1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÂN TÍCH NỘI DUNG NGUYÊN TẮC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG

29 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 46,72 KB
File đính kèm NGUYÊN TẮC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ.rar (44 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ có ý nghĩa cô cùng to lớn đối với mỗi quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ chỉ được coi là hợp pháp khi dựa trên những cơ sở và phương thức do Luật Quốc tế quy định. Do đó, đề tài sẽ làm rõ nội dung: “Phân tích nội dung nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế. Việc áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong việc giải quyết các tranh chấp ở biển Đông”

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 3

I Một số vấn đề lý luận chung 3

1 Khái niệm, bản chất của thụ đắc lãnh thổ 3

2 Cơ sở xác lâp chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ 4

3 Ý nghĩa của nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ 4

II NỘI DUNG NGUYÊN TẮC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 5

1 Các nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế 5

1.1 Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia 5

1.2 Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực 5

1.3 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 6

1.4 Nguyên tắc dân tộc tự quyết 7

1.5 Nguyên tắc chiếm hữu thật sự 7

2 Các phương thức thụ đắc lãnh thổ 8

2.1 Thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên 8

2.2 Thụ đắc lãnh thổ do chuyển nhượng 9

2.3 Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu 10

2.4 Thụ đắc lãnh thổ do chiếm hữu 11

2.5 Thụ đắc lãnh thổ bằng phương pháp kề cận địa lý 18

2.6 Thụ đắc lãnh thổ qua xâm lược 19

III THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ 19

1 Áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ giải quyết các tranh chấp trên thế giới 19

2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ giải quyết tranh chấp ở biển Đông 21

C KẾT LUẬN 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 2

ĐỀ TÀI: Phân tích nội dung nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong luật

quốc tế Việc áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong việc giải quyết các tranh chấp ở biển Đông

Chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Bất kể một côngdân của Quốc gia nào, dù là nước lớn hay nhỏ, chúng ta cũng đều nhận thứcđược chân lý ấy Trong đó, xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ có ýnghĩa cô cùng to lớn đối với mỗi quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nóichung Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ chỉ được coi là hợp pháp khi dựa trênnhững cơ sở và phương thức do Luật Quốc tế quy định Do đó, đề tài sẽ làm rõnội dung: “Phân tích nội dung nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế.Việc áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong việc giải quyết các tranh chấp ởbiển Đông” để đi làm rõ trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về vấn đềnày

2

Trang 3

B NỘI DUNG

I Một số vấn đề lý luận chung

1 Khái niệm, bản chất của thụ đắc lãnh thổ

Lãnh thổ là toàn bộ trái đất bao gồm các bộ phận cấu thành là vùng đất,vùng nước, vùng trời, lòng đất và khoảng không Lãnh thổ quốc gia là toàn bộvùng đất, vùng nước, vùng trời, vùng lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn, tuyệtđối hay riêng biệt của quốc gia, tại đó, quốc gia thự hiện quyền lực nhà nước đốivới dân cư của mình

Đối với mỗi quốc gia, lãnh thổ đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sởvật chất cho sự tồn tại của quốc gia, duy trì ranh giới quyền lực nhà nước đối vớimột cộng đồng dân cư nhất định, góp phần tạo dựng một trật tự pháp lý quốc tếhòa bình và ổn định

Trong quan hệ giữa các quốc gia với nhau, lãnh thổ quốc gia có tính chấtđặc biệt quan trọng, nó ảnh hưởng, tác động rất lớn đến qua hệ quốc tế Điểnhình là các cuộc tranh chấp, xung đột về lãnh thổ và biên giới – nguyên nhânphổ biến và chủ yếu dẫn tới các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia với nhau.Xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ là nhằm xác định danh nghĩacủa quốc gia đối với lãnh thổ nói chung và các vùng lãnh thổ nói riêng Lãnh thổquốc gia là toàn vẹn và bất khả xâm phạm vì vậy việc lập chủ quyền quóc giađối với lãnh thổ phải dựa trên những cơ sở và phương thức do luật quốc tế quyđịnh

“Thụ đắc lãnh thổ” là việc mở rộng ranh giới địa lý của chủ quyền quốcgia ra một lãnh thổ mới Bản chất xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnhthổ là việc một quốc gia xác lập chủ quyền của mình đối với một vùng lãnh thổmới, hay nói cách khác, mở rộng lãnh thổ của mình, thêm một vùng lãnh thổ

Trang 4

mới vào bản đồ lãnh thổ quốc gia theo những phương thức phù hợp với nguyêntắc của pháp luật quốc tế.

2 Cơ sở xác lâp chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ

Xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ được ghi nhận trongHiến chương Liên Hợp Quốc, Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Đại Hội đồngLiên Hợp Quốc về các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Công ước LiênHợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (xác định về chủ quyền trên biển của mỗiquốc gia), Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 (quy định việcchuyển nhượng và thụ đắc lãnh thổ bị vô hiệu)

Ở Việt Nam, việc xác lập chủ quyền quốc gia bằng nguyên tắc thụ đắc lãnhthổ còn được quy định trong các Hiệp ước giữa Việt Nam với các nước lánggiềng như: Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, Hiệpước Hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào, Hiệp ước Hoạch địnhbiên giới quốc gia giữa Việt Nam và Campuchia…

3 Ý nghĩa của nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ

Nhìn chung, việc xác lập danh nghĩa chủ quyền có ý nghĩa quan trọngtrong việc khẳng định chủ thực sự của một lãnh thổ và một cộng đồng dân cư ổnđịnh Danh nghĩa này không chỉ tồn tại về phương diện pháp lý mà còn cả vềphương diện thực tế Danh nghĩa này được khẳng định qua việc thực hiện chủquyền quốc gia về mọi phương diện Do đó, việc thụ đắc lãnh thổ giúp xác lậpđược lãnh thổ, mở rộng lãnh thổ của quốc gia, để tận dụng mọi nguồn tài nguyên

và phát triển nó một cách triệt để triệt để Bên cạnh đó, tuân thủ đúng quy định

về thụ đắc lãnh thổ cũng giúp phân chia rạch ròi và chính xác biên giới lãnh thổtránh được tình trạng tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn dẫn đến chiến tranh tranhgiành lãnh thổ, góp phần dảm bảo an ninh – quốc phòng của mỗi quốc gia Do

đó, việc xác định chủ quyền thông qua nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ còn là căn cứ

để giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan đến chủ quyền quốc gia

4

Trang 5

Đặc biệt đối với Việt Nam hiện nay, vấn đề lãnh thổ và biển đảo luôn ởtình trạng căng thẳng và xảy ra tranh chấp kéo dài Những sự kiện lịch sử, vănbản pháp lý đã nêu là cơ sở vững chắc để khẳng định việc xác lập chủ quyền củaViệt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

II NỘI DUNG NGUYÊN TẮC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ

TRONG LUẬT QUỐC TẾ

1 Các nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế

1.1 Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia

Đây là nguyên tắc được đặt ở vị trí đầu tiên trong số các nguyên tắc đượcghi nhận tại Điều 2 của Hiến chương Liên hợp quốc: "Liên hợp quốc được xâydựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả hội viên" Nguyên tắc này

là xuất phát điểm của toàn bộ hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Chủ quyền là thuộc tính chính trị-pháp lý vốn có của quốc gia, thể hiệnquyền tối thượng của quốc gia trong lãnh thổ của mình và quyền độc lập củaquốc gia trong quan hệ quốc tế Trong phạm vi lãnh thổ của mình, mỗi quốc gia

có quyền tối thượng về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sựcan thiệp nào từ bên ngoài, đồng thời quốc gia được tự do lựa chọn cho mìnhphương thức thích hợp nhất để thực thi quyền lực trong phạm vi lãnh thổ Trongquan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại củamình mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền củamọi quốc gia khác

Như vậy, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia sẽ chi phối cácquốc gia trong quá trình thụ đắc lãnh thổ

1.2 Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực

Sự ra đời của Liên hợp quốc với bản Hiến chương của mình được đánh giárất cao vì mục đích giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế Tại khoản 4 điều 2 củaHiến chương này quy định rằng: "Trong quan hệ quốc tế, các hội viên Liên hợp

Trang 6

quốc không được có hành động đe dọa bằng vũ lực hay dùng vũ lực để chống lạiquyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nến độc lập chính trị của bất cứ mộtnước nào, hoặc bằng cách này hay cách khác làm trái với những mục đích củaLiên hợp quốc" Nghị quyết số 26/25 (1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc vềcác nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế đã quy định rõ: “Lãnh thổ của mộtquốc gia không thể là đối tượng của việc thụ đắc bởi một quốc gia khác bằngviệc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực Việc thụ đặc lãnh thổ bằng việc đe dọa hoặc sửdụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp”.

Bên cạnh đó, Các văn kiện pháp lý quốc tế khác cũng ghi nhận nguyên tắcnày như: Tuyên bố của đại hội đồng liên hợp quốc năm 1970 về các nguyên tắc

cơ bản của LQT; Tuyên bố của đại hội đồng liên hợp quốc năm 1974 về địnhnghĩa xâm lược; Định ước Henxinki năm 1975 về an ninh và hợp tác của cácnước châu Âu; Tuyên bố của liên hợp quốc năm 1987 về "nâng cao hiệu quả củanguyên tắc khước từ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốctế"

1.3 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế

Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranhchấp quốc tế gắn liền với nguyên tắc cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.Nói cách khác, nguyên tắc này là hệ quả tất yếu của nguyên tắc cấm sử dụng vũlực và đe dọa sử dụng vũ lực Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tếđược ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến chương liên hợp quốc và được khẳng định

rõ ràng trong Tuyên bố năm 1970, trong đó chỉ rõ “mỗi quốc gia giải quyết tranhchấp quốc tế của mình với các quốc gia khác bằng phương pháp hòa bình đểkhông dẫn đến đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế và công bằng” Điều 33 Hiếnchương liên hợp quốc đã quy định cụ thể các biện pháp hòa bình mà các bêntranh chấp có thể lựa chọn, đó là các con đường : “… đàm phán, điều tra, trunggian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng các tổ chức hoặc các hiệp định khu vực,hoặc bằng các biện pháp hòa Như vậy, hòa bình giải quyết các tranh”bình kháctùy theo sự lựa chọn của mình” chấp quốc tế là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi

6

Trang 7

quốc gia – thành viên của cộng đồng quốc tế Các bên có quyền tự do lựa chọncác biện pháp phù hợp nhất, sao cho mọi tranh chấp đều được giải quyết trên cơ

sở luật quốc tế và nguyên tắc công bằng

1.4 Nguyên tắc dân tộc tự quyết

"Quyền dân tộc tự quyết" được hiểu là việc một dân tộc hoàn toàn tự dotrong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chếchính trị, đường lối phát triển đất nước Khoản 2 điều 1 Hiến chương Liên hợpquốc ghi nhận "phát triển quán hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọngcác nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và dân tộc tự quyết" Như vậy, kháiniệm "dân tộc tự quyết" được nhắc đến trong Hiến chương Liên hợp quốc khôngphải là quyền tự quyết của dân tộc theo nghĩa là sự tập hợp của các sắc tộc hoặcquyền tự quyết của các dân tộc thiểu số trong từng quốc gia Quyền dân tộc tựquyết ở đây chỉ thuộc về nhân dân theo nghĩa là tất cả dân cư thường xuyên sinhsống trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định – chủ thể luật quốc tế

Tuy nhiên theo giáo sư người Nga B.M Climeco: "Nguyên tắc dân lộc tựquyết không loại tự những phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ khác Hơnthế nữa, trong khi thực hiện quyền dân tộc tự quyền, vẫn có thể sử dụng cácphương thức đó như những phương thức bổ trợ”

Quan điểm trên của giáo sư Climeco là hoàn toàn có cơ sở và có thể ápdụng vào việc chọn lựa và sử dụng các phương thức thụ đắc lãnh thổ Rõ ràng làtrên thực tế không thể áp dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết trong mọi trườnghợp được, nhất là đối với những vùng lãnh thổ như: Bắc cực, Nam cực, các quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa, phần Đông Gronland

Về những lãnh thổ nêu trên, nguyên tắc dân tộc tự quyết không thể áp dụngđược, vì vậy các phương thức thụ đắc chủ quyền lãnh thổ khác vẫn có thể đượcxem xét sử dụng và được coi là hợp pháp

1.5 Nguyên tắc chiếm hữu thật sự

Trang 8

Trên thế giới, đã có rất nhiều cuộc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ xảy ragiữa các nước, các cuộc tranh chấp giữa các nước này đã kéo dài nhiều năm vớinhiều quan điểm và nguyên tắc, chứng cứ lịch sử khác nhau giữa các bên Đểgiải quyết một cách triệt để những tranh chấp lãnh thổ giữa các nước này, Hộinghi về châu Phi giữa 13 nước châu Phi và Hoa Kỳ năm 1885 và sau khóa họpcủa Viện Luật pháp quốc tế ở Lausanne, Thụy sỹ, năm 1888, các nhà khoa họccũng như phần lớn các quốc gia trên thế giới đã thống nhất áp dụng một nguyêntắc thụ đắc lãnh thổ mới Đó là nguyên tắc “chiếm hữu thật sự” Nội dung chủyếu của nguyên tắc này là:

+ Việc xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ phải được thựchiện dưới danh nghĩa Nhà nước, các cá nhân và tổ chức tư nhân không có quyềnthực hiên việc xác lập chủ quyền lãnh thổ đó

+ Việc chiếm hữu phải được thực hiện trên vùng lãnh thổ vô chủhoặc là trên một vùng lãnh thổ đã bị bỏ hoang

+ Quốc gia chiếm hữu phải thực thi chủ quyền của mình ở mức độcần thiết, hiệu quả, thích hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnhthổ đó

+ Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền phải liên tục rõ ràng, hòabình, việc sử dụng vũ lực để xâm chiếm là hành động phi pháp, không đượcthừa nhận

2 Các phương thức thụ đắc lãnh thổ

Một số phương thức thụ đắc lãnh thổ đó là: thụ đắc lãnh thổ bằng phươngpháp kề cận địa lý; thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu (chiếm cứ); thụ đắc lãnhthổ thông qua sự chuyển nhượng tự nguyện; Thụ đắc lãnh thổ thông qua sự xâmlược; thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên; Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu

2.1 Thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên

8

Trang 9

Là một phương thức không quá quan trọng và không xảy ra thường xuyêntrong thực tiễn, theo đó, trong trường hợp một vùng lãnh thổ mới xuất hiện theotiến trình vận động của tự nhiên trong phạm vi lãnh thổ hiện có của một quốcgia thì quốc gia đó có quyền xác lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ mới hìnhthành này Nghĩa là quốc gia đó thụ đắc một cách tự động và mặc nhiên; ví dụnhư việc xuất hiện hòn đảo trong lãnh hải, nội thủy do núi lửa phun trào hay bồiđấp của hải lưu hay hình thành cù lao trên các dòng sông

Những vùng đất được bồi đắp hoặc hòn đảo xuất hiện trong vùng lãnh hảicủa một quốc gia không chỉ trở thành một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, đồngthời, theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, quốc gia đó cònđược phép mở rộng đường biên giới quốc gia vì chúng được quyền có lãnh hảirộng 12 hải lý

Nếu những hòn đảo mới hình thành bên ngoài lãnh hải của quốc gia, cáchthức thụ đắc này không thể được áp dụng Một quốc gia mở rộng diện tích lãnhthổ của mình thông qua việc bồi đắp tự nhiên vào lãnh thổ chính hoặc sự xuấthiện của các hòn đảo mọc lên tại vùng biển trong phạm vi đường biên giới củaquốc gia

2.2 Thụ đắc lãnh thổ do chuyển nhượng

Là phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng cách chuyển giao mộtcách tự nguyện, hòa bình và hợp pháp chủ quyền lãnh thổ từ một quốc gia nàysang một quốc gia khác thông qua các hình thức: Thỏa thuận, mua bán, trao đổilãnh thổ,… Thông thường phương thức chuyển nhượng lãnh thổ này được hợpthức bởi một văn bản điều ước, ký kết giữa hai quốc gia liên quan mà trong đóghi rõ ràng, cụ thể về vùng lãnh thổ được chuyển nhượng cũng như các điềukiện chuyển nhượng cho tới khi việc chuyển nhượng được hoàn thành Cáchthức này tương tự như việc mua bán, chuyển nhượng tài sản giữa các cá nhân,pháp nhân thông qua một hợp đồng hợp pháp phù hợp với pháp luật quốc gia

Trang 10

Do đó, chắc chắn rằng các quốc gia không thể chuyển nhượng nhiều quyền hơnnhững gì mà quốc gia đó có với phần lãnh thổ chuyển nhượng

Hơn thế nữa, giống như một giao dịch dân sự, yêu cầu quan trọng để bảođảm thụ đắc lãnh thổ hợp pháp theo cách thức này là phải bảo đảm điều ướcchuyển nhượng có hiệu lực theo luật pháp quốc tế, tức là được ký kết trongnhững hoàn cảnh không dẫn chế vô hiệu điều ước quốc tế Các trường hợp điềuước quốc tế bị vô hiệu, qua đó việc chuyển nhượng và thụ đắc lãnh thổ bị vôhiệu, được quy định trong Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969,bao gồm 08 trường hợp: vi phạm luật pháp quốc gia về thẩm quyền ký kết điềuước, vi phạm các giới hạn cụ thể liên quan đến thẩm quyền thể hiện sự đồng ýchịu ràng buộc, sai sót, gian lận, tham nhũng, đe dọa đại diện quốc gia, đe dọa

sử dụng hay sử dụng, và xung đột với quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung Cáctrường hợp vô hiệu điều ước quốc tế này có thể không tồn tại trong các thế kỷtrước khi việc đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực để ép buộc các nước ký điềuước chuyển nhượng lãnh thổ, do đó có thể không thể được sử dụng để vô hiệucác điều ước “bất bình bẳng” đó, chẳng hạn như các hòa ước mà Pháp buộc nhàNguyễn ký để cắt đất nam kỳ

2.3 Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu

Là sự thực hiện thực sự, liên tục và hòa bình trong một thời gian dài vàkhông có sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào khác đối với một vùng lãnh thổkhông phải là vô chủ, có nguồn gốc thuộc về một quốc gia khác hoặc chưa thuộc

về một quốc nào khác do đang còn bị tranh chấp và rất khó để xác định vùnglãnh thổ đó đã thuộc về một quốc gia nào hay chưa Nói đơn giản, chiếm hữutheo thời hiệu là cách thức thụ đắc lãnh thổ mà luật pháp quốc tế cho phép đểhợp pháp hóa việc chiếm hữu hữu hiệu đối với một lãnh thổ nhất định, bất kểlãnh thổ đó đã thuộc về một quốc gia hay không xác định được quốc gia nào cóchủ quyền

10

Trang 11

Yêu cầu về chiếm hữu hữu hiệu đối với chiếm hữu theo thời hiệu cao hơn

so với đối với chiếm hữu Chiếm hữu hữu hiệu cần được thực hiện trong mộtthời gian dài hợp lý và phải không có sự phản đối từ quốc gia đang có chủ quyềnđối với lãnh thổ đó Phản đối ngoại giao hay các hành động hay phát biểu khác

có tính chất phản đối đối với tình trạng chiếm hữu hữu hiệu sẽ vô hiệu hóa việcchiếm hữu theo thời hiệu Ví dụ như đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sacủa Việt Nam bị Trung Quốc, Philippines và Malaysia chiếm đóng trên thực tế,Việt Nam (mà chủ yếu thông qua Người phát ngôn Bộ Ngoại giao) luôn đưa raphát biểu phản đối và khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với hai quầnđảo này Những phát ngôn có cùng nội dung, lặp đi lặp lại như thế có hệ quảpháp lý là làm cho việc chiếm hữu hữu hiệu của các nước trên không trở thànhchiếm hữu theo thời hiệu, theo đó, các nước này không thể thụ đắc một các hợppháp hai quần đảo này của Việt Nam

Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu đòi hỏi thực hiện chủ quyền trên thực tế đốivới một vùng lãnh thổ trong một thời gian tương đối dài Tuy nhiên, luật pháp

và thực tiễn quốc tế chưa có quy định về thời hạn chung cho các trường hợp xáclập chủ quyền lãnh thổ bằng phương thức này Luật pháp quốc tế hiện đại cũngkhông chấp nhận phương thức xác nhập chủ quyền lãnh thổ theo thời hiệu khicác quốc gia sử dụng phương thức này để biện minh cho hành động xâm lượccủa mình

2.4 Thụ đắc lãnh thổ do chiếm hữu

Chiếm hữu là một phương thức thụ đắc lãnh thổ trong pháp luật quốc tế, làhành động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên mộtlãnh thổ vốn chưa thuộc chủ quyền của bất kì một quốc gia nào khác (lãnh thổ

vô chủ - Terra Nullius) hoặc một vùng lãnh thổ vốn đã có chủ sau đó bị bỏ rơi

và trở lại trạng thái vô chủ ban đầu (Terra Derelicta)

Ở đây, cần phân biệt giữa chiếm hữu trong định nghĩa trên với sự chiếmđóng trong chiến tranh hay chiếm đóng quân sự trong thời bình Với sự chiếm

Trang 12

đóng trong chiến tranh hoặc chiếm đóng quân sự trong thời bình thì đối tượngchiếm đóng là lãnh thổ của một quốc gia khác, do đó việc chiếm đóng khôngđem lại sự thụ đắc lãnh thổ Khác với chúng thì chiếm hữu có đối tượng là mộtlãnh thổ vô chủ hoặc lãnh thổ có địa vị pháp lý như lãnh thổ vô chủ do ban đầu

là vùng lãnh thổ có chủ nhưng sau đó bị bỏ rơi và trở thành lãnh thổ vô chủ, và

sự chiếm hữu này mang lại sự thụ đắc lãnh thổ cho quốc gia thực hiện việcchiếm hữu

Việc chiếm hữu lãnh thổ phải là hành động nhân danh quốc gia, được quốcgia ủy quyền, không phải là hành động của tư nhân Như vậy, mọi hành độngmang danh nghĩa cá nhân đều không được thừa nhận làm cơ sở pháp lý để khẳngđịnh chủ quyền lãnh thổ Thậm chí ngay cả khi các cá nhân tập hợp lại thànhmột tập thể hoặc công ty thì cũng không thể làm thay đổi tính chất chủ quyền,chỉ có ngoại lệ là khi tập thể hoặc công ty đó được nhà nước ủy quyền thay mặtcho nhà nước xác lập chủ quyền lãnh thổ Tức tập thể hoặc công ty đó khôngphải nhân danh chính mình xác lập chủ quyền lãnh thổ mà nhân danh cho nhànước, thay mặt cho nhà nước thực hiện việc đó

Có thể thấy nguyên tắc chỉ có nhà nước mới là chủ thể của việc xác lập chủquyền lãnh thổ được thừa nhận ngay trong chính định nghĩa về chiếm hữu, đó là

“hành động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực…” Ngoài ra,trong bản án ngày 11-02-1902 của Tòa án dân sự Liberville khi xét xử vụ tranhchấp giữa Societe de L’Ogioué và Hatton - Cookson có ghi nhận rằng: “Một vấn

đề có tính nguyên tắc trong luật pháp quốc tế là chủ quyền chỉ dành riêng choNhà nước và những cá nhân bình thường không thể thực hiện được một sựchiếm hữu”1

Từ định nghĩa, có thể xác định được đối tượng của phương thức thụ đắclãnh thổ bằng chiếm hữu là lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius) hoặc lãnh thổ bị bỏrơi (Terra derelict)

1 Triệu Thành Nam, Thụ đắc lãnh thổ trong luật pháp quốc tế và tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa, Trường sa, Luận văn tốt nghiệp, Học viện quan hệ quốc tế - Bộ môn Luật, tr7.

12

Trang 13

Lãnh thổ vô chủ được hiểu theo nhiều cách, tùy thuộc vào từng giai đoạn

khác nhau Đối với các nước thực dân trước đây với phương thức chiếm hữunhằm phục vụ cho mục đích xâm lược và bành trướng lãnh thổ thì lãnh thổ vôchủ được hiểu là lãnh thổ tuy có người ở nhưng chưa có một tổ chức nhà nướcnào Vào trước thế kỷ XIX, theo cách hiểu của luật gia phương Tây thì một lãnhthổ bị coi là vô chủ trong trường hợp tuy nó đã có cư dân bản địa (thổ dân) songkhông có một thiết chế nhà nước nào hoặc có nhưng bị coi là có nền văn minhthấp hơn tiêu chuẩn lúc bấy giờ ở Châu Âu2 Ví dụ với hòn đảo Puerto Rico, banđầu là những cộng đồng da đỏ bản địa sinh sống và trong đó có người Taino vớimột nền văn hóa khá phát triển Đến năm 1493 khi Christopher Columbus đặtchân đến hòn đảo này thì nó nhanh chóng được sáp nhập thành một thuộc địacủa Đế chế Tây Ban Nha, những người dân da đỏ dần bị giết, hoặc bị bắt làm nôlệ

Ngày nay, với sự phát triển và tiến bộ của luật pháp quốc tế hiện đại, quanđiểm sai lầm về lãnh thổ vô chủ trên đã được bác bỏ, và việc giành chủ quyềntrên một lãnh thổ có dân cư phải dựa trên một trong những nguyên tắc cơ bảncủa luật quốc tế hiện đại, đó là quyền dân tộc tự quyết Với nguyên tắc đó, lãnhthổ vô chủ có thể được hiểu là lãnh thổ chưa thuộc chủ quyền của bất kì quốcgia nào

Lãnh thổ bị bỏ rơi là vùng lãnh thổ trước kia đã từng được chiếm hữu và

trở thành lãnh thổ của một quốc gia, nhưng sau đó vì lí do nào đó mà quốc giachiếm hữu đã từ bỏ chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ này (tức khôngthực hiện chủ quyền trên lãnh thổ này nữa) Ví dụ: Đảo Saint Martin thuộcTrung Mỹ do Tây Ban Nha chiếm hữu từ giữa thế kỷ XVII nhưng vì không cókhả năng tổ chức quản lý nên họ đã quyết định từ bỏ quyền chiếm hữu của mình

và nó trở thành vô chủ Sau đó, người Pháp và người Hà Lan đã đến chiếm vàtuyên bố thiết lập chủ quyền của nước họ trên đảo này

Theo G.Cohen: “Trong luật quốc tế, tình trạng lãnh thổ bị bỏ rơi là kết quả

Trang 14

lãnh thổ được xét, về mặt tinh thần là sự chủ tâm từ bỏ lãnh thổ đó” Từ đây, cóthể xét một lãnh thổ được coi là lãnh thổ bị bỏ rơi khi có đủ hai yếu tố: thứ nhất,quốc gia chiếm hữu đã chấm dứt mọi hoạt động thực hiện quyền trên thực tế đốivới lãnh thổ đó; thứ hai, quốc gia đã từ bỏ không có biểu hiện nào muốn khôiphục lại chủ quyền của mình.

Các phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu bao gồm:

Thuyết phát hiện đầu tiên: Thuyết phát hiện đầu tiên được hình thành từ

lâu trong lịch sử (khoảng từ thế kỷ XVI), cùng với các cuộc phát kiến địa lí.Theo đó, quốc gia nào tìm ra hoặc khai phá được một vùng đất hoặc một khuvực địa lý mà chưa từng được biết đến trước đó thì được xác lập chủ quyền lãnhthổ đối với nơi đó

Thuyết chiếm cứ tượng trưng: Với thuyết phát hiện đầu tiên, các quốc gia

phát hiện ra vùng lãnh thổ mới rất khó khăn trong việc xác lập chủ quyền lãnhthổ do khó để xác nhận việc phát hiện đồng thời xác định giá trị pháp lí của việcphát hiện ra một vùng lãnh thổ mới trong khi quốc gia phát hiện không có nhữnghoạt động chứng tỏ chủ quyền Do đó, để xác nhận việc một quốc gia nào đó đãphát hiện ra một vùng lãnh thổ mới, có thể là vùng lãnh thổ vô chủ hoặc bị bỏrơi thì quốc gia đó phải có những hành vi xác lập chủ quyền bằng cách để lạinhững dấu vết của mình trên vùng lãnh thổ mà họ phát hiện Quốc gia đó có thểthực hiện các hoạt động thực tế trên vùng lãnh thổ đó như cắm cột mốc, cờ củaquốc gia mình trên vùng lãnh thổ đó, hoặc xây dựng bia chủ quyền, để lại nhữngvật có ý nghĩa tượng trưng cho quốc gia mình,… Và sau khi phát hiện ra mộtvùng lãnh thổ mới, các quốc gia phát hiện đã thực hiện những hành vi tượngtrưng để thể hiện cho việc xác lập chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ đóđược gọi là thuyết chiếm hữu tượng trưng Thuyết chiếm cứ tượng trưng tồn tại

từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỷ XIX

Tuy nhiên, theo thời gian, thuyết chiếm hữu tượng trưng đã bộc lộ ngàycàng rõ ràng những nhược điểm của nó, ở chỗ: các dấu vết mà quốc gia phát

14

Ngày đăng: 25/08/2021, 10:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w