1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những đề xuất về chương trình văn học nước ngoài ở trường phổ thông

10 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 516,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, trên cơ sở nhìn lại chương trình văn học nước ngoài hiện hành, bài viết đề xuất những nguyên tắc cơ bản để hướng đến việc xây dựng chương trình văn học nước ngoài ở trường phổ thông sau 2015.

Trang 1

PGS.TS TRẦN THỊ QUỲNH NGA

Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP

Hồ Chí Minh Điện thoại: 0909222999 Email:

tranquynhnga49@yahoo com.vn

NHỮNG ĐỀ XUẤT

TRÌNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI Ở

THÔNG

TÓM TẮT

Văn học nước ngoài là một bộ phận đặc biệt trong cấu trúc chương trình dạy học văn ở nhà trường phổ thông Việt Nam Hiện nay, nâng cao chất lượng dạy và học trong các bậc học từ phổ thông đến đại học đang là vấn đề bức xúc không chỉ đối với nhà trường mà còn đối với toàn xã hội Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, trên cơ sở nhìn lại chương trình văn học nước ngoài hiện hành, bài viết đề xuất những nguyên tắc cơ bản

để hướng đến việc xây dựng chương trình văn học nước ngoài ở trường phổ thông sau

2015

Từ khóa: Văn học nước ngoài, chương trình, chất lượng dạy học, đề xuất

ABSTRACT

Proposals for Foreign Literature Curriculum in High School

Foreign literature plays a key role in literature curriculum in Vietnamese high-school Improving teaching and learning effectiveness in high-schools and colleges is currently a concern not only for teachers but also a whole community In order to contribute to education renovation program, by reviewing current curriculum, this article aims to propose principal ideas to improve high-school foreign literature curriculum from 2015

Key words: Foreign literature, curriculum, teaching and learning effectiveness,

proposals

Trang 2

Văn học nước ngoài (VHNN) là một bộ phận đặc biệt trong cấu trúc chương trình dạy học văn ở nhà trường phổ thông Việt Nam Các tác phẩm VHNN, với tư cách

là biểu hiện cụ thể những giá trị văn hoá vĩ đại của lịch sử nhân loại đã, đang và sẽ góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu tiến trình phát triển văn hoá, văn học thế giới, mở ra những chân trời mới, giúp người đọc, trong đó có học sinh tiếp xúc với một thế giới vừa

xa xôi vừa gần gũi với đất nước mình, dân tộc mình

Dạy và học VHNN ở nhà trường phổ thông có ý nghĩa lớn lao, góp phần quan trọng đào tạo, phát triển tri thức toàn diện, nâng cao sự cảm thụ nghệ thuật cho các em học sinh Đặc biệt kiến thức VHNN càng có ý nghĩa trong đời sống hôm nay, khi thế hệ trẻ Việt Nam đang đứng trước một thế giới rộng mở với rất nhiều chân trời mới VHNN chính là chiếc cầu nối cho tình hữu nghị và sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc

Thế giới hiện đại đang chuyển mạnh trong xu thế toàn cầu hoá Việc tìm hiểu và tiếp nhận các nền văn minh, các giá trị văn hoá nhân loại đã trở thành qui luật phát triển tất yếu của mỗi dân tộc Thực tiễn chứng minh rằng, quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá không làm bản sắc và tính độc đáo của mỗi nền văn hoá mất đi Ngược lại, tìm hiểu, tiếp nhận sâu sắc, sáng tạo các nền văn hoá khác sẽ làm giàu thêm nền văn hoá của chính dân tộc mình Theo tinh thần ấy, trong lĩnh vực giáo dục, việc tổ chức cho học sinh tiếp nhận một cách khoa học các tác phẩm VHNN trong chương trình dạy học văn

ở trường phổ thông cũng trở thành một yêu cầu giáo dục mang tính bức thiết hơn bao giờ hết

Hiện nay, nâng cao chất lượng dạy và học trong các bậc học từ phổ thông đến đại học đang là vấn đề bức xúc không chỉ đối với nhà trường mà còn đối với toàn xã hội Định hướng chiến lược phát triển giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn mới, Nghị quyết Trung ương lần thứ 8, khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ghi rõ: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo” Trên tinh thần đó, ngành giáo dục đang tích cực chuẩn bị xây dựng chương trình, sách giáo khoa theo hướng phát triển năng lực người học, trong đó chú trọng các năng lực chung như: năng lực tự học, học cách học; năng lực cá nhân (tự chủ,

tự quản lí bản thân); năng lực xã hội; năng lực hợp tác; năng lực giao tiếp (tiếng mẹ đẻ

và ngoại ngữ); năng lực tư duy; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực công nghệ thông tin và truyền thông…(1) Đổi mới chương trình và sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học môn văn chính là một trong những nhiệm vụ phải làm để góp phần hiện thực hoá chiến lược giáo dục của nước ta trong thời kì mới

Trang 3

Trên cơ sở xác định một số nguyên tắc cơ bản, nhìn lại chương trình VHNN ở phổ thông hiện nay để hướng tới chương trình VHNN sau 2015 là vấn đề chúng tôi muốn đề cập trong bài viết này

1 Nguyên tắc hệ thống

“Chương trình là một vấn đề cực kì quan trọng trực tiếp liên quan đến nhiều vấn

đề quan trọng khác về nội dung, về mục đích phương pháp, về đối tượng giáo dục” (2)

Trên quan điểm chung nhất, “Chương trình phải thể hiện một cách có ý thức, một cách toàn diện, một cách nhất quán có kế hoạch những mục tiêu đào tạo cụ thể của từng cấp, từng lớp, những phương hướng đào tạo, những quan điểm, những phương pháp đặc trưng của quá trình đào tạo người học sinh bằng công cụ văn học và tiếng Việt Chương trình cũng phải thể hiện được sự vận dụng tổng hợp những hiểu biết liên quan có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình đào tạo này”(3)

Nhìn vào chương trình VHNN ở nhà trường phổ thông hiện nay, có thể thấy những tác phẩm VHNN được chọn lọc thường là những tác phẩm có dung lượng lớn và đều đạt đến trình độ những chỉnh thể nghệ thuật hoàn thiện, do vậy, chuyển tải các giá trị tinh hoa của VHNN đến học sinh là việc không đơn giản Để xây dựng chương trình VHNN thích hợp, gắn bó và bổ sung, tác động, liên hệ qua lại mật thiết với chương trình văn học dân tộc, đòi hỏi trước hết phải xác định cả một hệ thống những nguyên tắc

cụ thể để đảm bảo chương trình là “một chỉnh thể nhất quán, liên thông giữa các cấp học; đảm bảo sự kế thừa và phát triển,phù hợp với quan điểm học suốt đời Nội dung giáo dục phải được lựa chọn từ những tri thức cơ bản, những giá trị lịch sử, văn hóa tinh hoa của dân tộc và nhân loại, những thành tựu khoa học tiên tiến, đảm bảo vừa hội nhập quốc tế, vừa phù hợp với thực tiễn Việt Nam; giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành Bảo đảm nền tảng văn hóa cơ bản, tích hợp cao ở các lớp dưới và phân hóa sâu ở các lớp trên”(4)

Như vậy, nguyên tắc quan trọng hàng đầu khi xây dựng chương trình là phải xác định chương trình VHNN như một hệ thống, trong đó mỗi nền văn học đóng vai trò như một yếu tố, có quan hệ bổ sung qua lại, tác động và qui định lẫn nhau để từ sự giới thiệu một cách tối thiểu từng nền văn học, cung cấp cho học sinh cái nhìn toàn cảnh về kho tàng văn học nhân loại vô cùng phong phú, đa dạng Theo nguyên tắc này, khi lựa chọn, phân bố, sắp xếp các tác giả, tác phẩm của một nền VHNN, không nên chỉ bó hẹp quan điểm lựa chọn trong từng nền văn học, hoặc chỉ chú ý đến từng nền văn học một cách

Trang 4

thống lớn Chỉ trong hệ thống lớn này, mới có điều kiện để xem xét nhằm tạo nên sự cân đối, hợp lí giữa các thể loại, giai đoạn, trường phái, châu lục,… của các nền văn học khác nhau Đến lượt mình, các tác giả, tác phẩm của chương trình VHNN cũng lại phải được giới thiệu trong mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau với các tác giả, tác phẩm của chương trình văn học Việt Nam và với các kiểu văn bản, các loại và thể loại văn học trong một hệ thống lớn hơn: chương trình Ngữ văn trong nhà trường để thực hiện

và đạt được mục tiêu môn học Đó là cách thức định hướng học sinh bước đầu có ý thức

so sánh, đối chiếu những tác giả, tác phẩm có quan hệ gần gũi về thể loại, đề tài giữa các nền văn học với nhau, giữa VHNN với văn học dân tộc Chương trình VHNN, vì thế phải hết sức chú ý giới thiệu:

- Những nền văn học lớn, tiêu biểu nhất của nhân loại, cũng như các tác giả, tác phẩm tiêu biểu nhất

- Những nền văn học có quan hệ giao tiếp, giao lưu, ảnh hưởng rõ nhất đối với văn học Việt Nam, trên cơ sở quan hệ địa lí, giao lưu lịch sử – văn hoá, có nhiều tương đồng về loại hình văn hoá, ngôn ngữ

- Những hiện tượng văn học, những vấn đề văn học tiêu biểu nhất có thể làm sáng tỏ, hiểu sâu thêm nhiều hiện tượng của văn học Việt Nam

Các yêu cầu nêu trên đòi hỏi một cái nhìn tổng thể, chi tiết, liên thông để đề ra một khung chương trình VHNN hợp lí, tránh trùng lặp, nặng nề, quá tải

Chúng tôi chia sẻ với ý kiến “cần chú trọng giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu cho những nền văn học, văn hóa lớn của nước ngoài có ảnh hưởng đến văn học dân tộc, đồng thời cũng nên lưu ý giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu cho những nền văn học, văn hóa quan trọng đối với phối cảnh hội nhập của Việt Nam thế kỉ XXI Trước hết nên

đi từ quan hệ khu vực: văn học Nhật Bản và Hàn Quốc – những dân tộc vốn có nhiều tương đồng với Việt Nam vì cùng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, lại là những nước tích hợp những giá trị văn hóa truyền thống phương Đông với ảnh hưởng văn minh Phương Tây”(5)

2 Nguyên tắc lựa chọn tác giả – tác phẩm

Xây dựng một chương trình giảng dạy trong nhà trường, mặc dù có thể phải tính đến rất nhiều nguyên tắc chung, riêng, rộng, hẹp khác nhau, nhưng đối với riêng chương trình dạy học văn học, có hai nguyên tắc chi phối quan trọng nhất phải được làm rõ Trước hết, là nguyên tắc lựa chọn tác giả và nguyên tắc lựa chọn tác phẩm Về cách lựa chọn tác giả, tác phẩm trong chương trình VHNN hiện hành, chúng tôi có một số nhận xét sau:

Trang 5

2.1 Nguyên tắc lựa chọn tác giả

Nhìn chung, các nhà văn được chọn nghiên cứu trong nhà trường trước hết (và luôn luôn) là những tấm gương lao động nghệ thuật quên mình, là những nhân cách lớn, luôn khao khát lí giải bi kịch và hạnh phúc cho con người, dân tộc và nhân loại; căm ghét sự phi nhân tính, áp bức, cường quyền, không ngừng đấu tranh cho thắng lợi của công lí và tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái Tuy nhiên, trong khuôn khổ của chương trình Ngữ văn (nhất là phần VHNN) ở phổ thông, do không có điều kiện giới thiệu tất

cả các nhà văn lớn, việc lựa chọn tác giả cần phải được tính toán nghiêm ngặt để có thể, thứ nhất, trong một thời lượng hạn chế, giới thiệu được nhiều tác giả hơn; và thứ hai, những tác giả được giới thiệu không những là đỉnh cao của văn học thế giới mà còn phải thật sự là người đại diện xứng đáng cho nền văn học của đất nước, dân tộc đó

Dường như ở đây có một sự khác biệt nhất định giữa việc lựa chọn tác giả phần Văn

học Việt Nam và lựa chọn tác giả phần VHNN: nếu phần Văn học Việt Nam có thể (và

cần) phải giới thiệu cả tác gia và tác giả thì phần VHNN chỉ có thể hướng đến các tác

gia – những đỉnh cao thực sự của văn hoá nhân loại – mà thôi

Theo yêu cầu thứ nhất, chúng tôi cho rằng: chương trình VHNN không nên xây dựng (thiết kế) theo nguyên tắc (mô hình) đồng tâm theo cách hiểu thông thường hiện nay, mà nên xây dựng theo nguyên tắc tuyến tính Ở đây đòi hỏi một cái nhìn chiến lược, xuyên suốt giữa chương trình của các cấp học, lớp học Ví dụ: ở lớp 6 THCS, học

sinh đã được học văn bản Ông lão đánh cá và con cá vàng do Puskin – đại thi hào Nga

– kể lại bằng 250 câu thơ trên cơ sở truyện dân gian Truyện vừa giữ được nét chất phác, dung dị của nghệ thuật dân gian, vừa thể hiện tài năng sáng tạo của Puskin Lên

lớp 11 THPT, học sinh chính thức được học về tác gia Puskin và văn bản Tôi yêu em –

một trong những bài thơ tình nổi tiếng nhất của ông Như vậy, ở đây có một cấu trúc đồng tâm nhưng theo chúng tôi, sự đồng tâm này là không cần thiết Puskin dù là tác gia rất xứng đáng, tiêu biểu cho văn học Nga thì cũng chỉ nên giới thiệu sự nghiệp của ông

ở lớp 11 Phần VHNN ở lớp 6 nên dành cho một tác giả khác của một nền văn học khác, chẳng hạn: những truyện cổ dân gian Đức của anh em Grim hay truyện cổ của Anđecxen Tương tự, có lẽ cũng không thật cần thiết khi Lỗ Tấn đã được giới thiệu ở

chương trình Ngữ văn 9 qua tác phẩm Cố hương, lên lớp 12, học sinh lại tiếp tục học về tác gia này qua truyện ngắn Thuốc; Tagor đã được giới thiệu ở chương trình Ngữ văn 9 qua bài thơ Mây và sóng, lên lớp 11, học sinh lại tiếp tục học về tác gia này qua Bài thơ

số 28, Để nội dung chương trình VHNN được phong phú hơn, nên chăng dành một

trong hai thời lượng đồng tâm này để giới thiệu thêm một số tác giả nước ngoài khác?

Trang 6

2.2 Nguyên tắc lựa chọn tác phẩm

Trong thế giới văn học, mỗi nhà văn là một nhân cách, một phong cách và cá tính sáng tạo, mỗi tác phẩm văn học là một bức tranh độc đáo, sinh động về tự nhiên, xã hội và con người Do vậy, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể tiếp xúc càng nhiều càng tốt với kho tàng văn học phong phú, đa dạng của dân tộc và nhân loại là nhiệm vụ đặc thù và rất quan trọng của quá trình dạy học văn trong nhà trường Tuy nhiên, lựa chọn tác phẩm (đặc biệt là tác phẩm VHNN) để đưa vào chương trình dạy học là một vấn đề vô cùng phức tạp Nói chung, chương trình văn học trong nhà trường phải giới thiệu các tác phẩm có tính tư tưởng, nghệ thuật cao, phù hợp với lứa tuổi học sinh, nhưng bên cạnh đó, tác phẩm được chọn cũng lại phải là tác phẩm tiêu biểu nhất cho sự nghiệp của tác giả, tức là tác phẩm thuộc thể loại mà tác giả đạt được thành công lớn nhất Chọn tác phẩm không tiêu biểu cho phong cách, tư tưởng tác giả, sức hấp dẫn của tác phẩm sẽ không cao, và học sinh sẽ không có được ấn tượng đúng về bản thân tác giả

đó

W Sêchxpia, V Huygô,… đều là những người khổng lồ đã để lại cho nhân loại

di sản văn học đồ sộ, phong phú, đa dạng với nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau Thế nhưng đối với người đọc Việt Nam, thể loại thành công và quen thuộc nhất của Sêchxpia vẫn là kịch, của Huygô vẫn là tiểu thuyết v.v Chính vì vậy, trong chương trình Ngữ văn THPT cải cách năm 1989, việc thí điểm giới thiệu Vichto Huygô với bài

thơ Đêm đại dương (thay cho tiểu thuyết Những người khốn khổ) đã không mang lại

hiệu quả mong muốn Ngay cả khi đã chọn đúng thể loại tiêu biểu cho sự nghiệp văn học của tác giả, vẫn tiếp tục phải cân nhắc nên chọn tác phẩm cụ thể nào, đoạn trích nào Trở lại chương trình VHNN hiện hành ở phổ thông, theo nguyên tắc “tác phẩm lựa chọn phải tiêu biểu cho tác giả”, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần thảo luận thêm

Chương trình lớp 11 giới thiệu đại thi hào Puskin với bài thơ Tôi yêu em là một

lựa chọn hợp lí vì tuy nhà thơ Nga vĩ đại này đã sáng tạo trên nhiều thể loại (trường ca, truyện thơ, thơ, kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết,…) và ở thể loại nào cũng đạt được những thành công, nhưng nói đến Puskin trước hết và chủ yếu vẫn phải nói đến mảng thơ trữ tình Chính ở đây, nhìn lại chương trình cải cách năm 1989, chúng ta hoàn toàn chia sẻ

được những băn khoăn của nhiều giáo viên khi phải dạy bài Cây Antsa (thơ trữ tình

chính trị), đơn giản vì tác phẩm được chọn này không thật sự tiêu biểu cho phong cách nhà thơ

Theo nguyên tắc đang bàn, việc lựa chọn tác phẩm tiêu biểu không chỉ dừng lại

ở cấp độ tác phẩm mà quan trọng không kém là phải cân nhắc đến cả việc lựa chọn ở cấp độ nhỏ hơn: cấp độ đoạn trích Điều này càng trở nên có ý nghĩa khi trong chương

Trang 7

trình VHNN, các tác phẩm văn xuôi thường chỉ được giới thiệu thông qua một số trích

đoạn nhất định Có thể kể đến trích đoạn truyện Cô bé bán diêm của Anđecxen – nhà

văn nổi tiếng xứ Đan Mạch – người đã sáng tạo thật tuyệt vời những truyện cổ tích làm say mê nhiều thế hệ Bằng ngôn ngữ kể chuyện cảm động, giàu chất thơ, đoạn trích trong SGK Ngữ văn lớp 8, tập 1 đọng lại trong tâm trí các em sự cảm thương cho số phận cô bé nghèo khổ, cô đơn, bất hạnh và khát vọng về một thế giới không còn đói rét,

buồn đau Phần kết Chiếc lá cuối cùng (O Henry) trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8,

tập 1 hấp dẫn học sinh bởi vẻ đẹp nhân văn, bởi sự sáng tạo nghệ thuật được kết tinh từ

tình yêu thương con người Với trích đoạn truyện ngắn Số phận con người, các tác giả

sách giáo khoa lớp 12 đã chọn phần kết của truyện kể về hoàn cảnh của Xôcôlôp sau chiến tranh, đặc biệt là cuộc gặp gỡ cảm động giữa Xôcôlôp và bé Vania – hai nạn nhân của chiến tranh Lòng tin ở tính cách Nga kiên cường, lòng tin ở cuộc sống bao dung là

âm hưởng đọng lại trong lòng độc giả Nó thể hiện cách nhìn đầy nhân bản của Sôlôkhôp

Tuy nhiên, khảo sát sách giáo khoa Ngữ văn THCS cũng như THPT chương trình hiện hành, chúng tôi cảm thấy việc lựa chọn trích đoạn để dạy học trong một số trường hợp dường như vẫn chưa được giới thuyết rõ ràng Chẳng hạn: nội dung tư tưởng

của tiểu thuyết Rôbinxơn Cruxô (Đ.Điphô) là khẳng định sức mạnh, nghị lực và trí tuệ

con người có khả năng khuất phục thiên nhiên và hoàn cảnh, bắt thiên nhiên và hoàn cảnh phải phục vụ cho cuộc sống của mình Vậy thì, có lẽ tiêu biểu cho tác phẩm này phải là những đoạn trích miêu tả cảnh dựng nhà, săn bắn, trồng trọt, chăn nuôi hay những lúc phải vật lộn với cô đơn, bệnh tật của Rôbinxơn chứ không phải là đoạn trích miêu tả ngoại hình của anh ta như sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9, tập 2 đang sử

dụng Người thầy đầu tiên (Aimatốp) là câu chuyện cảm động về tình thầy trò, về nghị

lực, sự hi sinh thầm lặng của thầy Đuysen – người đã đem ánh sáng văn hóa đến với những trẻ em ở làng Kukurêu hẻo lánh của Cưrơgưxtan vào giữa những năm 20 của thế

kỉ trước; thế nhưng đoạn trích “Hai cây phong” trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập

1 dường như lại chưa toát lên chủ đề tác phẩm khi chỉ tập trung miêu tả cảm xúc, tâm trạng của người họa sĩ – nhân vật người kể chuyện

Một vấn đề nữa là cần trích đoạn tác phẩm như thế nào để học sinh vẫn tiếp

nhận được ý nghĩa của tác phẩm trong tính toàn vẹn của nó Người trong bao của Sêkhôp có dung lượng tương đối dài, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, tập 2 đã lược ba

đoạn ở ba vị trí khác nhau của truyện Tuy có lược thuật, nhưng việc lược bỏ đã khiến

tác phẩm nổi tiếng Người trong bao dễ trở nên đơn nghĩa; học sinh khó có thể cảm nhận

được tính chất đa thanh, nhiều chiều và những ý nghĩa tư tưởng khái quát, cùng rất nhiều chi tiết nghệ thuật tưởng như thoáng qua song lại vô cùng sâu sắc, tinh tế của tác

Trang 8

phẩm này Truyện Sêkhôp là truyện trong truyện, là truyện trên bề mặt văn bản, nhưng đồng thời cũng là truyện dưới văn bản, là dòng chảy ngầm dưới mỗi câu từ, chi tiết Tìm hiểu tác phẩm Sêkhôp cũng chính là khám phá chiều sâu ẩn bên dưới bề mặt ngôn từ

Dù không phải ngay lập tức có thể hiểu được hết những tầng nghĩa ẩn giấu, người đọc vẫn lấy làm thú vị bởi còn được trăn trở, suy ngẫm hay tranh luận về một thông điệp

nào khác bên cạnh những số phận cuộc đời đã hiển hiện trước mắt Ở Người trong bao,

nhân vật đáng phê phán không chỉ là Bêlicôp mà còn là những người bị ấn vào bao mà không nhận ra mình và do đó, không bao giờ dám phản kháng Burkin và những người

cùng với anh ta trong tỉnh lẻ cũng là một dạng “người trong bao” đích thực Điều này

càng rõ trong đối thoại của bác sĩ Ivan Ivanưt với Burkin ở đoạn kết của truyện Những đối thoại của Ivan Ivanưt mở ra nhiều vỉa tầng ý nghĩa tiềm ẩn dưới văn bản Tìm hiểu

truyện ngắn Người trong bao, thiết nghĩ không nên bỏ qua một đoạn kết với những chi

tiết đầy ý nghĩa như thế, bởi đây là bình diện nữa, vô cùng quan trọng của chủ đề, tư tưởng tác phẩm: đánh thức, kêu gọi mọi người phải thay đổi lối nghĩ, cách sống Và chủ

đề, tư tưởng đó xuất hiện không chỉ ở Người trong bao mà ở cả một loạt tác phẩm khác của Sêkhôp: Phòng 6, Thảo nguyên, Khóm phúc bồn tử… như một hệ thống tư tưởng

đạo đức, triết học, suy tư, khát vọng lớn lao của nhà văn về số phận con người, nhân dân, đất nước Nếu vẫn giữ Sêkhốp trong chương trình, theo chúng tôi nên chọn văn bản

khác (ví dụ: Anh béo và anh gầy, Con kì nhông ) Đây là những truyện ngắn mang đậm

chất kịch (một đặc trưng cơ bản của ngòi bút Sêkhôp) và cũng mang đậm thông điệp tư tưởng đầy nhân văn của tác giả: “chắt lọc, loại bỏ từng giọt nô lệ ra khỏi con người”

Để xác định rõ hơn nguyên tắc lựa chọn tác phẩm, chúng tôi muốn nói thêm hai vấn đề:

Một là, tác phẩm phải được giới thiệu qua một bản dịch chuẩn

Dịch văn học nước ngoài bao giờ và ở đâu cũng là việc khó, nhất là dịch thơ

“Nhiều yếu tố hình thức của thơ như thể thơ, vần điệu, âm hưởng… phần lớn bị mất mát khi chuyển dịch qua một ngôn ngữ khác Nội dung của thơ gắn với ngôn ngữ thơ nên thường cũng không giữ được nguyên vẹn”(6)

Dịch không đơn thuần là chuyển ngữ, là bám sát từ, bám sát câu chữ Có không ít trường hợp dịch đúng từ, đúng ngữ pháp bản ngữ mà vẫn chưa tới được tác phẩm Điều quan trọng nhất của dịch thuật là dịch đúng, đúng ý và đúng tinh thần, đúng cái hồn của tác phẩm Dịch là đồng sáng tạo Và điều đó hoàn toàn không đơn giản

Trong nhà trường, chúng ta không còn cách nào khác là phải sử dụng các bản dịch để dạy VHNN cho học sinh; vấn đề còn lại ở đây là những tác phẩm VHNN phải

Trang 9

được giới thiệu qua những bản dịch tốt nhất, thể hiện đạt nhất nội dung tinh thần, tư tưởng của tác phẩm

Hai là, tác phẩm, văn bản lựa chọn phải hấp dẫn, phù hợp với hứng thú và khả năng tiếp nhận của học sinh

Trong sự không hấp dẫn nói chung của chương trình Ngữ văn hiện nay có một phần nguyên nhân là chính chương trình VHNN chưa tạo được hứng thú cho học sinh Nhìn lại nguyên tắc xây dựng chương trình, có thể lí giải được phần nào sự “kém lửa” của chương trình Ngữ văn nói chung và chương trình VHNN nói riêng Ngoài việc lựa chọn tác giả, tác phẩm (và đoạn trích) còn chưa được cân nhắc đúng mức như đã nói ở trên, chương trình VHNN đã dành hơi nhiều thời lượng cho các văn bản nghị luận, trong khi đúng ra, phải ưu tiên giới thiệu càng nhiều càng tốt những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ để tạo hứng thú, nâng cao năng lực đọc thẩm mĩ cho học sinh, hướng học sinh đến việc phát hiện và rung động trước vẻ đẹp của tác phẩm Đành rằng “Chương trình và sách giáo khoa không chỉ tuyển chọn những áng văn chương nghệ thuật mà còn

có thêm những những áng văn nghị luận xã hội, nhật dụng, ”(7) nhưng có lẽ điều đó chỉ thích hợp với chương trình văn học Việt Nam, chương trình làm văn; còn trong điều kiện thời lượng hết sức eo hẹp, trọng tâm của chương trình VHNN vẫn nên là giới thiệu những tác giả, tác phẩm đỉnh cao của văn học thế giới

Chúng tôi tin rằng nếu cấu trúc lại chương trình VHNN, chuyển một số văn bản

nghị luận như Đấu tranh cho một thế giới hoà bình (G.Macket), Bàn về đọc sách (Chu Quang Tiềm), Chó sói và cừu non trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten (H.Ten) trong chương trình Ngữ văn THCS, Điếu văn đọc trước mộ Các Mác trong chương trình Ngữ

văn THPT sang chương trình làm văn để giới thiệu kiểu bài văn nghị luận và thay vào

đó bằng những tác phẩm nghệ thuật đích thực, tính hấp dẫn của việc dạy học văn trong nhà trường sẽ được cải thiện đáng kể

Trở lên là một số ý kiến xung quanh việc xác định những nguyên tắc cơ bản để xây dựng chương trình VHNN trong nhà trường Tất nhiên, những vấn đề mà chúng tôi phác thảo ở trên là chưa đầy đủ, nhưng dẫu sao, cũng cho phép hình dung phần nào hiện trạng, cũng như góp thêm ý kiến về phương hướng xây dựng chương trình VHNN trong thời gian tới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) Dự thảo Đề án Xây dựng, triển khai chương trình và

sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015, tr.8

Trang 10

2, 3 Phan Trọng Luận (1983), Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học Nxb Giáo dục, Hà

Nội, tr.75, 77-78

4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Dự thảo Nghị quyết về

đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, tr.1-2

5 Phan Thị Thu Hiền (2013), Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường

phổ thông Việt Nam Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.447

6 Phùng Văn Tửu (2003), Cảm thụ và giảng dạy Văn học nước ngoài, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, tr.29

Phan Trọng Luận (2007), “Nhọc nhằn muôn nỗi sách giáo khoa”, Báo Văn nghệ, số 32

(6/8/2007), Hà Nội, tr.4

Ngày đăng: 25/08/2021, 13:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w