trờng đại học vinh khoa lịch sử ------Bùi thị giang Khóa luận tốt nghiệp đại học trí thức nghệ an trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc 30 năm liệu.. ở những giai đoạn lịch sử
Trang 1trờng đại học vinh khoa lịch sử
- -Bùi thị giang
Khóa luận tốt nghiệp đại học
trí thức nghệ an trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc 30 năm
liệu Đặc biệt, xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo Th.s
Hồ Sỹ Hùy đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng đề tài và hoàn
thành khóa luận
Trang 2Qua đây, tôi cũng có lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ trong suốt thời gian qua Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, t liệu và năng lực bản thân nên chắc rằng khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đợc HĐKH, tập thể CBGD Khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh chỉ bảo, góp ý
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 5 năm 2009
Sinh viên
Bùi Thị Giang
Mục lục
Trang
A Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 6
5 Bố cục của khóa luận 6
B Nội dung 8
Chơng 1 Khái quát những điều kiện hình thành truyền thống cách mạng của trí thức Nghệ An 30 năm đầu thế kỷ XX 1.1 Điều kiện địa lí 8
1.2 Điều kiện lịch sử – văn hóa 10
Chơng 2 Trí thức Nghệ An trong phong trào cách mạng theo khuynh h-ớng dân chủ t sản những năm đầu thế kỷ XX 2.1 Sự chuyển biến của Nghệ An dới ảnh hởng cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp ( 1897 – 1914 ) 17
2.2 Khuynh hớng dân chủ t sản và ảnh hởng của nó đối với trí thức Nghệ An những năm đầu thế kỷ XX 28
2.3 Trí thức Nghệ An trong phong trào cách mạng theo khuynh hớng dân chủ t sản những năm đầu thế kỷ XX 32
Chơng 3 Trí thức Nghệ An trong phong trào cách mạng theo khuynh h-ớng vô sản từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930 3.1 Nghệ An từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930 49
3.2 Trí thức Nghệ An trong quá trình vận động thành lập Đảng 69
3.3 Một số nhận xét về phong trào cách mạng của trí thức Nghệ An từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930 76
C Kết luận 78
Trang 3Tài liệu tham khảo Phụ lục
Thuật ngữ trí thức trong tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga và cả tiếng Việtnghĩa là giới trí thức, nhng đồng thời đợc hiểu với nghĩa là trí tuệ nói chung
Nh vậy khái niệm trí thức bao gồm trong đó cả hai khía cạnh: một tầng lớp xãhội và tính chất trí tuệ, óc sáng tạo của họ
Trí thức là một vấn đề phức tạp ở những giai đoạn lịch sử khác nhau,tầng lớp trí thức trong xã hội có những khác nhau về trình độ học vấn, cơ cấunghề nghiệp, t tởng chính trị…nh ng đặc trng chung của lực lợng này trongnhmọi thời đại là họ đại diện cho trí tuệ đơng thời, là động lực quan trọng thúc
đẩy sự đi lên của từng dân tộc, của cả nhân loại trong suốt chiều dài lịch sử
Do vậy, “trí thức một mặt là kết quả của sự tiến bộ xã hội, mặt khác, sự pháttriển của trí thức đã góp phần thúc đẩy xã hội tiến bộ, góp phần giải phóngcon ngời khỏi sự chi phối của những lực lợng tự phát trong tự nhiên và trongxã hội” [ 39,35]
Trí thức không phải là lực lợng chiếm số đông trong xã hội và cũng chabao giờ đứng ở vị trí của một giai cấp độc lập mang ý thức hệ riêng nhng đólại là thớc đo quan trọng của một xã hội văn minh và phát triển Trên bìnhdiện lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc hay lịch sử một địa phơng cụ thể trí thứcluôn là một vấn đề lớn và phức tạp Tìm hiểu trí thức của một địa phơng trongmột giai đọan lịch sử ở một phạm vi chính trị – xã hội sẽ cụ thể hóa lực l ợngxã hội này dới một góc nhìn nhất định Từ trục xoay ấy chúng ta có thể thấydiện mạo của tầng lớp này với những đóng góp cho lịch sử quê hơng Đồngthời, xét tầng lớp trí thức trong một phong trào cách mạng sẽ nảy ra đợc nhiều
điều về mối quan hệ hữu cơ giữa các giai tầng xã hội với nhau trong sự nghiệpchung của quê hơng đất nớc
1.2 Về mặt thực tiễn.
Trang 4“Lý thuyết chỉ là màu xám và cây đời mãi mãi xanh tơi”(Gơt) Quả đúng
nh vậy, lý luận luôn khô cằn và sẽ vô nghĩa nếu không có thực tiễn sinh độngchứng minh Lịch sử dân tộc mấy ngàn năm là mạch nguồn không bao giờ vơicạn ghi nhận những cống hiến lớn lao của các thế hệ trí thức Những tên tuổi
nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đình Chiểu…nhmãi mãi đi vào lịch sử dân tộc nh những ngôi “sao Khuê” ngàn năm sáng mãi
Là một lớp ngời có trình độ học vấn nhất định do ngành giáo dục chuyênnghiệp của xã hội tạo ra hoặc do cá nhân tự thân học hỏi, tầng lớp trí thức luôn
đợc đề cao là “thông kim bác cổ” vơn lên đứng ở đỉnh cao của trí tuệ đơngthời
Do hoàn cảnh lịch sử, từ khi nhà nớc Văn Lang, Âu Lạc ra đời đến suốtmột ngàn năm Bắc thuộc, trí thức Việt Nam cha phải là một tầng lớp riêng mãi
đến khi Ngô Quyền giành nền tự chủ mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử nớcnhà thì trí thức dân tộc mới có điều kiện nảy nở và phát triển Trớc triều Lý, tríthức thờng là những nhà s giúp việc triều chính Năm 1075 khoa thi đầu tiêncủa cả nớc đợc mở cũng là lúc khai sinh một nền giáo dục chuyên nghiệp Từ
đó một đội ngũ trí thức Nho học xuất hiện ngày càng đông đảo Phần lớn họ
đợc tuyển chọn qua các kỳ thi và trở thành chỗ dựa cho triều đình phong kiến.Thời cuộc đổi thay, tiếng súng thực dân Pháp đã làm xáo trộn xã hội ViệtNam kể từ nửa sau thế kỷ XIX Tầng lớp trí thức có sự phân hóa trong t tởng,thái độ, địa vị và vai trò đối với sự phát triển của đất nớc
Cũng theo dòng chảy chung ấy, sự nghiệp giáo dục ở Nghệ An từ 1075
đến 30 năm đầu thế kỷ XX đã tạo đợc một đội ngũ trí thức đông đảo bao gồmcả trí thức Nho học và trí thức Tân học Nhiều tên tuổi đã đi vào huyền thoạicủa dân tộc: Trạng nguyên Bạch Liêu, Trạng nguyên Hồ Tông Thốc,nhà sửhọc Hồ Sỹ Dơng, nhà canh tân Nguyễn Trờng Tộ, chí sĩ yêu nớc Phan BộiChâu…nh và nhiều nhà giáo mẫu mực, đức độ nh Thám hoa Nguyễn Đức Đạt,
Cử nhân Nguyễn Thức Tự
Thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX giáo dục khoa cử lại nở rộ Nhiều gơng mặttiêu biểu nh Hồ Bá Ôn, Nguyễn Xuân Ôn, Đặng Thái Thân, Đặng Thúc Hứa, đã hết lòng vì dân vì n
…nh ớc Thế hệ Nguyễn ái Quốc, Lê Hồng Sơn, Lê HồngPhong, Phạm Hồng Thái…nh đã nối gót cha ông làm rạng danh mảnh đất HồngLam này Họ thực sự là lực lợng tiên phong, nhạy bén trớc thời cuộc và có ảnhhởng lớn lao trong mọi biến cố chính trị - xã hội Đặc biệt trong phong tràocách mạng giải phóng dân tộc 30 năm đầu thế kỷ XX các thế hệ trí thức xứ
Trang 5Nghệ đã tiếp bớc nhau gánh vác những nhiệm vụ lịch sử dân tộc giao phó mộtcách xuất sắc.
Do vậy, nếu làm một lát cắt và chọn Nghệ An làm trung tâm để soi xét,nhìn nhận chúng ta sẽ khám phá đầy đủ, chi tiết, sâu sắc về lực lợng trí thứclàm sôi động một chặng đờng lịch sử 30 năm đầu thế kỷ XX Ngần ấy cũng đủ
để thấy mảnh đất này xanh mãi với đời
Đây là một đề tài lịch sử địa phơng nên sẽ góp phần cụ thể hóa và minhhọa cho lịch sử dân tộc Mặt khác vấn đề giáo dục truyền thống cho thanhthiếu niên là hết sức cần thiết Học sinh thờng biết nhiều hơn về lịch sử thếgiới, lịch sử dân tộc, lịch sử Đông Tây kim cổ…nh nhng nhiều sự kiện lịch sửdiễn ra nơi chôn rau cắt rốn của mình, nhiều nhân vật từng làm rạng danh choquê hơng thì ít đợc biết đến Thật đáng buồn thay! Huống chi ở vùng đất HoanDiễn này mỗi ngọn núi, mỗi dòng sông đều in dấu tích của một thời oanh liệt;
đâu đâu cũng ngời lên bàn tay và ý chí cha ông thì việc tìm hiểu về một thời
kỳ đấu tranh đã qua sẽ cho núi sông thêm linh hồn, quê hơng thêm sức sống
1.3 Về mặt cá nhân
Học tập ở Khoa Sử trờng Đại học Vinh suốt bốn năm nhng tôi cha có dịptìm hiểu về mảnh đất Nghệ An giàu truyền thống Dù không phải là nơi chônrau cắt rốn, bốn năm trú chân nơi xứ ngời không phải là thời gian dài nhngcũng đủ cho tình đất tình ngời làm ấm lòng kẻ xa xứ Tìm hiểu đề tài này là cơhội để tôi hiểu rõ hơn về dải đất Hồng Lam với những nhân vật trí thức cáchmạng hoạt động trong 30 năm đầ thế kỷ XX
Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Trí thức Nghệ An trongphong trào cách mạng giải phóng dân tộc 30 năm đầu thế kỷ XX” làm khóaluận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Xuất phát từ vị trí chiến lợc của Nghệ An cũng nh tầm quan trọng củagiới trí thức đối với sự nghiệp xây dựng quê hơng, đất nớc nên có nhiều cuốnsách, tạp chí, bài báo, luận văn tập trung nghiên cứu về nhân dân Nghệ An nóichung và trí thức Nghệ An nói riêng Đó là cái thế, cái uy, niềm tự hào mộtvùng đất “địa linh nhân kiệt”
Viết về trí thức Việt Nam nói chung phải kể đến một số cuốn sách tiêubiểu nh: “Một số vấn đề trí thức Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn VănKhánh, Nguyễn Quốc Bảo, Nxb Lao động, 2001 “Một số vấn đề trí thức ViệtNam” của Nguyễn Thanh Tuấn, Nxb Chính trị Quốc gia; “Ngời trí thức Việt
Trang 6Nam qua các chặng đờng lịch sử” của Vũ Khiêu, Nxb Thành phố Hồ ChíMinh, 1987 ; “Việt Nam nghĩa liệt sử” của Đặng Đoàn Bằng, Phan Thị Hán,Nxb Văn học, 1972 Các tác phẩm của trí thức Nho học, tân học 30 năm đầuthế kỷ XX tập hợp trong cuốn “Hợp tuyển thơ văn yêu nớc và cách mạng đầuthế kỷ XX” (1900-1930), Nxb Văn hóa Hà Nội, 1972
Trí thức Nghệ An nói riêng và trí thức xứ Nghệ nói chung đợc đề cậptrong nhiều công trình nghiên cứu: “Nghệ Tĩnh với phong trào cách mạng giảiphóng dân tộc 30 năm đầu thế kỷ XX” của Đinh Trần Dơng Nxb Chíng trịQuốc gia, 2000; “Danh nhân Nghệ Tĩnh” (tập 1,2) của Ban nghiên cứu lịch sửNghệ Tĩnh, Nxb Nghệ Tĩnh; “Khoa bảng Nghệ An” của Đào Tam Tĩnh; “Lịch
sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh” của Ban nghiên cứulịch sử Đảng tỉnh ủy Nghệ An; “Các tổ chức tiền thân của Đảng” của Bannghiên cứu lịch sử Đảng Trung ơng, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1977; “Những vấn đề lịch sử Nghệ Tĩnh", Ban nghiên cứu lịch sử, 1981; “Lịch sửNghệ Tĩnh, tập 1, Nxb Nghệ An, 1984
Bên cạnh đó có một số tác phẩm nghiên cứu dới góc độ nhân vật lịch sử
nh “Lê Hồng Phong tiểu sử”, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006 hay “Góp phầntìm hiểu ngời trí thức cách mạng Phan Đăng Lu”, khóa luận tôt nghiệp Đạihọc của Phan Đăng Thuận; “Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chốngPháp của nhân dân Việt Nam” của Tôn Quang Phiệt; “Phan Bội Châu trongdòng thời đại” của Chơng Thâu…nh
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết chuyên sâu của các nhà nghiên cứuTrần Văn Giàu, Chơng Thâu…nhđăng trên Tạp chí lịch sử, các kỷ yếu hội thỏakhoa học và nhiều khóa luận tốt nghiệp của sinh viên khoa sử ở một số trờng
đại học
Nhìn chung, các công trình trên đều đánh giá cao các vai trò của trí thứcNghệ An trong sự nghiệp xây dựng quê hơng đất nớc ở mỗi giai đoạn lịch sử,trí thức Nghệ An đều chứng tỏ trí tuệ, bản lĩnh của mình và luôn thao thứctrăn trở trớc số phận của nớc nhà Tuy vậy, hầu hết các công trình đều nhìnnhận vấn đề ở tầm vĩ mô chứ cha nghiên cứu một cách cụ thể về trí thức Nghệ
An trong phong trào cách mạng 30 năm đầu thế kỷ XX
Với đề tài này, tôi mong muốn sẽ bổ sung những hiểu biết của mình,phần nào lấp chỗ thiếu vắng đó
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Trang 7Khóa luận tập trung tìm hiểu 3 vấn đề cơ bản:
- Những điều kiện địa lý, lịch sử văn hóa góp phần hình thành truyềnthống cách mạng của nhân dân Nghệ An và của giới trí thức 30 năm đầu thế
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài kiệu tham khảo và phụ lục, nộidung khóa luận đợc trình bày trong 3 chơng:
Ch
ơng 1 : Khái quát những điều kiện hình thành truyền thống cách mạng
của trí thức Nghệ An trong 30 năm đầu thế kỷ XX
Ch
ơng 2 : Trí thức Nghệ An trong phong trào cách mạng theo khuynh
h-ớng dân chủ t sản những năm đầu thế kỷ XX
Ch
ơng 3 : Trí thức Nghệ An trong phong trào cách mạng theo khuynh
h-ớng vô sản từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930
Trang 8
B – Nội Dung Nội Dung Chơng 1 Khái quát những điều kiện hình thành truyền thống cách mạng của trí thức Nghệ An 30 năm đầu thế kỷ XX 1.1 Điều kiện địa lý
Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, lãnh thổ nằm gọn trongvùng tọa độ từ 18033'22'' đến 19059'58'' vĩ độ Bắc và từ 103052'15'' đến
105048'17'' kinh độ Đông (T liệu của cục bản đồ Bộ Tài nguyên và Môi trờng2004) Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam là tỉnh Hà Tĩnh, phía Tâychung đờng biên giới dài 419 km với Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thuộcphạm vi 3 tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxây và Hủaphăn, phía Đông trông rabiển Đông bao la
Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 16.487,39 km2 chiếm khoảng 5% diệntích cả nớc với số dân 3.014.850 ngời (31-12-2004) chiếm 3,7% dân số ViệtNam Nh vậy Nghệ An là tỉnh dẫn đầu về diện tích và đứng thứ 4 về dân số.Nói chung đây là một trong những tỉnh lớn nhất nớc ta
Trang 9Địa hình tơng đối phức tạp, đa dạng lại bị chia cắt mạnh ở đây vừa cónúi cao, núi trung bình vừa có đồng bằng vừa có vùng ven biển Cũng nhnhiều miền quê khác, Nghệ An cũng đợc thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh đẹp.
Ai đã từng nghe câu ca:
Đ
“ ờng vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nớc biếc nh tranh họa đồ”
chắc cũng khao khát một lần qua đây
“Cái đẹp xứ Nghệ không phải ở nơi cánh đồng phì nhiêu, không phải ởtrong màu mè của thổ nhỡng, trong ánh sáng và khí hậu của thời tiết Cái đẹpcủa Nghệ Tĩnh là ở nơi núi non hùng vĩ, ở nơi sông sâu, nớc trong với nhữngcảnh vật bao la Một dãy núi âm thầm giăng dài nh một bức bình phong phíasau đất nớc Phía trớc mặt biển Đông lai láng mênh mông…nh” (Đặng ThaiMai) [38,75-76] Nếu muốn tìm những danh lam thắng cảnh quả thực Nghệ
An không thiếu Sơn thủy hữu tình tha hồ du khách chu du thả hồn
Song, Nghệ An không giàu, nhiều núi, nhiều thung lũng, đồng bằnghẹp, đất màu mỡ chẳng có bao nhiêu Phần lớn ruộng đất là đồng chua nớcmặn Nhiều nơi cằn cỗi, tiêu sơ Cảnh vật quanh năm chẳng nhiều thú vị “Mộtmùa xuân nghèo màu sắc, hiếm âm thanh Hè đến là nắng với gió Những đợt
“nam cào” làm cho nứt đất, nẻ đồng, cạn cả khe suối, khô róc cả giếng, ao,
đầm, hồ Bụi tỏa mù trời, đầy cả đờng, lùa vào tận nhà ở, phủ lên cả đồ đạc.Gió vồ vập làng mạc, gió rung chuyển cả núi rừng Nắng và gió là hai yếu tốngự trị Tiếp đó là mùa thu với ma, với lũ Rồi đến mùa đông ủ dột, lạnh lẽo,tiêu điều.” (Đặng Thai Mai) [38,75] Tạo hóa không u ái với ngời xứ Nghệ.Bao đời nay con ngời nơi đây phải vơn lên đối chọi với cái khắc nghiệt củathiên nhiên mà tồn tại và phát triển Thơng cảm với số phận của mảnh đấtnghèo, Hoàng giáp Bùi Dơng Lịch trong “Nghệ An ký” đã phác họa nh sau:
“Xứ Nghệ An gần núi, giáp biển, đất đai sỏi cặn, cằn cỗi lại không mấy nơibằng phẳng, rộng rãi , nên từ xa không có chính sách đắp đê, thế thì ruộng đất
ở đây hẹp và chênh khá rõ Những nơi gần núi đốt rừng làm nơng rẫy và làmguồng xe quay tới mát mà có khi hoa màu chỉ một đêm bị thú rừng dẫm phá
ăn hết sạch Những nơi giáp biển thì đắp đập ở ven bờ ngăn nớc triều dâng đểlàm ruộng, nhng gió bão vài khắc thì nớc mặn tràn vào hoặc bị ngập hết cả.Ruộng ở khoảng giữa núi và biển thì có khi đợc vụ chiêm mất vụ mùa, hoặc đ-
ợc vụ mùa mất vụ chiêm, mà nơi cấy đợc vụ chiêm thì thờng bị gió bão Nơicấy đợc vụ mùa thì lại lụt không sao cho thu hoạch vẹn toàn” [trang 219]
Trang 10Dờng nh khi đọc những câu văn của Đặng Thai Mai hay Bùi Dơng Lịchngời ta đã liên tởng ngay đến mảnh đất Nghệ An chứ cha cần những lời chúthích Nói đến cái khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên, con nguời nơi đây
đã quá quen thuộc nh một phần máu thịt của mình Để sinh tồn họ phải đấutranh không mệt mỏi với các thế lực tai quái của vũ trụ Khát khao chinhphục thiên nhiên đã gửi trọn qua những tác phẩm văn học dân gian nh : “Ngu Công dời núi”, “Bắn chín mặt trời”…nhcòn đợc truyền tụng đến ngàynay
Mảnh đất ấy đã phả vào hơi thở, giọng nói, huyết mạch của mỗi ngời từkhi cất tiếng khóc chào đời tất cả những gì linh thiêng nhất Thiên nhiênkhông dễ dãi mà “ khó tính” đến khắc nghiệt đã hun đúc nơi con ngời sự rắnrỏi gân guốc, khô khan, sống thiên về lý trí nhng đầy nghị lực sớm biết suynghĩ và trăn trở với đời Không quản khó khăn gian khổ, không chùn bớc trớchiểm nguy, luôn kiên trì, nhẫn nại, kiên gan bền chí; cần cù sáng tạo trong lao
động, chiến đấu ấy là những nét đẹp về nhân cách, phẩm chất của ngời xứNghệ Mang theo những hành trang vô giá ấy thệ hệ này tiếp thế hệ kia làmrạng danh cho trang sử quê hơng, đất nớc
1.2 Điều kiện lịch sử –văn hóa
1.2.1 Điều kiện lịch sử
Dải đất Lam Hồng là một phần của Tổ quốc Việt Nam Lịch sử dân tộc
có bao nhiêu ngày, thịnh suy hng vong ra sao thì lịch sử Nghệ An cũng chịutừng ấy tác động Nằm ở vị trí quan trọng về mặt chính trị, xã hội, nơi đâyphải đứng mũi chịu sào trớc các thế lực ngoại bang xâm lợc từ hai phía Bắc,Nam trong suốt chiều dài lịch sử
Thời nguyên thủy, Nghệ An đã là một bộ phận của cộng đồng c dân Việt
Cổ, góp phần xây dựng nền văn hóa vật chất và xúc tiến tính thống nhất vănhóa của toàn cộng đồng Đây là nơi ngời vợn cổ sinh sống mà các nhà khảo cổhọc đã tìm đợc dấu tích ở hang Thẩm ồm, huyện Quỳ Châu Nền văn hóaQuỳnh Văn phát triển trong thời đại đồ đá mới đã một lần nữa chứng tỏ sứcsống, sức sáng tạo của con ngời nơi đây ngay từ buổi khai thiên lập địa Lịch
sử thành văn của dân tộc từ khi có nhà nớc đến nay qua mỗi chặng đờng tiếnhóa đều in đậm dấu ấn của ngời xứ Nghệ Thời cổ đây gọi là Việt Thờng Saunày trong cả một quá trình lịch sử lâu dài, đã có nhiều đổi thay Khi là mộthuyện, một quận, một châu, một lộ, một thừa tuyên, một xứ, một trấn khi làhai châu, hai lộ, hai phủ, hai trại, hai tỉnh …nh.rộng hẹp khác nhau Năm Thiên
Trang 11Thành thứ 3 (1030) đời Lý Thái Tông tên Nghệ An mới xuất hiện và cũng từ
đó nó trở thành cái tên quen thuộc: cái tên của đau thơng và cái tên của tựhào!
Năm 1831, Minh Mạng tách hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa thuộc Nghệ An
đặt làm tỉnh Hà Tĩnh nhng vẫn nằm dới quyền kiểm soát của một tổng đốc AnTĩnh Đến năm 1852, Tự Đức bỏ tỉnh Hà Tĩnh và sáp nhập vào tỉnh Nghệ An,nhng đến năm 1875 tự Đức bỏ đạo Hà Tĩnh lập lại tỉnh Hà Tĩnh nh trớc Đếnngày 29-12-1975, Chính phủ nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã sápnhập Nghệ An và Hà Tĩnh thành một tỉnh Hà Tĩnh Ngày 1- 9 - 1991, lại táchthành hai tỉnh nh cũ
Chỉ một tên địa danh Nghệ An đã chứa đựng trong đó bao điều bí ẩn, baobiến đổi thăng trầm huống chi số phận của nó qua dặm dài lịch sử !
Định c lập nghiệp trên mảnh đất gió Lào cát trắng, nắng lắm, ma nhiều,ngời Nghệ An không chỉ cần cù chịu khó, ra sức cải tạo thiên nhiên, tích cựclao động sản xuất mà còn dũng cảm chống lại áp bức bất công đầy ngang tráitrong xã hội
Nằm giữa hai đầu Tổ quốc, Nghệ An đợc xem là “trọng trấn”, “viễntrấn”, “then khóa của các triều đại” Với vị trí chiến lợc ấy, từ bao đời nay ng-
ời Nghệ An không phút nghỉ ngơi luôn phải gồng mình chống lại các thế lựcphơng Bắc và các quốc gia phong kiến phơng Nam lăm le xâm lợc Suốt chặng
đờng dân tộc đã kinh qua, đất Nghệ An, dân Nghệ An luôn là tâm điểm củacác phong trào đấu tranh, phong trào yêu nớc chống các thế lực thù địch bảo
vệ bầu trời bình yên của quê hơng xứ sở
Ngay từ thời Bắc thuộc, nhiều cuộc khởi nghĩa lớn của ngời dân xứNghệ đã nổ ra, tiêu biểu nhất là khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (713-722)chống lại ách đô hộ của nhà Đờng Cuộc khởi nghĩa thắng lợi và giành, giữchính quyền suốt 10 năm Tởng nhớ công lao của vua Mai ở đền thờ xã DiênLãm còn lu lại mấy câu thơ đợc dịch nh sau:
“ Hùng cứ Hoan Châu đất một phơng,
Trang 12Dân nớc đời đời mãi nhớ thơng.”
Trong kỷ nguyên độc lập tự chủ, ngời xứ Nghệ tiếp tục đóng góp côngsức làm nên nhiều chiến thắng vẻ vang Thời Trần ba lần chiến thắng Mông –Nguyên đều ghi dấu ấn của ngời dân Nghệ An Đây đợc xem là hậu phơngvững chắc, chỗ dựa tin cậy của triều đình mà chính vua Trần Nhân Tông đãbộc lộ rằng: “
“Cối kê cựu sự quân tu ký
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh’
(Cối kê chuyện cũ ngời nên nhớ
Hoan Diễn vẫn còn chục vạn quân)
Và sự thực trong cuộc đơng đầu với vó ngựa bạo tàn của quân giặc nhândân Nghệ An đã chung sức chung lòng cung cấp lơng thực, tiền bạc, huy độngnhiều trai tráng ra trận Sự đóng góp nhân tài vật lực và những hy sinh xơngmáu đó là vô cùng Khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, Nghệ An lại là “đất lập c -ớc” (chỗ đứng chân) của nghĩa quân Theo nhìn nhận của Nguyễn Chích:
“Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng, ngời đông, tôi đã từng qua lại nên rấtthông thạo đờng đất Nay ta nên trớc hãy đánh lấy Trà Long, chiếm giữ, bình
định cho đợc Nghệ An để làm chỗ đứng chân, dựa vào đây mà lấy nhân lực tàilực, sau sẽ quay cờ trẩy ra Đông Đô thì có thể tính xong đợc việc dẹp yênthiên hạ.” Từ mảnh đất đứng chân ấy, bao ngời con u tú của xứ Nghệ đã đứngdới cờ khởi nghĩa, ra sức chiến đấu lập nên nhiều kỳ tích xứng với câu nhậnxét của Lê Lợi: “Đất xứ Nghệ thắng địa, lính xứ Nghệ thắng binh” Đến thế kỷXVIII, khi Quang Trung Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc diệt quân xâm lợcMãn Thanh, nhân dân ở đây đã giúp đỡ hết lòng Chỉ 10 ngày dừng chân,Nguyễn Huệ đã tuyển mộ đợc 5 vận quân sẵn sàng Bắc tiến cất khúc ca khảihoàn trở về Khi gót giày thực dân dày xéo lên đất nớc ta, nhân dân Nghệ An
đã đứng dậy chống lại kẻ thù Khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Nh Mai (1874)
là tấm gơng tiêu biểu Triều đình đầu hàng, bất lực, nhân dân Nghệ An sớmtỉnh ngộ “quyết đánh cả triều lẫn Tây” Từ đầu thế kỷ XX, ngời dân Nghệ Ancũng nh bao ngời con của Tổ quốc đau lòng bao nhiêu trớc cảnh nớc mất nhàtan, con đờng cứu nớc chìm trong đêm tối cha có đờng ra thì càng khát vọngbấy nhiêu về một tơng lai tơi rạng cho dân tộc Con đờng cách mạng vô sảnchỉ lối, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã phất cao gọn cờ độc lập dân tộcgắn liền với chủ nghĩa xã hội làm nên một Xô Viết anh hùng, một Cách mạng
Trang 13tháng Tám “long trời lở đất” và chèo lái cuộc kháng chiến chống Pháp, chống
Mĩ đến ngày đại thắng
1.2.1 Điều kiện văn hóa
Trong tiến trình lịch sử văn hóa của dân tộc, Nghệ An đã từng nổi tiếngvới nền văn hóa Quỳnh Văn thời đại đồ đá mới, là đất văn vật thời Lê -Nguyễn với một vùng văn hóa dân gian phong phú, đặc sắc mà ngời ta vẫnhay gọi là “xứ Nghệ” Nơi đó đã sinh ra bao thế hệ trí thức, nhà thơ, nhà vănhóa lỗi lạc
Nói đến Nghệ An ngời ta nghĩ ngay đến một vùng đất học Gia phả nhiềudòng họ của Nghệ An còn lu giữ và truyền tụng nhiều tấm gơng hiếu học, khổhọc của thế hệ đi trớc Dẫu nghèo đói, gia đình nào cũng muốn con em mình
no chữ nên việc “chăm lo đèn sách”, “đền nợ nớc” trở thành một ý thức tựgiác, một trọng trách nặng nề nhng cao cả
Là vùng đất xa trung tâm nên thời Lý, Nho học cha phổ biến, số ngời đợc
đi học rất hiếm Sang thời Trần, sự học ở Nghệ An bắt đầu nở rộ Ngời khaikhoa cho nền giáo dục Nho học Nghệ An là trại Trạng nguyên Bạch Liêu
Ông quê ở làng Nguyên Xá nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành đỗ đầukhoa thi năm 1226 dới thời Trần Thánh Tông Trờng thi Nghệ An đợc lập từthời Lê Thánh Tông (1438) nổi tiếng là nơi để nhà nớc quân chủ chuyên chếlựa chọn nhân tài Cho đến hết thời Lê cả vùng Nghệ Tĩnh có khoảng 150 ngời
đỗ đại khoa, trong đó có 6 Trạng nguyên Theo “Khoa bảng Nghệ An”, thờiNguyễn tổ chức 47 khoa thi hơng lấy đậu 5232 cử nhân thì trờng thi HơngNghệ An tổ chức 42 khoa thi, lấy đậu 882 cử nhân trong đó ngời Nghệ An là
562 Nếu tính cả 33 cử nhân ngời Nghệ An đậu ở nơi khác thì con số lên tới
595 ngời chiếm 11,4% so với cả nớc Trong 42 khoa thi có tới 25 vị đỗ đầu làngời Nghệ An Đó là cha kể đến trong 39 lần thi Hội dới thời Nguyễn có 558
đại khoa thì riêng Nghệ An có 91 vị Tiến sĩ chiếm 16,3%, cao nhất cả nớc.Những con số rất khô khan kia đã phản ánh truyền thống hiếu học, một
bề dày của nền giáo dục Nho học Nghệ An mà không phải ở đâu cũng có đợc
ấy là niềm tự hào của mỗi con ngời khi mang trong mình hơi đất, khí trời xứNghệ Chẳng thế mà ngay tên đất, tên làng Nghệ An cũng đợm màu chữnghĩa: Nho Lâm, Bút Trận, Bút Điền, Văn Hiến, Văn Vật, Th Phủ…nh (DiễnChâu); Bút Luyện, Văn Thai, Tam Khôi…nh(Quỳnh Lu); Văn Khuê, Văn Trờng.Văn Lâm…nh (Đô Lơng); Kim Bảng, Khoa Bảng (Thanh Chơng); Khoa Trờng,Khoa Cử (Nam Đàn)…nh “Khi chế độ khoa cử còn thịnh, cơ hồ mỗi làng đều
Trang 14nhìn thấy trong núi của mình một cái bảng, một quản bút, một cái án th hoặcmột thanh gơm, một chiếc ấn, một con nghê vàng, một cái yên ngựa”[17,189] Nhận xét tinh tế của Đặng Thai Mai cũng là lời bà con Quỳnh Đôivẫn thờng tự hào:
Làng ta khoa bảng thật nhiều
“
Nh cây trên núi, nh diều trên không”
Có ai ngờ ở cái đất cằn cỗi, nghèo xơ xác đến nỗi “mai khoai, tra khoai,tối khoai, khoai ba bữa” thế mà “cha đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà” Hamhọc, học giỏi, đỗ đạt cao đã đành, các nhà nho xứ Nghệ còn đợc biết đến vớinhững phẩm chất đáng trọng: “Học trò Nghệ An chuộng khí tiết, nhiều ngờihào mại, có chí chăm học, văn chơng thì dùng lời lẽ cứng cáp, không cần đẹplời” (Đại Nam nhất thống chí) [10,11] Truyền thống tốt đẹp đó đã tạo nênnhững thế hệ trí thức kế tiếp nhau làm rạng danh quê hơng, đất nớc Nhữngngời đỗ đạt nếu không ra làm quan thỏa chí “tu thân, tề gia, trị quốc, bìnhthiên hạ” thì cũng là những thầy đồ tận tụy khai tâm, khai trí nhiều thế hệ họctrò Để rồi, “lớp cha trớc, lớp con sau” với tài năng, trí tuệ và bản lĩnh củamình sẽ gây dựng nên những cơ đồ sáng lạn
Nghệ An còn là vùng đất kết tinh nhiều giá trị văn hóa đặc sắc Thế nêncác nhà nghiên cứu văn hóa vẫn gọi mảnh đất này với cái tên thân thuộc: xứNghệ, để chỉ “vùng văn hóa sông Lam”, “vùng văn hóa Hồng Lam” hay “vùngvăn hóa xứ Nghệ” Nơi đây còn lu giữ một kho tàng văn học dân gian phongphú giàu sức sống trong những bài vè, những bài hát dặm, những câu hát ph-ờng vải…nhNgoài ra, những thành tựu về y học, dợc học, kiến trúc, điêu khắccũng đều tôn lên giá trị quý báu của một nền văn hóa lâu đời
“Ngời là hoa đất ” và chính con ngời đã trả nghĩa cho đất bằng cách làmrạng danh tên đất Mỗi ngời đều có một quê hơng để nhớ, để thơng Ngời takhông có quyền lựa chọn nơi mình sinh ra nhng cũng ngay từ lúc cất tiếngkhóc chào đời hơi đất đã thấm vào hơi ngời mặn mà sâu nặng Chẳng thế mà ở
đâu cũng có giọng nói, phong tục, tập quán, đặc sắc văn hóa riêng Nghệ Ancũng vậy, thiên nhiên hùng vĩ nhng hung dữ Vẫn lãng mạn trữ tình đấy chứnhững dòng Lam êm đềm chảy, vẫn tha thiết yêu thơng đấy chứ những đợtthủy triều cồn cào nơi Cửa Lò, Cửa Hội…nhVậy mà cũng khắc nghiệt lắm thaycái nắng, cái gió bỏng da rát thịt những ngày hè, cũng chẳng a gì những cơn lũdữ dội hay cái rét cắt da cắt thịt khi đông về
Trang 15Không chịu khuất phục trớc thiên nhiên, bao thế hệ con ngời cứ thế vơnlên vợt qua gian khó, thách thức với đời ngạo nghễ vơn lên Hơn ai hết, họ đã
đi vào lòng Tổ quốc Việt Nam nh một danh từ đáng nhớ, đáng tự hào: đấtNghệ An
"Địa linh" sinh "nhân kiệt" quả đúng với mảnh đất nghèo này Sớm phải
đơng đầu với khó khăn, gian khổ con ngời đợc tôi luyện trở nên kiên gan, bền
bỉ, dũng cảm và sáng tạo Đặc biệt là trí thức, những ngời có học thức, amhiểu rộng rãi nên rất nhạy bén với thời cuộc Kể từ khi nhà Nguyễn bạc nhợc,cầu hòa đi đến mất nớc, ngọn cờ Cần Vơng rồi cũng im hơi lặng tiếng, các bậc
sĩ phu Nghệ An đã có sự chuyển biến trong t tởng “Trung quân” không còngắn với “ái quốc” nh trớc Bộ phận sĩ phu yêu nớc tiến bộ đã tự nguyện rời xachốn quan trờng đứng về phía nhân dân chống Pháp Song lúc đó, lập trờngquân chủ vẫn cha xóa bỏ, họ hi vọng một “Cần Vơng” sẽ đem đến một minhquân đa chế độ phong kiến phục hng Đó không phải là lựa chọn đúng đắn nh-
ng cũng không phải là lựa chọn sau cùng Bi kịch của cả dân tộc còn đó, con
đờng cứu nớc còn mờ mịt Giữa lúc đó nhân dân ta nói chung và trí thức Nghệ
An nói riêng đang thao thức, trăn trở cùng vận mệnh Tổ quốc
Nh vậy, những điều kiện địa lí, lịch sử, văn hóa cùng với những chuyểnbiến về t tởng của sĩ phu Nghệ An cuối thế kỷ XIX đã trở thành nền tảng cơ sởnảy sinh một tầng lớp trí thức học rộng, tài cao, chí lớn vốn bớc ra từ cửaKhổng sân Trình xông ra xốc vác vận mệnh nớc nhà Ba mơi năm đầu thế kỷ
XX, trí thức Nghệ An đã tiếp lửa truyền thống kế tục sự nghiệp ông cha mộtcách xuất sắc
Chơng 2 Trí thức Nghệ An trong phong trào cách mạng theo khuynh hớng dân chủ t sản những năm đầu thế
kỷ XX
Bớc sang thế kỷ XX, phong trào cách mạng trên thế giới cũng nh ở ViệtNam có những chuyển biến lớn Những cơn “ma Âu gió Mĩ” thổi đến đã làm “Châu á thức tỉnh” T tởng dân chủ t sản từ phơng Tây sang, từ Trung Quốc
Trang 16đến, từ Nhật Bản vào đã tạo nên sự phân hóa t tởng của ngời Việt Nam Lúcnày, lớp văn thân sĩ phu yêu nớc thức thời đã đứng ra tiếp nhận những trào lu
t tởng mới đó và khuấy lên một phong trào cách mạng giải phóng dân tộc thật
sự sôi nổi vào đầu thế kỷ XX
ở Nghệ An, vào thời điểm thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thácthuộc địa lần thứ nhất tạo ra những chuyển biến về kinh tế- chính trị- xã hộithì cũng vừa lúc đủ điều kiện đón sự xuất hiện của con đờng cứu nớc mới
2.1 Sự chuyển biến của Nghệ An dới ảnh hởng cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ nhất của Pháp (1897-1914)
2.1.1 Sự thay đổi trong tổ chức hành chính
Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lợc Việt Nam thì Nghệ Tĩnh còn chialàm hai khu vc hành chính: Tỉnh Nghệ An và đạo Hà Tĩnh Tỉnh Nghệ An lúcbấy giờ gồm 9 phủ, đứng đầu mổi phủ là một quản đạo Năm 1875, sau khởinghĩa Giáp Tuất (1874), Nghệ Tĩnh đợc chia làm hai khu vực hành chínhngang nhau: Nghệ An và Hà Tĩnh Tới năm 1896, sau khi đàn áp khởi nghĩaPhan Đình Phùng, Nghệ An còn 5 phủ và 6 huyện Cũng từ đây, dới tác độngcuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp mà trong thời kì này
có một số điều chỉnh về hành chính Năm 1889, để nắm chắc hơn miền TâyNghệ An, thực dân Pháp lập ở Cửa Rào (Tơng Dơng) một đại lí hành chính(theo Nghị định toàn quyền 15-03-1889) Tiếp đó, chúng cho lập thị xã Vinhvới đầy đủ các khoản ngân sách riêng (Nghị định toàn quyền 14-03-1900).Năm 1902, chúng đặt ở Diễn Châu một đại lí của công sứ Nghệ An (Nghị
định toàn quyền 08-01-1902) năm sau thấy không có lợi nên bỏ Ngoài ra, đểkiểm soát đồng bào dân tộc ít ngời ở miền Tây Nghệ An chúng còn chia phủQuỳ Châu thành hai đơn vị hành chính là huyện Nghĩa Đàn và phủ Quỳ Châu(Nghị định toàn quyền 22-10-1907) Năm 1914, do sự mở rộng của khu vựccông nghiệp, thị trấn Bến Thủy đã đợc đổi thành thị xã Bến Thủy ngang hàngvới thị xã Vinh
Sự xác lập lại đơn vị hành chính của thực dân Pháp không nằm ngoài mục
đích là nắm quyền kiểm soát nơi đây chặt chẽ hơn đồng thời cũng dễ dànghơn trong việc đối phó với sự nổi dậy của quần chúng Sống trên mảnh đất quêhơng, dới gầm trời xứ sở mà nhân dân Nghệ An phải chịu không khí tù túng,kiểm soát nghiêm ngặt, không chút tự do, dân chủ nào
2.1.2 Sự chuyển biến về kinh tế
Trang 17Sau khi đàn áp phong trào Cần Vơng trong biển máu, thực dân Pháp đãhoàn thành cơ bản công cuộc xâm lợc và bình định ở Việt Nam Môi trờngchính trị ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho thực dân Pháp tiến hành côngcuộc khai thác thuộc địa một cách có hệ thống, trên qui mô lớn cho đến khithế chiến thứ nhất nổ ra.
Dới bàn tay tham lam tàn bạo của kẻ thực dân xâm lợc, kinh tế Nghệ An
đã có sự chuyển biến về cơ cấu, diện mạo
Nông nghiệp vốn là ngành kinh tế chủ yếu nhng đất đai đa phần cằn cỗi,ngời dân quần quật quanh năm suốt tháng mà chẳng đủ ăn Cái nghèo đói cứbám dai dẳng nơi đây biết khi nào khác đợc Đất nớc yên bình đã vậy, nay lạithêm sự khai thác bóc lột của thực dân càng khốn đốn trăm bề Công cuộc
“bình định” của thực dân Pháp đã cớp đi bao nhân tài vật lực Làng mạc,ruộng vờn, nhà cửa tan theo tiếng súng bạo tàn của bè lũ xâm lợc, nhiều làng
nh Xuân Liễu (Nam Đàn), Nguyệt Bổng, Mỵ Sơn (Thanh Chơng), Quần
Ph-ơng (Diễn Châu); Quỳnh Đôi (Quỳnh Lu)…nhbị triệt hạ hay thiêu hủy Phần lớn
đất đai bị hoang hóa hàng chục năm mới phục hồi đợc Đã thế, nhiều nơi bọnViệt gian lợi dụng buổi loạn lạc, nông dân phiêu tán cớp đoạt ruộng đất dựngdinh cơ riêng Lê Văn Khuê đợc bọn thực dân cho phép cắt một phần ruộng
đất của làng Trung Lễ lập ra làng Quy Nhân làm lãnh địa riêng Nhiều làng,nơi diễn ra phong trào Giáp Tuất (1874) “kinh thiên động địa” nh Thanh Chi(Thanh Chơng), Thanh Thủy (Nam Đàn), Nghi Công, Nghi Kiều (Nghi Lộc);Bào Hậu (Quỳnh Đôi) nông dân phải đem ruộng đất gán nợ cho nhà Chung
Đợc thế, bọn địa chủ nhà Chung ở các địa phận và xứ đạo xã Đoài, Nhân Hòa,Cửa Lò (Nghi Lộc); Đồng Tháp (Diễn Châu); Thuận Nghĩa (Quỳnh Lu); BảoNham (Yên Thành); Bụt Đà (Đô Lơng); Cầu Rầm (Hng Nguyên)…nhcàng mạnhtay hơn trong việc cớp ruộng đất của nông dân Chỉ riêng ở xã Đoài, trớc cáchmạng tháng Tám 7.804 mẫu đất đã lần lợt rơi vào tay địa chủ Nạn chiếm cứruộng đất của bọn thực dân lẫn phong kiến đã đẩy nông dân vào cảnh “khôngmảnh đất cắm dùi” Họ phải lĩnh canh, nộp tô, chịu cảnh lam lũ của một tá
điền ngay trên mảnh đất của mình Dới hai tầng áp bức với không biết baonhiêu thứ thuế đã tạc vào tâm trí con ngời cảnh “xong mùa treo hái treo niêu”
Đó là cha kể đến những thân phận phiêu bạt nh cánh chim trời nay đây mai đó
đã quá đỗi quen thuộc
Thực dân xâm lợc nhng cách bóc lột phong kiến vẫn duy trì Hàng nămngời nông dân phải chịu hàng trăm thứ tô thuế nặng nề và lên xuống không ổn
Trang 18định Theo nghị định của Nhà nớc, năm 1898 thuế ruộng chia làm hai loại:hạng nhất (1,5 đồng), hạng nhì (1,2 đồng) nhng nhiều nơi, chúng tự ý chia làm
3 hạng (nhất, nhì, ba) rồi đổ đồng thu theo hạng nhì Vô lý và dã man nhất làthuế đinh đổ vào đầu nam giới từ 18 đến 60 tuổi Từ khi Pháp bắt tay vào khaithác thuộc địa lần thứ nhất, thuế thân tăng 7 lần (từ 3 hào lên 2 đồng 3 hào) và
đến 1914 là hai đồng 9 hào tơng đơng với 3 tạ lúa bấy giờ Do đó, chỉ riêng
1912 ở Nghệ An đã phải nộp 360.468 đồng tiền thuế
ở nhiều vùng đất đai dễ canh tác, chúng cớp đoạt ruộng đất lập đồn điềntrồng cà phê, cao su…nhTheo tài liệu của sở công chính Trung Kỳ đến năm
1928, riêng ở Nghĩa Đàn có tới 10 đồn điền lớn, rộng nhất là Laipichcơ: 7.500
ha (Nghĩa Đàn); Vante:6.000 ha (Đông, Tây Hiếu); Xanta: 500 ha (NghĩaHợp) ở những đồn điền này chúng ra sức bóc lột sức lao động tại chỗ với
đồng lơng rẻ mạt
Ruộng đất bị cớp đoạt dới nhiều hình thức, su cao thuế nặng dồn dập,trong khi ngời nông dân chủ yếu độc canh cây lúa, phơng pháp và tập quánsản xuất lạc hậu, thô sơ, lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên năng suất thấp,bấp bênh Đói nghèo, túng quẩn cứ bám lấy ngời dân nh những bóng makhông dứt ra đợc
Không tách rời nông nghiệp là hoạt động thủ công nghiệp Ngời xứNghệ không chỉ cần cù, siêng năng mà còn khéo tay hay làm, giàu sức sángtạo Thủ công nghiệp từ lâu đã là ngành truyền thống Nhiều làng nghề nổitiếng đã đi vào thơ ca:
Thế nhng thời kì này những bàn tay tài hoa, những khối óc sáng tạo của
họ không đợc chú trọng Hơn thế, bọn thực dân tìm cách kìm hãm các nghềthủ công làm nó không phát triển đợc và mai một dần Để tiêu thụ hàng hóacủa Pháp, chúng thực hiện chính sách độc chiếm thị trờng, làm các ngành nhdệt, thuộc da, nấu rợu…nhđình đốn rồi phá sản Ngay cả một số nghề nh gốm(Yên Thành), đúc đồng (Diễn Châu), mộc (Nam Đàn), nấu đờng mật (Nam
Đàn, Hng Nguyên)…nhkhông hề có sự cạnh tranh với chúng thì cũng bị khốngchế không cho mở mang, phát triển Nghề sản xuất muối ở Bãi Ngang (Quỳnh
Trang 19Lu), Diễn Vạn (Diễn Châu)…nhbị Pháp nắm độc quyền Chúng thu mua muốivới giá rẻ 0,32 đồng rồi lại bán cho nông dân với giá 3,62 đồng (ở đồng bằng)
và 6,26 đồng (ở vùng núi) 1 tạ muối
Thủ công nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nông nghiệp, thực chất đó
là những nghề phụ trong buổi nông nhàn, một kế sinh nhai của ngời nông dân.Thế nhng nông nghiệp xơ xác, tiêu điều lấy đâu cơ sở để đẩy mạnh thủ côngnghiệp Hơn thế những chính sách kìm hãm đã bóp nghẹt hoạt động thủ côngnghiệp không vơn lên đợc
Trong công nghiệp, thực dân Pháp tận dụng mọi khả năng để vơ vét Vớimột tên thực dân xâm lợc, mục đích của chúng là nguyên, nhiên liệu, thị trờngtiêu thụ và nguồn nhân công rẻ mạt Do vậy công cuộc khai thác thuộc địa lầnthứ nhất Pháp đã xây dựng một số cơ sở công nghiệp nhng với mục đích phục
vụ nhu cầu khai thác nh nhà máy sữa chữa, lắp ráp hay sản xuất mặt hàng tạichỗ…nhthiếu vắng những ngành công nghiệp then chốt nh cơ khí, xây dựng
Đặc biệt, ở Nghệ An vị trí Vinh – Bến Thủy đợc thực dân Pháp rất để tâm
Tờ tạp chí “Kinh tế Đông Dơng” đã ghi lại khá cụ thể những nhận xét củathực dân Pháp: “…nh ớc kia ngời ta lầm tởng TuRan (Đà Nẵng) sẽ trở thànhtrcảng lớn đối với Lào, nhng thực tế chính Bến Thủy mới là cảng lớn Hải cảnglớn nhất Đông Dơng là cảng Hải Phòng rối đến Bến Thủy vì :
- Việc chuyên chở đờng thủy đến Bến Thủy – Hải Phòng bao giờ cũngtiện hơn TuRan
- Bến Thủy tơng lai sẽ trở thành một hải cảng hoạt động đông nhất, kể từ
bờ Hải Phòng đến Sài Gòn Sự đó là chắc chắn không có nghi ngờ gì nữa…nh”(số 224, ngày 25 -9-1921) [10,20-21]
Nắm đợc vị trí quan trọng đó, ngay từ những năm đầu đặt chân lên đây,tên thực dân nhà binh kiêm thơng nhân Giăng Đuypuy đã lập ra một số cơ sởthu mua gỗ Năm 1891, lập “Hội thơng nghiệp Trung Kỳ” sau mở rộng thành
“Xởng ca xẻ” Năm 1900, “Công ty Lào” mở “Xởng ca mộc” với số lợng 300công nhân chuyên chế biến gỗ Năm 1903, từ “Xởng ca xẻ” công ty diêm
Đông Dơng lập nhà máy Diêm với số lợng 750 công nhân đa việc chế biến gỗ
Trang 20mở rộng thêm một bớc Có năm các xí nghiệp công nghiệp gỗ ở Bến Thủy docông ty lâm sản thơng mại Trung Kỳ và công ty Diêm Đông Dơng đã hợp tácquản lý, đa lợng gỗ xuất khẩu lên tới 7.000 tấn Bên cạnh đó còn có nhà máycá hộp Laicơpích, nhà máy cơ khí Trờng Thi
Vào cuối đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Vinh- Bến Thủy đã có cácnhà máy: diêm, điện,ca, cá hộp, sữa chữa xe lửa, rợu, bia…nh
Đó là “bộ mặt công nghiệp” của Nghệ An bấy giờ
Tuy vậy, các cơ sở công nghiệp này đều đợc rót vốn từ “Ngân hàng ĐôngDơng” - một chi nhánh của t bản tài chính Pháp Điều đó chỉ ra rằng các cơ sởcông nghiệp ở Nghệ An cũng nh các địa phơng khác ở Việt Nam thực chất chỉ
là công cụ bóc lột của bọn t bản Pháp mà thôi Nó không có tác dụng gì đốivới nhân dân lao động Sự mọc lên vội vã của các nhà máy này không nhằmmục đích nào khác là vơ vét tài nguyên thiên nhiên phục vụ bọn thống trị vàxuất khẩu làm giàu cho chính quốc
Trong thơng nghiệp, Pháp cũng nắm độc quyền, thả cửa cho t bản Phápmặc sức tung hoành Từ 1897, Nghệ An trở thành mảnh đất màu mỡ cho bọnthơng nhân nớc ngoài vơ vét Nhiều hiệu buôn của t bản ngoại quốc đợc lập ra
nh “Hội buôn Lào” với số vốn khoảng 600.000 đồng, (chuyên nhập các loạidầu, vải, rợu và thu mua đồ da, dầu thông, cánh kiến,…nhTrong đó cao su là mặthàng có lợi nhuận hơn cả Do đó, lợng xuất khẩu tăng vọt từ 5.617 kg (1899)
đến 108.867 kg (1900) Nhu cầu xuất khẩu rất lớn đa Bến Thuỷ trở thànhtrung tâm thơng nghiệp sầm uất khắp cả miền Trung Sự phát triển kinh tế củaNghệ An nhất là thơng nghiệp cho phép tách ngân sách khu vực này ra khỏiTrung Kỳ năm 1904 Nếu nh thơng nghiệp ở các thành thị lớn bị thơng nhânngoại quốc lũng đoạn thì ở vùng nông thôn hệ thống chợ giữ vai trò quantrọng đảm bảo nhu cầu trao đổi của nhân dân cũng bị chúng kiểm soát nghiêmngặt
Cũng cần nói thêm rằng, trong quá trình “bình định” và khai thác thuộc
địa Pháp đã gấp rút hoàn chỉnh một số tuyến đờng giao thông huyết mạch.Năm 1893- 1895, con đờng số 7 từ Diễn Châu đi Lào đợc mở; năm 1900, khởicông đoạn đờng xe lửa Vinh- Hà Nội và hoàn thành năm 1905 Năm 1913 làm
đờng Vinh- Cửa Lò- Cửa Hội; năm1915 làm đờng xe lửa Vinh- Đông Hà.Những con đờng liên tiếp đợc mở phục vụ đắc lực cho quá trình vận chuyểnchiến lợi phẩm về “nớc mẹ Đại Pháp” đồng thời cũng thuận lợi cho đội quân
Trang 21viễn chinh đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Đó là cách mà chúngthực hiện công cuộc “khai hóa” ở xứ này.
Nh vậy, công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Phápdiễn ra ở Nghệ An đã đa nền kinh tế ở đây đến sự thay đổi nhất định Cơ cấukinh tế bớt đơn điệu hơn thay vào đó là những hoạt động công thơng nghiệprầm rộ nhất là ở trung tâm Vinh- Bến Thủy Song, đó chỉ là cái vỏ bề ngoàicủa một nền tảng kinh tế lạc hậu, trống rỗng Thực chất, kinh tế Nghệ An lúcnày bị phụ thuộc hoàn toàn vào chính quốc Đó là mặt thành công mà kẻ xâmlợc đã đạt đợc Cũng phải thừa nhận rằng, chính thực tế đời sống kinh tế trênmảnh đát quê hơng đang chuyển mình tạo ra một bức tranh tơng phản so vớitrớc đây Những máy móc thay thế lao động chân tay, những con tàu chạybằng động cơ, những luồng điện sáng thay thế ngọn đèn dầu leo lét…nhTất cả
dù chỉ là sản phẩm của thực dân xâm lợc nhng không khỏi làm ngời dân vốnchỉ quen cảnh:
Trên đồng cạn, d
“ ới đồng sâu Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”
ngạc nhiên, lạ lẫm Rõ ràng, khi tiếp xúc với văn minh, khoa học kĩ thuật
ph-ơng Tây ngời dân Nghệ An đợc mở mang tầm mắt Xa nay, con ngời ở đây chỉluẩn quẩn quanh cái cổng làng chật hẹp, tầm nhìn rộng nhất chỉ là văn minhTrung Hoa chụp xuống Giới trí thức Nghệ An bấy giờ hơn ai hết trong xã hội
là lực lợng nhận thức rõ nhất những gì đang diễn ra xung quanh mình Khátvọng vơn lên thoát khỏi sự chèn ép của thực dân phơng Tây nhen nhóm trong
họ chỉ chờ những điều kiện mới là bùng cháy
2.1.3 Chuyển biến về mặt văn hóa- giáo dục
Ngay từ đầu thực dân Pháp đã nhận thấy rằng: “Thật không thể nào đểcho ngời An Nam đợc học lịch sử và sách của chúng ta mà lại không gây cho
họ lòng yêu nớc, yêu tự do Kinh nghiệm của các dân tộc khác ở châu Âu đãchỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho ngời bản xứ là hết sứcdại dột” [1,21] Với lối t duy nham hiểm đó, thực đân Pháp đã áp đặt một nềnvăn hóa - giáo dục lạc hậu mang tính nô dịch nhân dân ta Mảnh đất LamHồng vốn là miền đất học, cái nôi sinh ra những con ngời học rộng, tài cao.Nền khoa cử Nho học nớc nhà đã dành những trang u ái nhất để ghi danh baongời con xứ Nghệ Song thời kì này, giáo dục Nho học đã lỗi thời cùng với sựtàn vong của chế độ phong kiến Thế nhng, thực dân Pháp vẫn duy trì nền giáodục cũ kết hợp với mở nhỏ giọt một số trờng mới nhằm đào tạo tay sai Bởi lẽ,
Trang 22chúng hiểu rõ rằng việc thủ tiêu hoàn toàn nền giáo dục cũ “chẳng khác gì phế
bỏ sông Hồng vì nó cũng bắt nguồn từ Trung Quốc, mà phải tóm lấy nó, thuthập nó để có lợi cho chúng ta” (Đuy-mu-chi-e) [1,22] Vả lại, chúng cũngthấy rằng không thể thiết lập một nền giáo dục Pháp ở Việt Nam nói chung và
ở Nghệ An nói riêng Do đó, việc làm cấp bách mà Pôn-Be -Tổng sứ BắcTrung Kì là “nhanh chóng thiết lập mối quan hệ trực tiếp càng nhiều càng tốtgiữa dân tộc An Nam với chúng ta bằng cách truyền bá sự thông dụng củatiếng Pháp cũng nh sự hiểu biết phong tục và khoa học của chúng ta” [1,23]
Đồng thời “ cũng cần phải có một giáo trình về chữ Nho…nhNếu trẻ con AnNam ra khỏi nhà trờng của chúng ta mà không biết đọc và viết những chữ Nhothông dụng…nhhọ sẽ trở thành những ngời ngoại quốc trong xứ sở của họ, vàsau hết các trờng của chúng ta sẽ không chiêu tập đợc ai vào học” [1,25] Quychiếu với những nhận thức thâm độc đó, ngay từ đầu việc dạy chữ Hán vẫn tồntại song song với một số trờng tiểu học Pháp - Việt Hán học vẫn duy trì ở tr-ờng Vinh mãi đến khoa thi năm Mậu Ngọ (1918) mới kết thúc Cho đến kì thiHơng cuối cùng thì ở Nghệ An truyền thông hiếu học, tự học bấy lâu vẫn đợcnuôi dỡng với đầy đủ các cấp học: trung học, tiểu học, ấu học Riêng hệ thốngtrờng làng có tới 227 trờng với 1.576 học sinh, chiếm số lợng đông nhất TrungKì Từ 1905, “ Nha học chính Đông Dơng” và “ Hội đồng cải cách nền giáodục bản xứ” đợc thành lập thì một số chơng trình “Tân học” đợc đa vào trờngHán học Đến năm 1910 một số trờng chuyên dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ
đợc lập ra
ở Vinh, năm 1912 mới có trờng Cao đẳng tiểu học (trờng Quốc học)cho cả 4 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình Tính đến năm 1918 cả vùng NghệTĩnh mới có 4 trờng (2 trờng nam, 2 trờng nữ) với 527 học sinh Tuy nhiên
điều kiện học hành khó khăn, chỉ có con em nhà quyền quý mới đợc học nêncác con số đa ra còn quá ít ỏi
Sự hỗn độn của hai nền giáo dục mang tính chất nô dịch đã không cónhiều ý nghĩa thiết thực trong việc mở mang dân trí, ngợc lại làm cho nền giáodục bị thui chột, nghèo nàn Mục đích làm cho nhân dân Nghệ An “cảm” cái
ơn “ khai hóa văn minh” của thực dân Pháp cũng nh mu đồ dùng văn minh
ph-ơng Tây ve vãn, lung lạc tinh thần nhân dân của họ chẳng khác nào tự húc đầuvào núi Dân tộc Việt Nam với hàng ngàn năm văn hiến, mảnh đất Lam Hồngvới bao truyền thống tốt đẹp vẫn đợc nuôi dỡng, giữ gìn trong tâm thức mỗingời
Trang 23Văn hóa thực dân cũng len lỏi vào đời sống nhân dân Tự do ngôn luận bịkìm hãm, những tập tục lạc hậu đợc duy trì Thâm độc hơn, chúng còn hủyhoại nhân dân ta nhất là lớp trẻ trong rợu chè, cờ bạc, thuốc phiện…nhXét trêntoàn cục, văn hóa thực dân đã thay đổi nếp sống, lối sinh hoạt của một bộphận lớp trên trong xã hội, còn đại bộ phận nhân dân lao động vẫn giữ lốisống lành mạnh Sức sống của văn hóa dân gian - sản phẩm tinh thần của nhândân lao động, thể hiện tâm hồn và khối óc của tập thể - vẫn âm ỉ cháy và đợmnồng
Công tác y tế, vệ sinh phòng bệnh cho cộng đồng không đợc chú ý đến.Cả Nghệ An và Hà Tĩnh chỉ có 2 bệnh viện với số giờng bệnh và nhân viênkhông đáng kể Nhân dân tự chạy chữa cứu mình bằng những phơng thuốc giatruyền nếu không thì chịu chết oan vì không có thuốc, không đợc chữa trị kịpthời Đó là nhừng gì mà cuộc “ khai hóa văn minh” của thực dân Pháp để lại Công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp tiến hành ởNghệ An (1897-1914) đã xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hóa, giáo dục…nhgây ra những biến chuyển nhất định Cái mà kẻ xâm lợc
đạt đợc là nguồn của cải vật chất vô tận mang về chính quốc và áp đặt nềnchính trị ngột ngạt khiến các giai tầng trong xã hội phải rên xiết Tuy thế,chúng không thể nào làm lung lạc tinh thần yêu nớc, ý chí kiên cờng cũng nhlòng tự hào, tự tôn về nền văn hiến lâu đời của quê hơng, xứ sở Ngợc lại,những chính sách, âm mu thủ đoạn của kẻ thù đã khoét sâu thêm mâu thuẫndân tộc và điều chúng không ngờ đến là xã hội có sự chuyển biến sâu sắc, ýthức hệ phân hóa, đổi thay Sự vơn dậy của tinh thần dân tộc đến một lúc nào
đó sẽ quay lại thiêu đốt chúng
2.1.4 Chuyển biến về chính trị - xã hội
Cuộc khai thác lần thứ nhất do t bản Pháp tiến hành ở Việt Nam đã làmcơ cấu giai cấp xã hội Nghệ An phân hóa rõ rệt
Nông dân là một bộ phận c dân chiếm tuyệt đại đa số, lại là đối tợng củachính sách phá sản và bần cùng của thực dân Đa số nông dân Nghệ An lànhững ngời nghèo khổ dới thời phong kiến nay lại thêm tầng áp bức của thựcdân nên càng khốn đốn hơn Là giai cấp chịu hậu quả nặng nề nhất của chinhsách kinh tế thực dân nên nông dân bị phân hóa mạnh mẽ nhất Một bộ phậnnông dân làm tá điền ngay trên mảnh ruộng của mình Một số không có ruộng
đất canh tác phải lang thang kiếm sống nơi quê ngời Số đông nông dân vô sảnhóa, vào làm trong các đồn điền, xí nghiệp, các khu công nghiệp nh Vinh-Bến
Trang 24Thủy hay đồn điền Phủ Quỳ Với đặc điểm nh vậy, nông dân luôn là giai cấp
đông đảo nhất, lực lợng hăng hái nhất trong các phong trào cách mạng
Trong khi giai cấp nông dân bị phá sản, bần cùng thì giai cấp địa chủ lại
đợc bọn thực dân nâng đỡ và giữ địa vị thống trị Bọn này cấu kết với thực dântrở thành tay sai của chúng để trục lợi Nhiều tên địa chủ khét tiếng bấy giờ
nh Đốc Pháp (Nghĩa Đàn), Trần Thế Roanh (Quỳnh Lu)…nhđã gây bao cảnhtang thơng cho dân nghèo Do vậy, giai cấp địa chủ trở thành đối tợng củacách mạng, kẻ thù của nhân dân
Bên cạnh hai giai cấp cũ trên, một số tầng lớp xã hội khác hình thành.Trong cuộc khai thác thuộc địa lần này, t sản và tiểu t sản ở Nghệ An đã ra
đời Với chính sách độc quyền của t bản ngoại quốc, t sản Nghệ An chỉ đóngvai trò là đại lí thu mua và bán lại cho t bản Pháp Do đó, ở Nghệ An hầu nhkhông có t sản công nghiệp, chỉ là t sản thơng nghiệp buôn bán vừa và nhỏ.Mặc dù bị chèn ép nhng t sản Nghệ An lại có quan hệ chặt chẽ với thực dân
Đó là lí do tại sao bên cạnh tinh thần dân tộc họ cũng sẵn sàng thỏa hiệp, đầuhàng khi đợc kẻ thù dung dỡng, nhợng bộ Riêng bộ phận tiểu t sản khá đông
đảo Họ gồm : thợ thủ công, những ngời buôn nhỏ, tiểu chủ, học sinh, côngchức…nhTầng lớp này sống bấp bênh, luôn bị bạc đãi, nguy cơ thất nghiệp lởnvởn trên đầu đe dọa cuộc sống của họ Nhìn chung, họ sống gần gũi với nhândân lao động và có mâu thuẫn với cả thực dân, phong kiến nên trong chừngmực nhất định, họ hăng hái trong phong trào cách mạng
Công nhân Nghệ An bắt đầu hình thành từ trong cuộc khai thác thuộc địalần thứ nhất Họ phần đông là nông dân bị phá sản phải bán sức lao động ở các
đồn điền, bến cảng, công trờng xây dựng…nhrất ít ở nhà máy nên vẫn gắn bóvới nông dân Mỗi ngày họ làm việc từ 10 đến 14 giờ với đồng lơng chết đói:0,3 đồng (ngời lớn) và 0,05 đồng (trẻ con) Đó là cha kể sự hạch sách, đánh
đập của bọn cai, kí, chủ xởng
Tóm lại, công cuộc khai thác mà thực dân Pháp tiến hành đã làm cơ cấu xãhội phân hóa rõ rệt Mỗi giai cấp, tầng lớp đều có vị trí xã hội, địa vị chính trị,quyền lợi kinh tế và thái độ cách mạng khác nhau đối với vận mệnh Tổ quốc Đó
là cơ sở nảy sinh những phong trào cách mạng sôi nổi đầu thế kỉ XX
2.2 Khuynh hớng dân chủ t sản và ảnh hởng của nó đối với trí thức Nghệ An những năm đầu thế kỷ XX.
Nớc Pháp là quê hơng của t tởng cách mạng dân chủ nhng ở Đông Dơng,Pháp cố tình bng bít t tởng đó Vì vậy, trào lu t tởng này phải vòng qua Trung
Trang 25Quốc mới vào Việt Nam Đầu thế kỷ XX, hệ t tởng dân chủ t sản ở phơng Tây
đã trở thành trái mùa, nhng đối với Việt Nam thuộc địa còn tàn d phong kiếnthì vẫn rất mới mẻ Do đó, nó đã đợc tiếp nhận, vân dụng làm phơng hớng chỉ
đạo cho cách mạng đánh đổ chế độ phong kiến và cứu nớc giải phóng dân tộc.Trào lu t tởng dân chủ t sản ở Việt Nam không phải ngẫu nhiên xuất hiện
mà xuất phát từ những điều kiện chủ quan và khách quan Phong trào vũ trangchống Pháp cuối thế kỷ XIX thất bại Ngọn cờ Cần Vơng do Hàm Nghi, TônThất Thuyết phất lên sôi nổi một thời nhng cuối cùng bị dìm trong biển máu.Nhu cầu tìm con đờng cứu nớc mới trở nên bức thiết Đó cũng là lúc Pháp cơbản hình thành công cuộc bình định Việt Nam, toàn quyền Pôn Đume phấnkhởi tuyên bố: “Hiện nay tình hình chính trị trên toàn cõi Đông Dơng khôngmột nơi nào đáng lo ngại hay quá bi đát” [16, 188] Sự thật đau lòng đó đãlàm chấn động giới trí thức Một quá trình phân hóa t tởng diễn ra, một số hợptác với kẻ thù, một số chán đời, an phận thủ thờng xa lánh chốn quan trờng.Một bộ phận sĩ phu còn lại vẫn đau đáu trớc cảnh nớc mất, nhà tan Lúc nào
họ cũng trăn trở với câu hỏi: “Làm thế nào để cứu nớc”, “đi theo con đờng nào
để chuyển bại thành thắng” Đó vừa là nỗi niềm, tâm trạng lo âu cho vậnmệnh dân tộc của cả một thế hệ ngời Việt Nam yêu nớc nhng đồng thời cũngcháy lên khát vọng muốn cứu nớc giải phóng dân tộc khỏi cảnh bùn đen nô lệ.Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp trong vòng 20năm (1897-1914) đã làm kinh tế nớc nhà chuyển biến nhng thực chất bị lệthuộc, kiệt quệ nhiều mặt Điều quan trọng là nó chỉ cho nhân dân ta thấy
đằng sau những cụm từ hoa mĩ “mẫu quốc” đi “khai hóa văn minh” là bộ mặtgiả dối tàn bạo, thâm độc Thứ đến, việc tiếp xúc với kẻ thù hơn hẳn chúng tamột nấc thang tiến hóa đã khơi gợi trong t duy ngời Việt Nam yêu nớc tiến bộkhát khao đa dân tộc tiến đến chân trời mới
Đó là những động lực bên trong thôi thúc cả một thế hệ trí thức Việt Namtìm con đuờng cứu nớc Vừa buổi ấy những trào lu cách mạng bên ngoài tác
động tích cực đến phong trào cách mạng trong nớc
Cuộc vận động Duy Tân ở Nhật Bản (1868) đã đa nớc Nhật từ một nớcphong kiến từng “bế quan tỏa cảng” nh Việt Nam trở thành một nớc vừa giữ đ-
ợc độc lập, vừa phát triển cờng thịnh theo hớng t bản chủ nghĩa Năm
1904-1905 chiến tranh Nga- Nhật nổ ra nhng ngời Việt Nam không nhận thấy bảnchất của Nhật, mà chỉ thấy khâm phục trớc một cờng quốc da vàng đánh bạimột cờng quốc da trắng Nhật trở thành vị cứu tinh, là anh cả đầu đàn của dân
Trang 26tộc da vàng Một xu hớng thân Nhật rầm rộ ở Việt Nam Huỳnh Thúc Kháng– một nhà yêu nớc bấy giờ thừa nhận: “Địa ngục mấy tầng, ngọn triều Âutràn vào ở bốn mặt Đồng nội mịt mù, đêm dài dằng dặc, bỗng đâu gà hàngxóm gáy lên một tiếng giấc mộng quần chúng thoạt tỉnh dậy…nh, một tiếng sét
nổ đùng có sức kích thích mạnh nhất thấm vào tâm não ngời Việt Nam ta làtrận chiến tranh 1904 Nhật Bản thắng Nga” [16, 199-200] Do đó khi thấy sứcmình không thể đơn độc đánh đuổi Pháp, yêu cầu ngoại viện đặt ra thì sĩ phuyêu nớc tìm đến “bạn đồng văn đồng chủng” bởi “bây giờ muốn tìm ngoạiviện không gì bằng sang Nhật là hơn cả”[27, 137]
Cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc tác động không nhỏ đến cáchmạng Việt Nam giai đoạn này Trung Quốc không chỉ là nớc đồng văn, đồngchủng, đồng bệnh, mà từ rất xa đã có quan hệ gần gũi với Việt Nam Sự kiệnMậu Tuất chính biến năm 1898 với các t tởng đổi mới của Khang Hữu Vi, L-
ơng Khải Siêu, Đàm Tự Đồng…nhđã ảnh hởng sâu sắc đến Việt Nam Đặc biệt,cách mạng Tân Hợi (1911) do Đồng Minh Hội tổ chức đứng đầu là Tôn TrungSơn đã gây chấn động toàn quốc Cuộc cách mạng này đợc Lênin đánh giá “đãkết thúc chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm, đa quan niệm dân chủcộng hòa vào sâu tận đáy lòng mọi ngời”[ 16,202]
Đó là những luồng gió tơi mát từ bên ngoài thổi vào giữa luồng khôngkhí chính trị trong nớc đang ngột ngạt, bức bối, khát vọng cứu nớc cháy bỏngcủa sĩ phu yêu nớc Việt Nam đã thôi thúc họ tiếp nhận “tân th”, “tân văn”cũng nh t tởng t sản phơng Tây đựợc chuyển tải qua sách báo Trung Quốc.Những cuốn sách nh “Trung Đông chiến kỷ”, “Pháp Phổ chiến kỷ”, “MậuTuất chính biến” “ L Thoa tiểu sử” …nhvà nhất là những tác phẩm của LơngKhải Siêu nh “ẩm băng thất”, “Trung Quốc hồn”…nhđã trở thành một phầncuộc sống của các sĩ phu tiến bộ Nó đợc ví nh "một thang thuốc hay với ngờimắc bênh trầm kha”, “nó làm thay đổi lòng ngời nh chớp, một tập sách nóichuyện nớc Tàu mà làm cho hai mơi triệu dân Nam phấn khởi” [10, 27]
Tóm lại, sự vận động bên trong của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầuthế kỷ XX cùng với những tác nhân bên ngoài dội vào đã đảm bảo những điềukiện cần và đủ cho một trào lu cứu nớc theo khuynh hớng dân chủ t sản nảymầm và phát triển ở Việt Nam
Nghệ An vốn là mảnh đất giàu truyền thống đấu tranh chống giặc cứu
n-ớc Nơi đây vừa có một đội ngũ sĩ phu yêu nớc tiến bộ, thức thời vừa là nơichịu ảnh hởng sâu sắc của công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp Do đó
Trang 27không có lý gì những trào lu t tởng bên ngoài thông qua "tân văn", "tân th" từTrung Quốc lại không đến đợc tay họ Quan trọng hơn, lý luận trên sách vở lạihòa quyện với bầu nhiệt huyết sôi nổi, biến thành hành động đấu tranh giảiphóng dân tộc sôi nổi Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai nhà yêu nớctiêu biểu làm sống dậy cả một thời kỳ lịch sử dân tộc nói chung và trên mảnh
đất quê hơng Nghệ An nói riêng
Không chỉ là nơi sản sinh và nuôi dỡng nên những lớp nhà Nho yêu
n-ớc, giàu khí tiết mà Nghệ An còn là quê hơng của nhiều phong trào chốngPháp tiêu biểu Ngọn cờ Cần Vơng từng đợc hởng ứng sôi nổi với khởi nghĩacủa Nguyễn Xuân Ôn làm khuấy lên một làn sóng yêu nớc chống Pháp rầm rộkhắp các huyện Bắc Nghệ An Truyền thống yêu nớc quý báu đó trở thànhdòng chảy liên tục từ đời này sang đời khác
Nghệ An đơc xem là trung tâm khai thác, bóc lột thuộc địa của cả vùngBắc Trung Kỳ, Vinh - Bến Thủy sầm uất với các hoạt động công thơng nghiệptạo điều kiện cho những luồng t tởng mới dễ dàng tràn vào Những “ma Âu,gió á” gửi qua "tân văn'', "tân th" có mặt ở Việt Nam thì đều thấy ở Nghệ An
Đó là điều kiện đủ để các sĩ phu Nghệ An chung vai xốc lại sơn hà dới ngọn
cờ dân chủ t sản mà Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh giơng cao Theo đó,phong trào yêu nớc đã có sự chuyển biến so với cuối thế kỷ XIX Đầu thế kỷ
XX các sĩ phu yêu nớc Nghệ An không chỉ tập hợp dới một con đờng cứu nớcchung mà nhiệm vụ cứu nớc cũng mang tầm cao mới Tấm gơng Nhật Bản,Trung Quốc đã đến với những nhà Nho xứ Nghệ thức thời khiến họ tìm thấy ởnguời “đồng bệnh” một con đờng đi mới tơi sáng hơn Cứu nớc không chỉ là
đánh Pháp giành độc lập dân tộc, hạnh phúc cho đồng bào mà còn thay đổi thểchế chính trị quân chủ đã lỗi thời bằng một mô hình nhà nớc tiến bộ hơn.Cũng từ đây phong trào đấu tranh đợc xem là phong trào “cách mạng” Chữ
“cách mạng” trớc đó cha xuất hiện, mà chỉ có “thiên mạng”, “thuận mạng”
mà thôi Từ “cách mạng” chỉ đợc sử dụng khi nói đến phong trào đấu tranh từ
đầu thế kỷ XX trở đi, đánh dấu bớc chuyển trong tính chất của hoạt động cứunớc Ngọn cờ Cần Vơng giơng cao mục đích đánh Pháp khôi phục nớc ViệtNam nh cũ không phải là "cách mạng" Từ đầu thế kỷ XX, vấn đề của đất nớckhông những là đánh Pháp giành độc lập dân tộc mà còn đa đất nớc theo thểchế mới có thể là quân chủ lập hiến hay Cộng hòa và phát triển theo con đ ờngchủ nghĩa t bản nh ở Âu, Mĩ Vì vậy, “Chữ “cách mạng” xuất hiện không phải
là một sự nhập cảng danh từ ngoại quốc mà ta cần dùng để nói một việc lịch
Trang 28sử và chính trị nớc ngoài nh cách mạng Pháp năm 1789, cách mạng Tân HợiTrung Quốc năm 1911, nó xuất hiện cũng vì một nhu cầu chính trị nội bộ của
đất nớc ta, dân tộc ta” [20, 140-141] Trong phong trào cách mạng ấy, những
sĩ phu trí thức cả Nho học lẫn Tây học xứ Nghệ đã đứng ở vị trí tiên phong
2.3 Trí thức Nghệ An trong phong trào cách mạng theo khuynh ớng dân chủ t sản những năm đầu thế kỷ XX
h-2.3.1 Phan Bội Châu và con đờng cứu nớc những năm đầu thế kỷ XX
Phan Bội Châu sinh ngày 26-12-1867 ở thôn Sa Nam, xã Đông Liệt saudời về xã Đan Nhiệm, tổng Xuân Liễu (nay là xã Xuân Hòa) cả hai đều thuộchuyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An Hiệu là Sào Nam, tự là Hải Thụ
Sinh trởng trong một gia đình nhà Nho yêu nớc, ngay từ nhỏ, Phan BộiChâu đã đợc đào tạo theo khuôn mẫu của nền giáo dục Nho học Là ngờithông minh ham học, từ khi 7 tuổi ông đã học thông “Luận ngữ” rồi phóng tác
ra sách “Phan Tiên sinh chi luận ngữ” ấy thế mà thời cuộc không cho cánhchim bằng thỏa chí Bi kịch một đời ngời hòa trong bi kịch một dân tộc Trong
“Phan Bội Châu niên biểu”, ông đã tâm sự: “Lúc tôi lên ba, Nam Kỳ đã thấtthủ 5 năm Tiếng khóc oa oa ra đời nh đã báo trớc cho tôi rằng: mày sẽ là mộtngời nô lệ mất nớc” [38,24] Sinh ra giữa buổi nớc mất nhà tan, nhân dân lầmthan cơ cực, lại lớn lên giữa mảnh đất Hồng Lam cuồn cuộn khí thế đấu tranh,
đã hội tụ nơi Phan Bội Châu một lòng nhiệt tình cứu nớc Sau này khi nhớ lạiquãng đời tuổi trẻ của mình, Phan kể: “ Tôi đợc trời phú cho bầu máu nóngcũng không vừa, ngay từ hồi còn là thằng bé con đọc sách của ông cha để lại,mỗi khi đọc đến chuyện của ngời xa hăng hái thành nhân tựu nghĩa, tôi thờngnớc mắt ròng ròng thấm ớt cả sách Những chuyện ông Trơng Định chết theoNam Kỳ và Nguyễn Tri Phơng tuẫn tiết ở thành Hà Nội, tôi hay đàm đạo nhắcnhở tới luôn, mà mỗi lần nhắc tới, khiến tôi vung tay vỗ ngực tự thẹn chomình thua sút hai ông đó” [10,38]
Sau khi đỗ đầu khoa thi Hơng (Giải nguyên) năm 1900 và ổn định xongviệc gia đình, Phan bắt đầu chuyên tâm vào sự nghiệp cứu nớc Năm 1904,Phan Bội Châu cùng Cờng Để và hơn 20 đồng chí thành lập một tổ chức bímật có tên là Duy Tân hội Cờng Để làm hội chủ, Nguyễn Hàm, Phan BộiChâu, Lê Võ, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân là những hội viên trọng yếu.Mục đích của hội là: “Cốt sao khôi phục đợc Việt Nam, lập ra một chính phủ
độc lập, ngoài ra cha có chủ nghĩa gì khác” Việc tôn Cờng Để làm Hội chủkhiến tổ chức này mang màu sắc quân chủ nhng thực chất đó là chính thể
Trang 29quân chủ lập hiến, vua chỉ là “hữu danh vô thực” Duy trì vua là một chủ ý củaPhan Bội Châu nhằm “thu phục nhân tâm”, lợi dụng những nhà giàu có ở Nam
Kỳ góp quĩ xuất dơng, lôi kéo lớp thân hào ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ đang có lòng
“tự cựu” và sẽ dễ hơn trong việc tạo mối quan hệ hợp tác với Lơng Khải Siêu,cũng nh các chính khách Nhật Bản Hội đề ra 3 nhiệm vụ trớc mắt:
1 Phát triển thế lực Hội về ngời và Tài chính
2 Xúc tiến việc chuẩn bị bạo động và các công việc sau đó
3 Chuẩn bị xuất dơng cầu viện, xác định phơng châm và thủ đoạnxuất dơng
Nhiệm vụ thứ 3 quan trọng nhất và đòi hỏi bí mật, đợc giao cho NguyễnHàm và Phan Bội Châu lo liệu
Ngày 23-02-1905, Phan Bội Châu dẫn đoàn xuất dơng đầu tiên gồm 3
ng-ời (Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính, Tăng Bạt Hổ) lên đờng sang Nhật đặt cơ sở
đầu tiên cho phong trào Đông Du Tháng 6-1905, Phan Bội Châu cùng Đặng
Tử Kính về nớc tạo dựng cơ sở trong nớc và lập kế hoạch hành động tiếp theo:
đa Cờng Để ra nớc ngoài; lập hội nông, hội buôn, hội học để tập hợp quầnchúng Phong trào Đông Du đang phát triển mạnh thì cuối 1908, Pháp- Nhậtthỏa thuận ra lệnh trục xuất lu học sinh, giải tán tổ chức Đông Du Phong trào
Đông Du tan rã chấm dứt giai đoạn hoạt động quan trọng nhất của Duy Tânhội và cũng là thời kỳ hoạt động sôi nổi nhất của nhà chí sĩ yêu nớc Phan BộiChâu
Cách mạng Tân Hợi nổ ra lật đổ triều đình Mãn Thanh (1911) đã thu hútnhững ngời yêu nớc Cách mạng Việt Nam đặc biệt là Phan Bội Châu và nhữngHội viên Duy Tân hội còn lại Tháng 5-1912, họ đã quyết định thủ tiêu DuyTân hội và thành lập Việt Nam Quang phục hội Tôn chỉ duy nhất của Hội là:
“Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nớc Việt Nam, thành lập nớc Cộng hòa Dânquốc Việt Nam” Với chủ trơng đánh đuổi giặc pháp bằng bạo lực, Hội đã lập
ra “Việt Nam Quang phục quân” nhằm gây ra những tiếng vang “kinh thiên
động địa” cảnh cáo kẻ địch và thức tỉnh đồng bào mình Sau đó, dới ảnh hởngcủa Cách mạng Tháng Mời và phong trào Ngũ Tứ, Phan Bội Châu đã bắt đầu
có cảm tình với t tởng cách mạng xã hội chủ nghĩa Ông xem con đờng cứu
n-ớc mới này nh “một trận gió xuân thổi tới thình lình đơng lúc khói độc mâymù” hay nh “ một tia thái dơng mọc ra thình lình giữa lúc trời khuya đất ngủ”.Tuy nhiên, Phan Bội Châu không thể đi tiếp con đờng này mà phải đợi một lớptrí thức mới đứng ra gánh vác trọng trách ở chặng đờng lịch sử tiếp theo Trong một phần t thế kỷ đem bầu nhiệt huyết của mình ra cứu nớc, PhanBội Châu luôn cố gắng vơn lên cho phù hợp với tình hình song cuối đời ông tự
Trang 30nhận xét mình: “Lịch sử đời tôi là lịch sử một trăm thất bại mà không mộtthành công” Mặc dù, chịu ảnh hởng t tởng Nho giáo sâu sắc, nhng những hoạt
động cách mạng sôi nổi, không ngừng nghỉ trong suốt thời gian dài của Cụ đãgóp phần không nhỏ nâng cao chủ nghĩa yêu nớc của nhân dân ta lên một bớcmới Công lao to lớn của cụ đã làm rạng danh cho mảnh đất Hồng Lam nóiriêng và Tổ quốc Việt Nam nói chung Ông xứng đáng là "bậc anh hùng, vịthiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, đợc hai mơi triệu con ngời trong vòng nô lệtôn sùng" [33, 22]
2.3.2 Trí thức Nghệ An dới ảnh hởng của phong trào cách mạng do Phan Bội Chân khởi xớng.
2.3.2.1 Thời kỳ Duy Tân hội và phong trào Đông Du (1904-1908)
Nghệ An là quê hơng của Phan Bội Châu lại là nơi ngọn lửa chống Pháp
từ thời Cần Vơng còn âm ỉ cháy Do đó, nhân dân ở đây hởng ứng rất sôi nổiphong trào của hội Duy Tân Những yếu nhân của hội nh Đặng Thái Thân,
Đặng Tử Kính đều là ngời Nghệ An
Đặng Thái Thân sinh năm Nhâm Thân (1873) hiệu là Ng Hải, quê ở làngHải Côn, tổng Đặng Xá, nay thuộc xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh NghệAn
Sinh ra ở một vùng ruộng chua, cát cháy bao ngời phải bỏ làng ra đi kiếmsống, song chính nơi ấy ông đã gặp ngời thầy, ngời bạn tâm phúc đó là PhanBội Châu Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng là ngời thông minh học giỏi Điều này
đợc Phan Bội Châu nhắc đến trong “Niên biểu”: “Mỗi khi giảng sách hay dạyhọc trò thì tôi hay giảng đi giảng lại những việc của các bậc chí sĩ ngày xa,nhất là lịch sử của hai ông Hoàng Phan Thái và Phan Đình Phùng mong saomọi ngời thông cảm đợc Nhng chỉ có ông Đặng Thái Thân là ngời đã lĩnh hộisâu sắc hơn cả” [7, 126]
Ng Hải là ngời thận trọng nên đợc Phan tín nhiệm, chịu trách nhiệm gâydựng cơ sở quần chúng, tạo nguồn vật chất cho việc lớn sau này Tháng 12năm 1903, hội Duy Tân phân công, Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Đặng TửKính xuất dơng cầu viện Ng Hải và Tiểu La Nguyễn Hàm lo chuẩn bị trongnớc Từ đó, mọi công việc bố trí cho ngời xuất dơng, quyên góp quỹ Hội, liênlạc với các tầng lớp sĩ phu…nhđều do ông tiên liệu Tháng 1 - 1906, ông nhậntrách nhiệm đa kỳ ngoại hầu Cờng Để xuất dơng Chuyến đi mở đầu cho một
đợt xuất dơng rầm rộ sau đó Không chỉ là ngời đảm nhiệm việc tuyển lựathanh niên xuất dơng, ông còn tích cực trong việc vận động giúp đỡ vật chấtcho phong trào Tháng 3 năm 1909 ông quyên góp đợc khoảng 2.500 đồng gửi
Trang 31sang cho cụ Phan ở Thợng Hải Nhờ những hoạt động cách mạng của ĐặngThái Thân mà phong trào Đông Du cũng nh hoạt động của Duy Tân hội vợtqua những khó khăn sóng gió Ngày 11-3-1910 khi đang công tác ở PhanThôn (xã Nghi Kim, huyện Nghi Lộc) ông bị lực lợng vũ trang của Pháp baovây Ông đã chiến đấu quyết liệt nhng xét thấy không thể thoát đợc trong mộtcuộc chiến không cân sức ông đã tuẫn tiết Đặng Thái Thân hy sinh để lạimột cái tang lớn cho phong trào; các tổ chức và chiến hữu đều nghẹn ngàouất hận Tùng Nham đã thay mặt sĩ phu Nghệ Tĩnh làm câu đối điếu:
Song sơn uất uất, cố nhân quy hà quy? Thập niên lai gian hiếm bi
“
thờng, thân quý vị chi tuy, huyết diệc vị chi khô, bôn tẩu giang sơn phong
vũ tịch.
Nhất bộc oanh oanh, quốc hồn tỉnh vị tỉnh? Thiên lý ngoại bình bồng vị
định, thúc văn chi nhĩ bi, sử văn chi nhi đông, khấp ca hào kiệt kiếm th biên”
(Dịch nghĩa : “Hai hòn nghi ngút, bạn cũ về đâu về? Trải mời năm cay
đắng đủ mùi, thân vì đó mà ốm, máu vì đó mà khô, rong ruổi non sông chìmsấm gió
Một tiếng nổ rầm, hồn nớc tỉnh cha tỉnh? Ngoài ngàn dặm bớc đờngphiêu dạt, chú nghe tin mà buồn, thầy nghe tin mà khóc, hò reo hào kiệt cạnh
đàn gơm”) [10, 54-55]
Cụ Phan nghe tin “chân tay rụng rời, lòng nh dao cắt, nghẹn ngào nuốt
n-ớc mắt cho là trời không biết gì” [7 ,130]
Bên cạnh Đặng Thái Thân còn có Đặng Tử Kính cũng là yếu nhân củaphong trào Ông là chú ruột Đặng Thái Thân ngời làng Hải Côn (Nghi Lộc,Nghệ An.) Đặng Tử Kính hoạt động trong hội Duy Tân và là một trong ba ng-
ời đầu tiên sang Nhật du học Ông học tập ở Đông Kinh một thời gian đến
1909 bị trục xuất khỏi Nhật, sau đó ông sang Trung Quốc ít lâu sau, Phan BộiChâu phái ông sang Xiêm xây dựng cơ sở Ông mất ở Xiêm năm 1928
Những yếu nhân quan trọng này là những ngời phất cao ngọn cờ của hội
và ra sức vận động phong trào Đông Du Các sách báo từ nớc ngoài gửi về nh
“Việt Nam vong quốc sử” (1905) - bản cáo trạng tội ác của thực dân Pháp hay
“Việt Nam quốc sử khảo” (1908) - dựng laị quá khứ tự hào đau thơng phấnkhích lòng ngời Các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lu, Thanh Chơng, Nam Đàn,Hng Nguyên…nhđều là những trung tâm sôi nổi của phong trào Đông Du Cha
động viên con, vợ động viên chồng, anh em động viên nhau tham gia tích cựcvào phong trào xuất dơng cầu học Nhiều ngời con xứ Nghệ không quản khó
Trang 32khăn nguy hiểm vợt trùng dơng xa xứ học tập làm giàu vốn tri thức hy vọng đanớc nhà thoát khỏi cảnh cơ cực Nghệ An là một trong những trung tâm tuyểnchọn nhiều du học sinh Vào thời điểm số lợng lu học sinh đông nhất là 200ngời năm 1907 thì học sinh miền Trung là 50 riêng Nghệ Tĩnh (cả Hà Tĩnh) làtrên 30 học sinh Không chỉ đông về số lợng, học trò Nghệ An vốn có chí hamhọc lại thông minh, vốn đợc tuyển lựa chặt chẽ theo tiêu chí của Phan BộiChâu : “Chọn trong đám con em trẻ tuổi, những ai thông minh, có chí lại chịu
đợc lao khổ thì tốt nhất Nếu không thì chọn những anh em tuy không thôngminh lắm nhng chí hớng bền bỉ cũng rất tốt, càng trẻ tuổi càng hay rồi tríchlấy vài nghìn bạc làm tiền kinh phí cho xuất dơng trong một vài năm” [29,31] Trong bốn năm tồn tại, phong trào đã ghi nhận nhiều gơng mặt tiêu biểungời Nghệ An Trong tổng số 157 nhân vật xuất dơng trong phong trào Đông
Du đã thống kê đợc 32 nhân vật quê ở Nghệ An ở đây xin giới thiệu một sốnhân vật tiêu biểu :
Hoàng Trọng Mậu (1874- 1916) còn có tên khác là Nguyễn Đức Công
Ông tinh thông về quân sự, giỏi môn xạ kích, từng tham gia quân đội TrungHoa Khi Việt Nam Quang phục hội thành lập, ông phụ trách quân vụ, cùngvới Phan Bội Châu soạn thảo cuốn “Việt Nam Quang phục quân phơng lợc”
Ông bị địch bắt ở Hơng Cảng, giải về Hà Nội rồi xử bắn ở Bạch Mai năm1916
Trần Hữu Lực (Nguyễn Thức Đờng) có năng khiếu quân sự Khi Đông
Du giải tán, ông đã ở lại Nhật làm thuê để học tiếp, rồi về Trung Quốc học ờng cán bộ lục quân Quảng Tây, tốt nghiệp đợc phong thiếu úy, chỉ huy mộttiểu đội Sau này khi Việt Nam Quang phục hội thành lập, ông đợc phái vềXiêm vận động thanh niên tham gia Quang phục quân Ông bị bắt, kết án tửhình năm 1916 Ông có câu đối chữ Hán nổi tiếng, dịch nh sau:
tr-“Non sông đã chết, ta há sống thừa, hơn mời năm luyện kiếm mài đao,
th-Hồ Học Lãm (th-Hồ Hinh Sơn) ngời Quỳnh Lu xuất dơng năm 1906 Saukhi bị trục xuất khỏi Nhật, ông về Trung Quốc học trờng quân sự Bảo Định
Trang 33Bắc Kinh, tham gia cách mạng Trung Quốc, trở thành sĩ quan cao cấp của độiquân cách mạng Trung Quốc Ông là cộng sự đắc lực nhất của Phan Bội Châu,
đã tận tình giúp đỡ mọi chi phí cho hoạt động cách mạng Việt Nam tại TrungQuốc…nhvv
Nhìn chung, những ngời xuất dơng tìm đờng cứu nớc đều xuất thân từnhững nhà Nho nghèo nhng giàu lòng yêu nớc Thời gian học tập tuy ngắnngủi (cha đầy 4 năm) nhng đối với lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dântộc Việt Nam đầu thế kỷ XX nó có ý nghĩa nh một cái đà, một nhịp cầu nốiliền truyền thống đấu tranh giữa phong trào Cần Vơng cuối thế kỷ trớc thất bại
đến phong trào đấu tranh chống Pháp thắng lợi sau này
Những ngời ra đi thì cố gắng học tập, hoạt động mong ngày trở về sẽ đemhiểu biết của mình cống hiến cho phong trào Những ngời ở lại trong nớc
ra sức vận động nhân dân góp tiền của giúp đỡ đồng chí ở hải ngoại, vận
động con em sang Nhật học tập Đặng Thái Thân chính là ng ời lo toannhững hoạt động trong nớc, đáp ứng cho phong trào Đông Du những nhucầu cần thiết
Cùng với những hoạt động quyên góp, giúp đỡ thanh niên chi phí ăn họcnơi đất khách quê ngời, một bộ phận phái "ám xã" còn chủ trơng bạo động vũtrang Số tiền quyên góp đợc, một phần gửi cho các đồng chí ở hải ngoại, mộtphần dùng mua sắm vũ khí để khi có điều kiện sẽ làm cuộc bạo động toàn dângiải phóng đất nớc Thực hiện chủ trơng đó, Hội gấp rút xây dựng căn cứ Bố
L ở Anh Sơn và lập kế hoạch đánh úp thành Hà Tĩnh (1910) Đây đợc xem làbiểu hiện rõ nét xu hớng bạo động của phái Đông Du Nghệ Tĩnh Trong hộiDuy Tân do Phan Bội Châu lãnh đạo có một ban “kinh tài” gồm những thủlĩnh cũ của phong trào Cần Vơng (Đội Quyên, Ngô Quảng, Tán Quỳnh) vàmột số đồng chí mới của Phan Bội Châu (Lê Võ, Đặng Thái Thân…nh) Họ đều
là thành viên phái “ám xã” tán thành tuyệt đối chủ trơng bạo động Trong đó,nhân vật tiêu biểu nhất cho xu hớng bạo động của phái “ám xã” ở Nghệ An làNgô Quảng
Ngô Quảng ngời xã Nghi Hng (Nghi Lộc) từng tham gia phong trào CầnVơng, sau đó tụ nghĩa dới ngọn cờ cứu nớc của Phan Bội Châu Là thành viêntrong ban “kinh tài” của Hội, ông và các đồng chí của mình đã hoạt động tíchcực nhằm gây quĩ cho thanh niên du học, đồng thời khuấy lên trong dân chúng
ý thức đánh đổ giặc Pháp Năm 1909, khi thực dân Pháp tấn công Hoàng HoaThám thì với ý thức trợ lực cho phong trào ngoài Bắc, phái Đông Du ở Nghệ
Trang 34An đã tham gia cuộc họp ở Phan Thôn (Nghi Lộc) do Đặng Thái Thân chủ trì
để bàn kế hoạch hành động Cuộc họp bị lộ, Đặng Thái Thân hi sinh, nhng nộidung quan trọng của cuộc họp là đánh úp thành Hà Tĩnh vẫn đợc triển khai.Theo kế hoạch anh em binh lính sẽ đứng lên khởi sự dới sự chỉ huy của ĐộiPhấn Dự định đến ngày đã sắp xếp anh em binh lính sẽ nổi dậy chiếm thành.Mọi việc đang diễn ra theo kế hoạch thì bị bại lộ Bọn thực dân tớc khí giớicủa binh lính và ra lệnh giới nghiêm
Vụ mu đánh thành Hà Tĩnh bị thực dân Pháp bóp chết ngay từ trongtrứng nớc Tuy vậy, nó vẫn có ý nghĩa lớn đối với phong trào đấu tranh cáchmạng của nhân dân trong tỉnh Nó chứng minh ý chí đấu tranh giành độc lậpcho dân tộc của nhân dân Nghệ An cũng nh sự đoàn kết chiến đấu của phongtrào cách mạng Nghệ An với toàn quốc
2.3.2.2 Thời kỳ Việt Nam Quang phục hội
Phong trào Đông Du tan rã, nhiều trí thức Nghệ An tiếp tục chí hớng củaPhan Bội Châu, hoạt động hết mình trong tổ chức mới: “Việt Nam Quangphục hội” Nghiên cứu về cấu trúc và những cơ sở xã hội của Duy Tân hội vàViệt Nam Quang phục hội ở Việt Nam và hải ngoại , Georges Boudarel nhận
định: “Dù cho tổ chức này là lỏng lẻo đến đâu, rõ ràng nó vẫn gần những điềusau này sẽ diễn ra hơn tất cả những điều từ trớc đây đã làm cho đến năm 1900,phong trào dân tộc của Việt Nam không có một cơ cấu hữu cơ nào hết, tất cả
đều dựa trên những liên hệ trung thuận Vấn đề từ nay sẽ khác”.[15,79]
Một số trí thức Việt Nam vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong tổ chứcViệt Nam Quang phục hội Đó là Hoàng Trọng Mậu tham gia Ban quân vụ,
Đặng Tử Kính hoạt động trong Ban kinh tế…nh
Hoàng Trọng Mậu từng tham gia phong trào xuất dơng du học ở Nhậtcho đến khi có lệnh trục xuất, ông trở về Trung Quốc tranh thủ học thêm cácmôn chính trị, kinh tế, quân sự Năm 1912, Việt Nam Quang phục hội thànhlập, ông đợc bầu giữ chức ủy viên trởng phụ trách quân vụ trong Bộ chấp hànhcủa hội ông đợc chỉ định cùng với Phan Bội Châu khởi thảo cuốn sách “ViệtNam Quang phục quân phơng lợc” viết 3 trong số 5 chơng Ông còn tham giaviệc chế định ra quốc kỳ, quân kỳ, và phát hành quân dụng phiếu cho ViệtNam Quang phục hội Hoàng Trọng Mậu đã có công chiêu tập, huấn luyệncác đội quân Quang phục ở các tỉnh biên giới phía Nam Trung Quốc, chuẩn bịcơ hội đánh úp giặc Pháp Năm 1915, ông đã chỉ huy một trong ba cánh quân
ở Vân Nam đánh về Hà Khẩu Nhng do sự phối hợp với cánh quân của