1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giảng dạy văn học dân gian trước yêu cầu đổi mới giáo dục

12 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 597,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn đổi mới căn bản, toàn diện dạy và học văn học dân gian cần phải dựa vào hai vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau: Đặc trưng của văn học dân gian và các thể loại, kiểu loại của nó; Yêu cầu của việc đổi mới chương trình dạy và học văn học dân gian (bao gồm mục tiêu, phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra, đánh giá). Bài viết sẽ dựa vào vấn đề thứ nhất để đề cập đến một số khía cạnh, yêu cầu của vấn đề thứ hai.

Trang 1

TS BÙI TRẦN QUỲNH NGỌC

Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0939648436 Email:

buitranquynhngoc@gmail.com

GIẢNG DẠY VĂN HỌC DÂN GIAN

CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

TÓM TẮT

Muốn đổi mới căn bản, toàn diện dạy và học văn học dân gian cần phải dựa vào hai vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau: 1 Đặc trưng của văn học dân gian và các thể loại, kiểu loại của nó; 2 Yêu cầu của việc đổi mới chương trình dạy và học văn học dân gian (bao gồm mục tiêu, phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra, đánh giá) Bài báo sẽ dựa vào vấn đề thứ nhất để đề cập đến một số khía cạnh, yêu cầu của vấn đề thứ hai

Từ khóa: văn học dân gian, giảng dạy, đổi mới

ABSTRACT

Teaching Folk Literature in Education Renovation

Fundamentaly and comprehensively renovating folk literature teaching and learning bases on two relative principles: 1 Characteristics of folk literature; 2 Requirements in curriculum renovation (including scope, teaching and appraisal methodology) Basing on principle 1, this article aims to deal with some factors of principle 2

Key words: folk literature, teaching, renovation

Giáo dục và đào tạo Việt Nam đang bước vào giai đoạn “đổi mới căn bản và toàn diện” Một trong những yêu cầu, nội dung đổi mới đó là: chuyển quá trình dạy –

Trang 2

học từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực của người học; chương trình, sách giáo khoa sẽ được thiết kế theo hướng cơ bản, tinh gọn, hiện đại; giáo viên (GV) từ vị trí của người truyền thụ kiến thức chuyển thành người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập, tập trung dạy cách học, cách tự học, cách tự tìm và vận dụng tri thức cho người học

Mỗi bộ môn trong nhà trường phổ thông và trường sư phạm đều phải hướng tới

và đáp ứng yêu cầu đổi mới đó theo đặc thù, chương trình, nhiệm vụ bộ môn Bài viết này bước đầu nêu vấn đề: giảng dạy văn học dân gian (VHDG) theo yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Muốn đổi mới căn bản, toàn diện dạy và học VHDG theo yêu cầu đó, cần phải dựa vào hai vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau: một

là, đặc trưng của VHDG và các thể loại, kiểu loại của nó; hai là, yêu cầu của việc đổi mới chương trình dạy và học VHDG (bao gồm mục tiêu, phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra, đánh giá) Bài báo sẽ dựa vào vấn đề thứ nhất để đề cập đến cả một số khía cạnh, yêu cầu của vấn đề thứ hai

1

VHDG tuy là một bộ phận của văn học nhưng có những đặc trưng riêng Thực trạng giảng dạy văn học trong nhà trường hiện nay cho thấy, nhiều GV đã đồng nhất tác phẩm VHDG với tác phẩm văn học viết, dẫn đến lối dạy học xem văn bản VHDG như văn bản văn học thành văn Điều đó gián tiếp làm mất đi nét đặc sắc trong thế giới ngôn

từ truyền miệng hoặc tách văn bản khỏi tổng thể văn hóa dân gian, biến nó thành văn bản văn chương độc lập mà chưa chú ý đến đặc trưng của VHDG, đặc trưng thể loại cũng như các yếu tố phi văn bản của nó Một số GV phân tích tác phẩm VHDG chỉ dựa trên yếu tố duy nhất là ngôn từ văn bản và thường dựa vào thi pháp của văn học viết để tìm hiểu tác phẩm Như thế, GV đã hiện đại hóa VHDG, tước bỏ đi những vẻ đẹp độc đáo, làm mất đi sắc thái dân gian Để tránh sai lầm đó, khi giảng dạy tác phẩm VHDG,

GV cần hiểu rõ những đặc trưng riêng của VHDG, sự khác nhau cơ bản giữa VHDG cũng như các thể loại của nó với văn học viết, từ đó xác định được phương pháp giảng dạy hiệu quả

VHDG có nhiều đặc trưng: tính tập thể, tính truyền miệng, tính nguyên hợp… Trong một thời lượng nhất định, GV không thể hướng dẫn học sinh (HS) tìm hiểu hết tất cả những đặc trưng đó trên lớp Nhưng quan trọng hơn, như đã nêu, người thầy không phải là người truyền thụ tri thức, mà phải là người tổ chức các hoạt động học tập,

để phát huy phẩm chất, năng lực HS, để mỗi em có thể phát huy tốt nhất tiềm năng cá nhân của mình Do đó, nên chăng, GV chỉ cần chọn một số đặc trưng cơ bản nhất, từ

Trang 3

đây hướng dẫn HS cách tìm hiểu vấn đề Ví dụ, tổ chức hoạt động học tập về tính truyền miệng của VHDG, tùy theo trình độ, năng lực của HS, điều kiện dạy và học, GV có thể hướng dẫn các em thảo luận, trả lời các vấn đề sau đây:

- Vì sao VHDG có đặc trưng này?

- Biểu hiện của đặc trưng này trong các thể loại? Tác động của đặc trưng này đến tác phẩm cũng như đến người lĩnh hội và tới những đặc trưng khác của VHDG?

- Sự biến đổi của đặc trưng này ở các thời kì lịch sử khác nhau

- Phương pháp phân tích tác phẩm, sưu tầm, ghi chép VHDG từ đặc trưng này

Khi tổ chức hoạt động học tập về tính tập thể của VHDG, cũng có thể tương tự nêu các vấn đề như vậy để HS thảo luận, tự tìm kiến thức Cách tổ chức hoạt động học tập như vậy chính là hướng dẫn HS cách tự học, cách tư duy

Cũng từ những đặc trưng của VHDG, GV có thể tổ chức các hoạt động học tập không phải chỉ trên lớp và ngay ở trên lớp cũng không phải chỉ bằng hình thức thuyết trình của GV, thảo luận của HS Hoàn toàn có thể tổ chức cho các em chứng kiến những sinh hoạt ca hát, hoặc xem sân khấu dân gian, xem các băng ghi hình để thấy được cái riêng, vẻ đẹp độc đáo của VHDG

VHDG tồn tại trong đời sống thực tế dưới hình thức các thể loại Mỗi thể loại VHDG có phạm vi và cách phản ánh thực tại riêng cùng cách biểu hiện riêng thái độ của những người sáng tác và diễn xướng đối với cái được phản ánh Bản chất chung cũng như những đặc trưng cơ bản của VHDG đều mang những biểu hiện cụ thể khác nhau theo thể loại Nhiều vấn đề chung có tính qui luật của VHDG hội tụ ở cấp thể loại

và do đó người ta chỉ có thể khảo sát chúng trước hết từ đơn vị thể loại Theo Dubrow, thể loại chính là mật mã giữa tác giả và độc giả, là một qui định chung, “đường dẫn” hướng dẫn người đọc thâm nhập tác phẩm [3, tr.343] Thể loại, vì những lẽ đó, được xác

định là cơ sở, là điểm xuất phát của việc nghiên cứu VHDG

Phân tích tác phẩm văn học nói chung, VHDG nói riêng theo đặc trưng thể loại

là nguyên tắc không mới Điều đáng nói là trong thực tế, nguyên tắc này nhiều khi bị bỏ qua hoặc quên lãng Thực trạng này dẫn đến việc đồng hóa cách tiếp cận các văn bản thuộc các thể loại khác nhau: thần thoại, truyền thuyết, sử thi, cổ tích, Như vậy, trong giảng dạy VHDG, GV cần trang bị cho HS phương pháp tiếp cận các kiểu, các thể loại tác phẩm và có thói quen tư duy về các phương pháp tiếp cận khác nhau đó Kiến thức

về tác phẩm VHDG phải được gắn bó với kiến thức về hệ thống của nó, chủ yếu là thể loại và kiểu tác phẩm HS từ việc được học sâu một vài kiểu mẫu mà suy ra cách đọc

Trang 4

hiểu và tiếp cận những mẫu khác cùng kiểu tác phẩm, cùng thể loại Ở chương trình Ngữ văn 6, 7, các soạn giả SGK khi sắp xếp văn bản theo thể loại đã đặt các văn bản đầu tiên của mỗi thể loại như là văn bản tiêu biểu, đồng thời cũng đặt các tác phẩm theo

hệ thống chủ đề, đề tài Ví dụ, Con Rồng cháu Tiên là văn bản tiêu biểu mở đầu cho

chuỗi truyền thuyết còn mang đậm yếu tố thần thoại về thời đại các vua Hùng trong hệ

thống truyền thuyết Việt Nam; Sọ Dừa là văn bản tiêu biểu của thể loại cổ tích thần kì;

Ếch ngồi đáy giếng là văn bản tiêu biểu của thể loại ngụ ngôn Mỗi chùm ca dao cũng

được sắp xếp theo chủ đề như “Những câu hát yêu thương, tình nghĩa”, “Những câu hát than thân”,… Dựa vào đây, GV cần tập trung tổ chức hoạt động vào một hoặc một số văn bản tiêu biểu Các văn bản khác cùng thể loại hoặc cùng hệ thống tác phẩm được xếp sau đó là văn bản thực hành, yêu cầu HS vận dụng những hiểu biết được hình thành qua việc tìm hiểu văn bản tiêu biểu trên để hiểu sâu hơn đặc trưng thể loại, kiểu loại, sưu tầm các tác phẩm cùng kiểu loại hoặc đối lập, từ đó có khả năng cảm thụ đúng những tác phẩm VHDG được đọc ngoài nhà trường

Trong mỗi kiểu tác phẩm lại có những kiểu nhân vật, những motip rất đặc trưng Khai thác, tìm hiểu những yếu tố này, giờ dạy - học tác phẩm VHDG sẽ đúng là giờ dạy

- học có đặc trưng riêng Phương pháp tiếp cận đối tượng bao giờ cũng phải xuất phát từ chính đặc trưng của đối tượng đó Làm được như vậy, giờ dạy-học tác phẩm VHDG sẽ sinh động, lý thú HS sẽ được tiếp cận không phải với từng tác phẩm, từng nhân vật, môtip riêng lẻ mà được tiếp cận với các biểu trưng văn hóa Dạy - học VHDG, trong ý nghĩa rộng và đúng của từ này, cũng là dạy - học về văn hóa truyền thống của nhân loại

và dân tộc qua các biểu trưng văn hóa trong hệ thống và trong những biểu hiện cụ thể

của nó Chẳng hạn motip “chiếc giày”, motip “miếng trầu” trong Tấm Cám, motip “biến hình” trong truyện Sọ Dừa là những biểu trưng văn hóa Dạy và học biểu trưng văn hóa

thường rất lí thú Cũng từ đây, HS càng có nhu cầu muốn được tìm hiểu sâu, rộng về văn hóa, nhu cầu muốn được học suốt đời, bởi văn hóa luôn là đại dương tri thức mênh mông và càng học càng muốn học thêm Đây cũng là yêu cầu giảng dạy tích hợp không phải chỉ trong môn mà theo lĩnh vực tri thức, tích hợp liên môn

VHDG không đơn giản là nghệ thuật ngôn từ Nó là một thứ dân tộc học của con người mà nếu được nghiên cứu một cách hệ thống sẽ cho ta cái nhìn sâu sắc về lối sống của một tộc người Sinh ra trên cơ sở một nền văn hóa nhất định, các tác phẩm VHDG chứa đựng trong nó những dấu ấn văn hóa, những quan niệm văn hóa – nghệ thuật, những tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán của cộng đồng Vì vậy khi nghiên cứu

và giảng dạy VHDG, việc nhận thức đầy đủ chức năng của folklore và mối quan hệ của folklore với bối cảnh văn hóa là điều cần thiết Nói cách khác, hành trình phân tích tác

Trang 5

phẩm dân gian của một dân tộc luôn đồng nghĩa với hành trình giải mã những điều kiện lịch sử, phương thức xã hội và đặc điểm văn hóa của dân tộc đó

Chúng tôi quan niệm một tiết học VHDG thành công là tiết học giúp HS không chỉ nắm vững các kiến thức xoay quanh của tác phẩm (cấu trúc, nội dung, chủ đề của tác phẩm, dụng ý nghệ thuật của tác giả dân gian) mà cả những kiến thức nằm ở bề sâu của tác phẩm Đó là những mã văn hóa, mã dân tộc học, lịch sử, xã hội, những quan niệm, tín ngưỡng, phong tục của các cộng đồng người Các nhà dân tộc học coi VHDG như một ngữ liệu quan trọng để nghiên cứu văn hóa Vì vậy, nếu chỉ nhìn nhận VHDG dưới góc độ ngôn từ là đã tước bỏ đi một phần giá trị của VHDG

Khi giảng dạy tác phẩm VHDG, GV cần trang bị cho HS những tri thức về văn hóa dân gian Tích hợp văn hóa trong dạy học VHDG là dùng những tri thức văn hóa đã được “mã hóa” trong tác phẩm VHDG để lí giải, cắt nghĩa tác phẩm, từ đó tìm ra những giá trị văn hóa cũng như vẻ đẹp văn hóa của tác phẩm VHDG Để thực hiện tích hợp văn hóa trong dạy học VHDG, GV cần nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu văn hóa liên quan đến giờ học Đây là việc làm cần thiết để GV tự trang bị những kiến thức văn hóa

cần cho bài giảng Khi giải mã, không nên cố gắng phân tích chi tiết mà nên đặt trong

sự khảo sát, so sánh giữa hiện thực và lịch sử, với những biểu tượng tương đồng để tìm

ra giá trị văn hóa và giá trị thẩm mĩ của văn bản VHDG Có những tác phẩm VHDG ý nghĩa, giá trị văn hóa cơ bản hơn, nổi bật hơn so với giá trị thẩm mĩ Thực tế cho thấy dùng văn hóa để giải thích các yếu tố, chi tiết trong tác phẩm VHDG vừa đúng với đặc

trưng của đối tượng giảng dạy, nghiên cứu, vừa tạo được rất nhiều hứng thú cho HS

Từ việc giải mã văn hóa trong tác phẩm VHDG, nhận ra những giá trị văn hóa, lịch sử trong tác phẩm VHDG, cần giúp HS tìm hiểu, vận dụng những tri thức đó trong đời sống thực tiễn GV cũng cần có những phương pháp dạy học thích hợp với các tác phẩm VHDG, trong đó, cách tạo ra bầu không khí văn chương và bầu không khí văn hóa trong giờ dạy là điều cần thiết

2

Tác phẩm VHDG và tác phẩm văn học khác nhau không chỉ về phương diện nảy sinh mà cả về hình thức tồn tại và phương thức lưu hành Nếu tác phẩm văn học viết được coi là sản phẩm đã hoàn thiện và ổn định sau khi sáng tác và lưu hành, tác phẩm VHDG lại luôn thay đổi Sự vận động, thay đổi ấy là một trong những dấu hiệu đặc trưng của VHDG Tồn tại trong trạng thái luôn thay đổi và vận động, VHDG do vậy có tính dị bản và tính chất nhiều tầng văn hóa Trong quá trình lưu truyền, những gì không phù hợp với thời đại, với yêu cầu xã hội, với hệ tư tưởng mới của cộng đồng nhất định

sẽ bị loại bỏ dần để bổ sung thêm hoặc nhào nặn lại những yếu tố thích hợp Theo

Trang 6

Röhrich, ý nghĩa của một văn bản VHDG không cố định mà biến đổi theo sự phát triển của văn hóa và các ý thức hệ Văn hóa chính là hệ thống của các ý nghĩa [5, tr.2]

Trong VHDG, ít có một truyện kể, một bài ca dao nào chỉ tồn tại một bản duy nhất mà thường có nhiều bản gần nhau, tạo thành một hệ thống đơn vị cùng loại hình Tính dị bản của VHDG không chỉ xuất hiện ở một địa phương hay một dân tộc mà có

tính nhân loại Ví dụ những bản kể tương tự truyện Tấm Cám có mặt ở hầu khắp các

châu lục Ngoài ra, giữa các dị bản thường không thể phân rõ bản nào là bản gốc, bản nào là phái sinh, vì vậy hầu như tất cả các bản đều có giá trị nhất định Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm VHDG trải qua thời gian dài đã không còn giữ nguyên ý nghĩa ban đầu của nó Dựa vào các dị bản, có thể xác lập lại những motip cơ bản, những motip gốc, motip ban đầu và ý nghĩa ban đầu của những văn bản VHDG khi đưa chúng về hệ thống những tác phẩm cùng loại Do đó, khi nghiên cứu, phân tích một tác phẩm VHDG, một mặt cần nghiên cứu các yếu tố cố định để khẳng định truyền thống VHDG; mặt khác, nghiên cứu quá trình khả biến để tìm hiểu quá trình đổi mới, phát triển của tác phẩm thông qua việc đối chiếu các dị bản

Như vậy có thể thấy dị bản là một đặc trưng cơ bản, quan trọng của VHDG Do

đó, khi phân tích tác phẩm VHDG, GV phải nắm được dị bản của tác phẩm, giới thiệu các dị bản khác nhau của cùng một tác phẩm để đối chiếu, so sánh Giới thiệu, so sánh các dị bản để thấy đời sống phong phú của tác phẩm, mặt khác để thấy các tầng, vỉa, yếu tố văn hóa khác nhau Đây cũng là điều rất lí thú, rất hay của tác phẩm VHDG mà tác phẩm văn học viết không có được như là một dấu hiệu đặc trưng

Hệ thống giáo dục ở Việt Nam khác hệ thống giáo dục ở các nước phương Tây ở chỗ HS của một khối lớp trên toàn quốc chỉ sử dụng một cuốn sách giáo khoa duy nhất với một khung chương trình còn cứng nhắc Không có sự phân biệt giữa HS các vùng miền, giữa HS dân tộc Kinh và HS các dân tộc thiểu số

Sự đồng nhất về chương trình cũng tồn tại những nhược điểm, đặc biệt là đối với các đối tượng trực tiếp sử dụng chương trình, sách giáo khoa, cụ thể là GV và HS, khó cho việc phát triển chương trình của GV và phát triển năng lực của người học Theo các nhà giáo dục học, chương trình sách giáo khoa được thiết kế chưa thực sự phù hợp với thực tế giảng dạy hiện nay Môi trường giáo dục là một môi trường năng động và linh hoạt, tùy vào từng đối tượng HS, đặc điểm kinh tế, xã hội vùng miền, GV cần và sẽ có những phương pháp giảng dạy khác nhau

Trên thế giới, việc áp dụng khung chương trình mở trong đào tạo phổ thông khá phổ biến Khái niệm khung chương trình mở được sử dụng dưới nhiều thuật ngữ khác

nhau: Curriculum Framework/ Common Core State Standard (Mỹ), Syllabus (Úc,

Trang 7

Singapore), Curriculum Guide (Hồng Kông) Theo đó, Bộ Giáo dục các nước ban hành

các khung chương trình, xác định mục tiêu bài học (goal), các kì vọng cần đạt sau mỗi chủ đề bài học (expectations), các thể loại văn bản, số lượng văn bản, các chiến lược dạy học cần sử dụng để đáp ứng mục tiêu và kì vọng của môn học GV mỗi bang, mỗi thành phố có quyền tự chủ trong viêc lựa chọn văn bản và thiết kế các hoạt động dạy học sao cho phù hợp với đối tượng HS của mình cũng như đáp ứng được mục tiêu của khung chương trình

Từ thực tế trên, chúng tôi đề xuất một khung chương trình mở cho việc giảng dạy VHDG nói riêng, bộ môn Ngữ văn nói chung Các nhà biên soạn sách giáo khoa có vai trò thiết kế một khung chương trình chuẩn (mẫu), giới thiệu các trình tự đơn vị bài học, các kiến thức cơ bản, trọng tâm cần truyền giảng cho HS Nhiệm vụ của GV là lựa chọn các tác phẩm VHDG trong số các tác phẩm được đề xuất bởi các nhà biên soạn sách giáo khoa để giảng dạy cho HS Với cách dạy theo khung chương trình mở như vậy, GV vừa đạt được nhiệm vụ, mục tiêu của bài học, vừa cân bằng được trình độ, khả năng, nhu cầu, sở thích của HS theo đặc điểm vùng miền Thực tế cho thấy, chất lượng giáo dục chỉ thực sự đạt được hiệu quả khi kiến thức HS lĩnh hội trong nhà trường gắn kết với tri thức văn hóa, môi trường sống bản địa của HS

Theo khảo sát của Shkedi [9], nhiều GV cho rằng khung chương trình mở cung cấp cho họ những lựa chọn hữu ích, giúp họ biết những tri thức nào cần quan tâm, nhấn mạnh, những tri thức nào nên lướt qua Với khung chương trình mở, GV chủ động trong chọn lựa các văn bản phù hợp với đối tượng HS của họ Khung chương trình mở không

xa lạ với hệ thống giáo dục các nước phương Tây, nhưng với Việt Nam, đây còn là khái niệm mới Chúng tôi đề xuất nên xem xét đến cách thiết kế chương trình mở như vậy, đặc biệt với chương trình VHDG HS của vùng miền nào, dân tộc nào nên hiểu rõ kho tàng VHDG của vùng miền đó, dân tộc đó Không thể yêu cầu HS các dân tộc thiểu số chỉ học các tác phẩm VHDG của dân tộc Kinh trong khi bản thân các em lại chưa được biết đến các tác phẩm VHDG, các truyền thống văn hóa, phong tục, tín ngưỡng dân tộc

Ví dụ, khi học về kiểu truyện người đội lốt, HS ở dân tộc Kinh sẽ học văn bản truyện Sọ

Dừa, HS dân tộc Chăm sẽ tiếp cận với truyện Phò mã Sọ Dừa, HS dân tộc H‟mông học

truyện Chàng Rùa, HS dân tộc Jarai học Chàng Lợn…

Khung chương trình mở không chỉ tạo thêm hứng thú, thuận lợi cho việc học của HS mà còn phát triển năng lực, tính chủ động của GV trong nghề Với khung chương trình mở, yêu cầu đối với GV sẽ nặng nề hơn, do đó vai trò của GV cũng được

đề cao hơn GV sẽ trở thành những nhà đồng biên soạn sách giáo khoa khi chính họ phải thiết kế, biên soạn chương trình, các đơn vị bài học cho riêng mình, với đối tượng

HS Nói như Schiro [7, tr.86], GV sẽ trở thành những nhà quản lí trong môi trường giáo

Trang 8

dục của họ, làm sao để chương trình phù hợp với đối tượng HS và HS phù hợp với chương trình

3

Nếu như văn học viết đến với độc giả chủ yếu qua cấu trúc ngôn từ thì con đường VHDG đến với bạn đọc phải bao gồm cả những yếu tố phi ngôn từ bởi VHDG có chức năng thực hành – sinh hoạt Mỗi tác phẩm, mỗi thể loại đều gắn với một môi trường sinh hoạt của nhân dân VHDG sử dụng phương tiện ngôn ngữ như yếu tố quan trọng nhất để xây dựng hình tượng nghệ thuật Nhưng VHDG là thứ văn bản để hát, kể, nói, diễn, để thực hiện một số chức năng nhất định, kể cả chức năng thực hành nghi lễ, chứ không phải để đọc Khi hát, kể hay nói, diễn, yếu tố ngôn ngữ đã kết hợp với yếu tố

âm nhạc, điệu bộ động tác Tất cả được đặt trong môi trường diễn xướng văn hóa dân gian khiến cho các tác phẩm VHDG sinh động và độc đáo hơn Chính vì đặc trưng này

mà VHDG không phải chỉ mang chức năng văn học nghệ thuật mà còn mang cả chức năng văn hóa tinh thần Điều này cũng có nghĩa là cần tiếp nhận văn bản VHDG trong môi trường văn hóa dân gian Nếu GV chỉ chú ý đến câu chữ, cách sắp xếp và cách tổ chức tác phẩm dễ dẫn đến việc đồng nhất tác phẩm VHDG với văn học viết, HS sẽ không nhận ra được vẻ đẹp và sức sống riêng của bộ phận văn học này Dạy VHDG phải giúp các em thấy được sức sống mãnh liệt của văn hóa dân gian trong đời sống cộng đồng bởi tác phẩm VHDG chỉ thực sự sống, phát huy chức năng thực hành của nó trong diễn xướng Mỗi thể loại VHDG gắn liền và bị chi phối bởi một phương thức diễn xướng nhất định Chỉ có thể thấy hết cái hay, cái đẹp, sức sống, ý nghĩa sâu sắc, linh hoạt của tác phẩm khi trực tiếp thấy nó diễn ra, được sử dụng trong đời sống, trong sinh

hoạt của quần chúng nhân dân Xin nêu một số ví dụ: giảng dạy tác phẩm Thánh Gióng,

GV có thể giới thiệu để HS tự tìm hiểu những di tích, lễ hội, phong tục ngày nay vẫn còn giữ lại, liên quan đến nhân vật thần thoại – truyền thuyết khổng lồ, vĩ đại này

Giảng dạy tác phẩm An Dương Vương, GV cần giới thiệu để HS tự tìm những tri thức

lịch sử, văn hóa về đền Cổ Loa, về Loa thành và những lễ hội lịch sử sống động ở đây Làm như vậy chính là góp phần tái hiện lại một phần cuộc sống của tác phẩm trong nhân dân, ý nghĩa của tác phẩm đối với các thời đại đã qua và hiện nay

Quả thật, diễn xướng góp phần quan trọng sự lôi cuốn của văn bản VHDG đối với người thưởng thức nói chung và các em HS nói riêng Giảng dạy tác phẩm VHDG qua khung cảnh diễn xướng, qua chức năng thực hành đời sống của tác phẩm trong văn hóa dân tộc sẽ tạo điều kiện cho HS hiểu rõ hơn, sâu hơn đời sống, giá trị cũng như ý nghĩa của tác phẩm đối với cộng đồng

Trang 9

Ngày nay, văn hóa hiện đại đang bào mòn dần văn hóa dân gian Không ít HS của thế kỉ công nghệ chưa từng có ý niệm về những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian Vì vậy, giảng dạy VHDG, ngoài việc giải mã văn bản tác phẩm, còn cần phải đặt tác phẩm vào môi trường diễn xướng nhằm đưa VHDG ngày càng gần gũi, sống động với HS Ngoài việc sưu tầm, tìm hiểu những hoàn cảnh vận dụng tác phẩm VHDG của nhân dân trong cuộc sống như đã nói ở trên, xin nói thêm hai hình thức dạy học VHDG,

đó là kể chuyện và sân khấu hóa tác phẩm

Theo Baker và Greene [1, tr.24], kể chuyện là cách lưu giữ di sản văn hóa của con người Nếu VHDG được coi là thể loại cổ xưa nhất của văn hóa, thì hình thức kể chuyện được coi là phương tiện dạy học truyền thống nhất, cho phép HS tương tác với các nền văn hóa thông qua các bản kể để khám phá lịch sử và các tín ngưỡng văn hóa xã hội trên thế giới [6, tr.9-10]

Kể chuyện không giản đơn là việc kể to, rõ, thuộc lòng một câu chuyện Khái niệm “kể” khác khái niệm “đọc” Kể là “được tự do”; đọc là “bị giới hạn” [2, tr.212] Trong vai trò người kể chuyện, HS có thể kể theo cách các em hiểu và cảm Nói cách khác, HS có quyền thể hiện những ý kiến, cảm xúc cá nhân, bổ sung những chi tiết thú

vị và loại bỏ những tình tiết thừa Với hình thức kể chuyện, ngôn ngữ cơ thể, điệu bộ,

cử chỉ cũng được HS sử dụng như một trợ thủ đắc lực trong việc biểu thị cảm xúc, chuyển tải ý nghĩa câu chuyện Như vậy, để làm tròn vai người kể chuyện, HS phải hiểu

kĩ và sâu tác phẩm bởi chỉ khi hiểu ý nghĩa tác phẩm, các em mới làm chủ văn bản, làm chủ hoạt động kể chuyện của mình Lợi ích của hoạt động kể chuyện trước lớp đã được Peck [4, tr.140] sơ đồ hóa như sau:

Trang 10

Bên cạnh hình thức kể chuyện, GV có thể khuyến khích HS sân khấu hóa các tác phẩm VHDG Hoạt động này giúp HS phát huy tư duy sáng tạo cũng như kích thích tư duy phê bình của các em Sân khấu hóa tác phẩm văn học không chỉ giới hạn trong việc

HS nói gì về tác phẩm (say about literature) mà còn là làm gì với tác phẩm (do with

literature) bởi hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học có thể được coi như một hình thức tiếp nhận và phản hồi văn học, hoạt động mà Sipe gọi là tiếp nhận mang tính biểu hiện (performative response) [10]

Sân khấu hóa tác phẩm văn học cũng là một dạng của hoạt động đọc hiểu văn bản bởi để diễn xướng tốt một tác phẩm, HS cần vận dụng kĩ năng tư duy giống như kĩ năng đọc hiểu HS không chỉ đọc văn bản một lần, mà rất nhiều lần để từ đó nắm được

ý nghĩa chung của tác phẩm, hiểu được thân phận nhân vật và chọn ra những phân đoạn hay để diễn Đó chính là một biểu hiện sinh động, sâu sắc của hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS trong học tập Theo Shines và Roser [8, tr.244], HS thật sự đọc sâu và hiểu văn bản khi các em có những tiếp nhận và phản hồi mang tính mĩ học (aesthetic response) Khái niệm sự tiếp nhận và phản hồi mang tính mĩ học của Shines và Roser chính là hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học, khi HS làm sống lại tác phẩm, sống

và cảm cùng nhân vật và tái hiện lại cuộc sống của nhân vật cùng bối cảnh câu chuyện Các em sẽ trân trọng những tác phẩm VHDG hơn bởi khi đó các em đã nghĩ về nó và

Ngày đăng: 25/08/2021, 13:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w