Tích hợp là một lí thuyết dạy học ra đời trên thế giới từ những năm 60 của thế kỉ XX và cho đến nay nó đã trở thành quan điểm, nguyên tắc dạy học quan trọng trong hầu hết các môn học, đặc biệt là Ngữ văn. Nguyên tắc này chi phối từ việc biên soạn chƣơng trình, sách giáo khoa đến việc xác lập các phương pháp, mục tiêu dạy học cụ thể.
Trang 1ThS LÊ THỊ NGỌC ANH
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Huế Điện thoại: 0972323444 Email:
ltngocanh82@gmail.com
TÍCH HỢP – MỘT
BIÊN SOẠN SÁCH GIÁO KHOA, MỘT ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC DẠY HỌC
TRUNG HỌC PHỔ
BAO GIỜ CŨ
TÓM TẮT
Tích hợp là một lí thuyết dạy học ra đời trên thế giới từ những năm 60 của thế kỉ
XX và cho đến nay nó đã trở thành quan điểm, nguyên tắc dạy học quan trọng trong hầu
hết các môn học, đặc biệt là Ngữ văn Nguyên tắc này chi phối từ việc biên soạn chương
trình, sách giáo khoa đến việc xác lập các phương pháp, mục tiêu dạy học cụ thể Không
chỉ lí thuyết mà thực tế giảng dạy cũng đã chứng minh rõ những ưu điểm của nó Do đó,
đây vẫn là một định hướng còn nguyên tính thời sự, tính giá trị trong việc biên soạn
sách giáo khoa mới và việc dạy học Ngữ văn trong tương lai
Từ khoá: tích hợp, nguyên tắc, định hướng, sách giáo khoa, Ngữ văn
ABSTRACT
Integration: A Principle of Compiling Textbooks, Orientation for Teaching Language
and Literature at High Schools
Integration, a theory of teaching developed in 1960s, has become a point of view
and an essential principle of teaching in most of subjects, especially in Language and
Literature Subject This principle governs the design of curriculums and textbooks as
well as the establishment of concrete methods and goals in teaching Not only theory
but also practice obviously demonstrated its advantages Therefore, integration has been
a topical and valued orientation in compiling new textbooks and teaching language arts
and literature in future
Key words: integration, principle, orientation, textbooks, language and literature
Trang 21
Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) đang gấp rút chuẩn bị cho định kỳ 10 năm
thay sách giáo khoa trung học phổ thông (THPT) vào năm 2015, trong đó có môn Ngữ
văn Đây là một việc làm cần thiết để bắt kịp với sự phát triển của nền văn học và phản
ánh sự phát triển nội tại của nền giáo dục, đáp ứng tốt nhu cầu nhân lực cho xã hội Để
có thể biên soạn được một bộ sách giáo khoa trở thành “văn bản có tính pháp lí” trên
toàn quốc đòi hỏi một quá trình chuẩn bị lâu dài, thấu đáo Theo đó, các nguyên tắc chỉ
đạo việc xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa cần phải đuợc xác định rõ
ràng trên cơ sở kế thừa những nguyên tắc cũ và đề xuất những nguyên tắc mới cho phù
hợp với mục tiêu và thực tiễn dạy học Thiết nghĩ dạy học Ngữ văn theo định hướng
tích hợp là một nguyên tắc không bao giờ cũ trong cả biên soạn và thực tiễn dạy học
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp Nội
hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự
nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất
nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những
thuộc tính của các thành phần ấy Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ
mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn Liên kết phải tạo
thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính
toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt
các thành phần bên cạnh nhau
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ
thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau
hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối
liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của
bộ môn đó
Trong Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái
niệm tích hợp cũng được hiểu là: sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết
với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm
tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc
Cũng có quan niệm nhấn mạnh: tích hợp trong dạy học là phải dạy cách tìm tòi
sáng tạo và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau Tức là, GV không
chỉ dạy tri thức cho HS mà hơn hết phải dạy cho họ biết cách sử dụng kiến thức và kĩ
năng đó để giải quyết những tình huống cụ thể, nhằm mục đích hình thành, phát triển năng
lực toàn diện Đồng thời chú ý xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng khác nhau
của các môn học hay các phân môn khác nhau để bảo đảm cho HS khả năng huy động
có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết các tình huống tích
hợp
Trang 3Tư tưởng tích hợp trong dạy học đã xuất hiện trong sự vận động của lịch sử giáo
dục thế giới từ những năm 60 của thế kỉ XX với trào lưu sư phạm tích hợp: chủ trương
hướng tới sự tích hợp liên môn, xuyên môn, xóa bỏ tính đơn lẻ của từng môn riêng biệt
Ở Việt Nam, từ năm1973, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh đến
mục tiêu tích hợp trong dạy học: “dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện”, “phải
chú ý dạy từ, dạy câu, phải dạy cho học sinh biết các suy nghĩ, tìm tòi, biết diễn tả cảm
xúc, phải dạy cho học sinh biết tất cả cái hay cái đẹp”
1999 – 2000: Bộ GD&ĐT cũng đưa vào thí điểm chương trình tích hợp ở
THCS; 2003 – 2004, chương trình Ngữ văn THPT được chính thức biên soạn theo tư
tưởng tích hợp Trong Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ GD&ĐT dự
thảo cũng đã xác định rõ “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức
nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy.” [tr
27] “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn,
Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt
trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong
SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập
của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.” [tr 40]
Lí luận và thực tế dạy Văn theo hướng tích hợp đã chứng minh những ưu điểm
như: không những tránh được những biểu hiện cô lập, tách rời trong từng phương diện
kiến thức mà còn phát triển được ở người đọc tư duy biện chứng, khả năng thông hiểu
và vận dụng kiến thức một cách thực chất, người học có điều kiện nhìn nhận và khai
thác vấn đề một cách toàn diện, lập nên mối liên hệ giữa các khái niệm đã học, dạy HS
sử dụng kiến thức trong tình huống từ đó GV có thể hướng người học đến những tri
thức mang tính chỉnh thể, hệ thống
Có thể thấy, tích hợp trở thành một định hướng trung tâm của việc biện soạn
sách giáo khoa hiện hành Thực tiễn dạy học những năm qua cũng cho thấy tính hiệu
quả của định hướng này trong việc hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện, đặc biệt chú
trọng đến việc hình thành kĩ năng học và kĩ năng sống
Hơn nữa, tích hợp là xu thế của thời đại nói chung và khoa học giáo dục nói
riêng Đây là một định hướng mang tính chiến lược của tư duy giáo dục mới, chuyển từ
giáo dục phân giải, chuyên sâu từng phân môn sang giáo dục phối kết hợp liên môn để
hướng tới một chất lượng mới trong dạy học
Quán triệt định hướng tích hợp trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy bài đọc
– hiểu văn bản nói riêng cần phải thường xuyên đặt tri thức trong hệ thống và hướng
tới hệ thống tức là trong mối quan hệ với hệ thống tri thức bộ môn cũng như liên môn,
với lịch sử, văn hóa của nhân loại Việc dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp cũng
phải được thực hiện trên các nguyên tắc quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả của quá
Trang 4trình dạy học Trước hết, tích hợp phải gắn với việc tích cực hoá việc học tập của HS,
tích hợp phải đi đôi với tích cực vận dụng nguyên tắc tích hợp không thoát ra ngoài
phương hướng phát huy vai trò chủ thể của HS trong học tập Mặt khác, tích hợp phải
quán triệt quan điểm dạy học Ngữ văn gắn với đời sống, vận dụng kiến thức và kĩ năng
đã học vào cuộc sống
Tích hợp rõ ràng cũng không phải là sự liên kết hay sự kết hợp về hình thức mà nó
có tính toàn diện, đặc biệt nó liên quan trực tiếp đến việc hình thành và phát triển tư duy
- mấu chốt của mọi quá trình phát triển
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy, tích hợp là một nguyên tắc biên
soạn sách giáo khoa, là một định hướng dạy học và cũng là một mục tiêu giáo dục hết
sức ý nghĩa
2
Khảo sát sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành chúng ta có thể thấy định hướng
tích hợp thể hiện rõ trong cấu trúc, nội dung qua hai trục tích hợp chính:
- Xét về phương diện kĩ năng: có hai trục tích hợp chính là đọc và viết
- Xét từ phương diện nội dung môn học: có hai trục tích hợp chính là tích hợp
dọc và tích hợp ngang
Tích hợp dọc là sự tích hợp giữa các nội dung trong cùng một phân môn
Tích hợp ngang: là sự tích hợp giữa các phân môn: đọc văn, làm văn và tiếng
Việt
3
Nguyên tắc tích hợp đã được quán triệt chặt chẽ trong chương trình và chi phối
mạnh mẽ đến việc biện soạn sách giáo khoa Tuy nhiên, thực tế dạy học vẫn gặp không
ít khó khăn dẫn đến hiệu quả tích hợp trong dạy học Ngữ văn vẫn chưa cao Qua khảo
sát, chúng tôi thấy rằng, bản thân giáo viên (GV) vẫn chưa thực sự chú trọng đến tích
hợp hoặc có thì cũng mang tính hình thức Do đó, học sinh (HS) nhiều em không biết
tích hợp là gì và phải tích hợp như thế nào, kiến thức và kĩ năng vẫn được tiếp thu và
hình thành rời rạc nên chưa có giá trị cao và bền vững Chỉ khi nào nguyên tắc này trở
thành nguyên tắc định hướng, chỉ đạo cả việc dạy và việc học, được ý thức hóa sâu sắc
bởi cả GV và HS thì khi đó nó mới có thể phát huy tính hiệu quả trong thực tiễn
Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ cả phía chủ quan và khách quan Tuy
nhiên, trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ tập trung trao đổi một số đề xuất từ góc
độ biên soạn sách giáo khoa để việc thực hiện định hướng tích hợp trong thực tiễn dạy
học trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn:
Trang 5- Số lượng bài học chính khóa còn nhiều, do đó GV và HS bị áp lực thời gian phải
hoàn tất nội dung cơ bản, chưa có điều kiện thực hiện các hoạt động học tập tích hợp
đặc biệt là tích hợp kiến thức với kĩ năng Một trong những mục tiêu của tích hợp là có
thể giảm tải chương trình nhưng HS vẫn hoàn toàn có thể chủ động tiếp nhận lượng kiến
thức phong phú của nhân loại và tự hình thành kĩ năng, tự phát triển Sách giáo khoa
mới nên chăng giảm số lượng bài chính khóa, tăng các bài học thêm làm cơ sở cho việc
tích hợp Như vậy, GV và HS sẽ có thời gian và được trang bị các công cụ cũng như
kiến thức nền tảng để thực hiện nguyên tắc tích hợp một cách chặt chẽ Từ đó, HS
không chỉ lĩnh hội kiến thức sâu sắc mà hình thành được kĩ năng bền vững, tích cực,
chủ động học tập hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện
- Vấn đề sắp xếp thứ tự các bài học thiết nghĩ cần xem xét lại Cụ thể, nếu xác định
mục tiêu cơ bản của dạy học Ngữ văn là hình thành kĩ năng đọc văn – làm văn thì có
nghĩa là xác định trục kĩ năng làm trục trung tâm Để có thể đọc văn – làm văn, HS cần
có công cụ Công cụ được trang bị qua phân môn Tiếng Việt, Lí luận văn học, Văn học
sử… Do đó, các cụm bài học được phân bố theo tuần nên sắp xếp các dạng bài này học
trước, sau đó là các văn bản đọc hiểu và cuối cùng là làm văn Hoặc những kiến thức
công cụ cần được tích hợp chặt chẽ hơn trong các bài học văn bản qua các phần ngoài
văn bản như Tiểu dẫn, Chú thích, Tri thức đọc hiểu
- Việc lựa chọn các bài học, các đơn vị kiến thức cũng cần kĩ càng hơn để chúng có
mối quan hệ gần gũi và trực tiếp hơn Tích hợp là một định hướng do đó sách giáo khoa
biên soạn cho thấy rõ định hướng này bao nhiêu thì quá trình thực thi dễ dàng và hiệu
quả bấy nhiêu
- Cần có sự tương thích về cả số lượng và nội dung giữa các loại kiến thức và kĩ
năng cho phù hợp với định hướng cũng như mục tiêu dạy học tích hợp Ví dụ như sự
tương thích giữa lí luận văn học và văn bản tác phẩm… (Vấn đề này chúng tôi đã đề cập
trong bài viết “Sự tương thích giữa tri thức lí luận văn học và yêu cầu khai thác các văn
bản tự sự trong sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông”, Kỉ yếu Hội thảo Khoa
học Quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam (5 - 6/01/2013)
4 Một số phương pháp dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp
Cần phải khẳng định rằng, phương pháp dạy học tự bản thân nó không tích cực
hay tiêu cực, không chủ động hay thụ động, không hướng vào người dạy hay hướng vào
người học Nó hiệu quả hay không là ở người sử dụng với mục tiêu và cách thức sử
dụng riêng Do đó, không có phương pháp dạy học nào tự thân nó có thể tích hợp hay
cũng không có phương pháp nào là hoàn toàn không thể tích hợp Xuất phát từ quan
điểm này, chúng tôi xin đề xuất một số phương pháp dạy học có thể sử dụng hiệu quả để
tổ chức dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp
Trang 64.1 Thuyết trình (presenting): đây là phương pháp dạy học mà chủ thể dùng lời để
trình bày kiến thức, có thể tái tạo kiến thức cũ hoặc thông báo kiến thức mới Do đó,
chúng vẫn được “gán mác” là phương pháp thụ động, thiếu tích cực Tuy nhiên, thiết
nghĩ sẽ khó có thể dạy học được nếu thiếu phương pháp này, đặc biệt đối với Ngữ văn
Thực hiện định hướng tích hợp, phương pháp này càng trở nên cần thiết Đây là phương
pháp mà GV và HS có thể sử dụng để củng cố kiến thức đã có, làm cơ sở để tiếp nhận
kiến thức mới và hình thành kĩ năng mới, cung cấp, lí giải các kiến thức mới, khó;
người dạy và người học cũng dễ dàng liên hệ mở rộng, so sánh đối chiếu liên môn hoặc
xuyên môn để hiểu bài học thêm sâu sắc, thấu triệt Ví dụ: thuyết trình về tiểu sử nhà
văn, mở rộng liên hệ đến những vấn đề lí luận để từ đó có thể lí giải sâu sắc những nét
phong cách nghệ thuật của tác giả, làm nền tảng cho việc tiếp nhận văn bản văn học
trong mối quan hệ với cuộc sống lớn, cuộc sống nhỏ của tác phẩm… Để đạt mục tiêu
tích hợp một cách tích cực, khi sử dụng thuyết trình cần chú ý lựa chọn nội dung và chú
ý cách thức thuyết trình, đặc biệt là thuyết trình nêu vấn đề để qua đó, HS không chỉ
nắm được kiến thức phong phú, tinh chọn mà còn hình thành được kĩ năng thuyết trình,
kĩ năng giải quyết vấn đề
4.2 Nêu vấn đề (problem identifying and solving): Đây là một phương pháp dạy học
khó nhưng nếu thực hiện được sẽ mang lại hiệu quả dạy học hay, đặc biệt rất đắc dụng
trong việc phát triển tư duy biện chứng và hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho
HS Mấu chốt của phương pháp này là phát hiện được vấn đề, tạo tình huống có vấn đề
và vật chất hóa thành câu hỏi nêu vấn đề để HS phải động nảo tư duy lựa chọn, giải
thích, phản biện… và từ đó khám phá được tầng lớp ý nghĩa ngầm ẩn của tác phẩm
cũng như hình thành được nhiều năng lực tư duy tương ứng, cụ thể hóa thành năng lực
đọc văn và hướng tới hình thành kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng sống
4.3 Thảo luận nhóm (group discussion), Semina: Nhóm phương pháp này cũng trực
tiếp hướng tới mục tiêu tích hợp kiến thức và kĩ năng Để sử dụng thành công phương
pháp này, GV cần chú ý từ khâu lựa chọn vấn đề để tìm hiểu, thảo luận cũng như tổ
chức HS làm việc chặt chẽ, đảm bảo mọi thành viên đều tham gia giải quyết vấn đề
được giao Có như vậy, HS không những tự thu nhận được kiến thức phong phú mà còn
hình thành được nhiều kĩ năng tương ứng như kĩ năng giải quyết vấn đề, trình bày vấn
đề, giao tiếp, hợp tác…
4.4 Vấn đáp (questioning and answering): là phương pháp mà sự tương tác giữa HS –
HS, GV – HS được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi Để có thể sử dụng hệ thống
câu hỏi theo định hướng tích hợp trong giờ dạy học Ngữ văn, GV cần chú ý xây dựng
hệ thống câu hỏi theo hướng phát triển từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, chú ý
tính logic, tính hệ thống, tính liên tục; đa dạng hóa các dạng câu hỏi từ câu hỏi tái hiện
kiến thức, câu hỏi liên hệ, so sánh, câu hỏi vận dụng giải quyết vấn đề, câu hỏi sáng
tạo… Qua đó, HS vừa tái hiện kiến thức, tiếp nhận kiến thức, vận dụng kiến thức…
Trang 7Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả dạy học theo định hướng tích hợp, giờ dạy học Ngữ
văn cần đặc biệt chú ý khâu luyện tập, củng cố (practicing and consolidating) Đây là
giai đoạn tổng hợp và vận dụng kiến thức một cách cao độ GV cần dành khoảng thời
gian hợp lí và có thiết kế cụ thể các dạng câu hỏi, bài tập luyện tập, củng cố để hoạt
động này thực sự có hiệu quả chứ không phải mang tính hình thức, chỉ cho đủ bước
5
Trên đây là những phân tích ban đầu, những đề xuất mang tính gợi ý cho những
công trình nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn về sau Trong phạm vi một bài viết ngắn
chúng tôi không tham vọng có thể trình bày trọn vẹn một lí thuyết dạy học nhưng bài
viết mong muốn khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của tích hợp trong việc biên soạn
chương trình, sách giáo khoa mới cũng như việc dạy học Ngữ văn ở THPT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình giáo dục phổ thông cấp THPT, Nxb Giáo dục,
2006
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa môn
Ngữ văn, Lớp 10 (Nxb Giáo dục, 2006), lớp 11 (NXB Giáo dục, 2007), lớp 12 (Nxb
Giáo dục, 2008)
3 Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn các lớp 10, 11, 12 (bộ
Cơ bản), Nxb Giáo dục, 2010
4 Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn các lớp 10, 11, 12 (bộ Nâng
cao), Nxb Giáo dục, 2010
5 Đỗ Ngọc Thống, Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ
thông, Nxb Giáo dục, 2006