Thực hiện Đề án đổi mới chương trình – sách giáo khoa phổ thông sau 2015, việc nhìn lại chương trình và các bộ sách giáo khoa đã được sử dụng nhằm kế thừa ưu điểm, khắc phục những nhược điểm đáng tiếc, tiến tới xây dựng một bộ sách tốt là công việc cần làm. Bài viết này tập trung bàn về những điểm bất hợp lý trong cấu trúc chương trình, dung lượng bài học, những nội dung chưa chuẩn xác về kiến thức ở phần Tiếng Việt của sách Ngữ văn trung học cơ sở hiện hành.
Trang 1PGS.TS TRƯƠNG THỊ DIỄM
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng Điện thoại: 0905 203 371 Email:
diemtruong0502@gmail.com
BÀN VỀ NHỮNG ĐIỂM BẤT HỢP LÝ TRONG PHẦN TIẾNG VIỆT CỦA CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ HIỆN HÀNH
TÓM TẮT
Thực hiện Đề án đổi mới chương trình – sách giáo khoa phổ thông sau 2015,
việc nhìn lại chương trình và các bộ sách giáo khoa đã được sử dụng nhằm kế thừa ưu
điểm, khắc phục những nhược điểm đáng tiếc, tiến tới xây dựng một bộ sách tốt là công
việc cần làm Bài viết này tập trung bàn về những điểm bất hợp lý trong cấu trúc
chương trình, dung lượng bài học, những nội dung chưa chuẩn xác về kiến thức ở phần
Tiếng Việt của sách Ngữ văn trung học cơ sở hiện hành
Từ khóa: trung học cơ sở, chương trình, sách giáo khoa, tiếng Việt, ngữ văn
ABSTRACT
Revisiting the Vietnamese Language Content in the Current Language Art &
Literature Curriculum and Textbooks for Junior Secondary Schools
To implement the Project of Curriculum and Textbook Renovation for
Elementary and Secondary Schools for the Post-2015 Period, it is necessary to review
the curriculum and textbooks in use in order to inherit achievements and overcome
weaknesses to develop efficient textbooks This article aims to find out irrelevant issues
in the structure of the curriculum, the scope of content, the problematic Vietnamese
Trang 2215
language knowledge of the current language arts and literature textbooks for junior
secondary schools
Key words: junior secondary school, curriculum, textbook, Vietnamese
language, language arts & literature
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá X, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT)
đã ban hành chương trình các môn học bậc Tiểu học (2001), Trung học cơ sở (2002) và
Trung học phổ thông (2006) Sau khi chương trình được ban hành, các sách giáo khoa
(SGK) tương ứng cũng đã được biên soạn, được dạy thử nghiệm, được chỉnh sửa và
hiện đang được triển khai dạy đại trà ở tất cả các cấp học phổ thông
Trong quá trình sử dụng SGK, nhiều vấn đề bất cập đã bộc lộ Từ năm 2008, Bộ
đã tổ chức rà soát chương trình, SGK, tập hợp kiến nghị của các giáo viên trực tiếp
đứng lớp Trên cơ sở rà soát chương trình, SGK các môn học, Bộ chủ trương giảm tải
các bài, các chủ đề và các chương của các cấp học, lớp học theo hướng hợp lý Các kiến
thức cần giảm tải là: những nội dung yêu cầu năng lực tư duy vượt quá khả năng của lứa
tuổi học sinh; những bài có khối lượng kiến thức lớn hơn so với thời lượng chương
trình; những kiến thức bị lặp lại… Tuy nhiên, chủ trương giảm tải chỉ là một giải pháp
tạm thời, đôi khi giảm tải chỉ là sự cắt xén kiến thức một cách cơ học Việc bỏ một số
bài đôi khi lại dẫn đến phá vỡ tính hệ thống của kiến thức Chẳng hạn, việc lược bỏ nội
dung lý thuyết về một vấn đề nào đó ở bài trước lại gây khó khăn cho người dạy và
người học khi chạm đến nội dung liên quan đến nó ở bài sau Hơn lúc nào hết, cần phải
có sự thay đổi về chương trình và SGK một cách toàn diện, mạnh mẽ
Cuối năm 2013, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi
mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Theo Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT Phạm Vũ Luận, Nghị quyết này là ý chí không chỉ riêng của Đảng mà của cả
xã hội, trong đó có các nhà khoa học, chuyên gia giáo dục, thầy cô giáo, học sinh, sinh
viên trong và ngoài nước đã tham gia góp ý, đánh giá, hiến kế để chấn hưng nền giáo
dục nước nhà Để đưa Nghị quyết này vào cuộc sống, một trong những giải pháp mà Bộ
GD&ĐT đề ra là xây dựng và thực hiện Đề án đổi mới chương trình – SGK phổ thông
sau 2015 Đây là nhiệm vụ cao cả mà toàn xã hội tin tưởng, trông cậy vào các nhà giáo
dục Báo chí cho rằng, chúng ta đang hối hả chuẩn bị cho cuộc “đại phẫu” nền giáo dục
nước nhà, đang chuẩn bị bước vào một “trận đánh lớn”… [9, xem:
http://www.sggp.org.vn/giaoduc/ 2014/2/339396/]
Bộ GD&ĐT đã đề ra Quy trình Biên soạn sách giáo khoa gồm 9 bước hết sức
khoa học, hợp lý [5, tr.4] và nếu tập hợp được các nhà giáo dục thực sự có tâm huyết, có
Trang 3kiến thức, năng lực tốt và tổ chức phân bổ thời gian hợp lý để triển khai thực hiện thì
sau 2015, chúng ta có quyền hy vọng về một bộ SGK mới ưu việt hơn, một sản phẩm
mới có giá trị cho giáo dục nước nhà
Để có bộ sách tốt, việc nhìn lại để kế thừa những ưu điểm, tránh những nhược
điểm đáng tiếc của bộ sách trước đây là công việc cần làm Ở bài viết này, từ góc độ
chuyên môn của mình, chúng tôi tập trung bàn đến sách Ngữ văn trung học cơ sở hiện
hành, mà cụ thể hơn là phần Tiếng Việt của bộ sách này (từ đây chúng tôi gọi là SGK)
Phải nhìn nhận rằng, bộ SGK Ngữ văn hiện hành đã có rất nhiều ưu điểm SGK
đã cung cấp đầy đủ, toàn diện các kiến thức cơ bản về tiếng Việt cho học sinh; phát huy
được tác dụng tích hợp từ các ngữ liệu trong đơn vị bài học; câu hỏi hướng dẫn ở từng
bài học tương đối tường minh, cơ bản đáp ứng được yêu cầu qui nạp kiến thức; cấu trúc
bài luyện tập trong mỗi đơn vị kiến thức đảm bảo tính hệ thống từ thấp đến cao, từ nhận
diện đến phân tích và sáng tạo Trong các ưu điểm kể trên, ưu điểm lớn nhất là việc “lấy
quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình, biên soạn
SGK và lựa chọn phương pháp giảng dạy” (SGV 6, tr.5) Theo tinh thần này, cả ba phân
môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn có mối liên hệ hết sức chặt chẽ, phụ thuộc vào
nhau, bổ trợ lẫn nhau Kiến thức Tiếng Việt được trình bày theo hướng quy nạp, “từ các
ví dụ cụ thể HS sẽ rút ra kết luận và từ đó luyện tập bằng hệ thống bài tập Ngữ liệu ưu
tiên trước hết lấy ở phần văn bản chung đã và đang học, trường hợp cần thiết sẽ lấy
thêm ở văn bản phụ” (SGV 6, tr.21)
Chương trình Ngữ văn THCS, đối với phần Tiếng Việt, về kiến thức, đã đặt ra
yêu cầu: làm cho HS “nắm được những đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của các loại
đơn vị tiêu biểu của từng bộ phận cấu thành tiếng Việt (đơn vị cấu tạo từ, đơn vị từ
vựng, từ loại chính, kiểu câu thường dùng”, “nắm được những tri thức về ngữ cảnh, về ý
định, về mục đích, về hiệu quả giao tiếp, nắm được các quy tắc chi phối việc sử dụng
tiếng Việt để giao tiếp trong nhà trường cũng như ngoài xã hội”; về kỹ năng, “làm cho
HS có kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản”
(SGV 6, tr.4)
Vấn đề cần bàn là SGK đã thực sự đạt được mục tiêu đề ra chưa? Bài viết của
chúng tôi tập trung chỉ ra những điểm bất hợp lý trong phần Tiếng Việt của sách Ngữ
văn trung học cơ sở hiện hành mà chủ yếu là ở sách Ngữ văn 6
1 Về cấu trúc và phân bố dung lượng kiến thức của chương trình
1.1 Về cấu trúc chương trình
Trong phần “Một số vấn đề chung về chương trình và SGK môn Ngữ văn trung
học cơ sở”, nhóm biên soạn đã nêu rõ mục tiêu là “nhằm khắc phục một nhược điểm lớn
của Chương trình và SGK Tiếng Việt và Tập làm văn trước đây là quá thiên về dạy lí
Trang 4217
thuyết và dạy quá hệ thống” (SGV 6, tr.4) Theo thiển nghĩ của chúng tôi, “quá hệ
thống” không thể là một nhược điểm, mà phá vỡ tính hệ thống mới là một nhược điểm
Những chỗ rời rạc, thiếu hệ thống trong cấu trúc chương trình của SGK lần này làm
người dạy và người học khó có một cái nhìn tổng quát về từng nội dung kiến thức môn
học: học bài nào biết bài đó, học năm nào biết năm đó, mãi cho đến lớp 9 mới có thể
nhìn lại từng mảng kiến thức về cấu tạo từ, từ loại tiếng Việt, các lớp từ vựng, các thành
phần câu tiếng Việt Vì các bộ phận của từng mảng kiến thức đó nằm rải rác ở cả 4
lớp, đan xen lẫn nhau
Có thể đưa ra các dẫn chứng sau: Vấn đề cấu tạo từ được dạy 1 tiết ở Bài 1,
SGK 6 - tập 1 (trình bày khái niệm từ, dựa vào số lượng tiếng để chia từ ra làm 2 loại là
từ đơn và từ phức) và phải đến Bài 1, 3 của SGK 7 – tập 1 (một năm sau) mới trở lại với
việc phân chia từ phức ra làm 2 loại: từ ghép và từ láy Theo chúng tôi, nội dung kiến
thức phần này không khó, hoàn toàn có thể triển khai ngay ở SGK 6
Hoặc, nội dung kiến thức về từ loại tiếng Việt được rải ở 3 khối lớp Ở lớp 6,
danh từ được dạy ở bài 8, 10; bài 12: số từ và lượng từ; bài 13: chỉ từ; bài 14: động từ;
bài 15: tính từ; bài 18: phó từ Ở lớp 7, bài 4: đại từ; bài 7: quan hệ từ Ở lớp 8, bài 6:
trợ từ, thán từ; bài 7: tình thái từ Khoảng cách quá xa nhau giữa các bài học về từ loại
tạo sự rời rạc, khó nắm bắt, khó đối sánh lẫn nhau giữa các từ loại
Vấn đề đáng nói nhất về tính thiếu khoa học trong cấu trúc nội dung là việc sắp
xếp dạy học cụm danh từ trước khi dạy học số từ và lượng từ; dạy học cụm động từ và
cụm tính từ trước khi dạy học phó từ Theo chúng tôi, cần sắp xếp lại các tiết dạy học về
từ loại và cụm từ, cụ thể: nội dung về Cụm từ đặt sau các nội dung về Từ loại (danh từ,
động từ, tính từ, số từ, lượng từ, chỉ từ, phó từ) để học sinh dễ dàng nắm và vận dụng
được sự kết hợp các từ thuộc các từ loại khác nhau thành cụm từ Tính rời rạc về kiến
thức cũng xảy ra tương tự với các bài học về thành phần câu
Cấu trúc chương trình không hợp lý trong môn Ngữ văn khiến học sinh ở mỗi
học kỳ, mỗi năm học không thể tự hệ thống những nội dung đã được học Có giáo viên
than rằng: “Cứ như đang học cộng trừ thì sang nhân chia, đang nhân chia hơi thạo thạo
lại quay về cộng trừ Loạn cả lên!”
1.2 Về dung lượng kiến thức
Hầu hết GV dạy Ngữ văn THCS được hỏi đều cho rằng kiến thức của nhiều bài
học trong SGK THCS còn mang tính hàn lâm, chưa phù hợp với năng lực tiếp thu của
đối tượng và yêu cầu giao tiếp
Một số bài có dung lượng kiến thức khá nặng nhưng thời lượng dành cho bài
dạy là quá ít Ví dụ như các bài: Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ,
Trang 5Danh từ, Động từ và Cụm động từ, Tính từ và Cụm tính từ, Ẩn dụ, Hoán dụ, So sánh,
Các thành phần chính của câu…
Cụ thể, ở SGK6, tập 1, bài Các thành phần chính của câu gồm 3 đơn vị kiến
thức nhỏ: phân biệt thành phần chính với thành phần phụ của câu; vị ngữ; chủ ngữ
(SGK6, tập 1, tr 92-94) Việc dạy các nội dung này cần có sự dẫn dắt thật kĩ mới đảm
bảo được phương pháp quy nạp và mới đảm bảo việc HS nắm được kiến thức cần có
nhưng chương trình chỉ bố trí trong 1 tiết học là khá nặng
Hầu hết GV đều cho rằng nội dung Tính từ và Cụm tính từ khó có thể chuyển tải
trong 1 tiết học, cần tách nội dung Tính từ và Cụm tính từ thành hai tiết học riêng
Tương tự, tách nội dung Động từ và Cụm động từ thành hai tiết học riêng
Hay ở nội dung Các biện pháp tu từ, kiến thức của bài Ẩn dụ và Hoán dụ là khá
khó so với trình độ HS lớp 6 Để khắc phục tình trạng này, Chương trình giảm tải đã
cho phép GV dừng lại ở mức dạy cho HS bước đầu nhận diện, phân tích tác dụng của 2
biện pháp tu từ đó (bỏ nội dung kiến thức về các kiểu ẩn dụ, hoán dụ) nhưng chính việc
giảm tải này lại làm cho HS khó có thể tạo phép ẩn dụ, hoán dụ trong từng trường hợp
cụ thể… Nên chăng, Chương trình có thể chuyển nội dung này lên dạy ở lớp 7 đồng
thời bổ sung thời lượng luyện tập cho nội dung Ẩn dụ và Hoán dụ thành 2 tiết như nội
dung So sánh Và cũng để đảm bảo tính hệ thống cho nội dung Các biện pháp tu từ, cần
đưa thêm một số biệp pháp tu từ ngữ pháp vào chương trình của hai lớp 8 và 9 ở mức độ
sơ giản: Đảo ngữ, Tương phản, Câu hỏi tu từ
Đối với các bài học về kiểu câu, cần có một tiết giới thiệu chung về các kiểu câu
tiếng Việt: kiểu câu chia theo cấu trúc (gồm cấu trúc cố định và cấu trúc có biến đổi);
kiểu câu chia theo mục đích giao tiếp Trong bài học về câu ghép, cần giới thiệu đầy đủ
và cụ thể các kiểu quan hệ giữa các vế trong câu ghép
Trong Chương trình lớp 9, các tiết tổng kết từ vựng của Tiếng Việt khá rườm rà,
trùng lặp khiến người dạy khó hệ thống hóa cho học sinh
Theo nhiều giáo viên, chương trình quá tải có thể do các tác giả biên soạn
chương trình – SGK không hình dung được công việc tổng thể mà một học sinh phải
làm Chẳng hạn, SGK nhấn mạnh yêu cầu giáo viên phải dạy cho học sinh chủ động tiếp
nhận kiến thức bằng cách tự đọc tự học, nhưng lại không lường được học sinh có bao
nhiêu thời gian cho việc đó và có đủ khả năng để làm việc đó hay không
2 Về nội dung kiến thức
Về những bất hợp lý ở nội dung kiến thức, có thể chỉ ra 3 khả năng sau đây: Nội
dung kiến thức có chỗ còn quá phức tạp gây khó khăn cho cả người dạy và người học;
Nội dung kiến thức của SGK có chỗ còn chưa chuẩn xác; Một số gợi ý trong SGV còn
Trang 6219
sơ sài, các kiến giải mâu thuẫn nhau gây nhầm lẫn cho người dạy Chúng tôi đưa ra các
trường hợp sau để minh họa cho nhận xét của mình:
2.1 Nội dung kiến thức có chỗ còn quá phức tạp gây khó khăn cho cả người dạy và
người học
Ở bài Danh từ, việc phân biệt danh từ thành danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự
vật, danh từ riêng và danh từ chung là cần thiết nhưng không nên quá chi li và phức tạp
SGK lớp 6 cần khai thác nội dung danh từ tinh giản hơn (Tuy nhiên, cũng không thể
dùng giải pháp lược bỏ danh từ đơn vị nhằm đơn giản hóa kiến thức như cách Chương
trình giảm tải đã làm vì đến khi học bài Cụm danh từ, HS khó xác định được thành phần
phụ trước của cụm từ này)
Tính chi li của nội dung kiến thức về từ loại cũng thể hiện ở bài học về Phó từ
Sách Ngữ văn 6, tập 2, Bài 18 phân chia phó từ ra làm các loại sau: chỉ quan hệ thời
gian, chỉ mức độ, chỉ sự tiếp diễn tương tự, chỉ sự phủ định, chỉ kết quả và hướng, chỉ
khả năng Trước hết, theo chúng tôi, loại phó từ "chỉ sự tiếp diễn tương tự" (không có
dấu phẩy) nên ghi lại là "chỉ sự tiếp diễn, so sánh" thì đúng hơn Vì cũng chỉ sự so sánh
tương tự nhưng lại thì so sánh khác biệt chứ không tương tự (VD: Tôi về nhưng anh ấy
lại đi) Thứ hai, phó từ được chỉ khả năng nên nhập vào phó từ chỉ kết quả và hướng để
bớt phức tạp Vì loại chỉ khả năng này chỉ có một từ được và suy cho cùng, ý nghĩa khả
năng hay kết quả là do văn cảnh quy định (Cho rằng từ được trong "soi gương được"
chỉ khả năng và được trong "đã xâu được" thì chỉ kết quả là chưa thỏa đáng vì ý nghĩa
chỉ kết quả, chỉ sự hoàn thành này phải chăng do từ đã mang lại Nếu nói "có thể xâu
được" thì cụm này sẽ mang nghĩa chỉ khả năng ngay thôi!)
Và đối với trình độ học sinh lớp 6, theo chúng tôi, chỉ nên cho các em học phần
Ghi nhớ: Phó từ là những từ chuyên đi kèm động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa cho
động từ, tính từ (tr.12) và nêu một vài loại ý nghĩa mà phó từ bổ sung cho động từ, tính
từ, cho ví dụ minh họa là đủ
Hoặc SGK có đưa ra một từ loại mà hầu hết các sách Ngữ pháp tiếng Việt đều
không có là Chỉ từ Đây là tên gọi khác của đại từ chỉ định (phân biệt với đại từ nhân
xưng): đây, đấy, đó, kia, kìa, nọ… Theo chúng tôi, việc tách ra thêm một từ loại Chỉ từ
nữa là không cần thiết và sẽ thiếu nhất quán khi dạy đến Phép thế trong bài Các phương
thức liên kết câu, chúng ta vẫn phải xác định “Đó” trong: “Dân ta có một lòng nồng nàn
yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta” là yếu tố liên kết của “Phép thế đại
từ” chứ không nói là “Phép thế chỉ từ”
Trong Chương trình lớp 7, bài Dùng cụm chủ vị mở rộng câu, Rút gọn câu hoặc
Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động, các ví dụ để dẫn đến hình thành lý thuyết
còn rườm rà, gây khó hiểu cho HS Ví dụ, SGK7, tập 1, tr.96 có yêu cầu tìm cụm C-V
trong câu: “Khi các cô gái Vòng đỗ gánh, giở từng lớp lá sen, chúng ta thấy hiện ra
Trang 7từng lá cốm, sạch sẽ và tinh khiết, không có mảy may một chút bụi nào” Câu trên đòi
hỏi phải vận dụng kiến thức về từ loại và kĩ năng phân tích câu theo sơ đồ bậc thang
mới xác định chính xác các thành phần được mở rộng Nội dung kiến thức ở phần
Luyện tập này rất khó hiểu (ngay cả với GV)
Khi biên soạn SGK mới, cần chọn lại ngữ liệu tường minh hơn, chuẩn mực hơn,
bỏ ngữ liệu quá phức tạp cho các bài tập về thành ngữ, câu đặc biệt, câu ghép…
2.2 Nội dung kiến thức của SGK có chỗ chưa thật chuẩn xác
Sách Ngữ văn 6, tập 1: Bài 02: Từ mượn, ở phần Ghi nhớ viết: “Bộ phận từ
mượn quan trọng nhất trong tiếng Việt là từ mượn tiếng Hán (gồm từ gốc Hán và từ
Hán Việt)” (SGK6, tr.25) Cách diễn đạt của nội dung trong ngoặc đơn này không ổn
khi khiến người ta cho rằng từ Hán Việt không phải là từ gốc Hán mà là một loại độc
lập với từ gốc Hán Thêm vào đó, SGK đưa ví dụ từ mượn tiếng Hán gan (SGK6, tr.24)
theo chúng tôi là rất khó giải thích cho học sinh lớp 6 Những từ Hán Việt đã được Việt
hóa về ngữ âm như: gan (can), gần (cận), gấp (cấp), gương (kính), dao (đao), nhà
(gia)… [7, tr.247] ngày nay đã mang đầy đủ đặc điểm ngữ pháp như các từ thuần Việt
cùng loại thì đối với học sinh phổ thông không nên giới thiệu chúng ở bộ phận từ mượn
Trong bài tập 1b của phần Luyện tập (SGK 6, tập 2, tr.120), câu: “Bên hàng xóm
tôi có cái hang của Dế choắt”, cách xác định C-V như trong SGV6, tập 2, tr.140 là
không hợp lí (Bên hàng xóm tôi có / cái hang của Dế choắt )
V C
Đây là câu đặc biệt tồn tại chứ không phải câu có kết cấu chủ vị đảo
2.3 Một số gợi ý trong sách giáo viên còn hoặc quá sơ sài hoặc thiếu chuẩn xác, các
kiến giải mâu thuẫn nhau gây nhầm lẫn cho người dạy
Ở Sách Ngữ văn 6, tập 1: Bài 8: Danh từ, trong Hoạt động 1, khi yêu cầu HS tìm
danh từ trong cụm danh từ được in đậm trong SGK, SGV đã gợi ý: “Ngoài danh từ con
trâu, trong câu còn có các danh từ khác nữa…” Ở Hoạt động 3: Phân loại danh từ, SGV
đã xếp từ con vào danh từ chỉ đơn vị Vậy, con trâu là 2 từ chứ không thể là một từ
(SGV 6, tr.137)
Ở Bài 10, SGK6 -Tập 1, trong phần Danh từ (tt), khi cho HS luyện tập nhằm
phân biệt danh từ chung và danh từ riêng, "Ngày xưa" được cho là một từ (Ngày xưa,/ ở
/ miền / đất / Lạc Việt / cứ / như / bây giờ / là / Bắc Bộ / nước / ta,…) (SGK6, tập 1, tr
109) Nhưng sang Bài 11, trong phần Cụm danh từ (CDT), "Ngày xưa” được xếp vào
CDT (SGK6, tập 1, tr.116) và SGV6, tập 1 cũng xác định phần trung tâm của CDT này
là “ngày”, phần phụ ngữ của cụm là “xưa” (SGV6, tập 1, tr.172)
Trang 8221
Tương tự, ở lớp 7, khi dạy về thành phần câu, bài "Thêm trạng ngữ cho câu", có
câu: “Về môn Hoá, ông xếp hạng 15/22 học sinh của lớp” (SGK7, tập 2, tr 47), SGV đã
xác định nội dung này là Trạng ngữ (SGV7, tập 2, tr.58) Đến kiến thức ở Chương trình
Ngữ văn 9 (Tập 2), "Về môn Hoá" lại là Khởi ngữ SGV9, tập 2, tr.08)
Nội dung kiến thức của SGV có chỗ còn sơ sài Chẳng hạn đối với bài học về từ
loại, SGK và SGV cần có ngữ liệu đối chiếu để phân biệt các từ đồng âm khác từ loại
Ví dụ trong bài trợ từ, để phân biệt các trợ từ những, cứ, lại, đích, chỉ, ngay, chính,…
với các từ đồng âm thuộc các từ loại khác thì cần đưa ra các ví dụ để minh họa
Ở Bài 11, Chương trình lớp 6: Cụm danh từ, SGV6, tập 1 cũng gợi ý cho GV
hướng dẫn HS điền các cụm danh từ vào mô hình sao cho đúng vị trí của từng thành tố
như sau: (SGV6, tập 1, tr.173)
Ở Hoạt động 3: Phân loại lượng từ SGV6 cũng đã đưa ra Mô hình của các cụm
danh từ có lượng từ như sau: (SGV6-Tập 1, tr.184)
Trang 9cả mấy vạn tướng lĩnh,
quân sĩ
Tuy nhiên, điều đặc biệt là ở cả SGK lẫn SGV tuyệt nhiên không có chỗ nào
hướng dẫn cụ thể về mô hình các Cụm từ hay giải thích, phân biệt T1 và T2; s1 và s2
Tại sao làng là T1 mà hoàng tử là T2?; hay cả trong cả làng là t1 mà cả trong cả mấy
vạn tướng lĩnh, quân sĩ lại là t2? Đây là điều mà GV và HS đều rất lúng túng Hầu hết
GV được hỏi đều cho rằng, với trình độ lớp 6, việc tách riêng t1-t2, T1-T2, s1-s2, là
không cần thiết, gây phức tạp, khó hiểu cho học sinh và không thống nhất, đồng bộ với
bài học về cấu tạo của Cụm động từ, Cụm tính từ Theo chúng tôi, khi dạy phần cụm từ,
cần có phần kiến thức khái quát về cụm từ trước khi cung cấp kiến thức cụ thể về cụm
danh từ, cụm động từ, cụm tính từ; cần chỉ ra cho HS nắm cấu tạo đầy đủ của cụm từ
gồm 3 bộ phận phụ ngữ trước (t), trung tâm (T) và phụ ngữ sau (s) một cách đơn giản
nhất và chỉ ra chức năng của cụm từ: làm thành phần câu là đủ
Có lẽ, phần cụm từ là phần mà người làm SGK tỏ ra có nhiều chỗ lúng túng, khá
mơ hồ và thiếu thống nhất Bàn về Cụm danh từ, SGV đã cố gắng chỉ ra những nét khác
biệt giữa phụ ngữ trước và phụ ngữ sau: a) Về mặt từ loại, phụ ngữ trước thường do các
từ không có nghĩa chân thực đảm nhiệm, trong khi đó phụ ngữ sau lại do các từ có
nghĩa chân thực đảm nhiệm… c) Về mặt sắp xếp vị trí, phụ ngữ trước có vị trí rất rõ
ràng và được sắp xếp theo trật tự ổn định, trong khi đó, phụ ngữ sau khó có thể quy về
những vị trí ổn định được (SGV 6, tr.171) Những điểm mà sách chỉ ra khá chung
chung, mơ hồ, không giúp phân biệt rõ phụ ngữ trước và phụ ngữ sau Hơn nữa, cho
rằng phụ ngữ sau do các từ có nghĩa chân thực đảm nhiệm là thiếu chuẩn xác vì các từ
ấy, đó, kia, nọ cũng không có nghĩa chân thực; và việc quy vị trí s1, s2 về những vị trí
ổn định cũng không phải là khó
Có một số bài luyện tập khá khó trong SGK mà SGV bỏ qua không hướng dẫn
nên đôi lúc GV còn dựa vào các sách giải bài tập bên ngoài dẫn đến thiếu chính xác,
không thống nhất
Trước thềm năm mới Giáp Ngọ, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận đã có
cuộc trao đổi với phóng viên Báo Sài Gòn Giải Phóng Ông khẳng định: “Trong năm
2014, những công việc đang triển khai sẽ được đẩy mạnh, tăng tốc Trọng tâm có hai
việc: thiết kế xây dựng chương trình - SGK phổ thông và cấu trúc lại các cơ sở đào tạo
giáo viên” [9, xem http://www.sggp.org.vn/giaoduc/2014/2/339396] Để đáp ứng được
nhiệm vụ nêu trên, việc nhìn lại các bộ sách giáo khoa đã được sử dụng nhằm kế thừa
ưu điểm, khắc phục những nhược điểm đáng tiếc, tiến tới xây dựng một bộ sách tốt là
một trong những công việc cần làm
Trang 10223
Trong khuôn khổ một bài viết nhỏ, chúng tôi mới thử bàn về những điểm bất
hợp lý trong cấu trúc chương trình, dung lượng bài học, những nội dung chưa chuẩn
xác, thiếu thống nhất về kiến thức ở phần Tiếng Việt của sách Ngữ văn trung học cơ sở
hiện hành Chúng tôi sẽ tiếp tục khảo sát phần Văn học và Tập làm văn để có một cái
nhìn toàn diện hơn về nội dung của sách Ngữ văn THCS với mong muốn được góp
tiếng nói phản biện để Chương trình và SGK mới sẽ được thiết kế, xây dựng cẩn trọng
hơn, hoàn hảo hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8,
BCH Trung ương khóa XI (ngày 4/11/2013) về: "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" Nguồn: website Đảng Cộng
http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&
subtopic=9&leader_topic=990&id=BT7111340696
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Ban
hành kèm theo Quyết định số 16/1006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Nxb Giáo dục, Hà Nội
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Báo cáo kết quả đánh giá chương trình giáo dục và
sách giáo khoa phổ thông, công văn số 146/BC-BGDĐT ban hành ngày 29 tháng 5 năm
2008, Hà Nội
4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Công văn số 7608/BGDĐT-GDTrH (ngày
31/8/2009) V/v: Khung phân phối chương trình THCS, THPT năm học 2009-2010
(nguồn: website Thư viện pháp luật,
http://thuvienphapluat.vn/archive/Cong-van/Cong-
van-7608-BGDDT-GDTrH-khung-phan-phoi-chuong-trinh-trung-hoc-co-so-trung-hoc-pho-thong-nam-hoc-2009-2010-vb94498t3.aspx)
5 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo kết quả thực hiện các ý kiến, kiến nghị của
cử tri gửi tới kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, công văn số695/ BC -BGDĐT ban hành
ngày 23 tháng 9 năm 2009, Hà Nội
6 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 6, 7, 8, 9, Nxb Giáo dục, Hà Nội
7 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn - Sách giáo viên 6, 7, 8, 9, Nxb Giáo dục,
Hà Nội
8 Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội