1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một vài vấn đề về văn bản trong sách giáo khoa tiếng Việt bậc tiểu học

10 65 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 529,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các văn bản trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc tiểu học được sắp xếp theo hệ thống, có tính liên kết về chủ đề. Ngoài những bài văn xúc tích, sách giáo khoa còn có những bài thơ rất sinh động, gần gũi với trẻ em; Góp phần tạo hứng thú cho học sinh đối với môn Tiếng Việt, đồng thời tạo cơ sở để các em có thể phát triển năng khiếu và khả năng sáng tạo trong quá trình học tập làm văn.

Trang 1

2

TS LÊ THỊ NGỌC ĐIỆP

Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1,

TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 0903 391

746 Email:

diepnbk@yahoo.com

MỘT VÀI VẤN ĐỀ

VỀ VĂN BẢN TRONG SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC

TÓM TẮT

Các văn bản trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc tiểu học được sắp xếp theo hệ

thống, có tính liên kết về chủ đề Ngoài những bài văn súc tích, sách giáo khoa còn có

những bài thơ rất sinh động, gần gũi với trẻ em; góp phần tạo hứng thú cho học sinh đối

với môn Tiếng Việt, đồng thời tạo cơ sở để các em có thể phát triển năng khiếu và khả

năng sáng tạo trong quá trình học tập làm văn Tác giả biên soạn sách giáo khoa đã quan

tâm đến sự phát triển ngôn ngữ của học sinh, trong đó có chú ý đến năng lực văn bản

của trẻ

Từ khóa: văn bản, sách giáo khoa, tiếng Việt, tiểu học

ABSTRACT

Some Issues about the Vietnamese Language Text in Textbook at Primary Schools

The text in Vietnamese primary textbook is arranged systematically, related to

the subject Besides the concise compositions, the textbook also has the lively poems

close to the children; stimulating excitement for students to Vietnamese as well as

making students improve their potential and creativity in learning writing The textbook

writers have concerned about the children‟s language development, including the text

skills

Key words: text, textbook, Vietnamese, primary school

Trang 2

Để chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển của kinh tế công nghiệp, kinh

tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ trong những năm đầu thế kỉ XXI, từ đầu

những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, nhiều quốc gia đã rà soát và đổi mới chương trình

giáo dục theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI do UNESCO đề xướng là: Học để

biết, Học để làm, Học để cùng chung sống, Học để tự khẳng định mình

Chương trình giáo dục phổ thông của các nước trong khu vực và trên thế giới

ngày càng thể hiện sự quan tâm đúng mức đến mục tiêu và các năng lực cần phát triển ở

học sinh Các chương trình giáo dục mới xây dựng vào giai đoạn cuối thế kỉ XX – đầu

thế kỉ XXI đều coi trọng việc thực hành và vận dụng; nội dung chương trình thường tập

trung vào các kiến thức, kĩ năng cơ bản thiết thực, tích hợp được nhiều mặt giáo dục

Tại Việt Nam, chương trình giáo dục tiểu học mới được triển khai đại trà từ năm

học 2002 – 2003 là một sự kiện giáo dục quan trọng trong những năm đầu của thế kỉ

XXI Với nhu cầu đổi mới một cách toàn diện, nội dung chương trình sách giáo khoa

(SGK) phải theo kịp và đón đầu sự phát triển của trẻ em trong độ tuổi tiểu học trong xã

hội hiện đại; đáp ứng yêu cầu mới của việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; theo kịp xu thế phát triển chương trình tiểu học

của các nước phát triển trên thế giới và các nước trong khu vực, góp phần đảm bảo cho

nguồn nhân lực Việt Nam có đủ sức cạnh tranh và hợp tác khi hội nhập quốc tế; đóng

góp vào việc hình thành và phát triển hệ thống giá trị của các công dân trong một xã hội

công bằng, bác ái, có cuộc sống tinh thần và vật chất văn minh, vừa phải đậm đà bản sắc

dân tộc, vừa phải thích ứng với sự giao lưu hợp tác quốc tế rộng rãi

Ở nước ta, tất cả các trường tiểu học trên toàn quốc cùng sử dụng thống nhất một

chương trình và một bộ sách SGK do Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn Trong số các

môn học được quy định trong chương trình tiểu học tại Việt Nam, môn Tiếng Việt

chiếm thời lượng nhiều nhất (40.7% so với tổng thời lượng chương trình tiểu học) Mục

tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,

đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông

qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu

biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và

nước ngoài

- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,

giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ

nghĩa [1, tr 9]

Trang 3

SGK Tiếng Việt bậc tiểu học được biên soạn theo quan điểm giao tiếp, quan

điểm tích hợp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh Theo quan

điểm tích hợp, kiến thức tiếng Việt được tích hợp với các mảng kiến thức về văn học, tự

nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy Các phân môn Tập đọc, Chính tả,

Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện trước đây ít gắn bó với nhau, nay

được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc Vì vậy, các văn bản được sử

dụng trong SGK Tiếng Việt tiểu học có vị trí rất quan trọng Nó chứa đựng hầu hết các

ngữ liệu, làm cơ sở để học sinh học các phân môn khác của chương trình Tiếng Việt

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi xin nêu một số vấn đề về Văn bản trong SGK

Tiếng Việt bậc tiểu học

1 Yêu cầu thụ đắc Văn bản trong SGK Tiếng Việt tiểu học

Theo yêu cầu trong sách hướng dẫn (SHD) về chuẩn kiến thức môn Tiếng Việt

tiểu học, chúng ta có thể thấy rằng yêu cầu thụ đắc văn bản đã có ngay từ lớp 1 Yêu

cầu “Luyện nói từ 2 – 3 câu theo chủ đề Chia quà” [2, tr 11], theo chúng tôi, đã xác

nhận điều đó Như vậy, có thể nói yêu cầu thụ đắc văn bản sẽ thực hiện ở 5 lớp học đối

với học sinh tiểu học là sự tiếp nối Điều này có nghĩa là, trong SGK, các tác giả cung

cấp cho học sinh về văn bản có từ lớp 1 đến lớp 5 Đương nhiên, sự phức tạp ở mỗi lớp

sẽ khác nhau Cho nên, việc phân bố văn bản trong SGK cũng sẽ đa dạng theo phân

khúc lớp học của học sinh

Đi vào cụ thể, đối với chuẩn kiến thức tiếng Việt lớp 1, chúng tôi thấy văn bản

thường gồm có “từ 2 – 3 câu theo chủ đề” Yêu cầu này được lặp đi lặp lại trong SGK

Tiếng Việt lớp 1, xác nhận văn bản được giới thiệu ở lớp học này là những cấu trúc đơn

giản Còn trong SHD chuẩn kiến thức Tiếng Việt lớp 2, cùng với vấn đề từ ngữ và câu,

văn bản đã được đặt ra một cách đầy đủ ở mức cao hơn Ngay từ tuần thứ nhất, với yêu

cầu “Bước đầu có khái niệm về một bản tự thuật (lí lịch)” [2, tr 6, lớp 2] Yêu cầu này

cho thấy văn bản được cung cấp cho học sinh trong SGK lớp 2 đã là những văn bản

hoàn chỉnh

Trong SHD chuẩn kiến thức lớp 3, lớp 4 và lớp 5, yêu cầu thụ đắc văn bản được

đặt ra ngay từ tuần học đầu tiên Ví dụ ở SHD lớp 3 đã yêu cầu “Trình bày được một số

thông tin về tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh” [2, tr 7] Hay như trong

SHD chuẩn kiến thức lớp 4, đã yêu cầu học sinh tiểu học “kể nối tiếp được toàn bộ câu

chuyện Sự tích hồ Ba Bể” [2, tr 6] Như vậy, yêu cầu tri nhận đơn vị này gắn liền với

việc sử dụng những đơn vị ngữ pháp thuộc cấp độ thấp hơn là từ và câu Nói cách khác,

tuy không thật rõ, nhưng hình như các tác giả SGK đã bước đầu vận dụng quá trình thụ

đắc ngôn ngữ từ trên xuống (top down process) Điều đó cho thấy việc cung cấp các văn

Trang 4

Việt lớp 3, 4 và 5 phải đáp ứng yêu cầu vừa “cung cấp những đơn vị ngôn ngữ” mới,

vừa dùng nó để ôn luyện kiến thức đã được giới thiệu ở những năm học trước đó

Tùy theo lứa tuổi, mức độ tiếp thu của học sinh và phụ thuộc vào nội dung chủ

điểm của đơn vị học trong từng tuần lễ, các văn bản giới thiệu trong SGK được chọn lọc

với nhiều loại khác nhau: văn bản hành chính, văn bản khoa học, văn bản báo chí, văn

bản nghệ thuật; trong đó, văn bản nghệ thuật chiếm đa số Những mô tả và nhận xét về

văn bản của chúng tôi dưới đây sẽ làm rõ hơn đặc điểm này

2 Mô tả và nhận xét về văn bản trong SGK Tiếng Việt tiểu học

2.1 Về chủ đề và độ dài của văn bản

Trong SGK Tiếng Việt, các văn bản được sắp xếp theo nội dung từng chủ đề, phù

hợp với đối tượng học sinh tiểu học ở mỗi lớp Theo đó, các chủ đề lần lượt là Em là

học sinh, Măng mọc thẳng, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất, Trên đôi cánh ước

mơ, Có chí thì nên, Tiếng sáo diều, Vẻ đẹp muôn màu,… Như vậy, chủ đề của các văn

bản được sắp xếp theo trật tự từ, từ hướng nội đến hướng ngoại, từ “bản thân” học sinh

phát triển dần ra “bên ngoài” xã hội Cách khai thác nội dung như thế là hợp với tâm lí

lứa tuổi, giúp ích cho học sinh luyện tập thực hành ở các phân môn khác

Các văn bản được sử dụng trong SGK Tiếng Việt tiểu học khá phong phú và đa

dạng Các loại văn bản tập đọc như thế tạo cơ hội cho học sinh được tiếp xúc với nhiều

mảng hiện thực, mở rộng tầm nhìn cuộc sống, giúp học sinh làm quen với nhiều phong

cách tạo lập văn bản khác nhau, thích ứng được nhiều kiểu văn bản đã học trong thực

hành giao tiếp

Tuy nhiên, về độ dài, chúng tôi nhận thấy cũng có những chỗ chưa thật phù hợp

Ngoài những bài trong SGK có độ dài vừa phải, phù hợp với khả năng tiếp thu của học

sinh, theo chúng tôi, vẫn còn một số bài có số lượng từ quá nhiều so với mức độ đọc của

học sinh lớp 1 và lớp 2 Có những bài trên 170 từ đối với lớp 1 và trên 250 từ ở lớp 2

Cụ thể đó là các bài “Không nên phá tổ chim” (TV1, T.2, tr 151), “Con chuột huênh

hoang” (TV1, T.2, tr 157), “Có công mài sắt, có ngày nên kim” (TV2, T.1, tr 4), “Tìm

ngọc” (TV2, T.1, tr 138), “Chuyện bốn mùa” (TV2, T.2, tr 4), “Tôm Càng và Cá Con”

(TV2, T.2, tr 68), “Chuyện quả bầu” (TV2, T.1, tr 116), “Ông Mạnh thắng thần gió”

(TV2, T.2, tr 13), “Kho báu” (TV2, T.2, tr 83) Đây là một điểm đáng lưu ý mà khi có

dịp biên soạn lại SGK, các tác giả cần quan tâm cân nhắc

2.2 Về thể loại văn bản

Hầu hết các văn bản được sử dụng trong SGK Tiếng Việt tiểu học thuộc thể loại

văn bản văn học Những bài tập đọc được trích tuyển hoặc chỉnh biên từ các tác phẩm

có giá trị trong kho tàng văn học Việt Nam và văn học thế giới Ví dụ: “Chuyện quả

bầu” (TV2, T.1, tr 116), “Vương quốc vắng nụ cười” (TV4, T.2, tr 143), “Dù sao trái

Trang 5

đất vẫn quay!” (TV4, T.2, tr 86), “Nhà bác học và bà cụ” (TV3, T.2, tr 32), “Ông

Trạng thả diều” (TV4, T.1, tr 104),… Ở lớp 5, SGK cũng đã có sử dụng văn bản hội

thoại (“Lòng dân”, TV5, T.1, tr 24), được trích từ một vở kịch để học sinh thực hành

phân vai, đọc diễn cảm

Các văn bản khác (văn bản thuộc phong cách báo chí, khoa học, hành chính,…)

có nội dung về thiên nhiên, môi trường, văn hóa, khoa học Đồng thời, những văn bản

này cũng đã giới thiệu cho học sinh một số vấn đề về xã hội như: những nghề nghiệp

phổ biến, an toàn giao thông, quyền trẻ em, giáo dục dân số,… phù hợp với trình độ và

lứa tuổi học sinh tiểu học Chẳng hạn một số bài như: “Đơn xin vào Đội” (TV3, T.1, tr

9), “Trên con tàu vũ trụ” (TV3, T2, tr.136), “Vẽ về cuộc sống an toàn” (TV4, T.2, tr

54), “Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” (TV5, T.2, tr 145),… Theo chúng tôi,

nhìn ở bình diện thể loại, việc sử dụng văn bản trong SGK Tiếng Việt tiểu học như thế

là hợp lí

2.3 Về tính mạch lạc và liên kết trong văn bản

Đối tượng tiếp cận với các văn bản trong SGK là học sinh tiểu học, do đó, tính

mạch lạc và mức độ đơn giản về bố cục cũng như sự liên kết trong văn bản phải được

quan tâm đúng mức Tính mạch lạc của văn bản được biểu hiện trong quan hệ giữa các

từ ngữ trong một câu, giữa các câu trong văn bản Mạch lạc cũng được thể hiện trong

quan hệ giữa chủ đề của các câu và được thể hiện ở cả hai dạng quan hệ: duy trì chủ đề

và triển khai chủ đề

Tính mạch lạc trong văn bản được thực hiện bằng những phương tiện liên kết

thích hợp Các phương thức liên kết này được thể hiện đa dạng trong các văn bản,

không gây trở ngại cho học sinh trong quá trình tìm hiểu; ngược lại, chính điều này đã

góp phần rèn cho trẻ kĩ năng sử dụng từ ngữ để viết thành câu và liên kết câu thành

đoạn văn với nhiều cách thức khác nhau

Qua phân tích những văn bản có trong SGK Tiếng Việt tiểu học, chúng tôi nhận

thấy các văn bản hiện có thường sử dụng phép nối, phép lặp và phép thế nhiều hơn

những phép liên kết khác Điều này có thể chấp nhận được vì học sinh tiểu học dễ dàng

tiếp thu và vận dụng vào bài tập thực hành đối với các phép liên kết đơn giản

Như chúng tôi đã nêu trên đây, sự ưu việt của ngôn ngữ SGK hiện tại về “tính

mạch lạc trong văn bản” là nhờ đã biết lựa chọn thông qua các bài văn, bài thơ được liên

kết linh hoạt bằng những phương tiện khác nhau, giúp học sinh được rèn luyện và nâng

cao kĩ năng viết tốt hơn ở phân môn Tập làm văn Chẳng hạn, với nghệ thuật dùng từ,

đặt câu cùng với việc sử dụng hài hòa phép liên kết trong văn bản, tác giả đoạn văn sau

đây đã khiến người đọc cảm nhận được mùi thơm đặc trưng của thảo quả:

Trang 6

hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San Gió thơm Cây cỏ

thơm Đất trời thơm Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng

nếp áo, nếp khăn (“Mùa thảo quả”, TV5, T.1, tr 113)

Hay như trong bài thơ “Quê hương” (TV3, T.1, tr 79), tác giả Đỗ Trung Quân đã

khéo léo sử dụng phép lặp từ ngữ và lặp cú pháp ở cả bốn khổ thơ, mang đến cho người

đọc những hình ảnh quen thuộc, những tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân đối với

quê hương đất nước:

Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc

Tuổi thơ con thả trên đồng

Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ…

Quê hương mỗi người chỉ một…

Để đáp ứng yêu cầu trên, các văn bản trong SGK thường dùng các kết từ (và,

với, thì, mà, còn, nhưng, vì, nếu, tuy, cho nên,…), kết ngữ (vì vậy, do đó, bởi thế, tuy

vậy, với lại, thế mà, thì ra,…) và một số trợ từ, phụ từ (cũng, cả, lại,…) thông dụng

khác Việc thường xuyên dùng những phương tiện liên kết cụ thể ấy để làm phương tiện

liên kết, nối các bộ phận trong văn bản cũng là một ưu điểm trong lựa chọn văn bản của

SGK Ví dụ:

Bác sĩ bảo cụ bị sỏi thận, phải mổ lấy sỏi ra Cụ sợ mổ Hơn nữa, cụ không tin

bác sĩ người Kinh bắt được con ma người Thái Thế là cụ trốn về nhà Nhưng về đến

nhà, cụ lại lên cơn đau quằn quại (“Thầy cúng đi bệnh viện”, TV5, T.1, tr 158)

Ngoài ra, các văn bản còn sử dụng những từ ngữ đồng nghĩa hay đại từ để thay

thế những từ ngữ có ý nghĩa tương đương Cách làm như thế trong văn bản SGK Tiếng

Việt tiểu học cũng như việc sử dụng những từ hoặc ngữ để thay thế cho ý của cả đoạn

văn là một cách làm hợp lí Ví dụ:

Ngày mai, muôn thú trong rừng mở hội thi chạy để chọn con vật nhanh nhất

Ngựa con thích lắm Chú tin chắc sẽ giành được vòng nguyệt quế Chú sửa soạn không

biết chán và mải mê soi bóng mình dưới dòng suối trong veo […] Ngựa cha thấy thế,

Trang 7

bảo: Con trai à, con phải đến bác thợ rèn để xem lại bộ móng Nó cần thiết cho cuộc

đua hơn là bộ đồ đẹp

(“Cuộc chạy đua trong rừng”,TV3, T.2, tr 80)

Thỉnh thoảng trong văn bản SGK Tiếng Việt cũng xuất hiện một số văn bản có

sử dụng phép liên tưởng Như chúng tôi đã nhận xét, phép liên kết này được sử dụng rất

hạn chế Ví dụ:

- Từ căn gác nhỏ của mình, Hải có thể nghe tất cả các âm thanh náo nhiệt, ồn ã

của thủ đô Tiếng ve kêu rền rĩ trong những đám lá cây bên đường Tiếng kéo lách

cách của những người bán thịt bò khô Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt Tiếng còi tàu

hỏa thét lên và tiếng bánh sắt lăn trên đường ray ầm ầm

(“Âm thanh thành phố”, TV3, T.1, tr 146)

Qua khảo sát về tính mạch lạc và liên kết trong văn bản, chúng tôi nhận thấy

thêm một vấn đề là vị trí của câu được các tác giả SGK quan tâm và đảm bảo đặc biệt

trong điều kiện triển khai nội dung văn bản Các đoạn văn trong bài đọc thường có câu

mở đoạn, câu thuyết minh, câu mở rộng chủ đề và câu kết đoạn Từng câu, từng đoạn

trong văn bản được liên kết chặt chẽ, mạch lạc, tạo nên những bài văn, bài thơ đầy hình

ảnh, giàu nhịp điệu và phong phú về từ ngữ Đây là ưu điểm nổi bật của các tác giả

trong việc lựa chọn văn bản để đưa vào SGK môn Tiếng Việt tiểu học Chúng tôi rất

tâm đắc với một số đoạn trích trong các văn bản sau đây:

- Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều

thi Cánh diều mềm mại như cánh bướm Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên

trời Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,… như gọi thấp xuống

những vì sao sớm

(“Cánh diều tuổi thơ”, TV4, T.1, tr 146)

- Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lưng chú

lấp lánh Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như

thủy tinh Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu

(“Con chuồn chuồn nước ”, TV4, T.2, tr 127)

Ở đây, dễ thấy vai trò quan yếu của câu mở đầu văn bản Các câu còn lại chỉ làm

nhiệm vụ thuyết minh cho nó Theo quan sát bước đầu của chúng tôi, văn bản có cấu

trúc như thế chiếm một tỉ lệ khá cao Và đây là mô hình triển khai nội dung rất phù hợp

với tâm lí của trẻ em

Trong mỗi quyển sách đều có những bài văn hay được học sinh yêu thích Chính

Trang 8

tr 19), Sông Hương (TV2, T.2, tr 72), Nhớ lại buổi đầu đi học (TV3 T.1, tr 51), Chõ

bánh khúc của dì tôi (TV3, T.1, tr 91), Sầu riêng (TV4, T.2, tr 34), Đường đi Sa Pa

(TV4, T.2, tr 102), Quang cảnh làng mạc ngày mùa (TV5, T.1, tr 10), Kì diệu rừng

xanh (TV5, T.1, tr 75), Mùa thảo quả (TV5, T.1, tr 113), Phong cảnh đền Hùng (TV5,

T.2, tr.1 68),…

Các kiểu quan hệ thời gian thể hiện mạch lạc được sử dụng khá hiệu quả trong các

văn bản tập đọc trong SGK Tiếng Việt tiểu học Chúng không chỉ là những yếu tố góp

phần đắc lực cho việc tạo nên tính mạch lạc, chặt chẽ trong truyện mà còn là cơ sở cần

thiết giúp học sinh hiểu cốt truyện Tuy nhiên, vẫn có một số bài tập đọc thể hiện quan

hệ thời gian và không gian chưa hợp lí Ví dụ: “Bài tập làm văn” (TV3, T.1, tr 46),

“Phong cảnh đền Hùng” (TV5, T.2, tr 68)

3 Một vài so sánh về văn bản được sử dụng trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc

tiểu học của Việt Nam và sách giáo khoa Tiếng Anh cùng bậc của Singapore

Trong quá trình khảo sát hai bộ SGK bậc tiểu học của Việt Nam và Singapore,

chúng tôi nhận thấy đối tượng của hai bộ sách này là học sinh tiểu học, vì vậy những

văn bản được sử dụng trong sách được chọn lọc và sắp xếp theo từng chủ điểm thích

hợp với lứa tuổi Văn bản trong SGK Tiếng Anh không chỉ là những bài tập đọc đơn

thuần mà nó còn là những “đề án” mẫu để giúp học sinh tự thiết kế và sáng tạo ra những

sản phẩm cho riêng mình theo yêu cầu của chương trình học trong từng cấp lớp Có thể

nói, việc sử dụng ngôn ngữ trong SGK môn Tiếng Anh tiểu học ở Singapore rất hiệu

quả

Xét về nội dung, mỗi bộ sách đều hướng người học đến những nội dung gần gũi

với bản thân, gia đình, nhà trường, quê hương, đất nước và thế giới xung quanh Nếu

như SGK Tiếng Anh có những câu chuyện về những con người khuyết tật nhưng có

nghị lực vươn lên trong cuộc sống hay những nhà bác học vĩ đại với những công trình

khoa học to lớn thì SGK Tiếng Việt cũng giới thiệu những nhân vật lịch sử được lưu

truyền từ đời này sang đời khác, những gương mặt nổi bật trong từng lĩnh vực khoa học,

nghệ thuật,… Song, SGK Tiếng Anh chú trọng đến những suy nghĩ cá nhân, khuyến

khích học sinh khám phá và bộc lộ suy nghĩ của mình trong từng vấn đề cụ thể Trong

khi đó, SGK Tiếng Việt chỉ thực hiện tốt việc cung cấp ngữ liệu, chưa tạo điều kiện để

người học khai thác hết nguồn ngữ liệu phong phú trong sách để vận dụng vào thực

hành, luyện tập và rèn kĩ năng tư duy ngôn ngữ

Hai bộ sách lớp 5 đều giới thiệu những vở kịch có phân vai nhân vật, nhưng kịch

bản trong SGK Tiếng Anh dài hơn, nội dung có tính kích hoạt, tương tác, buộc học sinh

phải suy nghĩ và nêu ý kiến cá nhân về những tình huống khác nhau nếu mình là một

trong những nhân vật của câu chuyện (“The Cowardly Lion”, English 5A, tr 28) Trong

khi đó, SGK Tiếng Việt chỉ yêu cầu học sinh phân vai theo lời thoại có sẵn và luyện đọc

Trang 9

diễn cảm đoạn trích trong vở kịch (“Lòng dân”, TV5, T.1, tr 24) Rõ ràng, hai yêu cầu

về giáo dục ngôn ngữ là rất khác nhau

Các bài tập đọc trong hai bộ SGK đều thể hiện được tính mạch lạc và liên kết

trong văn bản Những bài văn miêu tả, tường thuật được sử dụng như một công cụ chủ

lực để giới thiệu với học sinh về cấu trúc, nội dung và hình thức của văn bản; giúp trẻ

nhận diện được một cách cụ thể về một văn bản hoàn chỉnh và phát triển tốt kĩ năng xây

dựng văn bản, nhất là về phương diện bố cục, trong quá trình luyện viết, đặc biệt đối với

phân môn Tập làm văn

4 Nhận xét chung

Nhìn chung, với những ưu điểm và nhược điểm đã được phân tích, có thể nói rằng

những văn bản được sử dụng trong SGK môn Tiếng Việt tiểu học hiện nay là hợp lí

Các văn bản được sắp xếp theo hệ thống, có tính liên kết về chủ đề Ngoài những bài

văn súc tích, SGK còn có những bài thơ rất sinh động, gần gũi với trẻ em; góp phần tạo

hứng thú cho học sinh đối với môn Tiếng Việt, đồng thời tạo cơ sở để các em có thể

phát triển năng khiếu và khả năng sáng tạo trong quá trình học tập làm văn Tác giả biên

soạn SGK đã quan tâm đến sự phát triển ngôn ngữ của học sinh, trong đó có chú ý đến

năng lực văn bản của trẻ Điều này phù hợp với quan điểm của Đỗ Hữu Châu: “Cho đến

nay, người ta chỉ nói đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em về âm, về từ, về câu Cần

phải nói đến năng lực văn bản của trẻ em Và năng lực văn bản – xét theo quan điểm

giao tiếp – lại là năng lực cần phải bàn trước trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em”

[3, tr 775]

Các bài tập đọc được chọn làm cơ sở cho nhiều phân môn khác nhau thuộc phạm

vi môn Tiếng Việt Chính vì vậy, cần có sự chọn lọc khắt khe đối với các văn bản được

đưa vào sử dụng trong SGK Ngoài những văn bản nghệ thuật hiện có, SGK Tiếng Việt

cần bổ sung một số văn bản hành chính, báo chí có tính thời sự nhưng vẫn đảm bảo giá

trị lâu dài và mang tính giáo dục cao để học sinh lớp 4, lớp 5 có điều kiện nâng cao nhận

thức, mở rộng vốn hiểu biết, rèn kĩ năng sống và phát triển năng lực tư duy có hiệu quả;

đảm bảo mục tiêu “dạy chữ để dạy người”

Để việc thụ đắc ngôn ngữ của học sinh được thuận lợi, theo đề nghị của Barbara

Lust, “chúng ta cần biết những gì trẻ em biết và không biết trong phạm vi ngữ pháp liên

quan đến tiến trình phát triển ngôn ngữ của trẻ Với quan điểm phát triển, trong lĩnh vực

ngôn ngữ tâm lí học, chúng ta phải dựa trên các nghiên cứu về tư duy miêu tả và xử lí

ngôn ngữ như thế nào, cũng như các nghiên cứu về hành vi sử dụng ngôn ngữ” [4, tr

123] Đây cũng là gợi ý để các tác giả biên soạn sách nghiên cứu và chọn lọc ngữ liệu

phù hợp với đối tượng học sinh, tạo điều kiện cho trẻ phát huy sáng tạo và phát triển

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Chương trình tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn

học ở tiểu học – Lớp 1, 2, 3, 4, 5, Nxb Giáo dục, Hà Nội

3 Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập, Tập 1: Từ vựng – Ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, Quảng

Nam

4 Lust B (2013), Child Language Acquisition and Growth, Cambridge

5 Moskalskaja O.I (1996), Ngữ pháp văn bản (Trần Ngọc Thêm dịch), Nxb Giáo dục,

Thành phố Hồ Chí Minh

6 My Pals are here! English 1A (2001), Nxb Federal

7 My Pals are here! English 1B (2001), Nxb Marshall Cavendish Education

8 My Pals are here! English 2A, 2B (2001), Nxb MPH Education

9 My Pals are here! English 3A, 3B, 4A, 4B (2003), Nxb Marshall Cavendish Education

10 My Pals are here! English 5A, 5B (2004), Nxb Marshall Cavendish Education

11 My Pals are here! English 6A, 6B (2005), Nxb Federal

12 Tiếng Việt lớp 1, Tập 1 – 2 (2002), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh

13 Tiếng Việt lớp 2, Tập 1 – 2 (2003), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh

14 Tiếng Việt lớp 3, Tập 1 – 2 (2004), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh

15 Tiếng Việt lớp 4, Tập 1 – 2 (2005), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh

16 Tiếng Việt lớp 5, Tập 1 – 2 (2006), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh

17 Trần Ngọc Thêm (1985), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội

Ngày đăng: 25/08/2021, 13:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Chương trình tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học – Lớp 1, 2, 3, 4, 5, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học – Lớp 1, 2, 3, 4, 5
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
3. Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập, Tập 1: Từ vựng – Ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, Tập 1: Từ vựng – Ngữ nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Lust B (2013), Child Language Acquisition and Growth, Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Child Language Acquisition and Growth
Tác giả: Lust B
Năm: 2013
5. Moskalskaja O.I. (1996), Ngữ pháp văn bản (Trần Ngọc Thêm dịch), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản
Tác giả: Moskalskaja O.I
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
6. My Pals are here! English 1A (2001), Nxb Federal Sách, tạp chí
Tiêu đề: My Pals are here! English 1A
Tác giả: My Pals are here! English 1A
Nhà XB: Nxb Federal
Năm: 2001
7. My Pals are here! English 1B (2001), Nxb Marshall Cavendish Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: My Pals are here! English 1B
Tác giả: My Pals are here! English 1B
Nhà XB: Nxb Marshall Cavendish Education
Năm: 2001
8. My Pals are here! English 2A, 2B (2001), Nxb MPH Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: My Pals are here! English 2A, 2B
Tác giả: My Pals are here! English 2A, 2B
Nhà XB: Nxb MPH Education
Năm: 2001
9. My Pals are here! English 3A, 3B, 4A, 4B (2003), Nxb Marshall Cavendish Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: My Pals are here! English 3A, 3B, 4A, 4B
Tác giả: My Pals are here! English 3A, 3B, 4A, 4B
Nhà XB: Nxb Marshall Cavendish Education
Năm: 2003
10. My Pals are here! English 5A, 5B (2004), Nxb Marshall Cavendish Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: My Pals are here! English 5A, 5B
Tác giả: My Pals are here! English 5A, 5B
Nhà XB: Nxb Marshall Cavendish Education
Năm: 2004
11. My Pals are here! English 6A, 6B (2005), Nxb Federal Sách, tạp chí
Tiêu đề: My Pals are here! English 6A, 6B
Tác giả: My Pals are here! English 6A, 6B
Nhà XB: Nxb Federal
Năm: 2005
12. Tiếng Việt lớp 1, Tập 1 – 2 (2002), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 1, Tập 1 – 2
Tác giả: Tiếng Việt lớp 1, Tập 1 – 2
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
13. Tiếng Việt lớp 2, Tập 1 – 2 (2003), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 2, Tập 1 – 2
Tác giả: Tiếng Việt lớp 2, Tập 1 – 2
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
14. Tiếng Việt lớp 3, Tập 1 – 2 (2004), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 3, Tập 1 – 2
Tác giả: Tiếng Việt lớp 3, Tập 1 – 2
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
15. Tiếng Việt lớp 4, Tập 1 – 2 (2005), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 4, Tập 1 – 2
Tác giả: Tiếng Việt lớp 4, Tập 1 – 2
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
16. Tiếng Việt lớp 5, Tập 1 – 2 (2006), Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 5, Tập 1 – 2
Tác giả: Tiếng Việt lớp 5, Tập 1 – 2
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Trần Ngọc Thêm (1985), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w