay đầu lại với nghệ thuật hay sẽ “ăn cắp”nghệ thuật?

Trong Ảo giác chúng ta lại bắt gặp cái “tặc lưỡi” chẳng mất gì của H.

Gần 40 tuổi, H đã nếm đủ những vết nhọc nhằn hằn sâu trong ngực, với 7năm cao học mịêt mài, với cái thành tích 7 lần lên voi và 21 lần xuống chó H

tự tin rằng tao là “Thằng không lừa được đâu” bởi những thứ quảng cáo tờ rơiphù phiếm trên đường phố…Câu chuyện mới đang chỉ nửa đùa, nửa thật màlòng H đã trong tình trạng báo động bởi sức hấp dẫn từ thu nhập của côngviệc trong tờ rơi đó

Ao ước có một chỗ làm tử tế đúng với khả năng là nỗi ao ước thườngtrực trong lòng H Anh đã bắt đầu công việc mới bằng chính những suy nghĩđầu tiên đó Và con đường vượt qua cái danh giới mong manh giữa ý thức vềnhân cách và ý thức về cuộc đời trong H cũng đã có lúc lên tới đỉnh điểm

Trang 40

“Tôi nhắc lại Nguyên tắc của chúng tôi là chỉ nhận cái quý nhất Đơn giảnthế thôi Để làm gì là chuyện của tôi, xin ông không hỏi Thôi được Cũng cònmột nguyên tắc khác Ông đổi những bộ phận cơ thể của ông cũng được Ôngquý nhất bộ phận nào?” H đỏ mặt “Anh nhớ những lần ân ái với vợ, vớinhững người đàn bà đem lại cho anh cái cảm giác siêu tưởng Anh nhìnquanh Bất giác anh nghĩ đến một khẩu súng Anh ước lượng khoảng cách từtay anh đến mặt TL - thằng khốn nạn Anh nheo mắt như những nhân vậttrong phim Anh đứng lên Đồ chó Nhưng rồi chính anh lặng người đi vì sợtiếng mình vang xa TL mặt không biến sắc Hắn quay chiếc đèn cho rõ tấmngân phiếu, chiếc chìa khóa xe hơi, quyết định bổ nhiệm và sổ lương, bắt đầutừ… ngày… tháng …năm 2005 trở đi” H đứng dậy, muốn chửi thề, rồi H liếcnhìn, choáng váng… Tiếc thay cái liếc nhìn của H lại chứng minh cho anhthấy rằng “Ngay cả các bà cũng nhiều người gan dạ đổi đi những thứ rất quýấy… Rồi H đã không thể cưỡng lại được, mọi thứ cứ hiện lên hấp dẫn lạ kỳ.Cuộc sống sẽ đổi khác và anh chỉ mất đi một thứ duy nhất Kể từ sau hôm đó

H nói giọng đàn bà!

Vết rạn trong cái nhìn về cuộc đời của nhà văn Trần Thị Trường đến Ảo

giác không phải chỉ dừng lại ở một câu hỏi Vết rạn ấy đã được nhà văn nhìn

thấu, xuyên suốt và cảm thấy đau xót bởi nó đã trở thành hố sâu trong nhâncách con người Trong một cuộc sống mà mọi giá trị, niềm tin lúc nào cũng

có thể bị đe doạ, bị lấn át bởi sức mạnh của đồng tiền, cuộc đời đã trở nênđáng buồn biết bao Nhà văn đã gửi gắm tâm sự ấy bằng cả sự thông cảmsong cũng đầy chát chua Cuộc đời không chỉ dừng lại chỉ ở những bất ngờ,cuộc đời còn mở rộng biên độ bởi những cám dỗ Cám dỗ về vật chất phảiđánh đổi bởi cuộc sống tinh thần, cám dỗ về sự tồn tại lấn át lý tưởng về nhâncách Trong guồng quay của một xã hội xô bồ hỗn tạp, con người đứng trướcbao thử thách, mất và còn, tồn tại hay bị vùi lấp, đánh đổi hay hi sinh… Mọigiá trị đều ẩn chứa những “trị giá” tương xứng với chính nó Xã hội đangxuống cấp, những căn bệnh khó chữa đang hình thành Và vì sự tồn tại, tiếng

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí "Vănhọc
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
3. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diệnthể loại”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
4. Phan Thị Vàng Anh (1994), Khi người ta trẻ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi người ta trẻ
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1994
5. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia HàNội
Năm: 1999
6. Y Ban (2003), Người đàn bà có ma lực, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đàn bà có ma lực
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
7. Y Ban (2003), Chợ rằm dưới gốc cây cổ thụ, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ rằm dưới gốc cây cổ thụ
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
8. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạpchí "Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
10. Nam Cao (2001), Tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác gia tác phẩm
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
11. Đỗ Hoàng Diệu (2005), Bóng đè, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng đè
Tác giả: Đỗ Hoàng Diệu
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
12. Nguyễn Đăng Điệp (2005), “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại”, http://www.tienve.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyềntrong văn học Việt Nam đương đại”
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2005
13. Hà Minh Đức (1998), Cảm hứng thời đại trong văn chương”, Chặng đường mới của văn học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng thời đại trong văn chương”, Chặngđường mới của văn học Việt Nam
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
14. Hà Minh Đức (Chủ biên, 2001), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Võ Thị Xuân Hà (2006), Chuyện của người con gái hát rong, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện của người con gái hát rong
Tác giả: Võ Thị Xuân Hà
Nhà XB: Nxb HộiNhà văn
Năm: 2006
16. Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình (1995), Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi từ sau Cách mạng tháng 8 đến nay, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật về conngười trong văn xuôi từ sau Cách mạng tháng 8 đến nay
Tác giả: Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1995
17. Phùng Hữu Hải, “Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ sau 1975”, http://www.evan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại từsau 1975”
18. Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử (đồng chủ biên,1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Trần Anh Hào (1999), “Vai trò của đoạn mở, đoạn kết với tiếng cười trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”, Tạp chí Ngôn ngữ, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đoạn mở, đoạn kết với tiếng cườitrong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”, Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Anh Hào
Năm: 1999
20. Võ Thị Hảo (2005), Hồn trinh nữ, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn trinh nữ
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
21. Võ Thị Hảo (2005), Goá phụ đen, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Goá phụ đen
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
22. Võ Thị Hảo (2005), Người sót lại của rừng cười, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người sót lại của rừng cười
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w