1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trường từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao người việt

78 2,4K 31
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trường Từ Vựng Tên Gọi Các Loài Cây Trong Ca Dao Người Việt
Tác giả Phan Thị Thuý Hằng
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Nhã Bản
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 376,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác lập trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao, chúng tôicòn xuất phát từ việc nhận thức rõ tầm quan trọng của những thành tựu nghiêncứu về trờng từ vựng- ngữ nghĩa đối với việc

Trang 1

Lời cảm ơn

Luận văn này đợc thực hiện và hoàn thành, ngoài sự cố gắng của bản thân, phải kể đến sự hớng dẫn nhiệt tình chú đáo của các thầy cô giáo trong bộ môn lý luận ngôn ngữ và sự động viên, giúp

đỡ của rất nhiều ngờ thân, đồng nghiệp Nhân dịp này chúng tôi xin đơc gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô, gia đình bè bạn.

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

-& -phan Thị Thuý Hằng

trờng Từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao ngời Việt

Trang 2

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin trân trọng cảm ơn

GS-TS Nguyễn Nhã Bản – ngời trực tiếp hớng dẫn, giúp đỡ, động viên em hoàn thành luận văn.

Vinh, ngày 10 tháng 12 năm 2007

Tác giả luận văn

Phan Thị Thuý Hằng

Mục lục

Trang

Mở đầu ………

Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết chung ………

1.1 Khái niệm trờng từ vựng………

1.2 Ca dao Việt Nam và thế giới thực vật trong ca dao………

1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá………

Chơng 2: Đặc điểm cấu tạo của trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao ………

2.1 Khái quát về đặc điểm của định danh thực vật trong tiếng Việt 2.2 Đặc điểm cấu tạo của trờng từ vựng thực vật trong ca dao ……

2.3 Nguồn gốc và kiểu cấu tạo của các đơn vị từ vựng thuộc trờng tên gọi các loài cây trong ca dao ………

2.4 Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp ở lời ca dao của trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao …………

Chơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao ………

3.1 ý nghĩa cụ thể ………

3.2 ý nghĩa biểu tợng ………

Kết luận ………

1 9 9 13 20

30 30 33 41 45

55 56 58 90

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong kho tàng văn học dân gian ngời Việt, ca dao, dân ca là những

sáng tác đợc phổ biến rộng rãi và có sức sống lâu bền, sức tác động mạnh mẽvào bậc nhất Chính những giá trị về nhiều mặt đã làm cho ca dao Việt Nam v-

ợt qua thử thách thời gian hàng ngàn năm, tồn tại và có ý nghĩa cho đến tậnbây giờ Bởi thế, Kho tàng ca dao ngời Việt đã trở thành nguồn t liệu vô cùngquý báu và phong phú của nhiều nhà nghiên cứu văn học, văn hoá, ngôn ngữhọc… Từ đó, ngời ta đã phát hiện ra những cái hay cái đẹp, nhiều giá trị thểhiện đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc ẩn chứa trong lớp ngôn từ giản dị mà súctích của ca dao

Đến với Kho tàng ca dao ngời Việt, chúng ta có thể khai thác, tìm hiểu

từ nhiều góc độ, trong đó có việc tìm hiểu từ góc độ ngôn ngữ học Đề tài củachúng tôi tiếp tục tìm hiểu ca dao từ phơng diện ngôn ngữ - văn hoá Tìm hiểuTrờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao Việt Nam, chúng tôi xuấtphát từ niềm say mê khám phá những giá trị văn hoá dân tộc ẩn chứa trongnhững câu hát dân gian Đặc biệt, chúng tôi mong muốn tìm ra đợc những quyluật lựa chọn và sử dụng các loài cây – thế giới thực vật trong ca dao để lýgiải một số câu hỏi đợc đặt ra từ lâu: Tại sao chỉ có một số loài cây cỏ, hoa,lá… là những biểu tợng thực vật xuất hiện khá phổ biến trong ca dao? Vì saonhiều loài cây khác cũng tồn tại, gắn bó hữu ích trong cuộc sống con ngời thìlại không đợc ca dao ghi nhận nh những biểu tợng? Từ đó, chúng tôi nhậnthấy: thế giới thiên nhiên thực vật, đặc biệt là một số loài cây tiêu biểu nh trầucau, cây đa, hoa sen… có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt của ngờidân Việt Nam, một đất nớc có nền văn minh dựa trên thực vật

Trang 4

1.2 Xác lập trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao, chúng tôi

còn xuất phát từ việc nhận thức rõ tầm quan trọng của những thành tựu nghiêncứu về trờng từ vựng- ngữ nghĩa đối với việc nghiên cứu từ vựng –ngữ nghĩatiếng Việt Đã có một số công trình nghiên cứu về các trờng từ vựng tên gọi

bộ phận cơ thể ngời, tên gọi động vật, tên gọi thực vật trong tiếng Việt… songcha có công trình nào nghiên cứu về trờng từ vựng tên gọi các loài cây trongKho tàng ca dao ngời Việt Chúng tôi mong muốn qua đề tài này sẽ bổ sungvào việc nghiên cứu trờng từ vựng- ngữ nghĩa một mảng đề tài quan trọng đểchúng ta có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về các trờng từ vựng- ngữ nghĩatiêu biểu, có giá trị

Trên đây là những lý do cơ bản thôi thúc chúng tôi chọn đề tài nghiêncứu: Trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao ngời Việt

2 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi khảo cứu trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao vớinhững mục đích cơ bản sau đây:

- Tìm ra những biểu hiện cụ thể của bản sắc văn hoá dân tộc trong cáchgọi tên, cách sử dụng các hình ảnh cỏ cây, hoa lá trong các lời ca dao

2.2 Về mặt thực tiễn

Làm rõ sự hành chức của các đơn vị từ vựng tiêu biểu trong trờng từvựng tên gọi các loài cây trong ca dao phần định hớng thiết thực cho việcgiảng dạy, học tập ca dao trong nhà trờng

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Trang 5

3.1 Đối tợng nghiên cứu

- Với chức năng làm công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con ngời,ngôn ngữ có nhiệm vụ định danh (gọi tên) các sự vật, hiện tợng… trong thực

tế khách quan Để định danh các sự vật hiện tợng, ngôn ngữ phải dùng đến sốlợng lớn những danh từ, danh ngữ Danh từ có thể là từ đơn, có thể là từ phức.Luận văn của chúng tôi nghiên cứu cả danh từ là từ đơn và danh từ là từ phức

Các từ không tồn tại độc lập mà thờng thuộc về một trờng từ vựng- ngữnghĩa nhất định, nh: trờng con ngời, trờng động vật, trờng thực vật… Chúngtôi chọn những danh từ gọi tên các loài cây xuất hiện trong ca dao để khảo sát,nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi không thể tập trung nghiên cứu toàn bộ cácdanh từ, danh ngữ gọi tên các loài cây trong ca dao mà chỉ đi sâu tìm hiểu,phân tích, đánh giá các tên gọi cỏ cây hoa lá mang biểu tợng văn hoá (hay cóvai trò là biểu tợng)

- Việc giới han đối tợng nghiên cứu nh trên đã tạo điều kiện để chúngtôi đi sâu và tiến hành thực hiện các nhiệm vụ của đề tài một cách thuận lợi

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích dựa trên nguồn t liệu

chính là tổng tập Kho tàng ca dao ngời Việt (2 tập) do Nguyễn Xuân Kính,

Phan Đăng Nhật chủ biên(2001), NXB Văn hoá - thông tin, Hà Nội.

4 Lịch sử vấn đề

4.1 Những công trình nghiên cứu về thiên nhiên, thực vật trong ca dao

Lịch sử nghiên cứu về ca dao có các cấp độ khác nhau vì đây là thể loạivăn học dân gian đợc nhiều ngời quan tâm, chọn làm đối tợng tìm hiểu Chúng

ta có thể kể ra nhiều công trình nghiên cứu về Kho tàng ca dao ngời Việt dớigóc độ: văn học dân gian, văn hoá, thi pháp, ngôn ngữ- văn hoá… Tuy nhiên,chúng tôi quan tâm hơn cả đến những đề tài, những công trình nghiên cứu liênquan đến thiên nhiên, thế giới thực vật trong ca dao… và có những thống kêsơ lợc nh sau:

Năm 1978, Vũ Ngọc Phan nhận xét trong cuốn Tục ngữ, ca dao, dân caViệt Nam rằng: “nhân dân mợn những vật vô tri để nói lên tâm sự mình, mợnnhững chim muông, cho nó tính ngời, và mợn cả một số cây để ví với ngời

Trang 6

này ngời nọ” [41,71] … “Những cây lan, huệ, trúc, đào, liễu, mận, mai trongvăn học dân gian đều là những hình ảnh để ngời phụ nữ trẻ trung gửi gắm tâm

sự của mình, liên hệ đến số phận của mình” [41,73]

Năm 1992, trong Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính phân loại các

biểu tợng trong ca dao trên cơ sở sự phong phú đa dạng của hiện thực kháchquan Theo tác giả, bên cạnh các biểu tợng đợc hình thành bởi thế giới các vậtthể nhân tạo còn có biểu tợng gắn kết với thế giới các hiện tợng thiên nhiên, tựnhiên, đó là: các hiện tợng tự nhiên (trăng, sao, mây, gió…), thế giới thực vật(cỏ, cây, hoa, lá), thế giới động vật (rồng, phợng, chim muông…) [32,310].Tác giả đã phân tích sự so sánh với lối cảm thụ của văn chơng bác học để lýgiải tầng ngữ nghĩa đa dạng của biểu tợng thơ ca dân gian

Năm 1998, trong Những thế giới nghệ thuật ca dao của Phạm Thu Yến,thiên nhiên đợc miêu tả mang chức năng nghệ thuật rõ nét: khi là “một khônggian nghệ thuật đầy gợi cảm: một đêm trăng sáng, cánh đồng lúa chín, rặngtre, con đò, bến sông, cầu ao…”, và có lúc là “đối tợng rất cần thiết giúp conngời biểu thị tình cảm” [53,121]

Năm 2000, Nguyễn Phơng Châm có bài viết về Biểu tợng hoa sen trongvăn hoá Việt Nam, trong đó đã dẫn ra nhiều ví dụ là các bài ca dao tiêu biểu

về hoa sen để phân tích Tác giả chỉ ra nghĩa biểu tợng gần gũi nhất của sentrong ca dao là biểu tợng cho sự trong sạch, thanh cao, cho sự thẳng thắn vơnlên

Năm 2001, Nguyễn Phơng Châm lại có các bài viết về Biểu tợng hoa

đào, hoa hồng trong ca dao Đến năm 2002, Đỗ Thị Hoà có bài viết Vài nétbiểu tợng hoa trong ca dao ngời Việt Tác giả đã khảo sát 11.825 lời ca daotrong Kho tàng ca dao ngời Việt và thống kê đợc 295 lời ca có hình ảnh hoa,trong đó chỉ có một số trờng hợp từ hoa xuất hiện với nghĩa gốc, quan trọnghơn, hoa đã trở thành biểu tợng nghệ thuật Tác giả đã chỉ ra các ý nghĩa biểutrng của từ ngữ chỉ hoa trong ca dao là: biểu trng cho cái đẹp, cho con ngời cóphẩm chất đạo đức đẹp đẽ, cho tình yêu, cho tính nữ…

Năm 2003, Nguyễn Phơng Châm có bài nghiên cứu Vài nhận thức vềbiểu tợng thực vật trong ca dao ngời Việt Tác giả nhận định rằng: “Thiênnhiên nói chung và cỏ cây hoa lá nói riêng tràn ngập trong ca dao và làm chonhững lời ca dao trở nên mềm mại, bay bổng, xanh ngát tình đời” [7,52] Bài

Trang 7

viết đã cung cấp chúng tôi những định hớng, chỉ dẫn quan trọng khi bắt tayvào tìm hiểu, nghiên cứu đề tài.

Năm 2006, Đặng Thị Diệu Trang bảo vệ luận án tiến sĩ Thiên nhiên trong cadao trữ tình đồng bằng Bắc Bộ Trong đó, tác giả đã đề cập đến hình tợngthiên nhiên thực vật với một bảng thống kê công phu tên gọi các loài cây cỏxuất hiện trong ca dao trữ tình đồng bằng Bắc Bộ và có những phân tích, đánhgiá khá thoả đáng

Nh vậy, có thể khẳng định rằng: Thiên nhiên nói chung, thế giới thựcvật nói riêng trong ca dao đã là những đề tài nghiên cứu đợc các tác giả củanhiều công trình khoa học đề cập đến ở một số khía cạnh khác nhau Dù ở góc

độ nào, xu hớng nghiên cứu chung vẫn là những vấn đề xoay quanh mối quan

hệ giữa thiên nhiên, cỏ cây hoa lá… với con ngời; những nhận thức của conngời đối với chúng và cả sự tác động, ảnh hởng của các yếu tố đó trong đờisống, sinh hoạt của con ngời

Tuy nhiên, các công trình, bài viết trên cha tìm hiểu một cách đầy đủ

và cụ thể về các loài cây cỏ, hoa lá xuất hiện trong Kho tàng ca dao ngời Việt.Vì thế, đề tài của chúng tôi là sự kế tục những kết quả nghiên cứu của các bậctiền bối Đó là những nguồn t liệu có giá trị để chúng tôi hoàn thành đề tài: tr-ờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao ngời Việt

4.2 Những nghiên cứu về trờng từ vựng và trờng thực vật“ ”

GS Đỗ Hữu Châu đã công bố nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về

hệ thống từ vựng và về trờng từ vựng

Năm 1973, tác giả đã có Trờng từ vựng và hiện tợng đồng nghĩa, trái nghĩa Năm 1975, ông trình bày cụ thể về khái niệm “Trờng” và việc nghiên cứu từvựng Đây là những bài viết quan trọng, là cơ sở lý thuyết căn bản cho đề tàicủa chúng tôi Ngoài ra, chúng tôi còn căn cứ vào những nội dung cơ bảntrong cuốn Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt (in lần thứ 2, 1996) để có đợckhung lý thuyết vựng chắc cho đề tài này

ở Việt Nam, đã có một số trờng từ vựng-ngữ nghĩa đợc nghiên cứu vớinhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, thể hiện qua những công trình sau:

Trang 8

Luận án PTS Trờng từ vựng tên gọi bộ phận cơ thể ngời của Nguyễn

Đức Tồn năm 1988 Năm 1996, Nguyễn Thuý Khanh hoàn thành luận án PTS

Đặc điểm Trờng từ vựng- ngữ nghĩa tên gọi động vật

Năm 1999, Đinh Thị Oanh bảo vệ luận văn thạc sĩ Cấu trúc ngữ nghĩacủa vị từ thuộc trờng “thực vật” nhằm chỉ rõ đặc điểm và cấu trúc ngữ nghĩahoặc sự chuyển nghĩa của các vị từ thuộc trờng thực vật

Năm 2002, Nguyễn Đức Tồn xuất bản công trình Tìm hiểu đặc trng vănhoá- dân tộc của ngôn ngữ và t duy ở ngời Việt (trong sự so sánh với nhữngdân tộc khác) Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa củatrờng tên gọi thực vật ( chơng thứ tám) Trong đó, tác giả đã trình bày cụ thể,chi tiết về cấu trúc ngữ nghĩa của trờng từ vựng chỉ thực vật, sự chuyển nghĩa

và ý nghĩa biểu trng của một số từ ngữ thực vật

Đề tài của chúng tôi đi sâu tìm hiểu Trờng từ vựng tên gọi các loài câytrong ca dao Việt Nam là sự tiếp tục, phát triển và hoàn thiện dần về việcnghiên cứu các trờng từ vựng tiêu biểu

Chúng tôi còn phân tích đặc trng cấu trúc của các từ ngữ để tìm ra nétnghĩa biểu vật của chúng Trên cơ sở đó, chúng tôi phân lập và miêu tả cáccấu trúc ngữ nghĩa

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp khác nh:

- Phơng pháp so sánh, đối chiếu

Trang 9

- Phơng pháp thí nghiệm liên tởng

- Phơng pháp quy nạp, diễn dịch, phơng pháp hệ thống… ợc sử dụng để( đ

xử lý ngữ liệu và lý giải ngữ nghĩa)

- Vận dụng cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ- văn học- văn hoá

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chơng:

Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết chung

Chơng 2: Đặc điểm cấu tạo của trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca daoChơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao

Ngoài ra, luận văn còn cung cấp một th mục tài liệu tham khảo giúp

ng-ời đọc có cơ sở tra cứu khi cần thiết

Ch ơng 1 : những vấn đề lý thuyết chung 1.1 Khái niệm về trờng từ vựng

1.1.1 Trờng là một khái niệm đợc dùng với nhiều nghĩa Ngoài các

nghĩa thông dụng nh trờng đua, trờng bắn, quảng trờng (chỉ khoảng đất rộng

và bằng phẳng, chuyên dùng làm nơi tiến hành một loại hoạt động nhất định

Trang 10

có đông ngời tham gia) hay trờng quốc tế, trờng ngôn luận, trờng danh lợi (chỉnơi diễn ra các hoạt động xã hội, chính trị sôi nổi ), còn có nghĩa các nghĩachuyên môn trong toán học, vật lý học, sinh học, tin học, ngôn ngữ học [43,1057]

1.1.2 Trong từ vựng học, ở nớc ta hiện nay có ba thuật ngữ: trờng từ

vựng- ngữ nghĩa, trờng nghĩa, trờng từ vựng cùng chỉ chung một khái niệm.Tuy nhiên, ở nớc ngoài và có một số học giả Việt Nam gần đây lại có chủ tr-

ơng phân biệt trờng nghĩa với trờng từ vựng Theo họ, trờng nghĩa là tập hợp

từ đồng nhất với ngữ nghĩa

Chúng tôi chọn thuật ngữ trờng từ vựng theo quan điểm của G.S ĐỗHữu Châu trong cuốn Từ vựng- ngữ nghĩa tiếng Việt làm cơ sở lý thuyết cho

đề tài này

Trong thực tế, vốn từ của một ngôn ngữ thờng quá lớn và quá phức tạpnên những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng không hiện ra một cách trực tiếpgiữa các từ lựa chọn một cách ngẫu nhiên GS Đỗ Hữu Châu khẳng định rằng:

Những quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt đ

đúng là các ý nghĩa của từ ) vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống chứa chúng” [11, 171] Từ đó, GS

nêu ra định nghĩa: Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa đợc gọi là một trờng nghĩa.

Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa

Khái niệm trờng nghĩa ở đây theo chúng tôi là thống nhất với khái niệmtrờng từ vựng Trờng từ vựng (hay trờng nghĩa) là một tập hợp từ theo các tiêuchí về nghĩa Theo cách hiểu này, có thể hiện coi trờng từ vựng là các tập hợp

từ nh: các từ đồng nghĩa, trái nghĩa của một từ, các từ cùng phát sinh từ một từ

gốc Đó là một tập hợp gồm những đối tợng có một đặc trng chung về nghĩa.

Tuy nhiên, các từ trong một trờng từ vựng có thể có hơn một nét nghĩa chung.Càng có nhiều nét nghĩa chung, trờng từ vựng càng hẹp

1.1.3 Cơ sở của trờng từ vựng là tính hệ thống của từ vựng về mặt ngữ

nghĩa Từ vựng là một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống Một tiểu hệ thống lạichia thành nhiều hệ thống nhỏ hơn Mỗi tiểu hệ thống, mỗi hệ thống nh trongmột tiểu hệ thống đều làm thành một trờng từ vựng Ví dụ: trờng từ vựng “ng-

Trang 11

ời” bao gồm các trờng nhỏ: ngời nói chung, bộ phận cơ thể con ngời, hoạt

động của con ngời, tính chất con ngời, trạng thái con ngời… Mỗi trờng từvựng trên lại bao gồm nhiều trờng từ vựng nhỏ hơn Nh trờng “hoạt động củacon ngời” bao gồm các trờng nhỏ:

- Hoạt động trí tuệ: nghĩ, suy nghĩ, suy, ngẫm, nghiền ngẫm, phán đoán,phân tích, tổng hợp, kết luận…

- Hoạt động của các giác quan để cảm giác: nhìn, trông, thấy, ngó, ngửi,nếm, sờ…

- Hoạt động của con ngời tác động đến đối tợng:

+ Hoạt động của đầu: húc, đội…

+ Hoạt động của tay: túm, nắm, xé, chặt, cắt…

+ Hoạt động của chân: đá, đạp, giẫm, xéo…

- Hoạt động dời chỗ: đi, chạy, nhảy, trờn, di chuyển, vận chuyển…

- Hoạt động thay đổi t thế: đứng, ngồi, cúi, lom khom, nghiêng…

1.1.4 Phân loại trờng từ vựng

Từ hai dạng quan hệ là quan hệ ngang và quan hệ dọc mà F.de.Saussurechỉ ra trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cơng”, GS Đỗ Hữu Châu đã phânchia ra hai loại trờng:

- Trờng nghĩa dọc (trờng nghĩa trực tuyến)

- Trờng nghĩa ngang (trờng nghĩa tuyến tính)

1.1.4.1 Trờng nghĩa trực tuyến

Cơ sở để phân lập trờng trực tuyến là căn cứ vào hai thành phần ý nghĩa:

ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm Và theo GS Đỗ Hữu Châu, có thể phân

ra hai trờng nghĩa: trờng biểu vật và trờng biểu niệm

+ Trờng biểu vật là một tập hợp những từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vậtnào đó

Để xác lập một trờng biểu vật, chúng ta có thể chọn một danh từ rồi tìmtất cả các từ là danh từ, động từ, tính từ cùng chung ý nghĩa biểu vật với từ đó

Trang 12

Ví dụ: Chọn danh từ “ngời”, ta có thể tìm đợc các từ cùng trờng biểu vật

1.1.4.2 Trờng tuyến tính

Về khái niệm trờng tuyến tính, GS Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa: “Tậphợp tất cả các từ cùng xuất hiện với từ trung tâm theo quan hệ ngang trong câu

lập thành trờng hình tuyến của từ đó” [11, 3417] Và tác giả đã chỉ rõ: Để

lập nên các trờng nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kếp hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính( cụm từ, câu) chấp nhận đợc trong ngôn ngữ”[11, 188]

GS Đỗ Hữu Châu cho rằng,“cần xác định các từ trung tâm cho một ờng tuyến tính”, và không chỉ riêng các vị từ mà "ca dao"các danh từ vẫn cóthể chọn làm trung tâm, miễn là chúng ta đa vào trờng tuyến tính của chúngnhững từ phù hợp với bộ phận lệ thuộc của chúng” [11,257]

tr-Ví dụ 1: Nếu chọn “lúa” là từ trung tâm thì trờng tuyến tính của từ này

sẽ là: cày, bừa, cấy, gặt, lợm, tuốt, cời, lốp, bạc lạc,nghẹn đòng, vàng lụi…

Trang 13

Ví dụ 2: Nếu chọn “chặt” là từ trung tâm thì trờng tuyến tính của từ này

sẽ là: cây, cành, củi, xơng, đứt, không đứt…

Nhng để tránh sự hiểu lầm cho rằng sự xác lập một trờng tuyến tính là

sự phân loại từ, trong cuốn “Ngữ nghĩa học từ vựng”, GS Đỗ Hữu Châu đã chỉ

ra và khẳng định nguyên tắc xác lập các trờng tuyến tính là: các từ thành mộttrờng tuyến tính với một từ trung tâm nào đó là các từ thoả mãn ba điều kiệnsau:

(1) Thoả mãn những yêu cầu các quan hệ giữa các nét nghĩa trong một từ (2) Phù hợp với những nét nghĩa biểu vật ( những nét nghĩa hạn chế biểuvật) của từ đang xem xét

(3)Phù hợp với yêu cầu của nét nghĩa tận cùng của từ

Nói cách khác, các từ đi với một từ nào đấy nếu càng gần với các nétnghĩa tận cùng thì càng gần trung tâm của trờng tuyến tính của một từ

Nh vậy, để xác lập một trờng tuyến tính, chúng ta phải dựa hẳn vào cấutrúc ngữ nghĩa của các từ Cùng với trờng nghĩa trực tuyến, trờng nghĩa tuyếntính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ, pháthiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ

Vận dụng quan điểm về trờng từ vựng (trờng nghĩa) và sự phân chia,phân lập trờng nghĩa, chúng tôi sẽ xác lập và phân loại trờng từ vựng tên gọicác loài cây trong ca dao Việt Nam theo những tiêu chí ngữ nghĩa nêu trên

1.2 Ca dao Việt Nam và thế giới thực vật trong ca dao

1.2.1 Việc sử dụng thuật ngữ “ca dao” xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ

XVIII- đầu thế kỷ XIX để chỉ những câu hát thôn dã đã đợc các nhà Nho sutầm, biên soạn thành sách Dần dần, thuật ngữ này đợc dùng rộng rãi và nócũng đợc tầng lớp trí thức tân học dùng chữ Quốc ngữ sử dụng với nội dung lànhững câu hát thôn dã trữ tình

Cũng nh việc định nghĩa nhiều thuật ngữ khoa học nh “thần thoại”, “sửthi”…, thuật ngữ “ca dao” cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau song cácnhà nghiên cứu thờng thống nhất rằng: ca dao là một thể thơ dân gian đợc dânchúng sáng tác theo thể lục bát trữ tình là chủ yếu Trong cuốn “Từ điển tiếngViệt” của Hoàng Phê, mục từ “ca dao” ghi:

Trang 14

(1) Thơ ca dân gian truyền miệng dới hình thức những câu hát, khôngtheo những điệu nhất định

(2) Thể loại văn vần, thờng làm theo thể lục bát, có hình thức giống nh

ca dao cổ truyền

[43,98] Trớc khi có thuật ngữ "ca dao", đã từng tồn tại trong dân gian những từkhác để chỉ các hoạt động văn nghệ dân gian nh ca, hò, ví, hát, lý, ngâm, kể…

Theo Cao Huy Đỉnh, dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam “dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam

đã ra đời rất sớm, và ở thời đại đồ đồng, chắc nó đã phồn thịnh và phức tạp Trình độ sáng tác và biểu diễn cũng tơng đối cao, nghệ sĩ cùng ra đời với ca công và nhạc cụ tinh tế” [20,81]

Lại có ý kiến cho rằng: “ Do sự phát triển chung của văn học dân tộc vàvăn học dân gian có hoạt động ca hát dân gian có tác động đến các nhà Nho

mà trong đó nhiều ngời đã từng qua "cửa Khổng, sân Trình” nên họ có xu ớng ghi chép lại lời ca đó vào sách vở và đặt tên cho nó, thởng thức nó nh văn

h-học viết Buổi ban đầu, họ “lấy từ chữ dùng thập ngữ quốc phong “dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam ” của Kinh

Thi mà đặt ra tên gọi hàng loạt các từ đổi lấy từ phong “dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam ” làm gốc: nam phong,

quốc phong, phong sử, quan phong, phong thi, phong ca… Và tên gọi trực tiếphoàn chỉnh các thứ phong đó là phong dao Phong dao không ghi lại toàn bộkho tàng ca hò hát ví theo quan niện của dân tộc mà đó là kết quả sự lựa chọncác loại ca hò hát ví theo quan niện của các nhà nho…” ( Phan Đăng Nhật, tr91-98) Họ thờng thiên về phong tục địa phơng và tính chất giáo dục Từ côngviệc đó của các nhà nho, nhiều nhà nghiên cứu về sau đã lu ý hơn đến khotàng ca hò ví hát dân gian và ghi chép, biên soạn lại một cách hệ thống hơn

Và cũng từ đó, tên gọi ca dao với nội hàm rộng hơn, phạm vi phản ánh đadạng hơn đã đợc sử dụng rộng rãi thay cho tên gọi phong dao Sau một thờigian, tên gọi phong dao đã hoàn toàn vắng mặt, nhờng chỗ cho tên gọi ca dao.Thuật ngữ "ca dao" đợc sử dụng phổ biến chỉ một thể hiện thơ dân gian chủyếu là trữ tình theo thể lục bát và một số ít biến thể của nó

Thuật ngữ ca dao đã nhanh chóng phổ cập và đợc hiểu là "câu hát dângian không có điệu, không theo một nhịp điệu nhất định” Tuy nhiên, các nhànghiên cứu vẫn cho rằng…“dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam chung quanh vấn đề ca dao, hiện đ ơng có nhiều

điều cần đợc làm cho sáng tỏ, cả về học thuật cũng nh về yêu cầu nâng cao

Trang 15

chất lợng nghệ thuật và nội dung cho ca dao mới ” Trớc hết, để chọn lựa cadao từ kho tàng ca hò ví hát dân gian, cho đến nay trong giới nghiên cứu còntồn tại nhiều quan điển khác nhau nhng nhìn theo ba xu hớng sau:

(1) Ca dao gồm hầu hết các thể loại thơ ca, ca hát dân gian: các thể đồngdao, phơng ngôn, tục dao, hát trống quân, quan họ, hát huê tình, các điệu hò,

điệu lý… đều từ một gốc là ca dao, chỉ có thêm tên gọi cụ thể hơn mà thôi vàkhông bao hàm yếu tố diễn xớng

(2) Ca dao là phần tinh tuý trong kho tàng thơ ca dân gian đợc trauchuốt, chọn lọc kỹ, nó thờng là những câu, những bài hay, bóng bẩy, trữ tình

và thuần thục về ngôn từ

(3) Ca dao là những sáng tác văn chơng đợc phổ biến rộng rãi trong dânchúng, lu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bềnvững về phong cách

Trên cơ sở những căn cứ trên, chúng tôi chọn 11825 lời ca dao trongcuốn “Kho tàng ca dao ngời Việt” (Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủbiên, 2 tập, 2001, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội) làm t liệu để thống kê,tìm hiểu, phân tích

1.2.2 Thế giới thực vật trong tự nhiên và trong ca dao

1.2.2.1.Những nhận thức chung

Thiên nhiên, môi trờng gắn liền với sự phát triển trình độ văn hoá quacác giai đoạn lịch sử xã hội loài ngời Thiên nhiên là một phần quan trọng củavăn hóa con ngời bởi con ngời không cô độc trong thế giới, bao quanh con ng-

ời là thiên nhiên và những ngời khác Văn hoá dân gian là môi trờng văn hoá

có mối quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên Màu sắc thiên nhiên của cuộc sốngcon ngời nh thiên nhiên động, thực vật, thiên nhiên các hiện tợng tự nhiên,thiên nhiên các vùng địa lý sông núi ao hồ… là một trong những chất liệu tạonên giá trị nội dung và nghệ thuật của các loại hình văn hoá dân gian, đặc biệt

là văn học dân gian với các thể loại tiêu biểu: thần thoại, ngụ ngôn, ca dao,dân ca…

Nh ta đã biết, một trong những đặc điểm nổi bật của ca dao khiến cho

nó có sức truyền cảm mạnh mẽ và dễ đi vào lòng ngời là ca dao đã sử dụngnhững sự vật, hiện tợng bình thờng, quen thuộc trong đời sống hàng ngày để

Trang 16

thể hiện những t tởng, tình cảm, những tâm t, nguyện vọng của con ngời quamột lối nói giản dị, dễ thuộc, dễ nhớ… Khi đi vào trong ca dao, những sự vật,hiện tợng bình dị đó đã đợc khái quát hoá lên và trở thành các biểu tợng vớicác cách diễn đạt ngữ nghĩa có đặc thù độc đáo, riêng biệt.

Phần lớn các bài ca dao mang nghệ thuật gắn với việc miêu tả thiênnhiên Trong ca dao, thiên nhiên đợc sử dụng nh một công cụ miêu tả nhằmlàm toát lên ý nghĩa sâu sắc của nội dung từng tác phẩm Thiên nhiên trong cadao mang giá trị chuyển tải nội dung lời ca, thể hiện cuộc sống, tâm t, tìnhcảm của ngời dân lao động, làm giàu thêm chất trữ tình của lới ca dân gian.Chúng đã trở thành thế giới biểu tợng phong phú, đa dạng trong ca dao Chúngtôi, trong giới hạn, phạm vi của đề tài này, quan tâm đến biểu tợng thực vật-một hệ thống biểu tợng “tĩnh” và “hữu hình” (chữ dùng trong luận án TS “Vềbiểu tợng trong lễ hội dân gian truyền thống”- Nguyễn Văn Hậu)

Do đặc điểm của môi trờng tự nhiên mà thực vật chiếm một vị trí quantrọng đặc biệt trong đời sống, sinh hoạt, văn hoá con ngời Việt Nam Nớc tanằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên thảm thực vật phát triểnmạnh mẽ, cây cối quanh năm xanh tơi Trong cuốn “Thiên nhiên Việt Nam”,tác giả Lê Bá Thảo đã thống kê và đa ra số liệu: rừng bao phủ đến 43,8% diệntích đất nớc, ớc tính có 12.000 loài, cây trồng gồm đến hơn 200 loài (trong số

270 loài thấy có mặt ở Đông Nam á ) Trong cuốn “Đại Nam nhất chí thống”phần thổ sản, các soạn giả Viện Hán Nôm đã liệt kê đợc 44 tên giống lúa tẻ,

38 tên giống lúa nếp đợc trồng ở Việt Nam (tính đến giữa thế kỷ XIX), ngoài

ra còn 20 loại ngũ cốc, 19 loại rau, 32 loại cây cho quả…

Trong thực tế, thực vật gắn bó với con ngời Việt Nam ở mọi hoạt độngthiết yếu nhất của cuộc sống Trớc hết là những biểu hiện trong bữa ăn hàngngày: hai thành phần cơ bản không thể thiếu ở mỗi bữa ăn là cơm và rau- đều

có nguồn gốc từ thực vật Quan trọng không kém là ngôi nhà ở Thuở xa, conngời sống trong những ngôi nhà đơn sơ, giản dị đợc dựng nên bởi tranh, tre,nứa, lá…, các bức vách quanh nhà cũng đợc trộn bởi bùn non và rơm rạ đãphơi khô Rồi những mái đình, ngôi chùa - nơi sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, tínngỡng- thuở sơ khai cũng đợc xây dựng từ cây, gỗ lấy ở rừng núi làng quêthân thuộc Các bức tợng, bức tranh trng bày, thờ cúng ở những chốn linhthiêng, trang trọng ấy phần lớn cũng đợc dệt bởi cây lá quê hơng nh cây cói,

Trang 17

cây lau, cây trúc…Nh vậy, để tiến hành mọi hoạt động, ngời Việt xa đã coithế giới thực vật quanh mình là phơng tiện, là nguyên - vật liệu, cả là nhữngcông cụ khó có gì có thể thay thế Vậy mới biết thiên nhiên nói chung, thếgiới thực vật nói riêng quan trọng với ngời dân lao động Việt Nam đến nhờngnào!

Không chỉ thế, đời sống tinh thần của ngời Việt cũng mang đậm dấu ấncủa thế giới thực vật Một trong những tín ngỡng cổ sơ nhất của ngời Việt còn

đợc lu giữ đến tận ngày nay là tục thờ cây Trong đó, cây lúa là loài đợc tônsùng nhất, biểu hiện rõ nét ở một hệ thống tín ngỡng phong phú nh: thờ thầnlúa, hồn lúa, mẹ lúa… Ngoài ra, còn có một số loài cây hoa quả nh: cây cau,cây đa, cây đề, cây gạo, quả bầu, hoa sen… cũng đợc nhân dân Việt Nam đềcao, tôn thờ

Vì cả đời sống vật chất và tinh thần và tinh thần gắn bó với thực vật nhvậy nên ở con ngời Việt Nam đã hình thành một nét tâm lý đặc trng là thíchsống gần gũi, chan hoà, hớng đến sự giao hoà với thiên nhiên, hoa trái, cỏcây… Bản thân cây cỏ, hoa trái vốn chỉ có đời sống thực vật nhng đã tồn tại,

đồng hành với con ngời đất Việt từ ngàn đời, trở thành một phần không thểthiếu trong đời sống của họ Ngời dân lao động xem cỏ cây là bầu bạn, là ânnhân (vì đã mang lại biết bao giá trị cho cuộc sống con ngời) nên đã thổi linhhồn vào cỏ cây hoa trái, gửi gắn vào chúng biết bao tâm t, ớc vọng, tình cảmthiết tha Thế giới thực vật trở nên sống động, thấm đợm hồn ngời, trở thànhthế giới biểu tợng giàu ý nghĩa Đó là biểu hiện của tấm lòng tri ân, ngỡng

mộ, cả của niềm tin rằng cỏ cây hoa trái là sự kết tụ sức mạnh huyền bí của tựnhiên Nh vậy, hình ảnh cây trái đã trở thành biểu tợng của cộng đồng Đó làmột kết quả tất yếu của quá trình nhận thức tự nhiên, quá trình thích nghi, sửdụng và cả tấm lòng biết ơn vô hạn đối với thiên nhiên

Tìm hiểu về biểu tợng thực vật, tập trung ở vấn đề chỉ rõ các đặc điểmcủa trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao, chúng tôi mong muốn đisâu khám phá, lĩnh hội những biểu hiện đặc sắc của văn hoá cộng đồng dântộc Việt Chúng tôi mong muốn nhận thức đợc đời sống riêng của biểu tợngthực vật trong tâm thức ngời Việt Nam Bởi lẽ, trong thực tế, một loại thực vậtnào đó chỉ trở thành biểu tợng khi phần lớn ngời dân trong vùng miền hoặc cả

Trang 18

dân tộc có chung những nhân thức thẩm mĩ về loại thực vật đó Biểu tợng thựcvật vì thế mà có quá trình phát triển và biến đổi theo thời gian, không gian… Quan trọng hơn, qua các trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao,dựa vào tần số xuất hiện và ý nghĩa biểu tợng của mỗi loài cây, chúng ta sẽ dễdàng nhận thấy những loại cỏ cây, hoa trái nào mang tính thiêng, đợc đề cao,tôn thờ nhất Ví dụ nh: cây tre biểu trng cho sự cố kết bền vựng cũng nh tính

tự trị của làng quê Việt Nam, là biểu tợng cho lòng dũng cảm và sức sốngmãnh liệt của ngời dân Việt Nam …Hay, hoa sen biểu trng cho sự thanh cao,trong sáng, là biểu tợng thiêng của Phật giáo…

Với những ý nghĩa tiềm ẩn đó, các loài cây hoa nói trên đã trở thành cácbiểu tợng thực vật quan trọng ca dao, có mức độ phổ biến rộng rãi, đợc cộng

đồng thừa nhận, thực hành và lu truyền

1.2.2.2 Những biểu hiện cụ thể của biểu tợng thực vật trong ca dao

Ca dao là một loại hình văn học dân gian rất gần gũi và thân thuộc vớingời dân Việt Nam Thế giới các biểu tợng đợc thể hiện trong ca dao rất đadạng và phong phú Một trong những biểu tợng tiêu biểu trong ca dao là biểutợng thực vật “Thiên nhiên nói chung và cỏ cây, hoa lá nói riêng tràn ngậptrong ca dao, làm cho lời ca dao trở nên mềm mại, bay bổng, xanh ngắt tình

đời”[7,52] Vì thế, chỉ riêng tên gọi các loài cây trong ca dao đã tập hợp thànhnhững trờng từ vựng phong phú, đồ sộ, khó lòng liệt kê hết

Tuy nhiên, không phải mọi loài cây, hoa trái trong thế giới tự nhiên đềutrở thành biểu tợng trong ca dao Nh đã trình bày ở phần phân loại trờng từvựng, có hai loại trờng nhỏ thuộc trờng nghĩa trực tuyến là trờng nghĩa biểuvật và trờng nghĩa biểu niệm Trong ca dao, có một số loài cây, hoa lá chỉ xuấthiện trong vai trò gợi hứng, tạo khung cảnh, không liên quan đến nội dungchính của lời ca dao Nghĩa là, chúng chỉ đợc gọi tên hoặc mang nghĩa biểuvật, thuộc trờng nghĩa biểu vật

Đáng lu ý nhất là sự xuất hiện của các loài cây cỏ, hoa lá co ý nghĩabiểu tợng, thuộc trờng nghĩa biểu niệm và trờng tuyến tính Qua việc khảo sát,thống kê 11825 lời ca dao của công trình Kho tàng ca dao ngời Việt, chúng tôithấy có 140loài cây xuất hiện, trong đó có 12 loài cây, hoa đợc sử dụng trongvai trò là biểu tợng thực vật với tần số xuất hiện cao Cụ thể: trầu cau 293, đào

Trang 19

103, trúc mai 102, tre 76, liễu 62, đa 58, sen 55, hồng 50, nhài 36, lí 34, khế

“Những ngôn ngữ (langage) là gì? Đối với chúng tôi,nó không đồng nhất với

hoạt động ngôn ngữ (langue); nó chỉ là một bộ phận nhất định của hoạt động ngôn ngữ, tuy là bộ phận cốt yếu Nó vừa là một sản phẩm xã hội chấp nhận,

để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực ngôn ngữ, vừa là một hợp thể gồm những quy ớc tất yếu đợc tập thể xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này …” [45, 30] Ông còn phân biệt ngôn ngữ với lời nói ở

nhiều mặt và kết luận: Ngôn ngữ mang tính xã hội, mang tính chất chung, trừutợng và đợc quan niệm nh là cỗ máy, bao gồm các đơn vị, quan hệ giữa các

đơn vị và mạng lới cấu trúc tổng thể của các đơn vị đó Ngôn ngữ chính là mộtkho tàng đợc thực tiễn nói năng của những ngời cùng thuộc một cộng đồngngôn ngữ lu lại, nó không có mặt đầy đủ trong một ngời nào mà chỉ tồn tạitrọn vẹn trong quần chúng Ngôn ngữ là một hệ thống đơn vị vật chất phục vụcho việc giao tiếp giữa ngời với ngời Nó đợc phản ánh trong ý thức của tậpthể và trừu tợng khỏi những t tởng, tình cảm của mỗi cá nhân Tuy nhiên,ngôn ngữ và lời nói vẫn là khái niệm có mối quan hệ mật thiết với nhau, vìngôn ngữ là cái có tính chất xã hội nhng luôn bao hàm cái có tính chất xã hộinhng luôn bao hàm cái có tính chất cá nhân, có thể thì chúng mới thực hiện đ-

ợc chức năng giao tiếp Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp ở khả năng tiềmtàng, còn lời nói là phơng tiện ở dạng hiện thực hoá Mối quan hệ giữa ngônngữ và lời nói, tựu trung lại là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữatrừu tợng và cái cụ thể, giữa cái mang tính xã hội và cái mang tính cá nhân

Nh vậy, ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngời

và xã hội loài ngời, nếu nh không có xã hội tất yếu sẽ không có ngôn ngữ, vàngợc lại Ngôn ngữ là phơng tiện, cũng là đối tợng nghiên cứu của nhiềungành khoa học khác nhau nh tâm lý học, sinh lý học, vật lý học, toán học vàlogic học… Ngôn ngữ là khoa học về ngôn ngữ, có chức năng phân tích, tìmhiểu về bản chất xã hội, có chức năng và cấu trúc bên trong của ngôn ngữ…

Trang 20

Chúng tôi ủng hộ và đánh giá cao những kết luận của GS.TS Nguyễn

Nhã Bản: “Ngôn ngữ hình thành từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, đợc tích luỹ,

tàng trữ hàng ngàn năm chính là điều kiện giúp cho xã hội phát triển Hơn thế trong thời đại ngày nay, chính ngôn ngữ là chiếc cầu nối dính, bắc qua các dân tộc, xã hội khác nhau trên thế giới Hay nói khác đi, ngôn ngữ vừa là tiền

đề vừa là kết quả của sự phát triển xã hội ” [1,9]

Tác giả Nguyễn Nhã Bản đã phân tích, chỉ ra những biểu hiện làm rõ:ngôn ngữ là một hiện tợng xã hội Bản chất xã hội của ngôn ngữ hiện ra rõnhất khi so sánh âm thanh ngôn ngữ với tín hiệu âm thanh động vật Ngôn ngữchỉ đợc sinh ra và phát triển trong xã hội loài ngời và xuất phát từ nhu cầugiao tiếp giữa ngời với ngời Khi tách con ngời ra khởi cộng đồng xã hội, nếukhông đợc trao đổi, nói năng trong một thời gian dài, con ngời cũng mất luôn

ngôn ngữ Tiếng nói là một di sản của tập thể, có tính chất thuần tuý lịch sử, “dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam một sản phẩm của tập quán lâu đời của xã hội” (E.Sapir) Quan trọng hơn,

ngôn ngữ là hiện tợng xã hội đặc biệt, khác hẳn với các hiện tợng xã hội khác

nh chính trị, pháp luật, văn hoá, nghệ thuật… Ngôn ngữ không mang tính giaicấp, không thuộc thợng tầng kiến trúc hay hạ tầng cơ sở Nó là sản phẩm củatập thể, tài sản xã hội; nó phục vụ cho cho mọi giai cấp, là công cụ giao tiếpcho mọi ngời

Ngôn ngữ có nhiều chức năng, trong đó có hai chức năng cơ bản nhất làchức năng giao tiếp và chức năng phản ánh V.B Kasevich viết: “Chức nănggiao tiếp là chức năng thứ nhất, còn chức năng phản ánh là thứ hai, đồng thờicả hai chức năng này đều có liên hệ chặt chẽ với nhau”

Từ những nội dung trên, chúng ta có thể mợn ý kiến của V.I Lênin đểkhẳng định rằng: “Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của conngời” Ngôn ngữ cũng là công cụ phản ánh và truyền đạt t tởng, đúng nh kếtluận của C.Mác: “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của t tởng”

1.3.2 Về thuật ngữ văn hoá

Cho đến nay, trên thế giới, ngời ta đã có nhiều định nghĩa khác nhau vềvăn hoá Sở dĩ có hiện tợng nh vậy là do tính đa diện của chính văn hoá Đồngthời, các nhà nghiên cứu thờng tách ra t văn hoá những mặt khác nhau phùhợp với mục đích nghiên cứu riêng của mình Ta cũng có thể đa ra khái niệmvăn hoá dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau

Trang 21

Nếu xét về nguồn gốc, xuất xứ tên gọi, chúng ta có thể thấy rằng: vốn dĩthuật ngữ văn hoá có từ châu Âu để dịch từ culture của tiếng Anh, tiếng Pháp

và từ kultur của tiếng Đức Những từ này bắt nguồn từ chữ Latinh cultus vớinghĩa gốc là trồng trọt (đợc dùng theo hai nghĩa cultus agri là “trồng trọtngoài đồng” và cultus animi là “trồng trọt tinh thần”, tức là sự giáo dục, bồi d-ỡng tâm hồn con ngời)

Nh vậy, nếu xét theo nghĩa gốc, văn hóa gắn liền với giáo dục, đào tạocon ngời, một tập thể con ngời để cho họ có đợc những phẩm chất tốt đẹp, cầnthiết cho toàn thể cộng đồng Nhà nghiên cứu Phan Ngọc lại giải thích thuậtngữ này dựa vào ngôn ngữ phơng Đông, cụ thể là tiếng Hán Theo hớng tìmhiểu này, ta thấy: nghĩa gốc của “văn” là cái đẹp do màu sắc tạo ra Từ nghĩanay, suy rộng ra, “văn” có nghĩa là hình thức đẹp đẽ, biểu hiện trong lễ, nhạc,cách cai trị, đặc biệt trong ngôn ngữ, c xử lịch sự Nó biểu hiện thành một hệthống quy tắc ứng xử đợc xem là đẹp đẽ “Văn” do đó, trở thành một yếu tốthen chốt của chính trị và lý luận, thu hút những ngời dị tộc theo ngời Hánbằng chính cái văn của nó Từ những nghiên cứu thú vị đó, tác giả cuốn sách

Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới đa ra thuật ngữ: Văn hoá là mối “dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam quan hệ giữa thế giới biểu tợng trong óc một cá nhân hay một tộc ngời với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân hay tộc ngời này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tợng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc ngời, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc ngời khác ” [37, 17]

Đồng tình với quan điểm trên, tác giả Trần Ngọc thêm đã đa ra định

nghĩa: Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do “dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam con ngời sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự t-

ơng tác giữa con ngời giữa môi trờng tự nhiên và xã hội của mình” [47, 27]

Chúng tôi nhận thức văn hóa trên cơ sở tiếp thu nhiều ý kiến, nhiềuquan niệm, trong đó cách định nghĩa của Bách khoa toàn th Liên Xô đã gợi

mở ra nhiều hớng suy nghĩ “Khái niệm văn hoá dùng để chỉ trình độ pháttriển về vật chất và tinh thần của những xã hội, dân tộc, họ tộc cụ thể (thí dụvăn hoá cổ, văn hoá Maya, văn hóa Trung Quốc…) Theo nghĩa hẹp, văn hoá

Trang 22

chỉ liên quan tới đời sống tinh thần của con ngời.” (Dẫn theo Nguyễn NhãBản)

Nh vậy, hiện tợng văn hoá bao gồm hai nguyên tố: văn hóa vật chất vàvăn hoá tinh thần Văn hoá vật chất có thể đợc hiểu là toàn bộ những kết quảvật chất “nhìn thấy đợc” của lao động con ngời Còn, văn hoá tinh thần là sựsản xuất, phân phối và tiêu dùng các giá trị tinh thần (nói theo thuật ngữ củachính trị, kinh tế học) Với t cách là một hiện tợng xã hội, bao gồm những giátrị vật chất và tinh thần, văn hóa đã và đang đợc một cộng đồng ngời tích luỹ

Nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành từng cá nhân con ngời riênglẻ

Trong mối quan hệ với con ngời, văn hoá chia ra hai loại: văn hoá xãhội và văn hoá cá nhân UNESCO xác định: “Văn hoá hôm nay có thể coi làmột tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảmquyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngời trong xã hội.Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chơng, những lối sống, những quyền cơbản của con ngời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ng-ỡng Văn hoá đem lại cho con ngời khả năng suy xét về bản thân Chính vănhoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính,

có óc phân thân và dẫn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hoá mà con ngời

tự thể hiện, tự ý thức đợc bản thân, tự biến mình là một phơng án cha hoànthành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệtmỏi những ý nghĩa mới mẻ và tạo nên những công trình vợt trội lên bản thân” Nghiên cứu về văn hoá, tác giả Phan Ngọc còn chỉ ra… dân tộc nào “dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam cũng có văn hoá, bất kỳ cái gì ta hình dung cũng có mặt văn hoá, dù đó là cây cối, khí trời đến phong tục, cách tổ chức xã hội, các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, các sản phẩm của các hoạt động ấy” [37,14]

ý kiến trên đề cập đến một vấn đền quan trọng: đặc trng dân tộc củavăn hoá Nh ta đã biết, cả nhân loại nói bằng một “ngôn ngữ” nhng mỗi dântộc lại có ngôn ngữ riêng của mình, chính điều này đã tạo ra văn hoá cục bộ(cách nói của Nguyễn Đức Tồn, 49) Đặc điểm dân tộc của một nền văn hoáchỉ đợc nhận thấy trong quá trình trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các đạidiện thực những nền văn hoá cục bộ khác nhau “Chỉ có sự tiếp xúc với nền

Trang 23

văn hoá khác, so sánh cái của mình với cái của ngời khác mới cho phép coinhững yếu tố nào đó của một nền văn hoá có địa vị đặc trng khác biệt”

Khi bàn đến vấn đề trên, nhiều công trình nghiên cứu đã phân biệt haithuật ngữ văn hoá và văn minh Văn minh liên quan đến mặt động, sự tác

động của con ngời với thế giới tự nhiên, cải tạo và phát triển chúng Trên thực

tế, có những dân tộc có trình độ văn minh cao nhng có thể có nền văn hoá thấp

và có đất nớc lạc hậu lại có nền văn hoá cao Nh vậy, đặc trng văn hoá có tínhdân tộc, còn văn minh lại mang tính quốc tế Văn hoá và văn minh còn khácnhau ở tính lịch sử Trong khi văn hoá có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ

là một lát cắt đồng đại, nó chỉ cho biết trình độ phát triển của văn hoá…

Sự giao lu, tiếp xúc văn hoá là cần thiết, trọng yếu vì nó đã kéo dần cácdân tộc, đất nớc xích lại giần nhau Và, tiếp xúc văn hoá vừa là kết quả của sựtrao đổi, giao lu lại vừa chính là bản thân sự trao đổi, giao tiếp

Tựu trung lại, văn hoá là tất cả những gì con ngời sáng tạo ra, khác hẳnvới những gì do thiên nhiên cung cấp Vì lẽ sinh tồn cũng nh mục đích cuộcsống, loài ngời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,pháp luật, tôn giáo, văn học, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc,

ăn, ở và các phơng thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo, phát minh đó chính

là văn hoá Trong đó, ngôn ngữ và chữ viết đợc coi là những yếu tố hàng đầucuả văn hóa

1.3.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận rằng giữa ngôn ngữ và văn hoá, ngônngữ dân tộc và văn hoá dân tộc, có mỗi quan hệ gắn bó mật thiết với nhau;chúng phát triển trong sự tác động qua lại lẫn nhau Mối quan hệ giữa ngônngữ và văn hoá đợc đề cập tới từ cuối thế kỷ XIX, bắt đầu từ công trình củanhà ngôn ngữ học ngời Đức W.V.Humboldt

Nhìn chung về nguyên tắc, hoạt động ngôn ngữ cũng nh hoạt động vănhoá là một hoạt động tinh thần, cả hai đều giúp cho xã hội phát triển Ngônngữ là phơng tiện, cầu nối mở rộng giao lu trao đổi, hiểu biết về văn hoá giữacác cộng đồng ngời Ngôn ngữ là phơng tiện và cũng là tiền đề giúp cho vănhoá phát triển

Trang 24

Trong nhân chủng học xã hội, ngôn ngữ đợc xem nh một yếu tố hay bộphận hữu cơ của văn hoá Đồng thời, trong ngôn ngữ học thế giới có một xu h-ớng phổ biến là nghiên cứu văn hoá tơng tự nh nghiên cứu ngôn ngữ Khuynhhớng áp dụng các nguyên tắc và phơng pháp của ngôn ngữ và nghiên cứu vănhoá nh thế gọi là ngữ nghĩa dân tộc học Các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều

đến nội dung – ngữ nghĩa xét trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hoá - ttởng Bức tranh ngữ nghĩa – văn hoá của từng cộng đồng ngời, tức là “môhình thế giới”, “bức tranh thế giới”, “sự phân cắt thế giới” đợc phân chia khácnhau giữa các dân tộc và ngay trong cùng một cộng động ngời

Trong quá trình phát triển ngôn ngữ dân tộc và văn hoá dân tộc luôn luôn

n-ơng tựa lẫn nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngợc lại “Quan niệm củamỗi dân tộc về thế giới đợc khúc xạ độc đáo trong bức tranh ngôn ngữ củamình Bức tranh ngôn ngữ ấy lại có ảnh hởng trở lại đến sự tri gác đặc thù đốivới hiện thực của những ngời thuộc cộng đồng văn hoá- ngôn ngữ tơng ứng”[1,133]

Tuy nhiên, ngôn ngữ vẫn là thành tố độc lập của văn hoá, chiếm vị trí

đặc biệt trong nền văn hoá dân tộc Có thể xem ngôn ngữ là một trong nhữngthành tố đặc biệt nhất, rõ ràng nhất của bất kỳ nền văn hoá nào Ngôn ngữ làchỗ lu giữ và thể hiện rất rõ đặc điểm của văn hoá Đó là biểu hiện cho chứcnăng lu trữ của ngữ nghĩa

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ đợc đề cập tới từ cuối thế kỷ XIX, và đợcnhiều học giả quan tâm thực sự, tiến đến nghiên cứu và xây dựng đợc khung

lý thuyết tơng đối hoàn chỉnh với việc phân xuất ra hàng loạt đặc điểm củavăn hoá và cách thức diễn đạt văn hoá qua ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ… Đó

là những tiền đề trực tiếp dẫn đến sự ra đời của ngành khoa học nghiên cứu vềvăn hoá và ngữ văn học mang tên: ngôn ngữ - văn hoá học

Đây là một bộ phận mang tính tổng hợp, liên ngành Mục tiêu cơ bảncủa bộ môn này là khảo sát mối quan hệ qua lại, tơng tác giữa văn hoá vàngôn ngữ trong quá trình phát triển và hành chức của ngôn ngữ, lý giải mốiquan hệ đó một cách hệ thống Việc làm sáng tỏ mối quan hệ mật thiết, đanxem giữa ngôn ngữ và văn hoá trong quá trình phát triển và hành chức củangôn ngữ (trong đó ngôn ngữ không chỉ là thành tố hàng đầu, mà còn là ph-

ơng tiện để lu giữ và chuyển tải văn hoá) là việc làm có giá trị sâu sắc về nhận

Trang 25

thức, triết học và ngữ dụng Nhận thức đợc cái tâm thức biểu hiện rõ trong tâmtrí và trí tuệ con ngời sẽ giúp ta lý giải đợc những hiện tợng cụ thể trong cáchhành xử, thái độ của con ngời ở các hoạt động xã hội nh lao động sản xuất,các nghi thức trong lễ hội…

ở những giai đoạn đầu, ngôn ngữ - văn hoá học chú tâm vào nghiên cứu vàphân tích hệ thống từ vựng của ngôn ngữ để tìm kiếm cái chung, nhất là cái

đặc thù về sự tri nhận “bức tranh thế giới” đợc phản ánh trong ngôn ngữ củacác cộng đồng dân tộc khác nhau Cho đến nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ-văn hoá học đã mở rộng phạm vi nghiên cứu của mình và đã tách ra đợc nhiều

đối tợng nghiên cứu cụ thể

Nhìn chung, những vấn đề mà ngôn ngữ- văn hoá học quan tâm đều quy

tụ ở ba yếu tố: ngôn ngữ- con ngời (t duy)- văn hoá Trong bộ ba này thì conngời là yếu tố trung tâm chi phối ngôn ngữ, chi phối cả văn hoá vật chất vàvăn hoá tinh thần Và, do vị trí đặc biệt của ngôn ngữ trong văn hoá nên nhữngphơng pháp nghiên cứu ngôn ngữ- văn hoá học

1.3.4 Trầm tích văn hoá- ngôn ngữ trong ca dao

Bản thân trong ca dao, cùng các phơng tiện, phơng thức tạo nên nó cũng

là một phơng diện văn hoá Song ca dao, cũng nh tục ngữ, thành ngữ- là nhữnghình thái khác nhau của nghệ thuật ngôn từ, dùng ngôn ngữ làm phơng tiệnbiểu hiện, nên ngoài t cách là yếu tố văn hoá, nó còn có t cách là nơi lu giữ vàtàng ẩn những “trầm tích văn hoá” lâu đời của dân tộc (chữ dùng trong luận án

TS của Hoàng Thị Kim Ngọc, [39, 139]) Đó chính là “những dấu ấn, nhữngchứng tích văn hoá đợc lu giữ, tàng ẩn sâu kín, bị che lấp bởi “lớp bụi thờigian” trong những câu, những chữ mà mới xem thoáng qua không dễ gì pháthiện đợc” [39,139] Những trầm tích văn hoá ẩn tàng trong các phơng tiện vàsản phẩm của ngôn ngữ-ca dao đợc gọi là những trầm tích văn hoá- ngôn ngữ Chúng ta có thể hình dung rõ về một bức tranh toàn cảnh về văn hoá vậtchất và văn hoá tinh thần đợc biểu hiện rất sống động trong ca dao Đó là mộtthế giới hình ảnh phong phú về động vật, thực vật, cảnh vật, đồ vật… gần gũivới cuộc sống Đó còn là những cảm quan về tâm linh về tôn giáo, về tình làngnghĩa xóm… của dân tộc Việt

Trang 26

Tiểu kết:

Chúng tôi xem xét trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao từ gócnhìn ngôn ngữ-văn hoá học và nhận thấy bằng những từ ngữ chỉ cây cỏ, hoa látrong ca dao là những phơng tiện ngôn ngữ đắc dụng trong việc tạo lập lời cadao với t cách là một loại hình đơn vị đặc sắc của văn hoá Việt Nam Các loàicây, cỏ, hoa, lá đợc nhắc đến với tần số cao nh: cây tre, cây trúc, cây đa, câycau… gắn liền với không gian Việt Nam Ví dụ:

Cây đa rụng lá đầy đình Bao nhiêu lá rụng thơng mình bấy nhiêu

Nh vậy, tìm hiểu trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao, chúng

ta sẽ chỉ ra cách, lối diễn đạt ngôn từ của ngời dân lao động xa nhằm nhậnthức rõ hơn cách t duy văn hoá về thiên nhiên nói chung, về thế giới thựcvật nói riêng của ngời Việt

Trang 27

Ch ơng 2:

Đặc điểm cấu tạo của trờng từ vựng tên gọi

các loài cây trong ca dao

2.1 Khái quát về đặc điểm của định danh thực vật trong tiếng Việt

2.1.1 Những nhận định chung

Theo số liệu thống kê dựa trên cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phêchủ biên, tác giả Nguyễn Đức Tồn khẳng định có 657 tên gọi thực vật phổbiến Xét về mặt nguồn gốc, tên gọi thực vật trong tiếng Việt có ba nguồn gốc:thuần Việt, Hán Việt, ấn - Âu Bộ phận vay mợn chiếm 23.1% (152/657),trong đó tên gọi vay mợn từ tiếng Hán chiếm số lợng nhiều nhất 136/152, gồmchủ yếu là các cụm từ và từ ghép, nên đơn vị là từ đơn chiếm số lợng rất ít.Tên gọi thực vật vay mợn từ các ngôn ngữ ấn - Âu, thì chủ yếu là từ tiếngPháp (15/152) Chính các tên gọi vay mợn này đã phản ánh trung thực sự tiếpxúc, giao lu văn hoá vật chất trong lịch sử giữa ngời Việt với ngời Trung Hoa

và ngời Pháp Tên gọi thuần Việt chiếm 76.9% (505/657), chúng đã tồn tại từlâu và gắn liền với đặc diểm nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam

Xét về về kiểu ngữ nghĩa của tên gọi, trong số 641 tên gọi có nguồn gốcthuần Việt và mợn từ tiếng Hán),số tên gọi là từ đơn chiếm 30.5% (198/641)

Số đơn vị đa tiết còn lại là thuần Việt chiếm 70.5% (299/443) trong tổng số

443 tên gọi là từ đa tiết, các đơn vị đợc cấu trúc trong phơng thức láy chiếm4.3% (19/443) ví dụ: chôm chôm, bìm bìm, dành dành, chòi mòi

Những đơn vị là từ đơn và đựơc cấu tạo theo phơng thức láy chiếm 1/3

số tên gọi, chúng không thể chia cắt thành phần cấu tạo ra thành những yếu tố

có ý nghĩa đợc Có thể coi chúng là những tên gọi đợc cấu tạo theo phơng thứctổng hợp, các đơn vị còn lại từ ghép và cụm từ cố định có thể phân chia nhỏ ra

đợc các thành phần cấu tạo có ý nghĩa nên chúng đợc cấu tạo thộ phơng thứcphân tích Ví dụ: lúa/ thu; lúa/ xuân; cải/ củ; khoai/ sọ; cỏ/ gấu; da/chuột

Nh vậy, đặc điểm loại hình tiếng Việt đơn lập, không biến hình, phân tíchtính, đã thể hiện rõ sự chi phối trong cách cấu tạo tên gọi thực vật, Do đặc

điểm đơn lập nên số lợng vỏ âm tiếng Việt bị hạn chế, kéo theo số lợng từ ngữkhông đủ để gọi tên các loài thực vật có xung quanh mình nên ngời Việt đã sửdụng hai kiểu ghép để tạo ra tên gọi thực vật

Trang 28

Thứ nhất là kết hợp hai danh từ với nhau, trong đó một danh từ là cái

đựơc xác định, và danh từ kia đóng vai trò là định ngữ, bổ sung ý nghĩa, làm

cụ thể hoá ý nghĩa cho danh từ đợc xác định

Ví dụ: Chuối hột, hành hoa, dền cơm, cà bát

Thứ hai là kiểu kết hợp giữa một danh từ với một tính từ Ví dụ:

- Kết hợp với tính từ chỉ màu sắc, nh: Bí đỏ, đu đủ tía, cúc vàng, cà tím,

da hồng, trầu vàng, cau xanh

- Kết hợp với tính từ chỉ kích thớc, tính chất, nh: Chuối lùn, mía de, mơchua, khế ngọt, mít dại, da bở

Tất cả các cách cấu tạo từ nêu trên đã tạo ra trong trờng từ vựng thực vậttiếng Việt hệ thống các tên gọi khác nhau mang đậm dấu ấn đặc điểm loạihình ngôn ngữ của tiếng Việt

2.1.2 Những đặc trng đợc chọn để định danh thực vật trong tiếng Việt

Để nghiên cứu đặc điểm của việc chọn đặc trng làm cơ sở cho việc địnhdanh thực vật, chúng ta chỉ có thể dựa vào hình thái bên trong của tên gọi.Những đơn vị là yếu tố vay mợn sẽ không xét đợc vì muốn biết lý do củachúng phải đi tìm ở dân tộc đã tạo ra đơn vị ngôn ngữ ấy Các đơn vị đựơcxem xét trong công trình của Nguyễn Đức Tồn chỉ gồm những từ ngữ hiện nay

có thể thấy đợc lý do và là từ ngữ thuần Việt Theo thống kê, số tên gọi nh thếgồm 253 đơn vị

Tác giả đã xác lập đợc một hệ thống lý do làm cơ sở để gọi tên thực vậttrong tiếng Việt và có bảng thống kê cụ thể danh sách các dấu hiệu đặc trng

8 Môi trờng sống (hay nơi sinh trởng) 10/253 3.9

Trang 29

đựơc hiện thực hoá theo mô hình sau:

Ví dụ:

1 Loa kèn, bí đao, cải thìa

2 Cà tím, bởi đào, da hồng, bí đỏ, trầu vàng, đâụ xanh

3 Của cải đờng, thầu dầu

4 Hành ta, hành tây, khoai tây, cần tây, táo tàu, dừa xiêm

5 Mía lau, chuối lá

6 Xoài tợng, ổi trâu, da chuột, diếp cá, cỏ gà

7 Da gang, chanh cốm

8 Dừa cạn, chua me đất, nấm rơm, tầm gửi, khoai nớc

9 Cà gai, chuối hột, đào lộn hột

10 Hoa màu gà, cà dái dê

11 Vú sữa, tóc tiên, khoai sọ, rau má

12 Cà chua, mớp đắng, khế ngọt

13 Nhãn nớc, mía dai, da bở, rau ngót

14 Lúa xuân, hoa mời giờ

15 Cà độc dợc, ngải cứu, cây thuốc

16 Rau thơm, mớp hơng

17 Cây ba kích, cây ba gạc

18 Cần dại, lúa chét, cải hoa

Những ví dụ trên cho thấy: Các đặc trng đợc chọn làm cơ sở định danhthực vật là các đặc trng khách quan, tức là những thuộc tính thuộc khách thểcủa thực vật Đó là những đặc trng thuộc hình thức bên ngoài hay thuộc tínhbản thể của thực vật đó

2.2 Đặc điểm cấu tạo của trờng từ vựng thực vật trong ca dao

Yếu tố chỉ loại + đặc trng đựơc chọn

Trang 30

Có thể khẳng định rằng, thế giới thực vật tràn ngập trong ca dao Mọi

h-ơng sắc của cỏ cây trong đời sống đều in dấu trong Kho tàng ca dao ngời Việt.Thế giới cỏ cây, hoa trái bên ngoài phong phú, đa dạng nh thế nào, đi vào cadao Việt Nam, nó phong phú, đa dạng nh thế ấy Dờng nh, ta có thể bắt gặpmột thế giới đa sắc, đa hơng khi tìm hiểu ca dao

Bên cạnh trờng từ vựng động vật, trờng từ vựng thực vật đã trực tiếptham gia vào việc tạo lập những ngôn bản ca dao ngời Việt trong t cách lànhững đơn vị của văn bản Các từ ngữ thuộc trờng từ vựng thực vật là phơngtiện ngôn ngữ đắc dụng trong việc tạo lập văn bản ca dao – một loại hình đơn

vị đặc sắc của văn hoá Việt Nam

2.2.1 Tiêu chí để tập hợp các từ ngữ vào trờng từ vựng thực vật trong ca dao

Để tập hợp các từ ngữ vào trờng từ vựng thực vật, chúng tôi căn cứ vàohai tiêu chí sau:

2.2.1.1 Tiêu chí thứ nhất:

Trong cấu trúc biểu niệm của các từ này phải có một nét nghĩa phạm trùchỉ thực vật Nét nghĩa về thực vật là nét nghĩa đầu tiên trong cấu trúc biểuniệm của các từ đợc chọn, sau đó mới là các nét nghĩa khác

ý nghĩa biểu niệm là tập hợp một số nét nghĩa – còn gọi là nghĩa vịhoặc thành tố nghĩa Đó là những hiểu biết mà từ gợi ra về sự vật, hiện tợng,tính chất, hoạt động đợc gọi tên Những bộ phận nhỏ trong ý nghĩa biểuniệm của từ đợc gọi là nét nghĩa Theo GS Đỗ Hữu Châu, ý nghĩa biểu niệmcủa từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theomột tổ chức, một trật tự nhất định, giữa các nét nghĩa có quan hệ nhất định tập hợp các nét ghĩa phạm trù, khái quát có nhiều từ đợc gọi là cấu trúc biểuniệm

2.2.2 Mô tả, thống kê trờng từ vựng thực vật trong ca dao Việt Nam

Từ việc xác định từ trung tâm của trờng từ vựng thực vật là “cây”,chúng tôi thấy trong Kho tàng ca dao ngời Việt có các trờng nhỏ nh sau:

2.2.2.1 Trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao

Trang 31

Đây là trờng từ vựng cơ bản nhất thuộc trờng thực vật Các đơn vị đợctập hợp vào trờng từ vựng này là các danh từ và cụm danh từ Chúng tôi đãthống kê đợc 140 loài cây có mặt trong Kho tàng ca dao ngời Việt và xin môtả một cách khái quát nh sau:

Số lần xuất hiện

Trang 32

2.2.2.2 Trờng từ vựng tên gọi các bộ phận của cây trong ca dao

Chúng tôi tiếp tục thống kê, tập hợp các từ chỉ tên gọi bộ phận của câyxuất hiện trong lời ca dao và có đợc kết quả sau:

Trang 33

Nếu các đơn vị từ vựng thuộc hai trờng chỉ tên gọi các loài cây và các

bộ phận của cây đều danh từ (hoặc danh ngữ) thì khi chỉ các thuộc tính, đặc

điểm của thực vật trong ca dao, ngời ta sử dụng hàng loạt vị từ

Vị từ là một phạm trù từ loại quan trọng và phức tạp nhất trong hệ thống

từ loại tiếng Việt, dùng để định danh các hoạt động, trạng thái, tính chất, quátrình trong thực tế khách quan Ngời ta thờng tách vị từ thành hai loại là

động từ và tính từ

Theo cách hiểu của tác giả Frawbey trong cuốn “Linguitie Semanties”,

“vị từ tơng đơng với động từ, tính từ đồng thời làm trung tâm, làm hạt nhâncho cấu trúc ngữ nghĩa của câu” (dẫn theo Đinh Thị Oanh, [40,23])

Để chỉ các thuộc tính, đặc điểm của thực vật, các tác giả sử dụng phongphú, đa dạng vị từ Chúng tôi thống kê và nhận thấy có ba nhóm vị từ sau đợc

sử dụng trong ca dao:

+ Vị từ vận động – quá trình:

Vận động hiểu theo nghĩa hẹp chỉ sự diễn biến trong thời gian về cácmặt của một chủ thể nào đó

Quá trình là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác – vận

động trong thời gian

Ví dụ: Vị từ “mọc” chỉ sự vận động trong quá trình có tính thời gian đểxuất hiện (chẳng hạn: cây mọc, mầm mọc, lá mọc )

+ Vị từ trạng thái:

Trạng thái là tình trạng, dạng thức xuất hiện trong một thời điểm (dài ngắn khác nhau) của sự vật Nói cách khác, trạng thái vừa là những thuộc tínhvừa có tính quá trình Mỗi trạng thái đợc đặc trng bằng một thuộc tính, có thờigian tồn tại dài – ngắn khác nhau và đến một lúc nào đó phải đổi sang thuộctính khác

-Ví dụ: “héo”, “úa” là những vị từ điển hình của trờng thực vật Chúngkhông biểu thị ý nghĩa vận động – quá trình nh những vị từ mọc, nảy, lụi

Trang 34

mà chúng biểu thị các trạng thái nhất thời của thực vật Những trạng thái này

có thể xẩy ra với thực vật này nhng có thể không xẩy ra với thực vật khác.Chúng mang tính thời gian

Tìm hiểu Kho tàng ca dao ngời Việt chúng tôi thấy xuất hiện những vị

từ điển hình cho trờng từ vựng các thuộc tính, đặc điểm của thực vật là:

2.2.2.4 Trờng từ vựng các hoạt động tác động lên thực vật trong ca dao

Cũng nh các đơn vị từ vựng đợc tập hợp vào trờng từ vựng các thuộctính, đặc điểm của thực vât, các đơn vị điển hình của trờng từ vựng các hoạt

động tác động lên thực vật trong ca dao đều là những vị từ Điểm khác làchúng thuộc nhóm vị từ vận động – tác động

Giống nh vận động – quá trình, vận động – tác động cũng do một chủthể nào đó thực hiện nhng mà các vận động tác động lên sự vật, đối tợng làm

Trang 35

cho chúng biến đổi, thay đổi trạng thái, vị trí hoặc tạo lập, phân rã, huỷ diệt

đối tợng

Ví dụ: Vị từ “ca” biểu thị vận động – tác động của một chủ thể (ngời)nào đó tác động đến đối tợng (cây, cành) làm chúng biến đổi - phân thànhtừng đoạn bằng dụng cụ có lỡi sắc (ca)

Chúng tôi tập hợp đợc các vị từ hoạt động – tác động lên thực vật sau

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi đi sâu tìm hiểu các đặc

điểm cấu tạo của trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao

2.3 Nguồn gốc và kiểu cấu tạo của các đơn vị từ vựng thuộc trờng tên gọi các loài cây trong ca dao

2.3.1 Về nguồn gốc của tên gọi

Trong số 140 tên gọi các loài cây xuất hiện trong Kho tàng ca dao ngờiViệt, chúng tôi phân loại trớc hết về nguồn gốc của tên gọi và thu đợc kết quảthống kê: có đầy đủ cả ba nguồn gốc (thuần Việt, Hán Việt, ấn - Âu) Cụ thể:

Bộ phận vay mợn (gốc Hán Việt và gốc ấn Âu) gồm 25 từ, chiếm17.9% Tên gọi vay mợn tiếng Hán chiếm số lợng nhiều hơn(18/25) và chủyếu là các từ ghép, các đơn vị là từ đơn chiếm số lợng rất ít

Ví dụ: Từ đơn: bách, liễu,lê

Từ ghép: bạch đàn, cẩm chớng, dạ hợp, nhân sâm

Ngoài bộ phận trên trong số 140 tên gọi các loài cây đã thống kê, còn

có bộ phận vay mợn gốc ấn - Âu, chủ yếu là từ tiếng Pháp Bộ phận này gồm

7 từ, chiếm 5%

Ví dụ: Cà rốt, su hào, cao su

Trang 36

Với các tên gọi vay mợn này, ta có thể thấy rõ, trong quá trình sinhsống, dù mỗi làng quê Việt Nam nh một tiểu vơng quốc nặng tính chất tự trịnhng theo những cách nào đó vẫn có sự tiếp xúc, giao lu văn hoá giữa nhữngngời dân quê đất Việt với nền văn hoá và con ngời nớc khác Kho tàng ca daongời Việt lúc này trở thành những trang ký hoạ sinh động, phản ánh khá trungthực cuộc sống con ngời lao động Việt Nam Trờng từ vựng tên gọi các loàicây cùng với trờng một số trờng từ vựng quan trọng khác nữa trong ca dao đãcho chúng ta thấy đợc một cách cụ thể vấn đề sử dụng, lựa chọn ngôn ngữ củacác tác giả dân gian Đồng thời, chúng cũng phản ánh chân thực quá trìnhnhận thức của ngời dân lao động.

Ngoài hai bộ phận tên gọi vay mợn của trên, các đơn vị từ vựng còn lạitrong trờng từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao là các từ thuần Việt,chiếm 82.1% Những tên gọi này đã cho thấy sự gắn bó dài lâu, bền chặt củangời dân lao động với thế giới cỏ cây, hoa trái xung quanh mình Chúng gắnliền với đặc điểm nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam, phản ánh một cáchsống động nền văn minh thực vật của nớc ta Tỷ lệ lớn các tên gọi thực vậtthuần việt cho thấy sự phong phú, đa dạng về giống loài cây cối của An Nam– một đất nớc khá nhỏ bé nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới (là kiểu môitrờng thuận lợi cho sự sinh trởng, phát triển của nhiều loài sinh vật)

Thông qua một số câu chuyện dân gian nh sự tích cây lúa, cây ngô, câykhoai lang chúng ta còn biết thêm về sự thông minh, linh hoạt của ngời Việttrong giao tiếp ứng xử và quan trọng hơn, ta thấy vô cùng cảm phục đức tínhchịu thơng, chịu khó, ham học hỏi, thích tìm tòi cái mới của mỗi ngời dânViệt Nam Những câu chuyện, lời thơ dân gian trở thành những trang sửkhông thành văn đợc nhân dân đời đời truyền tụng

Qua trên, chúng tôi khẳng định: trong ca dao nói riêng, trong cuộc sốngthờng ngày nói chung, để định danh các loài thực vật, ngời Việt sử dụng nhiềunhất là những đơn vị thuần Việt, sau đó là những đơn vị vay mợn từ tiếng Hán,

và cuối cùng là những đơn vị vay mợn từ ngôn ngữ ấn - Âu Điều đó thể hiệnchân thực quá trình bảo tồn, phát triển và giao lu văn hoá - ngôn ngữ của ngờidân Việt Nam

2.3.2 Về kiểu cấu tạo của tên gọi

Trừ các tên gọi vay mợn từ ngôn ngữ ấn - Âu(7/140), trong số tên gọicòn lại, số tên gọi là từ đơn chiếm 70 % Số đơn vị đa tiết còn lại là thuần Việt

Trang 37

chiếm đến 16.4% Trong số tên gọi là từ đa tiết, các đơn vị đợc cấu tạo theophơng thức láy là 2 chiếm 1.4% (gồm dền dền, đu đủ).

Những đơn vị là từ đơn và từ láy là những đơn vị không thể chia cắt cácthành phần cấu tạo ra thành những yếu tố có nghĩa đợc Có thể coi chúng lànhững tên gọi đợc cấu tạo theo những phơng thức tổng hợp

Những đơn vị còn lại là từ ghép, có khả năng phân chia nhỏ ra cácthành phần cấu tạo có ý nghĩa Ví dụ: Sầu riêng, thanh long, thiên lý, xơngrồng Đó là những tên gọi đợc cấu tạo theo phơng thức phân tích

Nh vậy, trờng từ vựng, tên gọi các loài cây trong ca dao đã thể hiện rõnét đặc điểm loại hình tiếng Việt: đơn lập, không biến hình, phân tích tính.Trong cách ghép để tạo ra tên gọi các loài cây, ngời Việt chủ yếu dùng lốighép chính – phụ, ít sử dụng cách ghép đẳng lập Ví dụ: bông lau, bông trầm,

cà chua, cải cúc, mớp đắng, ngô đồng, nhân sâm

Xét trong số các tên gọi thực vật đợc cấu tạo theo phơng thức ghép kểtrên, chúng tôi thấy có hai cách ghép để tạo tên gọi là:

+ Kết hợp hai danh từ lại với nhau, trong đó một danh từ là cái đợc xác

định, danh từ còn lại đóng vai trò là cái xác định, là định ngữ nhằm bổ sung ýnghĩa, làm cụ thể hoá ý nghĩa cho danh từ đợc xác định

Ví dụ: Cải cúc, đào tiên, khoai tây, mùng tơi, ngô đồng, nhân sâm + Kết hợp một danh từ với một tính từ để chỉ màu sắc, tính chất, kíchthớc của sự vật đợc định danh ở danh từ

Ví dụ: Bạch đàn, cà chua, thanh long, tơ hồng, vàng tâm,

Các kiểu cấu tạo tên gọi thức vật trong trờng từ vựng các loài cây trong

ca dao cho thấy sự linh hoạt đa dạng về phơng thức tạo từ trong vốn từ tiếngViệt Qua đó, có thể khẳng định: trờng từ vựng trong thực vật ca dao ViệtNam không chỉ cho biết những đặc điểm cơ bản trong văn hoá Việt mà còn lànơi lu giữ, phô diễn quan trọng các đặc điểm loại hình tiếng Việt

Trong lời ca dao, những đơn vị từ vựng thuộc trờng tên gọi cây khôngtồn tại độc lập mà thờng ở dạng kết hợp với nhiều từ ngữ khác Các từ ngữ này

đi liền với các đơn vị từ vựng thuộc trờng tên gọi các bộ phận của cây và trờngcác thuộc tính, đặc điểm của thực vật trong ca dao Nhờ đó ý nghĩa định danhcủa các từ ngữ thuộc trờng tên gọi các loài cây trong ca dao trở nên đầy đủ, cụthể, chi tiết hơn hẳn

Ví dụ:

Trang 38

ăn sung ngồi gốc cây sung

ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành

[ă 40,202]

Cây tre non chẻ lựa, chàng ơi!.

Thiếp phải lòng mặt chớ cời thiếp chi

Nó cũng phản ánh chân thực hiện thực nói năng hàng ngày của ngời ViệtNam Xét vấn đề này, chúng tôi thấy cần thiết phải tìm hiểu các đơn vị từvựng thuộc trờng tên gọi cây trong ca dao ở thực tế tồn tại của nó, nhất là vềkhả năng đảm nhiệm các chức vụ cú pháp trong lời ca dao

2.4 Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp ở lời ca dao của các đơn vị từ vựng thuộc trờng từ vựng tên gọi cây

Nh đã khẳng định ở trên các đơn vị từ vựng thuộc trờng tên gọi câytrong ca dao đều là các danh từ, danh ngữ

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, danh từ là “từ loại có ýnghĩa phạm trù “sự vật”, có các phạm trù ngữ pháp giống, số, cách “đợc thểhiện không giống nhau trong các ngôn ngữ khác nhau”, thực hiện các chứcnăng ngữ pháp khác nhau trong câu nh chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ” [52,67]

“Danh từ là một loại thực từ biểu thị sự vật tính (sinh vật), vật thể, hiệntợng, sự việc trong đời sống thực tại và t duy; có những đặc trng ngữ pháp sau

đây:

a) Không trực tiếp làm vị ngữ Do đó: Khi làm vị ngữ, phải có hệ từ là(câu khẳng định) hoặc không phải, không phải là (câu phụ định), không đặtsau các từ nh: đừng, hãy, sẽ

b) Có thể kết hợp với một trong những từ loại sau đây và đợc từ loại nàyxác định, hạn chế: số từ, đại từ chỉ số, lợng từ, phó danh từ, đại từ chỉ định”.[52,67]

Trang 39

Cụm danh từ là cụm từ chính phụ có danh từ chính danh từ

Trớc khi đi vào xem xét khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp củatrờng từ vựng tên gọi cây ở lời ca dao, chúng tôi mợn kết luận của TS HoàngThị Kim Ngọc khi tiếp cận ca dao trữ tình từ góc nhìn của lý thuyết giao tiếpngôn ngữ và phân tích diễn ngôn: ca dao nói chung là một hình thái đặc biệtcủa giao tiếp ngôn ngữ

Giao tiếp là một khái niệm rất rộng Nó bao hàm và đợc thể hiện dớinhiều hình thái khác nhau rất đa dạng và phức tạp Giao tiếp ngôn ngữ chỉ làmột trong những hình thái giao tiếp mà thôi Song, vì ngôn ngữ là “phơng tiệngiao tiếp quan trọng nhất của con ngời” (V.I Lênnin) cho nên việc nghiên cứungôn ngữ có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lí luận cũng nh về mặt thực tiễn

Ngữ liệu mà các nhà nghiên cứu dựa vào đề nghiên cứu về giao tiếpngôn ngữ chủ yếu vẫn là lời nói thờng nhật, họ cha xem xét giao tiếp ngônngữ đợc thể hiện thế nào trong ngôn ngữ nghệ thuật

Còn từ góc nhìn của lý thuyết phân tích diễn ngôn, ca dao dù ngắn haydài, đều là một chỉnh thể thống nhất giữa cơ cấu ngôn ngữ và cơ cấu văn học,

có tính mạch lạc và tính thơ (hay rộng hơn là tính nghệ thuật) Các nhànghiên cứu văn học, phong cách học và ngay cả các nhà ngữ dụng học đềunhất trí coi ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng là thể loại thơ (thơdân gian trong sự phân biệt với các dòng thơ khác) và ngôn ngữ trong ca dao

là thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Vì thế, mỗi lời ca dao đều biểu hiện đặc điểm quan trọng nhất của “dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam ngôn ngữ thơ là sự phân chia ra dòng thơ dòng thơ cũng là câu thơ khi nó diễn đạt trọn vẹn một ý Thơ ngày nay có khi hai ba dòng mới thành một câu trọn nghĩa Phải từ nội dung, ý nghĩa mới nhận ra từng câu thơ

[34, 371]Căn cứ vào những đặc điểm của ca dao – một thể loại thơ dân gian,một hình thái đặc biệt của giao tiếp ngôn ngữ, chúng tôi xem xét và thống kê

đợc những chức năng ngữ pháp thờng gặp do các đơn vị từ vựng thuộc trờngtên gọi cây trong ca dao đảm nhận nh sau:

2.4.1 Chủ ngữ

Là thành phần chính của câu hai thành phần, biểu thị đối t “dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam ợng mà hoạt động, tính chất, trạng thái của nó độc lập với các thành phần khác của câu về mặt ngữ pháp đợc xác định bởi vị ngữ”

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá- thông tin, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ," Nxb "Văn hoá- thông tin
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb "Văn hoá- thông tin"
Năm: 2001
3. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại", Nxb"Khoa học xã hội
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb"Khoa học xã hội"
Năm: 1975
4. Nguyễn Phơng Châm (2001), Biểu tợng hoa đào, Văn hoá dân gian (5), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tợng hoa đào
Tác giả: Nguyễn Phơng Châm
Năm: 2001
5. Nguyễn Phơng Châm (2001), Hoa hồng trong ca dao, Nguồn sáng dân gian(1),Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa hồng trong ca dao
Tác giả: Nguyễn Phơng Châm
Năm: 2001
6. Nguyễn Phơng Châm (2003), Biểu tợng hoa sen trong văn hoá Việt Nam, Văn hoá dân gian (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tợng hoa sen trong văn hoá ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Phơng Châm
Năm: 2003
7. Nguyễn Phơng Châm (2003), Vài nhận thức về biểu tợng thực vật trong ca dao ngời Việt, Văn hoá nghệ thuật (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận thức về biểu tợng thực vật trongca dao ngời Việt
Tác giả: Nguyễn Phơng Châm
Năm: 2003
8. Đỗ Hữu Châu (1973), Trờng từ vựng và hiện tợng đồng nghĩa, trái nghĩa, Ngôn ngữ (3), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trờng từ vựng và hiện tợng đồng nghĩa, tráinghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1973
9. Đỗ Hữu Châu (1975), Khái niệm Tr “ ờng và việc nghiên cứu hệ thống ” từ vựng, Ngôn ngữ (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm Tr"“ "ờng và việc nghiên cứu hệ thống"”"từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1975
10. Đỗ Hữu Châu (1982), Ngữ nghĩa hệ thống và ngữ nghĩa học hoạtđộng, Ngôn ngữ (3), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt"động
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1982
11. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đạihọc Quốc gia
Năm: 1999
13. Hà Châu (1984), Về một quan điểm thẩm mĩ dân gian Việt Nam, Văn hoá dân gian (1), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một quan điểm thẩm mĩ dân gian Việt Nam
Tác giả: Hà Châu
Năm: 1984
14. Đoàn Văn Chúc (1989), Văn hoá học, Nxb Văn hoá- thông tin, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hoá- thông tin
Năm: 1989
15. Mai Ngọc Chừ (1991), Ngôn ngữ ca dao Việt Nam, Văn học (2), Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 1991
16. Hoàng Xuân Cờng (2003), Văn hoá- một góc nhìn, Nxb Đại học s phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá- một góc nhìn
Tác giả: Hoàng Xuân Cờng
Nhà XB: Nxb Đại học sphạm
Năm: 2003
17. Vũ Dung, Vũ Thuý Anh (2003), Ca dao Việt Nam, Nxb Văn hoá- thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thuý Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá-thông tin
Năm: 2003
18. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (1999), Tìm hiểu nguồn gốc biểu tợng trong ca dao, Kỷ yếu khoa học, Khoa Ngữ văn, Trờng Đại học s phạm, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguồn gốc biểu tợng trongca dao
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Năm: 1999
19. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2002), Biểu tợng nghệ thuật trong ca dao truyền thống ngời Việt, Luận án TS Ngữ văn, Trờng Đại học s phạm, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tợng nghệ thuật trong ca daotruyền thống ngời Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Năm: 2002
20. Cao Huy Đỉnh (2000), Ca dao và những lời bình, NXB Văn học, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao và những lời bình
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
21. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1 Hình thức của đồ dùng 41/253 16.2 - Trường từ vựng tên gọi các loài cây trong ca dao người việt
1 Hình thức của đồ dùng 41/253 16.2 (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w