1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xét nghiệm kháng thể kháng bào tương neutrophil (Antineutrophil cytoplasmic antibody, ANCA) và viêm mạch máu liên quan ANCA

9 55 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 550,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kháng thể kháng bào tương của neutrophil (Antineutrophil cytoplasmic autoantibodies (ANCA) là kháng thế trực tiếp lên những hạt của bạch cầu đa nhân trung tính và có liên quan đến phản ứng viêm qua trung gian tham gia của neutrophil. ANCA có liên quan trực tiếp đến các bệnh lý viêm mạch máu.

Trang 1

XÉT NGHIỆM KHÁNG THỂ KHÁNG BÀO TƯƠNG NEUTROPHIL (ANTINEUTROPHIL CYTOPLASMIC ANTIBODY, ANCA)

VÀ VIÊM MẠCH MÁU LIÊN QUAN ANCA

Trần Thị Bích Hương*.

MỞ ĐẦU

Kháng thể kháng bào tương của neutrophil

(Antineutrophil cytoplasmic autoantibodies

(ANCA) là kháng thế trực tiếp lên những hạt của

bạch cầu đa nhân trung tính và có liên quan đến

phản ứng viêm qua trung gian tham gia của

neutrophil ANCA có liên quan trực tiếp đến các

bệnh lý viêm mạch máu Mặc dù mạch máu nhỏ

là cơ quan tổn thương chủ yếu, viêm mạch máu

liên quan ANCA (ANCA-associated vasculitis,

AAV) có thể ảnh hưởng lên bất kỳ loại mạch

máu khác như động mạch, tiểu động mạch, mao

mạch, tiểu tĩnh mạch và tĩnh mạch Tuy nhiên có

những bệnh viêm mạch máu không kèm ANCA

dương tính được gọi là Non- ANCA associated

vasculitis Mục tiêu tổng quan này trình bày (1)

Kháng thể kháng bào tương của neutrophil

(ANCA), (2) Viêm mạch máu liên quan đến

ANCA

Kháng thể kháng bào tương của bạch cầu

đa nhân trung tính (Antineutrophil

Cytoplasmic Antibodies)

Lịch sử

Kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa

nhân trung tính (Antineutrophil Cytoplasmic

Antibodies, ANCA) được Davies và CS mô tả

đầu tiên năm 1982, trên 1 loạt các bn viêm cầu

thận hoại tử khu trú và kèm theo triệu chứng

của viêm mạch máu toàn thân(4) Năm 1985, Van

der Woude và CS ghi nhận có sự tương quan

chặt giữa loại ANCA bắt màu huỳnh quang

mạnh ở các hạt trong bào tương của tế bào

neutrophil cố định trên lame bằng ethanol, và

ông gọi là C-ANCA (cytoplasmic staining

pattern-ANCA) ở các bn u hạt Wegener Chỉ vài

năm sau, ông mô tả thêm dạng ANCA khác bắt màu huỳnh quang quanh nhân và gặp ở bn viêm cầu thận liềm hoại tử vô căn và viêm đa mao mạch vi thể và gọi là P-ANCA (Perinuclear Fluorescent Pattern ANCA)(4)

Phương pháp đầu tiên phát hiện ANCA là miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (Indirect immunofluorescence, IIF) tiến hành trên lame máu người có neutrophil được cố định bằng ethanol Mặc dù cho đến nay có nhiều kỹ thuật dùng để phát hiện ANCA như enzyme linked immunoassays (ELISA), chemiluminescent immunoassays (CLIA), lateral flow assays, và phối hợp của IIF và kỹ thuật vi hạt (microbead assays) IIF vẫn là phương pháp được chọn khi tầm soát ban đầu viêm mạch máu Tuy nhiên, nếu phối hợp cả IIF và ELISA để chứng minh sự hiện hữu của PR3/MPO thì có độ đặc hiệu 99%, khi đối chiếu với giải phẫu bệnh

Cấu trúc sinh học phân tử của kháng nguyên với ANCA (3,5)

Dựa trên kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, có 2 loại kết quả cho ANCA dựa vào bắt màu huỳnh quang của các hạt trong bào tương neutrophil Trong đó, "C-ANCA" (Cytoplasmic-ANCA) chủ yếu do sự hiện diện của tự kháng thể chống lại serine protease proteinase-3 (PR3), còn "P-ANCA" (perinuclear- ANCA) do kháng thể kháng myeloperoxidase (MPO) Một kết quả khác cũng được ghi nhận trên miễn dịch huỳnh quang là "ANCA không điển hình" (atypical ANCA) trên lame gây ra do kháng thể kháng nhân (Antinuclear antibody, ANA) và các kháng thể kháng lại các kháng nguyên trong bào tương như lactoferrin, lysozyme, azurocidin, elastase, cathepsin G và

Bộ môn Nội, Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Trần Thị Bích Hương ĐT: 0938817385 Email: huongtrandr@yahoo.com

Trang 2

bactericidal/permeability-increasing enzyme (BPI)

PR3 là 1 protein dương yếu kích thước phân

tử 29-30kDa, thuộc họ trypsin of serine

proteases PR3 được tổng hợp như 1

preproenzyme và sau đó trải qua 4 bước để trở

thành dạng trưởng thành hoạt động PR3 được

dự trữ trong những hạt không màu của

neutrophil nhưng có thể thấy trong màng của

các nang bài tiết (secretory cyst) Về sinh lý, PR3

được ức chế bằng 1-antitrypsin

MPO, chiếm khoảng 5% tổng lượng protein

của neutrophils, là 1 phân tử ion dương mạnh

bao gồm 1 dimer dị loại kich thước phân tử

khoảng 140kDa Enzyme có đặc tính diệt khuẩn

mạnh, và hoạt tính peroxidase được ức chế sinh

lý bằng Ceruloplasmin

Các kỹ thuật xét nghiệm ANCA (6,7)

Năm 1999, một đồng thuận Quốc tế về kỹ

thuật tiến hành và thông báo về ANCA đã được

công bố, và 1 bổ sung vào năm 2003 về những

hướng dẫn trong kiểm soát, kiến nghị và khuyến

cáo về việc xét nghiệm ANCA ở những bệnh tự

miễn khác Chúng tôi trình bày chi tiết về Báo

cáo đồng thuận quốc tế về cách tiến hành xét

nghiệm và trả lời kết quả ANCA năm 1999,

khuyền cáo về các kỹ thuật ANCA(1) Dựa vào

đồng thuận này, kỹ thuật tầm soát ban đầu về

ANCA vẫn là miễn dịch huỳnh quang gián tiếp

(IIF) với việc dùng lame sử dụng neutrophil

người cố định bằng ethanol và sau đó khẳng

định bằng kỹ thuật giai đoạn đặc (Solid phase

assay) như ELISA

Kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp

(Indirect Immunofluorescent essay, IIF) (1,7)

Nguyên tắc

Dùng máu toàn phần kháng đông bằng

heparin, và quay ly tâm để tách bạch cầu ( bao

gồm cả neutrophil và monocyte) Neutrophil

được phết trên lame, cố định bằng ethanol tuyệt

đối và được ủ với huyết tương bệnh nhân pha

loãng 20 lần Sau đó lame sẽ được nhuộm kháng

thể kháng Ig G người có gắn fluorescein isothocyanate (FITC), và được quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang

Dưới kính hiển vi huỳnh quang, các men có điện tích dương mạch, bao gồm cả MPO sẽ gắn với điện tích dương của màng nhân, còn những men ít điện tích dương hơn như PR3 vẫn tồn tại trong bào tương

Nhược điểm và biện pháp khắc phục

Nhược điểm: Việc đọc các lame nhuộm này mang tính chủ quan, cần sự chuyên môn của người kỹ thuật viên và tốn nhiều công sức

Do vậy, trong kỹ thuật IIF, kết quả có thể khác biệt giữa các lần làm xét nghiệm khác nhau và trong cùng 1 lần làm xét nghiệm do những khác biệt về nguồn neutrophil, cách chuẩn bị lame, cách cố định và tính chủ quan khi đọc xét nghiệm này Do màu miễn dịch huỳnh quang phai với thời gian và số lần quan sát, nên cần phải đọc kết quả ngay sau khi hoàn tất phần nhuộm miễn dịch huỳnh quang Biện pháp khắc phục: Trong những năm gần đây, hệ thống kính hiển vi huỳnh quang tự động (automated fluorescent microscope systems) có thể lưu trữ, và trình bày với các hình ảnh với độ phân giải cao lưu hình chụp từ lames nhuộm IIF ((NOVA View, INOVA Diagnostics Inc USA; Aklides, Medipan GmbH, Germany; Image Navigator, Immuno Concepts Ltd., USA; EURO-Pattern, Euroimmun AG, Germany) Hình ảnh

kỹ thuật số được lưu trữ, xem lai bất cứ lúc nào, dùng để huấn luyện, và hội chẩn

Hình 1: Kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp

trong chẩn đoán ANCA (1)

Trang 3

Yêu cầu tối thiếu về kỹ thuật IIF (1

Cần tiến hành làm IIF ở mọi bn mới chẩn

đoán viêm mạch máu vì 10% bn WG or MPA chỉ

dương tính khi làm xét nghiệm này (âm tính với

các xét nghiệm khác) Nếu bn chỉ có kết quả

dương tính với 1 kỹ thuật IIF, khi lập lại, cũng

chỉ cần lập lại IIF Nên dùng mẫu máu whole

buffy coat khi chuẩn bị lame tại chỗ cho xét

nghiệm, vì mẫu máu này sẽ chứa cả neutrophile

và lymphocyte, và có thể dùng các lame đã bán

sẵn (commercial slides) Không cần pha loãng

huyết thanh để làm lại xét nghiệm nếu trên lame

chỉ có tế bào neutrophils và monocyte bắt màu

huỳnh quang

Khuyến cáo Tối ưu về kỹ thuật

Nếu mẫu huyết thanh dương tính với

ANCA nhưng âm tính với ELISA cho

PR3-ANCA và MPO-PR3-ANCA, cần xác định hiệu giá

của IIF và cần so sánh hiệu giá của IIF của mẫu

máu mới với mẫu máu trước kia sẽ giúp ích cho

việc mô tả sự thay đổi của các kháng thể trên bn

Ngoài ra, hiệu giá còn được dùng nếu ngoài

ANCA dương, bn còn có thêm ANA dương

hoặc tìm thấy kháng thể kháng thành phần khác

trong bào tương dương tính ( như kháng thể

kháng Jo-1 hoặc protein nhân trên ribosome

(ribosomal nucleoprotein)

Cách Báo cáo kết quả xét nghiệm IIF (hình 2)

C-ANCA điển hình (Typical C-ANCA): bắt

màu huỳnh quang dạng hạt vùng bào tương của

neutrophil kèm theo nhấn mạnh vùng trong tâm

hoặc giữa các tiểu thùy của neutrophil

C-ANCA không điển hình (Atypical C-ANCA):

bắt màu huỳnh quang lan tỏa, dẹt vùng bào

tương và không có nhấn mạnh vùng giữa các

tiểu thùy của neutrophil

P-ANCA điển hình (Typical P-ANCA): bắt

máu huỳnh quang quanh nhân, kèm hoặc

không kèm lan ra nhân: kèm theo ANA dương

tính đặc hiệu hạt

ANCA không điển hình (Atypical ANCA): bao

gồm mọi phản ứng dương tính huỳnh quang

đặc hiệu cho neutrophil, monocyte, thường gặp

là sự hỗn hợp giữa huỳnh quang dương tính ở bào tương và quanh nhân

Hình 2: Các loại kết quả miễn dịch huỳnh quang gián

tiếp của ANCA (2,6) A- C-ANCA điển hình: đặc hiệu cho PR3, bắt màu vùng bào tương, và tăng lên ở trung tâm; B- C-ANCA không điển hình với màu huỳnh quang dẹt vùng bào tương, do kháng nguyên ở bào tương, không phải PR3; C- P-ANCA điển hình với bắt màu huỳnh quang quanh nhân và vùng nhân dãn rộng; D- ANCA không điển hình với bắt màu huỳnh quang cả bào tương và quanh nhân,

và cả PR3 lẫn MPO đều ghi nhận

Kỹ thuật ELISA (6)

Sau khi tầm soát bằng xét nghiệm IIF, ELISA hoặc xét nghiệm tương đương solid phase (equivalent solid phase immunoassay) được dùng để khẳng định chấn đoán ANCA ELISA thuộc nhóm xét nghiệm miễn dịch giai đoạn cứng (Solid phase immunoessay) vì kháng nguyên hoặc huyết thanh được bám vào mặt phẳng cứng, như thành của các khay với vi giếng (microplate), hoặc ở 1 thành bên của ống nghiệm, còn các chất phản ứng khác sẽ tự do

trong dịch thử (hình 3)

Các loại ELISA thế hệ 1, 2 và 3

Trước đây, ELISA thế hệ 1 không đạt được

độ nhạy cảm và đặc hiệu của IIF trên neutrophils, nhưng gần đây với những kỹ thuật mới dùng các chiến lược bất động khác nhau dẫn đến sự hiện diện của kháng nguyên ở dạng nguyên thủy nhất giúp kháng nguyên tương tác tối ưu đến các epitopes đặc hiệu với kháng thể nhằm cải thiện độ nhạy cảm của xét nghiệm

Trang 4

ELISA thế hệ 2 dùng các phân tử bắt giữ

(capture molecules), hầu hết là kháng thể, gắn

kháng nguyên lên bề mặt mà không thay đổi cấu

trúc của epitope Phương pháp ELISA thế hệ 2

giúp tăng độ nhạy cảm và chứng minh tốt hơn

xét nghiệm ANCA gắn kết trực tiếp ELISA thế

hệ thứ 3, nhằm mục tiêu phòng ngừa kháng

nguyên biến dạng khi gắn kết trên đĩa ELISA,

nên dùng kỹ thuật "thả neo" ("anchor"

techniques) Kháng nguyên sẽ bám vào phân tử

thả neo và chất này bám vào mặt đĩa ELISA để

cố định kháng nguyên Kỹ thuật này giúp tăng

độ nhạy cảm và độ đặc hiệu của ELISA so với IIF

(khi so sánh 3 thế hệ của ELISA, giá trị AUC của

thế hệ 1 là 0,8, thế hệ 2 là 0,86 và thế hệ 3 là 0,96)

Hình 3: Các loại xét nghiệm ELISA trong chẩn đoán

ANCA (6) Các xét nghiệm này có bước khác nhau chủ yếu

là phần chuẩn bị kháng nguyên: - (2a) kháng nguyên trực

tiếp bám vào giếng, - (2b) kháng nguyên được bắt giữa qua 1

kháng thể đơn dòng, - (2c) kháng nguyên được bắt qua 1

peptide kết dính Công đoạn ủ với huyết thanh của bn và ủ

với chất chỉ thị màu giống giữa các phương pháp ELISA

Kỹ thuật hệ thống dòng chảy bên (Lateral

Flow Assay System, LFA)

Trước đây, kỹ thuật "hệ thống dòng chảy

bên" được xem là xét nghiệm nhanh, nhưng

không nhạy Những tiến bộ mới của LFA dùng

kháng nguyên dạng lõng và cải thiện đáng kể

cách tiến hành xét nghiệm này do làm cải thiện

khả năng gắn kết kháng nguyên - kháng thể

Kháng nguyên được bổ sung vào dung dịch, để

làm giảm thiếu việc che đậy các vị trí epitope khi két dính trên bề mặt đĩa ELISA Hiệu quả lớn nhất của kỹ thuật này là giúp rút ngắn thời gian tiến hành xét nghiệm chỉ còn 20 phút thay vì 3giờ như kỹ thuật ELISA cổ điển Tuy nhiên, kỹ thuật này ít dùng trong thực hành lâm sàng

Kỹ thuật phối hợp IIF và kỹ thuật dùng các hạt (bead assays)

Kỹ thuật mới này dùng để khẳng định ANCA, và phối hợp tầm soát bằng IIF Kỹ thuật mới tìm kháng nguyên PR3, MPO và GBM kèm với nhiều loại vi hạt (microbeads) nếu phối hợp IIF dẫn đến sự đổng thuận dương tính ở 96,2% mẫu và đồng thuận âm tính ở 99,6% mẫu huyết thanh(3)

Miễn dịch hóa huỳnh quang (Chemiluminescent Immunoassays, CLIA)

Kỹ thuật hóa huỳnh quang rất khác với kỹ thuật ELISA, trong đó kháng nguyên 2 hóa trị bám vào các hạt (bead) Trong CLIA, các hạt beads được gắn với PR3 hoặc MPO nguyên chất Sau khi các hạt bead được ủ với huyết thanh của bn đã pha loãng và rửa, kháng thể kháng IgG Isoluminol kết hợp "đánh dấu" được cho vào Chất kết hợp sẽ được oxid hóa khi thêm sodium hydroxide và dung dich peroxide "kích hoạt" được thêm và ảnh sáng tạo ra từ phản ứng này được đo bằng đơn vị ánh sáng tương đối (Relative light units, RLU) Lượng RLU tỷ lệ với số lượng isoluminol kết hợp gắn kết với IgG người, cũng tỷ lệ với số lượng tự kháng thể gắn trên kháng nguyên của beads Xét nghiệm PR3- CLIA có độ đặc hiệu 98% và độ nhạy cảm 62,7% trong chẩn đoán GPA Xét nghiệm MPO-CLIA có độ đặc hiệu 95% và độ nhạy cảm 96% trong chẩn đoán MPA

Cách thông báo kết quả ELISA (1,7)

Cần mô tả các tự kháng thể như PR3-ANCA, MPO-ANCA, BPI-ANCA

Kết quả ELISA với PR3- ANCA và MPO-ANCA sẽ trả kết quả càng sớm càng tốt sau khi

có kết quả của IIF

Trang 5

Kết quả huyết thanh được ghi bằng đơn vị

và giá trị cao hơn điểm cắt được gọi là dương tính

Tóm tắt về các kỹ thuật phát hiện ANCA và

cách lý giải trên lâm sàng (7)

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về các kỹ thuật

phát hiện ANCA, vẫn chưa có sự đồng thuận về

phương pháp nào có giá trị nhất trên lâm sàng

trong chẩn đoán viêm mạch máu hệ thống (bảng 1)

ANCA còn dương tính trong 1 số nguyên

nhân khác như do thuốc, viêm loét đại tràng

Thuốc và ANCA

Các thuốc gây ANCA dương tính như

propylthiouracyl (20% bn dùng), hydralazine,

penicillamine, phenytoin, procainamide Chủ

yếu p-ANCA không điển hình

Bệnh viêm loét đại tráng và bệnh tự miễn

ANCA dương tính trong 50-70% các trường

hợp viêm loét đại tràng (ulcerative colitis),

20-40% bệnh Crohn Kết quả của ANCA không

tương đồng với diễn tiến của viêm loét đại tràng

hoặc bệnh Crohn ANCA dương tính ở trên 70%

bn Viêm đường mật xơ hóa nguyên phát (primary sclerosing cholangitis) hoặc viêm gan mãn tính hoạt động và 30% bn xơ gan ứ mật nguyên phát Chủ yếu là P-ANCA và ANCA không điển hình trên IIF và kháng nguyên đặc hiệu là actin, HMG1/2 và các kháng nguyên gặp trong viêm đai tràng Trong trường hợp này ANCA có thể liên quan đến mức độ gan xơ hóa

Viêm khớp và lupus đỏ hệ thống

Bệnh nhân viêm đa khớp dạng thấp, 20-70%

bn có P-ANCA dương tính với nồng độ thấp hoặc ANCA không điển hình (IIF) Kháng nguyên trong những trường hợp này thường gặp bao gồm HMG1/2, PR3, MPO, BPI, cathepsin

G, lactoferrin, and lysozyme Bn lupus đỏ hệ thống, ANCA dương tính trong 20% trường hợp SLE ANCA không liên quan tổn thương cơ quan đặc hiệu, hoạt tính của bệnh, sự hiện hữu của viêm mạch máu

Bảng 1: ANCA và các bệnh liên quan (4)

Viêm cầu thận liềm nghèo miễn dịch nguyên phát (Primary pauciimmune crescentic glomerulonephritis) (20-40%)

Churg Strauss syndrome (35%)

C-ANCA (không điển

hình)

Chỉ BPI BPI, MPO, CG

Xơ nang (Cystic fibrosis) (80%)

Viêm ruột non (Inflammatory bowel disease)

Viêm đường mật xơ hóa nguyên phát (Primary Sclerosing

cholangitis)

Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis)

Microscopic polyangiitis (50%) Primary pauciimmune crescentic GN (50%)

Churg Strauss syndrome (35%)

Nhiều Ag Khác HMGI/2, Catalase,  enolase, actine, lactoferrin, lysozyme

• elastase

• cathepsin G

• defensin

Microscopic polyangiitis (50%) Primary pauciimmune crescentic glomerulonephritis (50%)

Churg–Strauss syndrome (35%) Viêm ruột non (Inflammatory bowel disease) Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis)

Viêm mạch máu do thuốc Bệnh gan tự miễn

1 số nhiễm ký sinh trùng Atypical ANCA Nhiều loại kháng nguyên như

trên

Viêm mạch máu do thuốc Viêm ruột non (Inflammatory bowel disease) Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis)

Trang 6

Bệnh phổi

5% BN viêm phổi mô kẽ có ANCA dương

tính C-ANCA (không điển hình) có thể gặp

trong xơ nang, viêm phổi mủ do Pseudomonas

Nhiễm trùng

Nhiều loại nhiềm trùng có thể gây ANCA

dương tính như viêm nội tâm mạc bán cấp

nhiễm trùng, sốt rét, bệnh gây ra do Amibe,

Blastomyosis, Leptospirosis, và Onchocerciasis

Chỉ định tiến hành xét nghiệm ANCA (7)

Chỉ định xét nghiệm ANCA khi có biểu hiện

lâm sàng gợi ý các bệnh lý viêm mạch máu nhỏ

hệ thống nguyên phát vì ANCA có độ nhạy 95%

và độ đặc hiệu 90% cho các bệnh lý này

Các chỉ định lâm sàng của xét nghiệm

ANCA:

Viêm cầu thận, nhất là viêm cầu thận tiến

triển nhanh

Xuất huyết phổi, nhất là hội chứng phổi-thận

Viêm mạch da kèm biểu hiện hệ thống toàn thân

Nhiều nốt ở phổi

Bệnh lý phá hủy mạn tính đường hô hấp

trên (Chronic destructive disease of the upper

airways)

Viêm xoang hoặc viêm tai mạn tính

Hẹp khí quản vùng dưới lưỡi (Subglottic

tracheal stenosis)

Viêm đơn dây thần kinh (Mononeuritis

multiplex) hoặc đa dây thần kinh ngoại biên

Khối u sau hốc mắt

Viêm mạch máu liên quan-ANCA (3,4)

Định nghĩa

Viêm mạch máu (vasculitis) là 1 bệnh lý đặc

trưng bằng phản ứng viêm và tổn thương mạch

máu Lòng mạch là nơi bị tổn thương nặng và

dẫn đến thiếu máu cục bộ (ischemia) cơ quan do

mạch máu cung cấp máu nuôi Do mọi loại mạch

máu đều có thể bị viêm, nên viêm mạch máu bao

gồm nhiều hội chứng khác nhau do sự khác biệt

về loại mạch máu, kích thước mạch máu và vị trí

cơ quan nơi mạch máu cung cấp máu Viêm mạch máu có thể là nguyên phát (tổn thương mạch máu là nguyên nhân, đầu tiên), hoặc thứ phát (sau tổn thương, bệnh lý khác) Viêm mạch máu có thể chỉ ảnh hưởng 1 cơ quan như da, hoặc tổn thương đồng thời nhiều cơ quan Theo Hội nghị Quốc tế tại Chapel Hill về thuật ngữ gọi tên cho viêm mạch máu quốc tế năm 2012 (2012 Revised International Chapel Hill

Vasculitides, CHCC 2012), việc định danh bệnh

lý viêm mạch máu dựa vào kích thước của mạch máu như mạch máu lớn, trung bình vả nhỏ(2) Viêm mạch máu liên quan đến ANCA (ANCA-Associated Vasculitis, AAV) là viêm mạch máu hoại tử (necrotizing vasculitis) với ít hoặc không kèm lắng đọng phức hợp miễn dịch (nên được gọi là nghèo miễn dịch, pauciimmune disease), chủ yếu ảnh hưởng lên mạch máu nhỏ (như mao mạch, tiểu tĩnh mạch, tiểu động mạch

và động mạch nhỏ), kèm theo xét nghiệm ANCA dương tính với myeloperoxidase (MPO-ANCA) hoặc proteinase 3 (PR3-(MPO-ANCA) Viêm mạch máu liên quan đến ANCA không di truyền hoặc không phải là bệnh lý về gene Hiếm khi gặp bệnh có tính gia đình

Phân loại viêm mạch máu liên quan đến ANCA

AAV bao gồm 3 nhóm bệnh được định nghĩa như sau theo CHCC 2012(2,3)

Viêm đa mạch vi thể (Microscopic polyangiitis, MPA)

Viêm mạch hoại tử kèm hoặc ít hoặc không

có miễn dịch lắng đọng, chủ yếu ảnh hưởng các mạch máu nhỏ (như mao mạch, tiểu tĩnh mạch hoặc tiểu động mạch) Viêm động mạch hoại tử

có thể liên quan đến động mạch nhỏ và trung bình Rất thường gặp viêm cầu thận hoại tử, thường kèm viêm mao mạch phổi, và không có viêm kèm u hạt (Granulomatous inflammation)

Trang 7

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng, cân lâm sàng của viêm mạch máu liên quan ANCA (5)

Viêm đa mạch vi thể

(MPA)

Viêm đa mạch kèm U hạt và tăng eosinophil (EGPA)

Viêm đa mạch kèm u hạt

(GPA)

Biểu hiện lâm sàng

Cơ quan tổn

thương

Thận > Da > Phổi > đường tiêu hóa > hệ thần kinh > đầu

và cổ

Hệ thần kinh> da> hệ tiêu hóa=

đầu và cổ= cơ xương Đầu và cổ> phổi> thận

Các triệu chứng sốt,

Tổn thương da Ban xuất huyết (purpura) (35-60%) Ban xuất huyết, ban giả mề đay (50-70%) Ban xuất huyết (10-50%)

Tổn thương tai mũi

họng

Ít bn mắc (2-30%), không đặc hiêu, không tổn thương phá hủy, không tăng sinh dạng u

Thường gặp ( 20-80%), viêm mũi

dị ứng, polypose xoang (không

phá hủy)

Thường gặp (50-95%), viêm mũi (crusting rhinitis), viêm xoang phá hủy, biến dạng mũi hình yên ngựa ( saddle-nose deformity), dị dạng vách mũi,

viêm tai giữa

Tổn thương phổi Thường gặp (60-80%), xuất

huyết phế nang

Thường gặp (50%); thâm nhiễm mau bay, tràn dịch màng phổi tăng eosinophil, hiếm khi tạo

nodules

Thường gặp (60-80%); phổi sáng, có nodule kèm hoai tử trung tâm (excavated nodule), xuất huyết phế nang, hẹp phế quản, hoặc hẹp khí quản hoặc dưới lưỡi

Tổn thương thận

Rất thường gặp (80%), viêm cầu thận (ngoài mạch, hoại

tử)

Không thường gặp (20%), viêm cầu thận (ngoài mạch, hoại tử)

Thường gặp (60-80%), viêm cầu thận (ngoài mạch, hoại tử)

Các biểu hiện" kinh

điển"khác Huyết khối tĩnh mạch (7-8%)

Biểu hiện tim mạch (10-50%, bệnh cơ tim), huyết khối tĩnh mạch (7-8%)

Biểu hiện tại mắt (viêm kết mạc, bướu hốc mắt), pachymeningitis, huyết khối

tĩnh mạch (7-8%)

Xét nghiệm sinh học

Xét nghiệm chuẩn

Hội chứng viêm không đặc hiệu, creatinine huyết thanh, tổng phân tích nước tiểu ( trụ

hồng cầu)

Tăng eosinophil trong máu

>3,000/mm3, hội chứng viêm không đặc hiệu

Hội chứng viêm không đặc hiệu, creatinine huyết thanh, tổng phân tích nước tiểu ( trụ hồng cầu)

ANCA

Chủ yếu MPO-ANCA (80%), PR3-ANCA (19%), Âm tính

(1%)

Chủ yếu MPO-ANCA (30-64%), PR3-ANCA (36%), Âm Tính

(hiếm)

Chủ yếu PR3-ANCA (90%), MPO-ANCA (7%), âm tính (3%)

X quang và/ hoặc

CT scan

ghi nhận xuất huyết phế nang (hình kiếng mờ); các hình ảnh khác tùy theo biểu hiện

lâm sàng

Ghi nhận hình ảnh thâm nhiễm tạm thời, mau bay (hiếm khi phế nang xuất huyết hoặc nodule)

ghi nhận xuất huyết phế nang (hình kiếng mờ); nodule tại phổi, tạo hang hoặc không, hẹp phế quản dưới lưỡi viêm xoang, hoặc CT Scan viêm xoang bào mòn (erosive sinusitis), giả u các hình ảnh khác tùy theo biểu hiện lâm

sàng

Mô học

Viêm mạch hoại tử mạch máu nhỏ; không tạo u hạt

(hiếm)

Thường U hạt, chứa eosinophil;

Viêm mạch hoại tử mạch máu

nhỏ

Thường gặp nhưng không luôn kèm U hạt, Viêm mạch hoại tử mạch máu

nhỏ

Viêm đa mạch kèm u hạt (Granulomatosis with

polyangiitis (Wegener’s) (GPA)

Là viêm u hạt hoại tử liên quan đến đường

hô hấp trên và dưới, và viêm mạch hoại tử chủ

yếu mạch máu nhỏ và trung bình (như mao

mạch, tiểu tĩnh mạch, tiểu động mạch, động

mạch và tĩnh mạch Thường gặp viêm cầu thận

hoại tử Theo CHCC 2012, Viêm đa mạch kèm u hạt được dùng thay thể cho bệnh u hạt Wegener (Wegener granulomatosis)

Viêm đa mạch kèm U hạt và tăng eosinophil (Eosinophilic granulomatosis with polyangiitis (Churg-Strauss) (EGPA)

Viêm u hạt hoại tử nhiều eosinophil

Trang 8

(Eosinophil-rich and necrotizing granulomatous

inflammation) có kèm bệnh đường hô hấp và

viêm mạch máu hoại tử chủ yếu ảnh hưởng

mạch máu nhỏ và trung bình, kèm theo hen phế

quản và tăng eosinophil trong máu Nhiều BN

EGPA không có viêm cầu thận Nếu có viêm

cầu thận thường có kèm ANCA dương tính

25% bn EGPA không có bệnh thận, có ANCA

dương tính, trong khi 75% bn EGPA có bệnh

thận và 100% có viêm cầu thận hoại tử có

ANCA dương tính CHCC 2012 đề nghị dùng

danh pháp Viêm đa mạch kèm U hạt và tăng

eosinophil (EGPA) thay thế cho Hội chứng

Churg- Strauss

Chẩn đoán phân biệt viêm mạch máu liên quan

đến ANCA (1)

AAV thuộc nhóm nghèo miễn dịch

(pauciimmune disease) được phân biệt với

nhóm bệnh viêm mạch máu liên quan đến phức

hợp miễn dịch (immune complex vasculitis,

ICV) ICV là viêm mạch ở mạch máu trung bình,

kèm theo thành mạch lắng đọng immunoglobulin và /hoặc bổ thể chủ yếu ảnh hưởng lên mạch máu nhỏ (như mao mạch, tiểu tĩnh mạch, tiểu động mạch và động mạch nhỏ), thường có kèm viêm cầu thận ICV bao gồm các bệnh lý sau:

Anti-C1q vasculitis (viêm mạch kháng thể kháng C1q)

Anti-GBM vasculitis (viêm mạch kháng thể kháng màng đáy cầu thận)

Cryoglobulinemic vasculitis (viêm mạch globuline lạnh)

IgA vasculitis (viêm mạch IgA)

Hypocomplementemic urticarial vasculitis (viêm mạch mề đay giảm bổ thể máu)

Chẩn đoán mô bệnh học (3)

Hình ảnh mô bệnh học tổn thương thận ở

BN viêm mạch liên quan ANCA được trình bày trong Hình 3

Hình 4 Tổn thương thận ở BN viêm mạch liên quan ANCA (1) A- Tổn thương hoại tử 1 phần cầu thận trong viêm đa mao mạch vi thể Ghi nhận vùng của fibrin với mãnh vụn karyorrhectic (vòng tròn) Những phần còn lại của cầu thận bình thường với các mao mạch nở rộng, vùng gian mạch bình thường, màng đáy mỏng, mềm B- Sau 1 vùng hoại tử từng vùng, 1 liềm xuất hiện trong vài ngày bn AAV thường có 1 số cầu thận có hoạt từ từng vùng, và những cầu thận khác có liềm (*), thường có kèm viêm quanh cầu thận và

mô kẽ ống thận tỷ lệ với mức độ tổn thương cầu thận C- Các cầu thận có biến chứng bao gồm hoại tử từng vùng và liềm, thấy rõ khi nhuộm bạc, liềm ở vị trí 10-12h D- Mạch máu kích thước trung bình ghi nhận viêm mạch hoại tử kèm mảnh vụn karyorrhectic ở bn viêm đa mao mạch kèm tạo hạt (granulomatosis with polyangiitis) (Nhuộm Periodic Acid Schiff)

Trang 9

Vùng mô khảo sát viêm mạch máu có thể

là sinh thiết vùng da bị tổn thương, sinh thiết

mũi, xoang, sinh thiết phổi, thận AAV thường

biểu hiện tổn thương phổi và thận.Tổn thương

phổi trong AAV khá nhiều, thay đổi từ tổn

thương cấp tính (thường là xuất huyết phế

nang lan tỏa (diffuse alveolar hemorrhage,

DHA) đến xơ hóa phổi

Tổn thương thận trong AAV ít phức tạp hơn

tổn thương phổi, chủ yếu là viêm cầu thận hoại

tử khu trú, từng vùng Phần lớn cầu thận xuất

hiện bình thường không kèm liềm, không tăng

sinh tế bào, các mao mạch cầu thận và màng đáy

bình thường Khi bệnh diễn tiến bán cấp hoặc

mạn, có kèm theo xơ hóa cầu thận Đôi khi cầu

thận ghi nhận có tăng sinh nội mạch neutrophils

Trong nhóm AAV, MPA và GPA thường có tổn

thương thận hơn EGPA

Kính hiển vi huỳnh quang và kỹ thuật hóa

mô miễn dịch giúp phân biệt AAV với viêm

mạch do phức hợp miễn dịch Nếu dương tính

với 3 Ig và bổ thể, kèm lắng đọng dạng hạt, gợi ý

viêm mạch qua trung gian phức hợp miễn dịch

(lupus đỏ hệ thống, IgA hậu nhiễm trùng) Nếu

không có hoặc có ít lắng đọng nghĩ nhiều đến

viêm thận nghèo miễn dịch (pauci-immune

glomerulonephritis), chủ yếu là AAV

Kính hiển vi điện tử ghi nhận bệnh câu thận

liềm, phá vỡ màng đáy cầu thận, và không có

phức hợp giầu điện tử của phức hợp miễn dịch

Viêm ống thận mô kẽ và xơ hóa thường liên

quan đến tổn thương cầu thận tiến triển và xơ

hóa cầu thận Có thể gặp viêm quanh cầu thận

U hạt trong mô kẽ ít gặp, và rất gợi ý AAV

KẾT LUẬN

Xét nghiệm kháng thể kháng tương bào của

neutrophil (ANCA) giúp chẩn đoán xác định 1

nhóm bệnh lý viêm mạch máu nhỏ với tổn thương ở thận,phổi và đe dọa tính mạng bệnh nhân Trên thực hành lâm sàng, ANCA được xác định dựa vào 2 kỹ thuật xét nghiệm chủ yếu là miễn dịch huỳnh quang và ELISA Tuy thuộc nhóm bệnh nghèo miễn dịch (pauciimmune disease), thuốc ức chế miễn dịch và thay huyết tương vẫn là điều trị kinh điển viêm mạch máu liên quan đến ANCA

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Damoiseax JAN, Tervaert JWC (2011) ANCA dianosis in clinical practice: news developments In: Advanced in the

diagnosis and treatment of vasculitis., Amezcua-Guerra LM, Ch 1, 1-18

2 Jennette JC, Falk RJ, Bacon PA, Basu N, Cid MC, Ferrario F, Flores-Suarez LF, Gross WL, Guillevin L, Hagen EC et al (2013) 2012 revised International Chapel Hill Consensus Conference Nomenclature of

Vasculitides Arthritis and rheumatism, 65(1), pp 1-11

3 Morgan MD, Harper L, Williams J, Savage C (2006)

Anti-neutrophil cytoplasm-associated glomerulonephritis J Am Soc

Nephro, 17(5), pp 1224-1234

4 Savige J, Gillis D, Benson E, Davies D, Esnault V, Falk RJ, Hagen

EC, Jayne D, Jennette JC, Paspaliaris B et al (1999) International Consensus Statement on Testing and Reporting of

Antineutrophil Cytoplasmic Antibodies (ANCA) Am J Clin

Pathol, 111(4), pp 507-513

5 Savige J, Davies D, Falk RJ, Jennette JC, Wiik A (2000) Antineutrophil cytoplasmic antibodies and associated diseases:

a review of the clinical and laboratory features Kidney Intern,

57(3), pp 846-862

6 Savige J, Dimech W, Fritzler M, Goeken J, Hagen EC, Jennette

JC, McEvoy R, Pusey C, Pollock W, Trevisin M et al (2003) Addendum to the International Consensus Statement on testing and reporting of antineutrophil cytoplasmic antibodies Quality control guidelines, comments, and recommendations for testing in

other autoimmune diseases Am J Clin Pathol, 120(3), pp 312-318

7 Schulte-Pelkum J, Radice A, Norman GL, Lomicronpez Hoyos

M, Lakos G, Buchner C, Musset L, Miyara M, Stinton L, Mahler

M (2014) Novel clinical and diagnostic aspects of antineutrophil

cytoplasmic antibodies J Immunol Res, pp 1-12

8 Smith ML (2017) Pathology of Antineutrophil Cytoplasmic

Antibody-Associated Pulmonary and Renal Disease Arch Path

Lab Med, 141(2), pp 223-231

Ngày đăng: 25/08/2021, 13:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w