Vì những đặc điểm trên mà học sinh tiểu học rất thích học vẽ trang trí,hơn cả các phân môn khác trong chơng trình, nhất là đốivới các em nữ, vì học trang trí các em hoàn toàn đợc tự dovậ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học Vinh Khoa Giáo dục tiểu học
Vinh, tháng 05/2002
= =
Lời cảm ơn
Trang 2Đề tài "Trang trí và vấn đề dạy học vẽ trang trí ở tiểu học"
đợc thực hiện trong một thời gian ngắn, điều kiện không ít khó khăn Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, từ tháng 10/2001 chúng tôi đã khẩn trơng thu thập tài liệu, xử lý và chọn lọc để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt
ra Ngoài sự cố gắng của bản thân, còn đợc sự tận tình giúp đỡ của thầy, cô giáo và sự động viên khích
lệ của bạn bè.
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Hữu Dị - ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo trong khoa Giáo dục tiểu học trờng
Đại học Vinh, các thầy cô giáo khoa S
Trang 3phạm Họa trờng Văn hoá nghệ thuật tỉnh Nghệ An đã cho tôi những
đóng góp quý báu Cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh ở các tr- ờng tiểu học Hng Dũng I, Hà Huy
thành đề tài này.
Vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực khoa học giáo dục nên chắc chắc không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận đợc những lời chỉ bảo, nhận xét của thầy cô giáo và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn
!
Vinh, tháng 05 năm 2002.
Tác giả
Lê Thị Sen
Trang 4Phần mở đầu
I Lý do chọn đề tài.
1 Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc
đòi hỏi ngành Giáo dục phải đào tạo những con ngời pháttriển toàn diện để đáp ứng mọi yêu cầu của sự phát triểnkinh tế - xã hội Thực tiễn đó, đòi hỏi nhà trờng các cấp phảithay đổi mục tiêu đào tạo - đào tạo những con ngời pháttriển hài hoà nhiều mặt: đức dục, trí dục, mĩ dục và lao
động Thực hiện nhiệm vụ mỹ dục phải thông qua nhiềuhoạt động, nhiều môn học, trong đó Mỹ thuật có vị trí quantrọng - là môn cơ sở của giáo dục thẩm mỹ Vì thế, đã từlâu, môn Mỹ thuật đợc xem là một trong những môn học đ-
ợc quy định trong kế hoạch đào tạo ở bậc tiểu học, gópphần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàndiện
2 Trong chơng trình môn Mỹ thuật, phân môn Vẽtrang trí không đợc đặt thành một phần riêng mà nó đợcsắp xếp xen kẽ với các phân môn khác: Vẽ theo mẫu, Nặn tạodáng, Vẽ tranh đề tài, Thờng thức mỹ thuật góp phần làmphong phú nội dung môn Mỹ thuật ở tiểu học
- Trang trí xuất phát từ thực tiễn, phản ánh cuộc sống
đời thờng, nhng không rập khuôn mà đòi hỏi phải luôn tạo racái mới, cái lạ, cái đẹp, nhiều hình nhiều vẻ từ bố cục, hìnhmảng, hoạ tiết đến màu sắc Trang trí có một đặc điểmnổi bật là yêu cầu ngời học phải luôn suy nghĩ, sáng tạokhông ngừng để có những bài tập phong phú, đẹp về hìnhdáng, đẹp về màu sắc Vì thế, học trang trí giúp cho họcsinh năng lực làm việc: dám nghĩ, dám làm, dám thay đổiphơng pháp làm việc khoa học, t duy khoa học, t duy sángtạo Vẽ trang trí mang tính giáo dục rất lớn - bồi dỡng và phát
Trang 5triển ở học sinh phẩm chất của con ngời lao động - lao độngsáng tạo.
- Trang trí gần gũi, gắn bó với cuộc sống và nó tạo ranhững sản phẩm phục vụ sinh hoạt hàng ngày cho tất cả mọingời trong xã hội
- Trang trí mang sắc thái và mang màu sắc dân tộc rõnét nhất bởi nó xuất phát từ nhu cầu cuộc sống của cộng
đồng, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và nh vậy nó mang tínhgiáo dục sâu sắc
Có thể nói, học trang trí - tạo cho ngời học vẽ có một kiếnthức thẩm mỹ cơ bản và toàn diện nhất Vì những đặc
điểm trên mà học sinh tiểu học rất thích học vẽ trang trí,hơn cả các phân môn khác trong chơng trình, nhất là đốivới các em nữ, vì học trang trí các em hoàn toàn đợc tự dovận dụng những gì đã học vào bài vẽ theo cách nghĩ, cáchcảm thụ, sự thích thú của mình
3 Thực tiễn dạy học phân môn Vẽ trang trí cho thấy,giáo viên hiểu biết rất ít về nghệ thuật trang trí và phơngpháp dạy học phân môn Vẽ trang trí Do đó, trong quá trìnhgiảng dạy, thờng giáo viên thông báo kiến thức một cáchchung chung, cha chú ý đúng mức đến việc phát huy khảnăng sáng tạo của học sinh, hớng dẫn cha chú ý đến trọngtâm Do vậy, kết quả học tập của học sinh thấp, bài vẽ củahọc sinh thiếu tính sáng tạo về bố cục, hoạ tiết và màu sắc
Làm thế nào để nâng cao chất lợng dạy học phân môn
Vẽ trang trí ? Đó là vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên dạy học
Mỹ thuật ở tiểu học Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiêncứu là "Trang trí và vấn đề dạy học vẽ trang trí ở tiểu học".Nhằm vào việc cung cấp cho giáo viên dạy Mỹ thuật một sốkiến thức cơ bản về nghệ thuật trang trí- vẽ trang trí, ph-
ơng pháp dạy học vẽ trang trí theo hớng phát huy khả năng
Trang 6tìm tòi, sáng tạo của học sinh tiểu học trong cách làm bài vẽcủa các em và quy trình lên lớp một tiết dạy học vẽ trang trí.
II Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Đề tài của chúng tôi ngoài việc tìm hiểu một số vấn
đề về trang trí, phơng pháp dạy học phân môn Vẽ trang trí,còn tìm hiểu quy trình lên lớp một tiết dạy học Vẽ trang trí
và tiến hành thực nghiệm Do vậy, phạm vi nghiên cứu của
đề tài tơng đối rộng Các thế hệ đi trớc đã có nhiều côngtrình nghiên cứu xung quanh vấn đề này Tuy nhiên, để cómột cách nhìn toàn diện, sâu sắc về vấn đề trang trí vàphơng pháp dạy học vẽ phân môn Trang trí ở tiểu học thìthực sự cha có công trình nào Vì vậy, tất cả những côngtrình có liên quan là những tài liệu bổ ích cho chúng tôi khithực hiện đề tài
- Đầu tiên, phải nói đến là cuốn "Mỹ thuật và phơngpháp dạy học" của Trịnh Thiệp - Ưng Thị Châu (tính đếnnăm 2001 xuất bản lần thứ 9) của NXB Giáo dục Nội dungcủa cuốn sách có đề cập đến vấn đề trang trí: Bố cục, hoạtiết, màu sắc và phơng pháp vẽ trang trí một số hình hìnhhọc nh: hình vuông, hình tròn, trang trí đờng diềm, trangtrí trờng lớp, kẻ chữ in hoa Tác giả còn đề cập đến phơngpháp vẽ trang trí ở tiểu học theo hớng phát huy khả năng sángtạo và giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, nhng dạy học nh thếnào để đạt đợc điều đó thì tác giả cha đề ra phơng phápgiải quyết một cách cụ thể
- Cuốn "Phơng pháp giảng dạy mỹ thuật ở tiểu học" củaNguyễn Quốc Toản - NXB Giáo dục (tập 1, 2) có viết về vấn
đề "Vẽ trang trí và phơng pháp vẽ trang trí ở tiểu học" nhngcũng chỉ dừng lại ở cung cấp cho ngời học một số kiến thứccơ bản cần thiết cho vẽ trang trí nh bố cục, hoạ tiết, màu
Trang 7sắc trong trang trí và phơng pháp dạy vẽ trang trí theo haibớc: chuẩn bị đồ dùng dạy học và khai thác nội dung bài dạy.
Đến cuốn "Mỹ thuật và phơng pháp dạy học" của nhómtác giả Nguyễn Quốc Toản - Phạm Thị Chỉnh - Nguyễn LăngBình, NXB Giáo dục - 2000 đề cập đầy đủ hơn về phơngpháp dạy vẽ trang trí từ bớc nghiên cứu nội dung, chuẩn bị tliệu, chuẩn bị bài dạy đến hoạt động trên lớp Thế nhng, cáctác giả cha đề cập đến việc dạy học nh thế nào để làmnổi bật đặc điểm của phân môn Vẽ trang trí và phù hợp với
đặc điểm tâm lý cuả học sinh tiểu học, cha chú ý đếnviệc giáo dục thẩm mỹ cho các em
- "Tự học vẽ" của Nguyễn Văn Tỵ, NXB Văn hoá thông tin
1999 và "Tự học vẽ" của Phạm Viết Song, NXB Giáo dục
-2001 đề cập đến phơng pháp vẽ trang trí theo quy trình:nghiên cứu chủ đề, chia khoảng bề mặt, vẽ hình và cách
điệu, tìm đậm nhạt cho bố cục phác thảo, phác thảo màu
và thể hiện Đây là phơng pháp vẽ trang trí của nghệ sĩ !
Đối với học sinh tiểu học thì phơng pháp này quá công phu
ơng pháp trang trí một số thể loại tiêu biểu: đờng diềm,hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật
- Đề tài "Màu sắc trong sáng tác mỹ thuật" của Nguyễn
Đình Trung - đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục, trờng Văn
Trang 8vấn đề màu sắc, và cách sử dụng màu sắc Tuy nhiên, tácgiả cha đi vào nghiên cứu cách sử dụng màu sắc trong trangtrí.
Còn Robert Duplos với cuốn "Thực hành màu sắc hộihoạ", NXB Mỹ thuật - 1999 chỉ ra cách sử dụng các dạng màu
nh màu bột, màu nớc, sáp và tiến hành thực hành trên cácloại tranh vẽ về ngời, về cảnh thiên nhiên Đây cũng chỉ làmột khía cạnh của mỹ thuật
- "Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của ngời Việt"của Trần Lâm Biền, NXB Văn hoá dân tộc - Tạp chí VHNT -
Hà Nội 2001 dề cập một cách đầy đủ, chi tiết về hoa văntrang trí của ngời Việt Đấy là kiến thức cần thiết dành chongời giáo viên mỹ thuật ở tiểu học, có những hiểu biết đó sẽgiúp giáo viên dạy tốt và giáo dục thẩm mỹ truyền thống chohọc sinh tiểu học tốt hơn
- Tiếp thu tinh thần đổi mới nội dung và phơng phápgiảng dạy ở tiểu học "Tài liệu bồi dỡng giáo viên s phạm và cán
bộ chỉ đạo Sở GD-ĐT về chơng trình và SGK tiểu học năm
2001 môn Mỹ thuật" đặt ra yêu cầu về phơng pháp dạy học
Mỹ thuật phải nhằm phát huy tính độc lập, tính tích cựcsuy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh và chỉ ra phơngpháp dạy học để phát huy đợc tính độc lập, tính tích cựcsuy nghĩ, tìm tòi sáng tạo của học sinh với học mỹ thuật, nh-
ng cũng chỉ dừng lại ở mức độ chung chung mà cha chỉ raphơng pháp dạy học cụ thể cho từng phân môn của môn Mỹthuật
Xung quanh vấn đề trang trí và phơng pháp dạy họcphân môn Vẽ trang trí ở tiểu học còn có nhiều công trìnhnghiên cứu đề cập tới nh "Chuyên đề môn Mỹ thuật bậc tiểuhọc - Bộ GD-ĐT Vụ Tiểu học 1999", "Trang trí của NguyễnThế Hùng - Nguyễn Thị Nhung - Phạm Ngọc Tới, NXB Giáo dục1998" và một số bài báo in trên Tạp chí tiểu học của NguyễnQuốc Toản, Triệu Khắc Lễ nhng mỗi công trình chỉ đề
Trang 9cập đến một khía cạnh nào đó của vấn đề trang trí và
ph-ơng pháp dạy học vẽ trang trí ở tiểu học
Tìm hiểu thực trạng của việc dạy học phân môn vẽtrang trí ở trờng tiểu học chúng tôi thấy, để nâng cao chấtlợng dạy - học phân môn này ở tiểu học, việc cần thiết làcung cấp cho giáo viên mỹ thuật một kiến thức sâu, rộng vềtrang trí và các vấn đề về phơng pháp dạy học vẽ trang trí
ở tiểu học Vì vậy, tham khảo nhiều công trình nghiên cứucủa nhiều tác giả, chúng tôi thực hiện đề tài của mình là
"Trang trí và vấn đề dạy học trang trí ở tiểu học"
III Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu.
1 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của đề tài nhằm góp phần nâng cao hiệuquả của việc dạy học môn Mỹ thuật ở tiểu học nói chung vàphân môn Vẽ trang trí nói riêng
2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học phân môn Vẽ trang trí
ở tiểu học
- Xây dựng hệ thống kiến thức về trang trí - vẽ trangtrí
- Xác lập hệ thống phơng pháp dạy học phân môn Vẽtrang trí và quy trình lên lớp một tiết học vẽ trang trí
IV Khách thể nghiên cứu, đối tợng nghiên cứu.
1 Khách thể nghiên cứu.
Quá trình dạy và học môn Mỹ thuật ở tiểu học
2 Đối tợng nghiên cứu.
Trang trí và vấn đề dạy học phân môn Vẽ trang trí ởtiểu học
Trang 10V Phơng pháp nghiên cứu.
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng
4 phơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
1 Phơng pháp nghiên cứu lý luận.
Để có cơ sở lý luận về đề tài này, chúng tôi đã tiếnhành nghiên cứu chắt lọc từ các tài liệu liên quan nh Giáo dụchọc, Tâm lý học, Phơng pháp dạy học mỹ thuật ở tiểu học -dạy học phân môn vẽ trang trí ở tiểu học, Tạp chí nghiên cứugiáo dục, báo Giáo dục thời đại, Tạp chí tiểu học, khai thácnội dung chơng trình SGK từ lớp 1 - 5
2 Phơng pháp nghiên cứu kinh nghiệm.
Đề ra đợc những phơng pháp dạy học phân môn Vẽtrang trí và quy trình lên lớp một tiết dạy học vẽ trang trí ởtiểu học một cách thiết thực và hiệu quả, chúng tôi đã họchỏi kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên một số trờng tiểuhọc và tham khảo một số ý kiến của họ
3 Phơng pháp quan sát.
Chúng tôi tiến hành quan sát, thu thập những t liệu,thao tác, biểu hiện trong các giờ dạy - học của giáo viên vàhọc sinh trong quá trình dạy học phân môn Vẽ trang trí
4 Phơng pháp tiến hành thực nghiệm.
Để tiến hành kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả củaviệc vận dụng các phơng pháp dạy học và quy trình lên lớpmột tiết dạy học vẽ trang trí đợc đề xuất, chúng tôi trongthời gian thực tế tại trờng tiểu học Hng Dũng I, thực tập tại tr-ờng tiểu học Hà Huy Tập II (tỉnh Nghệ An) đã biên soạn một
số giáo án và tổ chức dạy thực nghiệm một số bài cụ thểtheo phơng pháp dạy học và quy trình lên lớp một tiết dạyhọc vẽ trang trí đợc đề xuất
Trang 11VI Giả thuyết khoa học.
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng dạy học phân môn Vẽtrang trí ở tiểu học và ý nghĩa của phân môn Trang trítrong việc giáo dục cái đẹp (mỹ dục) cho học sinh, chúng tôicho rằng: Nếu tổ chức tốt các hoạt động học mỹ thuật chohọc sinh tiểu học, xây dựng đợc một hệ thống phơng phápdạy học phân môn Vẽ trang trí phù hợp với học sinh cũng nhvận dụng hợp lý các phơng pháp đó vào dạy học, đồng thờixác định rõ quy trình lên lớp một tiết dạy học vẽ trang tríthì sẽ đem lại chất lợng dạy học cao: hình thành cho họcsinh nếp nghĩ, phơng pháp làm việc khoa học, t duy sángtạo, t duy khoa học, năng lực làm việc, dám nghĩ, dám làm,dám thay đổi, mong muốn có hiệu quả - làm nên cái đẹp
Trang 12Nội dung nghiên cứu
Ch ơng I
một số vấn đề chung
I Việc dạy và học mỹ thuật ở tiểu học.
1 Mục đích, nhiệm vụ của môn Mỹ thuật ở tiểu học.
- Từ lâu, môn Mỹ thuật đã trở thành môn học chínhthức trong chơng trình giảng dạy ở trờng phổ thông Nógắn bó chặt chẽ với các môn học khác để tạo ra chất lợng
đào tạo - đào tạo những con ngời phát triển toàn diện
- Môn Mỹ thuật ở trờng tiểu học không nhằm mục đích
đào tạo học sinh chuyên làm công tác mỹ thuật, mà chủ yếu
là làm cho đông đảo học sinh đợc tiếp xúc với hoạt động mỹthuật để các em có những hiểu biết về những yếu tố làm
ra cái đẹp và những tiêu chuẩn của cái đẹp Trên cơ sở đóbồi dỡng thị hiếu, tình cảm thẩm mỹ, giúp các em có thểcảm thụ vẻ đẹp của các tác phẩm hội hoạ, vẻ đẹp của thiênnhiên, của quê hơng Biết lựa chọn và biểu lộ cái đẹptrong cuộc sống, biết bảo vệ cái đẹp Bên cạnh đó, môn
Mỹ thuật còn có mục đích bồi dờng năng khiếu và khảnăng sáng tạo nghệ thuật cho học sinh (ở mức độ bớc đầu),
do vậy môn Mỹ thuật ở tiểu học có nhiệm vụ:
+ Giáo dục thẩm mỹ: học sinh nhận ra vẻ đẹp của mọivật thông qua đờng nét, hình mảng, đậm nhạt, màu sắc,
bố cục; giáo dục học sinh yêu mến thiên nhiên, quý trọng sảnphẩm lao động
Trang 13+ Phát triển ở học sinh khả năng quan sát, nhận xét,năng lực t duy hình tợng, sáng tạo Đây là lợi thế nổi rõ nhấtcủa môn Mỹ thuật, bởi mỹ thuật là tạo ra cái đẹp Cái đẹp
đợc thể hiện dới nhiều dạng, muôn vẻ, muôn màu, muốn cócái đẹp phải suy nghĩ, sáng tạo Suy nghĩ, sáng tạo là mộttrong những phẩm chất của ngời lao động trong thời đại mới
- suy nghĩ tìm tòi để có sản phẩm lao động mới, đẹp
+ Cung cấp cho học sinh một số kiến thức mỹ thuậtphổ thông, tạo điều kiện cho các em hoàn thành các nhiệm
vụ đề ra của chơng trình
+ Giáo dục nghệ thuật tryền thống
+ Tạo điều kiện cho học sinh học các môn học khácthuận lợi và có hiệu quả hơn Bởi ngôn ngữ mỹ thuật cô
đọng, súc tích, có tính biểu cảm, là phơng tiện tốt để họcsinh nhận ra tri thức các môn học khác
+ Giúp cho một bộ phận nhỏ học sinh có điều kiện, cókhả năng học tập mỹ thuật ở các trờng chuyên nghiệp, sơcấp, trung cấp mỹ thuật hoặc các trờng thiết kế tạo mẫu,trờng trung học, cao đẳng s phạm sau này
Với nhiệm vụ nh vậy nhng dung lợng dành cho môn Mỹthuật là rất ít: 1 tuần 1 tiết, cả năm học 33 tiết, cả cấp học
165 tiết cho nên lợng kiến thức đợc đa vào ở các lớp chỉdừng lại ở mức sơ đẳng và đợc chọn lọc tơng đối điểnhình Những lợng kiến thức này đợc lặp lại, nâng cao vàphát triển dần lên ở các lớp sau
Do đặc điểm tri giác và t duy của học sinh tiểu họcnên các giờ vẽ trong chơng trình đợc chia làm hai giai đoạn
để có điều kiện giáo dục, rèn luyện chuyển tri giác và t duy
Trang 14của học sinh về đồ vật (đối tợng vẽ) từ cảm tính cụ thể sangcách nhìn và suy nghĩ về đồ vật chính xác hơn.
Giai đoạn 1: Gồm các khối lớp 1-2-3
Giai đoạn 2: Gồm các khối lớp 4 và 5
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của môn Mỹ thuật
32 +1
32 +1
32 +1
32 +1
165+5
2 Tình hình thực hiện chơng trình.
2.1 Đội ngũ giáo viên.
Trang 15Đội ngũ giáo viên mỹ thuật ở trờng tiểu học đợc đào tạobằng nhiều phơng án:
2.1.1 Giáo viên dạy kiêm nhiệm - 9 môn Song trên thực
tế, giáo viên không dạy mỹ thuật Phơng án này vận dụng ởcác trờng Đại học s phạm, Cao đẳng s phạm khoa Giáo dụctiểu học
2.1.2 Giáo viên chuyên dạy mỹ thuật ở tiểu học - giáoviên chuyên ngành, đợc đào tạo từ nhiều nguồn tùy theo thực
+ Một số địa phơng còn kết hợp với Sở VHTT mở lớp
đào tạo giáo viên Mỹ thuật nh Nam Định, Hà Nội, Vĩnh Phú
Tuy vậy, tính đến nay, giáo viên dạy Mỹ thuật ở tiểuhọc vẫn thiếu nhiều về số lợng, rất yếu về chuyên môn vànghiệp vụ s phạm Vì ở phổ thông cha hoặc không học mỹthuật một cách hệ thống, do đó kiến thức về mỹ thuật ởsinh viên còn yếu Mặt khác, ở trờng s phạm, quỹ thời gianhọc mỹ thuật còn ít (90 - 150 tiết 1 khoá), nghiệp vụ giảngdạy mỹ thuật cha đợc chú ý
2.2 Cơ sở vật chất.
Cơ sở vật chất cho dạy học và học mỹ thuật ở tiểu họccòn thiếu thốn và nghèo nàn: cha có trờng tiểu học nào cóphòng học mỹ thuật riêng, các loại mẫu (hình khối, biểubảng, tranh ảnh ) cha đợc nghiên cứu và sản xuất Sách giáokhoa, sách đọc thêm và các tài liệu khác rất hiếm Giáo viên
Trang 16thuật chỉ có bút chì, giấy đủ loại, đủ kiểu Màu vẽ hiếm, do
đó các bài vẽ màu thờng không thực hiện đợc Hiện nay, đồdùng để vẽ màu cho việc học mỹ thuật có khá hơn, songcũng chỉ dừng lại ở chì màu, sáp màu, bút dạ với chất lợngcòn kém Học sinh cha có điều kiện sử dụng màu bột, màunớc
2.3 Thực trạng giảng dạy và học tập mỹ thuật ở tiểu học.
2.3.1 Thực trạng giảng dạy
- Hiện nay, giảng dạy mỹ thuật ở tiểu học chỉ mới thựchiện đợc ở những trờng có giáo viên mỹ thuật - ở thị xã hoặcthành phố, đa số các trờng tiểu học ở nông thôn, vùng sâu,vùng xa còn để trống môn học này Nguyên nhân chính là
do thiếu giáo viên, hơn nữa giáo viên mỹ thuật sau khi tốtnghiệp thờng không muốn về địa phơng hoặc nơi đợcphân công, thích ở lại thị xã, thành phố để dạy hoặc làmnghề mỹ thuật Nhiều nơi không nhận giáo viên mỹ thuậthoặc có nhận cũng chỉ sử dụng họ vào việc trang trí chocác ngày lễ, ngày hội hoặc làm công việc khác không trựctiếp giảng dạy
+ Khảo sát thực tế các trờng tiểu học trên địa bàntỉnh Nghệ An cho thấy: năm 2001, đội ngũ giáo viên chuyênngành mỹ thuật ở tiểu học có 209 giáo viên, trên 670 trờngtiểu học với 14.573 lớp dạy Nh vậy, về lý thuyết bình quânmỗi giáo viên mỹ thuật phải đảm nhận khoảng 3,2 trờng,69,72 lớp, 2.301 tiết Những con số, những tỷ lệ đáng quantâm phản ánh một sự thiếu hụt trầm trọng giáo viên bộmôn !
Tỷ lệ giáo viên chuyên ngành mỹ thuật đợc phân bố ởNghệ An nh sau:
Khu vực Tổng số GV mỹ thuật Tổng số trờng Tổng số lớp Tổng số tiết
Trang 17Tỷ lệ trên cho thấy, trong sự thiếu hụt trầm trọng còn
có sự mất cân đối về đội ngũ giáo viên chuyên ngành ở cáckhu vực Đây có thể là một trong những nguyên nhân ảnhhởng trực tiếp đến chất lợng dạy học mỹ thuật ở tiểu học -trớc hết là địa bàn tỉnh Nghệ An
+ Việc giảng dạy mỹ thuật ở các trờng tiểu học cha cógiáo viên mỹ thuật còn tuỳ tiện, dạy cũng đợc, bỏ cũng đợc,
ít có sự quan tâm của cán bộ giáo dục Thực tế, chất lợng dạyhọc mỹ thuật của đội ngũ giáo viên này cũng không cao bởi lẽgiáo viên tiểu học đều đợc học mỹ thuật trong thời gian họ
đợc đào tạo ở trờng trung học, cao đẳng hoặc đại học sphạm ngành giáo dục tiểu học Nhng thời lợng dành cho môn
Mỹ thuật quá ít so với đặc trng yêu cầu của bộ môn (ví dụmôn "Mỹ thuật và Phơng pháp mỹ thuật" ở khoa GDTH - Đạihọc Vinh chỉ có 90 tiết) Vì thế, họ cha có đợc một kiếnthức chuyên ngành sâu rộng và hệ thống ở mức độ cầnthiết để đáp ứng việc dạy kiêm nhiệm môn Mỹ thuật ở tiểuhọc theo mục đích, yêu cầu của chơng trình Mặt khác,giáo viên kiêm nhiệm phải dạy nhiều môn, vì vậy dễ sa vàodạy chung chung hoặc đòi hỏi học sinh phải vẽ đúng, vẽchính xác, vẽ nh thật Phần lớn giáo viên kiêm nhiệm môn Mỹthuật xem việc dạy mỹ thuật khá "nhẹ nhàng", bình thờng
Điều đó không phải do họ có bản lĩnh chuyên môn, mà cáichính là do họ "hồn nhiên" trong cách nghĩ, cách làm việc:biết đến đâu dạy đến đó, biết thế nào dạy thế ấy Không
ai kiểm tra, nếu có kiểm tra thì họ cũng biết để đối phó,vả lại có kiểm tra thì cũng chỉ là công việc hành chính, thủtục chứ ai là ngời thẩm định chuyên môn ?
Trang 18Khó có thể biết hết họ dạy cái gì có đảm bảo lịchtrình, có cắt xén, thậm chí bỏ qua giờ mỹ thuật haykhông ?
- Việc kiểm tra, đánh giá việc dạy mỹ thuật ở tiểu họccha đợc chú ý ở các cấp quản lý giáo dục thể hiện ở:
+ "Thả nổi", phó mặc cho giáo viên, ít quan tâm đếnviệc thực hiện chơng trình môn học Vì vậy, dạy học mỹthuật cha có nền nếp, cụ thể là: bỏ giờ, cắt giờ, không dạyhọc ở lớp mà cho học sinh về nhà làm bài là hiện tợng phổbiến xảy ra nhiều năm nay ở nhiều trờng, nhiều địa phơng
+ Kiểm tra nhng cha chú ý đến hiệu quả việc dạy học
mỹ thuật mà thờng tập trung vào việc thực hiện "các bớc lênlớp" một cách bài bản
- Đánh giá học mỹ thuật, nhiều giáo viên thờng lấy tiêuchuẩn của các môn học khác: vẽ đúng, vẽ chính xác, vẽ nhiều,
đủ chi tiết và giống thực cha chú ý đến đặc điểm ngônngữ tạo hình và vẽ đẹp của nghệ thuật tuổi thơ
Đánh giá học mỹ thuật của học sinh tiểu học bằng điểm
số theo thang bậc 10 trong khi trình độ giáo viên còn hạnchế về mỹ thuật, nhất là cha hiểu "nghệ thuật tuổi thơ", dovậy đánh giá bằng điểm số cha phản ánh đúng khả năng tạohình của học sinh
- Một bộ phận giáo viên dạy mỹ thuật ở tiểu học có
ph-ơng pháp dạy rất nặng nề, bài bản, thiên về truyền thụ kiếnthức, ít chú ý đến khai thác thẩm mỹ của bài vẽ Vì vậy, bài
vẽ của học sinh tiểu học trở nên công thức, khô cứng
Nguyên nhân cơ bản là giáo viên cha rõ đặc thù của bộmôn là dạy cho các em biết tạo nên vẻ đẹp đa dạng bằng suynghĩ, cảm thụ của mỗi học sinh Bên cạnh đó, giáo viên chahiểu rõ phơng pháp giảng dạy, nhất là dạy mỹ thuật - đó làgợi mở và tạo điều kiện cho học sinh hng phấn trong học tập,
có thể các em mới độc lập suy nghĩ và tìm tòi sáng tạo đểbài vẽ luôn luôn có cái mới, cái khác, phải chăng khâu nghiệp
Trang 19vụ ở các trờng s phạm cha đợc chú ý, do vậy dạy mỹ thuật ởtiểu học có chất lợng cha cao.
2.3.2 Thực trạng học tập
Môn Mỹ thuật có trong chơng trình phổ thông đã lâusong giảng dạy và học tập ở trờng tiểu học cha có nền nếp,phơng tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập còn thiếu nhiều,quan niệm về môn học này cha đúng đắn, do vậy ảnh h-ởng nhiều đến giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
- Học sinh tiểu học học mỹ thuật cha có nền nếp, kiếnthức cha có hệ thống, thực hành ít, môi trờng thẩm mỹ hạnhẹp Học sinh ít đợc quan sát, tham quan danh lam thắngcảnh và bảo tàng Vì thế hiểu biết về mỹ thuật, về cái đẹphầu nh các em cha có, cha sâu rộng, nên không kích thíchcác em học tập
- Học sinh tiểu học bị chi phối, ảnh hởng về các mônchính, phụ của xã hội, của nhà trờng Các em phải tập trungcho các môn chính, lo cho thi, lo bị đánh giá nên phần nào
bỏ qua, sao lãng môn Mỹ thuật Hơn nữa, do thiếu phơngtiện học tập và phơng pháp hớng dẫn của giáo viên cha linhhoạt nên bài vẽ cả các em thờng khô, thiếu phóng khoáng, đôikhi gò bó công thức
Tuy nhiên, đa số học sinh tiểu học rất thích hoạt độngtạo hình, vẽ, nặn, xem tác phẩm mỹ thuật và dần dần trởthành nhu cầu của các em Các kỳ thi vẽ trong nớc và quốc tế
đã chứng minh khả năng sáng tạo của các em
Dạy mỹ thuật ở tiểu học là làm sao để thức tỉnh khảnăng sáng tạo và tạo điều kiện cho các em hoạt động tạohình, làm cho đời sống tinh thần phong phú hơn
II Việc dạy học phân môn vẽ trang trí ở tiểu học.
1 Nội dung dạy học phân môn Vẽ trang trí.
- Với thời gian 45 tiết cho cả 5 năm học, Vẽ trang trí ởtiểu học gồm các nội dung sau:
Trang 20+ Tập trang trí các hình cơ bản: đờng tròn, hìnhvuông, hình tròn và trang trí lều, trại, đầu báo tờng (trang trí nội dung).
+ Làm quen với chữ nét đều, chữ nét thanh, nét đậm,
đ-Tập chép một số mẫu đơn giản để làm quen với nhịp
điệu, bố cục của trang trí và bớc đầu tập trang trí đờngdiềm, hình vuông, hình tròn Tập gọi đúng tên các màu cơbản và tập tô màu
+ Giai đoạn 2: ở các lớp 4 - 5, các em tập sáng tạo họatiết, tập trang trí một số mẫu đơn giản, đờng diềm, hìnhvuông, hình tròn Tập gọi tên các màu có trong hộp chìmàu Tập pha màu (màu nớc), tập kẻ chữ in
2 Các dạng bài vẽ trang trí ở chơng trình tiểu học.
- Trong chơng trình ở tiểu học thờng có 2 bài tập, đólà:
+ Trang trí hình cơ bản: Trang trí cơ bản là trang trícác hình cơ bản - các hình hình học nh trang trí hìnhvuông, hình tròn, đờng diềm (hình chữ nhật)
Trang 21Các loại bài tập này vận dụng các luật trang trí một cáchchặt chẽ khi vẽ hình mảng, vẽ hoạ tiết và vẽ màu.
+ Trang trí ứng dụng: Trang trí ứng dụng là trang trícác đồ vật có tên gọi cụ thể, thông dụng hàng ngày nh:trang trí cái khăn vuông, viên gạch bông, cái thảm hình chữnhật, cái đĩa, cái lọ cắm hoa, cái quạt hay trang trí góc họctập
Cái loại bài tập này cũng vận dụng các quy luật của trangtrí nhng linh hoạt, thoáng hơn vì còn phụ thuộc vào tínhchất, đặc điểm của đồ vật và nh vậy trang trí ứng dụng
có yêu cầu riêng Ví dụ: trang trí cái khăn vuông không nhấtthiết phải đối xứng nhau, đồng đều nh trang trí hìnhvuông Cũng nh vậy, trang trí cái đĩa hình tròn không thểnhiều mảng, nhiều màu nh trang trí hình tròn
- Ngoài ra trong chơng trình tiểu học còn có các bàitrang trí sau:
+ Tô màu: tranh hoa, quả, lá, tranh dân gian Loại bàinày giúp học sinh biết cách sử dụng màu một cách hài hoà,vui mắt, đẹp
+ Tập vẽ hoạ tiết trang trí đơn giản và hình trang trídân tộc
+ Làm quen với chữ nét đều, nét thanh, nét đậm, kẻdòng chữ ngắn
3 Đặc điểm phân môn Vẽ trang trí ở tiểu học.
Khác với vẽ theo mẫu, vẽ trang trí cũng từ những mẫu, từkiến thức chung nhng ngời vẽ có thể suy nghĩ, tìm tòi đểtạo ra bài vẽ (sản phẩm) khác một phần, khác hoàn toàn vềhình dáng, bố cục, về hình vẽ, về màu sắc Vì thế đặc
điểm của trang trí là suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo thờngxuyên, liên tục để luôn luôn có cái mới, cái đẹp, không lặp lạichính mình, không giống bài của ngời khác Vì thế, họctrang trí tạo cho ngời học sinh nếp nghĩ, phơng pháp làm
Trang 22việc khoa học - t duy khoa học, t duy sáng tạo, góp phầnhình thành phẩm chất con ngời lao động.
Trang trí gần gũi, gắn bó với cộc sống con ngời vì nótạo ra những sản phẩm phục vụ sinh hoạt hàng ngày cho tấtcả mọi ngời trong xã hội
Trang trí mang màu sắc dân tộc rõ nét nhất bởi nóxuất phát từ nhu cầu cuộc sống của mỗi cộng đồng dân, mỗidân tộc, mỗi quốc gia, và nh vậy nó mang tính giáo dục sâusắc
Có thể nói rằng, trang trí tạo cho ngời học vẽ có mộtkiến thức thẩm mỹ cơ bản và toàn diện nhất
4 Thực trạng của việc dạy - học phân môn Vẽ trang trí ở tiểu học.
Ngoài những vấn đề chung về thực trạng dạy học môn
Mỹ thuật, dạy học vẽ trang trí ở tiểu học còn có những vấn
đề sau:
4.1 Về phía giáo viên.
Giáo viên dạy vẽ trang trí có kết quả hơn dạy các phânmôn khác, cụ thể: chuẩn bị cho bài dạy công phu, đồ dùngdạy học đầy đủ, phong phú, su tầm nhiều bàivẽ của học sinh
để minh hoạ Tuy nhiên, do không am hiểu sâu rộng vềnghệ thuật trang trí và phơng pháp dạy vẽ trang trí nên giáoviên hớng dẫn học sinh vẽ cha chú ý đến trọng tâm mà thôngbáo kiến thức một cách chung chung, cha chú ý yếu tố thẩm
mỹ của bài học, cha quan tâm móc nối, liên hệ những gìliên quan để mở rộng tầm hiểu biết cho học sinh Do vậy,bài vẽ của học sinh thiếu tính sáng tạo cả về bố cục, hình vẽ
và màu sắc
4.2 Về phía học sinh.
Trang 23Học sinh hứng thúc học vẽ trang trí hơn theo mẫu vàphần nào hơn cả vẽ tranh đề tài và các phân môn khác Bài
vẽ trang trí của các em đẹp hơn, có tiến bộ rõ rệt về cáchdùng màu
Học sinh rất thích vẽ trang trí và học có kết quả hơn sovới các phân môn khác, nhất là đối với các em nữ Học trangtrí các em đợc hoàn toàn tự do vận dụng những gì đã họcvào bài vẽ theo cách nghĩ, cách cảm thụ - sự thích thú củamình Vì thế bài vẽ trang trí có vẻ đẹp đa dạng tuy có têngọi chung cùng một yêu cầu, cùng cách dạy, cùng một ngời thựchiện nhng bài trớc, bài sau có những nét riêng
Tuy nhiên, việc học vẽ trang trí của học sinh cha thực sựthoải mái, các em vẽ thờng gò bó, công thức, đôi khi rậpkhuôn, sự suy nghĩ tìm tòi cha đợc giải phóng, hiện tợngbắt chớc là phổ biến Vì vậy các bài làm của học sinh thờng
có những hiện tợng sau:
- Cha chú ý đến bố cục mảng lớn, mảng nhỏ, vẽ hìnhthờng tự do, các mảng hình đều nhỏ, bằng nhau và đểkhoảng trống nền rộng
- Hình mảng giống nhau cha đều và cha chú ý đếncác trục đối xứng
- Bố cục chung chung, thờng chỉ theo cách hớng dẫn ởbài học của giáo viên
- Màu ở bài trang trí phân bố cha hợp lý giữa đậm nhạt,nóng lạnh, do đó bài vẽ cha có trọng tâm, thể hiện ở:
+ Màu đậm đều, bài vẽ khô
+ Màu nhạt đều, nhạt nhoà
+ Nhiều màu quá nên đôi khi phá cả hình mảng (dodùng trùng màu giữa các mảng cạnh nhau)
+ Màu sắc quá sặc sỡ và tơng phản nên bài vẽ trở nêncứng, khó đẹp
Trang 24- Sử dụng các chất liệu cha quen thể hiện ở:
+ Dùng màu thờng thiếu độ đậm, do vẽ nhẹ tay
+ Bút dạ, sáp màu thờng quá đậm do vẽ chậm, màuxuống đẫm, mảng màu không đều
+ Cha có thói quen pha trộn màu để có những màukhác
+ Dùng màu nớc, màu bột hiệu quả kém hơn chất liệukhác và những chất liệu này ít phổ biến ở trờng phổ thông
Học sinh có nhu cầu học vẽ trang trí nhng sự suy nghĩ,tìm tòi của các em cha đợc kích động, phải chăng tính tíchcực học tập của học sinh cha đợc đánh thức ?
Tóm lại: Qua tìm hiểu thực trạng vấn đề dạy học Mỹ
thuật nói chung, vấn đề dạy học phân môn trang trí nóiriêng ta thấy việc dạy học trang trí ở tiểu học là cần thiết,
nó góp phần hình thành ở học sinh những phẩm chất tốt
đẹp của con ngời lao động mới, ngời lao động có tri thứckhoa học - dám nghĩ, dám làm, lao động có năng suất cao
và biết thởng thức cái hay, cái đẹp trong cuộc sống
Tuy nhiên, dạy học Vẽ trang trí ở tiểu học còn nhiều vấn
đề phải quan tâm bởi từ lâu chúng ta ít chú ý, thiếu sựchuẩn bị về giáo viên, về học sinh, về cơ sở vật chất
III Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ tạo hình của trẻ
em (nhà trẻ, mẫu giáo và tiểu học).
Trang 25quá trình hình thành và phát triển trẻ còn chịu nhiều ảnhhởng của cha mẹ, bè bạn, điều kiện hình thành, môi trờng vì thế có trẻ trội, trẻ bị hạn chế, trẻ phát triển mạnh một mặtnào đó).
Nếu nh sự hình thành và phát triển thể chất, trí tuệcủa trẻ có những cái chung mang tính quy luật thì sự pháttriển ngôn ngữ của trẻ em có ngoài cái chung mang tính quyluật ấy không ? Chúng tôi thấy mọi mặt ở trẻ em rất hài hoà,
do vậy sự hình thành và phát triển ngôn ngữ tạo hình củatrẻ em cũng có những nét chung cho tất cả
- Nhìn nhận, đánh giá, nghiên cứu về trẻ em có nhiều
điểm cha thống nhất Từ xa xa tới nay, đã có biết bao nhiêunhà bác học, nhà nghiên cứu nói về trẻ em, mỗi ngời, mỗi thời
kỳ lại có những nhận xét, phát hiện mới về chúng, có nhữngcông trình phủ định chống đối nhau Điều đó chứng tỏkhoa học ngày càng phát triển và phải có những giải phápmới mẻ, thấu đáo, đa dạng đối với thế giới trẻ em rộng lớnmênh mông, phức tạp và phong phú Làm sao để có một
đánh giá đúng về trẻ cho mọi ngời, mọi nơi, mọi thời đại.Ngày nay, các cụ thờng nói: Trẻ bây giờ "khôn" thật Quả nhvậy, vì ngày nay xã hội phát triển hơn ngày xa "nớc lênthuyền lên", sao đứa trẻ lại không "khôn" đợc ?
- ở lĩnh vực tạo hình, trẻ em bây giờ cũng "khôn" lênnhiều so với trớc kia Và nhận xét khả năng tạo hình của trẻcũng không giống nhau ở cha mẹ, ở thầy cô giáo, ở các hoạ
sĩ, ở các nhà nghiên cứu và các nhà tâm lý Thí dụ, thấy
đứa trẻ hay vẽ, vẽ miệt mài ở bất cứ đâu, một số ngời vộivàng cho rằng đây là "hoạ sĩ tơng lai", hoặc đứa trẻ đó cónăng khiếu, có hoa tay ! Trẻ em thích vẽ là đặc điểm chungcho tất cả Trẻ có thể vẽ nhiều giờ, vẽ bất cứ đâu, song chỉ ởmột lứa tuổi nào đó và ở một số em Sau đó, nhiều em đãthôi vẽ chuyển sang loại hoạt động khác nh múa, hát, âmnhạc (nhất là các bé gái) hoặc võ, quyền anh, thể thao
Trang 26(các bé trai) Nhu vậy, có thể thấy, hoạt động tạo hình cóhiệu quả nhất ở vào lứa tuổi nhỏ nh mẫu giáo, tiểu học, rồimột bộ phận ở THCS Có lẽ cụm từ "nghệ thuật tuổi thơ"cũng xuất phát từ thực tế đó.
Nhiều trẻ ở lứa tuổi đầu vẽ rất tự nhiên, thoải mái, vẽ
đẹp, dần dần vẽ gò bó, khô cứng rồi chững lại, không thểphát triển tiếp đợc Điều này nói lên: sự hình thành và pháttriển ngôn ngữ tạo hình ở mỗi ngời cũng có "thời" của nó
Nh thế, không phải bất cứ đứa trẻ nào hay vẽ, vẽ nhiều đều
là có năng khiếu hay sẽ trở thành hoạ sĩ cả
Tranh vẽ của trẻ em có nét đẹp của tuổi thơ mà ngờilớn không có đợc, khó có thể bắt chớc Tranh của hoạ sĩ có vẻ
đẹp của ngời lớn sáng tạo Đánh giá nh thế nào vừa khích lệ,
động viên các vẽ, vừa để các em "thấy" đợc mình và "nhận"
ra đúng mình hơn, chứ không phải là ngời khác Có một sốngời khen quá lời những bài vẽ của trẻ, coi đó là "tuyệt vời",nào là để lại "những ấn tợng tốt đẹp", rồi "có sự sáng tạocao" Ngợc lại, có một số ngời trong đó có giáo viên nhìnhình vẽ, nhận xét tranh của trẻ em bằng cách nhìn, cáchnghĩ, cách cảm thụ của ngời lớn, chê bai hết lời Cách đánhgiá trên thực sự là cha hiểu về trẻ, về cách cảm, cách nghĩ vàcách vẽ hồn nhiên của trẻ, cha biết đợc ngôn ngữ tạo hìnhcủa trẻ và nh vậy vừa không đúng, vừa không có lợi cho dạy
mỹ thuật, làm cho các em không hứng thú học tập
- Thật là có thiếu sót với trẻ em nếu các ngành chuyênmôn, các chuyên gia không cùng nhau nghiên cứu để cónhững nhận xét, đánh giá chung về sự phát triển mọi mặtcủa trẻ em Sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm vànghệ thuật có sự liên quan chặt chẽ với nhau, rất hài hoà, vìtất cả đều xuất phát từ một thực thể - đứa trẻ ở mọi nơi, trẻ
có một mặt bằng, một xuất phát điểm nh nhau, ngangnhau Do vậy, sự hình thành và phát triển ngôn ngữ tạohình ở trẻ em đều có những đặc điểm, những thời điểm
Trang 27"na ná" nhau Điều này đã có nhiều tài liệu công bố Ta thấynhững nét vẽ, hình vẽ, cách bố cục, cách vẽ màu và cảm xúccủa trẻ bất cứ đâu, ở nơi nào, nớc nào cũng có những nétchung, cũng rất ngây thơ hồn nhiên, thật thà và trong sáng.Tuy nhiên, phong tục tập quán, thiên nhiên, con ngời mỗi nơimột khác cũng rất rõ nét trong cách vẽ của trẻ em, thể hiện ởhình tợng, màu sắc, bố cục
- Để có thể nhận xét về trẻ em hay một lĩnh vực hoạt
động nào đó của chúng, phải xem xét trên nhiều bìnhdiện:
+ Một là, trẻ em ở đâu cũng có sự hình thành và pháttriển thể chất trí tuệ, tâm hồn
+ Hai là, muốn xem xét, đánh giá về hoạt động tạohình của trẻ phải nhìn nhận sự phát triển về mọi mặt củachúng
+ Ba là, sự hình thành và phát triển ngôn ngữ tạohình của trẻ em có nhiều nét giống nhau
Từ cái chung, cái tổng thể đó mới có những nhận xétriêng biệt, đồng thời thấy đợc những thiếu sót để khích lệ,
động viên nay hớng dẫn cho trẻ sửa chữa, điều chỉnh, bổsung làm cho chúng học mỹ thuật tốt hơn
2 Các giai đoạn hình thành và phát triển ngôn ngữ tạo hình ở trẻ em.
Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, giai đoạnphát triển của trẻ mà ngời ta phân chia thành các cấp học:nhà trẻ, mẫu giáo (mẫu giáo nhỏ, nhỡ, lớn), tiểu học (lớp 1 - 5),THCS (lớp 6 - 9), trung học (lớp 10 - 12)
Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ tạo hình của trẻ
em cũng dựa trên cơ sở tâm lý lứa tuổi, có tính quy luật.Tính quy luật đó ứng với ác giai đoạn phát triển của các bậchọc: nhà trẻ, mẫu giáo và phổ thông Tuy nhiên, chia ra cácgiai đoạn hay nhận xét khả năng tạo hình của trẻ đều dựa
Trang 28trên cơ sở chung, không có ý áp đặt cho tất cả, vì bất cứlĩnh vực nào, nhất là môn mỹ thuật - môn nghệ thuật đều
có những ngoại lệ
Sau đây, chúng tôi sẽ giới thiệu sự hình thành ngônngữ tạo hình qua môn vẽ ở trẻ độ tuổi mẫu giáo và tiểu học
2.1 Giai đoạn nhà trẻ: Từ 18 tháng - 3 tuổi.
Trẻ ở độ tuổi này mới cầm đợc phấn, cha quen cầm sáp,bút chì, bút dạ Khi vẽ, trẻ thờng vận động cả bàn tay, lúc cảkhuỷu tay, hay vẽ to, vẽ rộng thì vận động cả cánh tay với sựtrợ giúp của các khớp Vì vậy, nét thờng cong hơn là thẳng.Trẻ cha có ý định vẽ cái gì, chỉ là sự hoạt động của tay cùngvới phấn hay gạch vạch lên trên nền nhà, những nét vòng vo,chồng chéo nhau, run rẩy, tha dày đan xen nhau theo sựthích thú của "trò chơi", không ra hình gì
2.2 Giai đoạn mẫu giáo: Gồm nhóm trẻ mẫu giáo bé,
mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn
2.2.1 Mẫu giáo bé từ 3 - 4 tuổi:
Thời kỳ đầu trẻ có thói quen vẽ nh tuổi nhà trẻ Lúc này,nét vẽ của trẻ nguệch ngoạc, lẫn lộn, chồng chéo giữa cácnét dọc ngang, xiên và nét lợn vòng vo ở giai đoạn này, sựchỉ đạo của thần kinh đối với cơ bắp cha thành thục, thêmvào đó trẻ cha có ý định tạo hình, quan sát còn ở dạng hờihợt, không có chủ định - nhìn và trông theo bản năng, hình
ảnh thờng thoáng qua, bất chợt, cha đọng lại trong trí nhớ củatrẻ lâu Thời kỳ này hoạt động vẽ của trẻ theo bản năng là chủyếu Đơn giản là trẻ muốn hoạt động, thích thú hoạt động -hoạt động vẽ, do đó cái nét ban đầu rất tự do, "tung hoành"không có giới hạn trên mặt phẳng rộng - "không biên giới", dovậy nét ngắn, nét dài, nét thẳng, nét xiên, nét cong vòng
vo Giai đoạn này hoạt động vẽ của trẻ cha có ý định rõràng, trẻ quen cầm que, phấn tự do, cầm chặt để vạchnét, cha quen với cầm bút chì, sáp màu và vẽ trên giấy - "cógiới hạn" Hớng dẫn trẻ cầm chì, sáp nhẹ nhàng, thoải mái
Trang 29bằng 3 ngón: ngón cái, ngón trỏ ở trên, ngón giữa ở bên dới,hai ngón còn lại để làm cữ khi vẽ Hớng dẫn trẻ vẽ nét, vẽhình đơn giản trên trang giấy "có hạn chế" - sao cho vừa,không to, không nhỏ quá (thờng là trẻ vẽ nhỏ), không dài quá(thờng là trẻ vẽ nét dài, vì cha điều khiển đợc cơ khớp) Haithao tác này tởng chừng dễ dàng nhng không đơn giản vớitrẻ, mất khá nhiều thời gian, cần kiên trì và thờng xuyên.Nếu đợc hớng dẫn cụ thể và chu đáo, trẻ 3 - 4 tuổi có thể vẽ
đợc những hình đơn giản nh: cây, nhà, hoa và sắp xếphình vào trang giấy theo các đề tài đơn giản nh: vờn cây
ăn quả, ngôi nhà của bé, vờn hoa ao cá Trẻ tô màu theo ýthích, song cha tô đợc gọn trong hình, thờng chờm ra ngoài,
đôi khi xóa hết hình bằng cách đi màu lung tung trên tranggiấy
2.2.2 Giai đoạn mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi):
Hoạt động vẽ giúp trẻ điều chỉnh dần vận động củacác khớp ở ngón tay, cổ tay Quan sát của trẻ tập trung hơn,ghi nhận đợc những hình ảnh chính, rõ ràng của đối tợng
Do vậy trẻ bắt đầu tự kiềm chế đợc nét vẽ ngắn, dài, cao,thấp, khép kín theo ý muốn (không quá tự do nh giai đoạnban đầu) Các hình vẽ của trẻ đã hao hao giống một cái gì
đó - ý định mô tả đã xuất hiện dần, tức là muốn vẽ một cáigì đó theo cách nhìn của mình ở đây ta thấy thị giác đã
"xung trận", tham gia khá tích cực vào quá trình hìnhthành nét, hình vẽ "cùng với tay" Theo dõi trẻ ở độ tuổi này
ta đã thấy chúng chăm nhìn đối tợng hơn và trớc khi vẽ,hình nh trẻ cũng "để" ít thời gian lắng đọng nghĩ xem nên
vẽ ở chỗ nào, vẽ to hay nhỏ, cao hay thấp chứ không "ào ào"
nh trẻ ở độ 3-4 tuổi - ý định sắp xếp trong trang giấy đãhình thành Tất cả đều nói lên trẻ ở lứa tuổi này đã pháttriển, nhiều chức năng hoàn thiện hơn nh: sự thành thục của
hệ thần kinh chỉ đạo vận động cơ bắp và thị giác Đến
đây ta có thể nói "bài vẽ" hơn là hình vẽ, vì trên trang giấy
trẻ đã biết vẽ những gì để thành cái gì theo cách nhìn,
Trang 30cách nghĩ và sự thích thú - đó là giai đoạn xuất hiện vẽ theo ý đồ và theo cảm nghĩ ở đây, t duy giữ vai trò quantrọng trong quá trình vẽ: vẽ cái gì, nó thế nào, vẽ ra sao Qua thực tế theo dõi nhiều năm ở trờng mẫu giáo, với số lợngkhá đông các độ tuổi, các thực nghiệm khoa học đã chothấy trẻ ở độ tuổi này rất ham vẽ, thích vẽ Nét vẽ, hình vẽ
và bài vẽ của chúng rất sinh động và biểu cảm Đó là một
đặc điểm, song nếu đợc đầu t bằng cách cho trẻ quan sát nhiều và gợi mở trẻ sẽ vẽ đẹp hơn Chẳng hạn, nên hco trẻ
thấy đợc sự phong phú của hình dáng, cây, nhà (những chitiết hấp dẫn), hình vẽ to, hình vẽ nhỏ (vẽ ở trong hay vẽ ởngoài, ở trên hay ở dới, màu đậm, màu nhạt ) Đây là nhữngkiến thức cần thiết để trẻ có thể vẽ đợc nhanh, nhng quan
trọng hơn cả là phải nói, gợi thế nào để trẻ hấp thụ, tiêu hoá
và tự thể hiện đợc những gì ngời lớn cung cấp bằng chính
mình Đó là nghệ thuật giảng dạy - dạy nhng để trẻ thẩmthấu và vẽ theo khả năng, cảm xúc riêng
2.2.3 Giai đoạn mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi):
ở giai đoạn này, trẻ đã "khôn" hơn về mọi mặt: về thểchất, về nhận thức và cảm xúc, nhất là trẻ đã quen dần với
"sự học", thích học các môn nghệ thuật nh: hát, múa, tạo
hình (vẽ, nặn, xé, dán, xếp hình) Do vậy, nét vẽ của trẻ đã
theo ý muốn: dài, ngắn, đứng, nghiêng, thẳng, cong khá rõràng, mạch lạc và mạnh dạn, tự tin hơn Đặc biệt là nét vẽ đã
có chỗ đậm nhạt, thoáng hơn, vì trẻ vẽ theo sự thích thú,chứng tỏ chúng nhận biết về đối tợng nhanh hơn Thực ra,
đây chỉ là sự ngẫu nhiên chứ trẻ cha ý thức đợc nh vậy
Hình vẽ của trẻ rõ dần, đối tợng có thêm nhiều chi tiết, "ý đồ
tạo hình" xuất hiện trong quan sát, trong suy nghĩ và sựthích thú Trẻ đã ý thức đợc vẽ gì, nó thế nào, vẽ ra sao và cốgắng thể hiện đúng nh thế Tất nhiên đúng là đúng với trẻ,
là của trẻ Vì vậy, hình vẽ vẫn ở dạng "mô phỏng kỹ", vẫnxiêu vẹo, nhng ngộ nghĩnh, đáng yêu Có thể nói, từ đâyhrtẻ đã có ý vẽ tranh nhiều hơn là vẽ chung chung - trẻ đã tự
Trang 31nghĩ và tìm ra những gì cần cho bài vẽ của mình Nhngchỉ bằng lòng nh vậy, bài vẽ của trẻ sẽ lặp lại và lại rơi vàotình trạng chung chung Lúc này, ngời hớng dẫn cần cungcấp thêm t liệu, bởi vốn sống của trẻ cha nhiều, quan sát vẫn
ở mức độ hời hợt, thoáng qua, dễ thấy song cũng dễ quên,
dễ bỏ quan hoặc tản mạn Bằng các mẩu chuyện nhỏ, hấpdẫn, có hình ảnh, có màu sắc giúp trẻ hình dung ra nhữnggì cần vẽ hay nhớ lại những gì đã quan sát đợc tạo điềukiện cho bài vẽ sinh động, đồng thời cho trẻ hiểu biết thêm
về thời gian xung quanh mà không phải trẻ ở đâu cũng biết,lúc nào cũng thấy Chẳng hạn, vẽ tranh về Hồ Gơm, có thể
kể cho trẻ nghe: Vì sao lại gọi là Hồ Gơm hay Hồ Hoàn Kiếm,Tháp Rùa ở đâu, xunh quanh hồ có những gì, cầu Thê Húc
nh thế nào, màu gì Có thể cho trẻ xem thêm tranh về HồGơm, gợi ý cho trẻ nhiều cách vẽ: vẽ phong cảnh Hồ Gơm, vẽcảnh vui chơi bên hồ, vẽ về rùa ở Hồ Gơm hay vẽ cảnh vua LêLợi trả gơm cho thần Kim Quy Những mẩu chuyện, nhữngtranh ảnh gợi tả nh trên rất phổ biến đã viết, đã đăng ở
đâu đó, ngời hớng dẫn cần su tầm và sử dụng đúng lúc,
đúng chỗ khi hớng dẫn trẻ
Tóm lại, ở giai đoạn mẫu giáo, hoạt động tạo hình củatrẻ có hiệu quả hơn và tạo hình là một trong những nội dungchính của chơng trình học, bởi lứa tuổi này dễ tiếp thu cácloại hình nghệ thuật, trẻ học bằng sự thích thú chứ không bị
gò ép, cha bị chi phối bởi các môn học khác
2.3 Giai đoạn tiểu học (từ 6 - 11 tuổi).
Học sinh tiểu học ở độ tuổi từ 6 - 7 tuổi (lớp 1), 7 - 8tuổi (lớp 2), 8 - 9 tuổi (lớp 3), 9 - 10 tuổi (lớp 4), 10 - 11 tuổi(lớp 5) ở tiểu học, học sinh đợc học nhiều môn, trong đó cómôn Mỹ thuật, nhng mỗi tuần chỉ có 1 tiết từ 30 - 40 phút.Hơn nữa, trong quan niệm của nhiều ngời còn cha chú ý
đến dạy và học Mỹ thuật, vì vậy môn Mỹ thuật ở tiểu họccòn cha mang lại hiệu quả nh ý muốn của học sinh
Trang 32Học sinh tiểu học thích vẽ Thực ra, các em cha ý thức
đợc môn học nào quan trọng hơn Theo quan sát của chúngtôi, môn Mỹ thuật là môn đợc đa số các em học sinh tiểu học
đón nhận một cách hồ hỡi và học tập có kết quả, vì các em
đợc vẽ theo cách nhìn, cách nghĩ và theo sự thích thú củamình - tạo ra cái đẹp theo ý mình Trong những nămnghiên cứu, theo dõi và thực nghiệm ở diện rộng, hầu hếtcác địa bàn trong cả nớc có PTS Nguyễn Quốc Toản đãphân ra các giai đoạn phát triển tạo hình ở bậc tiểu họcgồm giai đoạn thứ nhất: lớp 1, giai đoạn thứ hai: lớp 2 - 3, giai
đoạn thứ ba: lớp 4 - 5 Qua đợt thực tập ở trờng tiểu học HàHuy Tập II và quan quan sát s phạm, điều tra thực tiễn một
số trờng tiểu học ở thành phố Vinh, chúng tôi nhất trí cáchchia các giai đoạn phát triển ngôn ngữ tạo hình ở bậc tiểuhọc của PTS Nguyễn Quốc Toản, cụ thể nh sau:
2.3.1 Giai đoạn thứ nhất: Lớp 1
Học sinh lớp 1 vừa từ mẫu giáo lên, do vậy nét vẽ, hình
vẽ, tranh vẽ và cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm thụ vẫn mang
dáng dấp của lứa tuổi 5 - 6 Cụ thể là: nét vẽ tự nhiên, phóng khoáng, hình vẽ còn chung chung, ở dạng sơ đồ, sắp xếp
theo lối liệt kê, kể lể (có những gì), hình vẽ rời rạc, "khôngdám" che khuất nhau và thờng đồng đều về số lợng: 1 ngôinhà, 1 cây, 1 con gà, 1 bông hoa, 1 ông mặt trời hoặctheo lối đối xứng: 2 cây ở hai bên, ngôi nhà ở giữa và xếpthẳng hàng ngang không có trong có ngoài Một bộ phận họcsinh lớp 1 cha qua mẫu giáo nên bở ngỡ với học vẽ, do vậy vẽ dèdặt hơn: nét vẽ, hình vẽ bị gò bó và thờng là vẽ nhỏ so vớitrang giấy, vẽ ở giữa, ở một góc và lệch sang phải, sang trái,lên trên hay xuống dới
ở lớp 1, học sinh phải rèn nếp viết chữ, viết số: viết
đúng cỡ, đúng dòng, cao thấp, rộng, hẹp phải nh mẫu Nét
kẻ phải dùng thớc sao cho thật thẳng, ngay ngắn Nhữngnền nếp này có lẽ cũng ảnh hởng đến cách vẽ phóng khoáng,
Trang 33tự nhiên của các em ? Nên chăng, giáo viên cần nắm đợc để
có cách hớng dẫn khi các em em, tách giữa nét, hình vẽ toánvới nét, hình vẽ của mỹ thuật Để nét, hình vẽ của học sinh
tự nhiên hơn Màu sắc trong bài vẽ của học sinh lớp 1 thờng
t-ơi tắn, rực rỡ Các em quen dùng màu bút dạ, song vì đa nétchậm nên màu xuống quá đậm, dùng chì màu thờng nhợtnhạt, lúc đậm đều, đôi khi lại nhạt đều
2.3.2 Giai đoạn thứ hai: Lớp 2 - 3
Học sinh lớp 2 - 3 đã quen dần với việc học mỹ thuật và
"khôn" hơn nên các em vẽ mạnh dạn hơn Các bài vẽ đề tài đã
rõ cách sắp xếp hình tợng, có nhiều chi tiết hợp lý, hình vẽsát với đề tài và đã có hình dáng, t thế động tĩnh của
nhân vật Vẽ trang trí các em đã biết vẽ hoạ tiết và vẽ đợc
các hoạ tiết đơn giản, sắp xếp vào đờng diềm, hìnhvuông theo cách xen kẽ, nhắc lại, đối xứng Tuy nhiên, vẽ hoạtiết còn cha đều, màu sắc trong bài vẽ trang trí và vẽ đềtài rực rỡ, tơi vui, song đã xuất hiện màu đậm nhạt và bớc
đầu biết cách pha chế màu bằng cách tô màu nọ chồng màu
kia, "hiện tợng" này ít thấy ở lớp 1 Vẽ theo mẫu đã có tiến
bộ, thể hiện rõ ở cách quan sát mẫu, hình vẽ đã gần với mẫu
- tả đợc những nét cơ bản của mẫu, song hình vẽ vẫn cònnhỏ so với trang giấy Nói chung, học sinh lớp 2 - 3 đã vẽ bằng
"t duy" hơn lớp 1 và vẽ bằng hứng khởi nhiều hơn là theokhuôn mẫu
2.3.3 Giai đoạn thứ ba: Lớp 4 - 5
Học sinh lớp 4 - 5 vẽ nhanh, các thao tác: quan sát, cầmbút, cách vẽ nét, vẽ hình đi vào nền nếp và thuần thục hơn
Với vẽ đề tài: hình vẽ rõ ràng, gần với thực, có nhiều chi tiết
hợp lý, vui mắt, sắp xếp hình vẽ có xa, có gần, thể hiện vịtrí trên dới, trong ngoài khá rõ Nổi lên là cách khai thác đềtài vừa có bề rộng vừa có ý sâu, đôi khi rất dí dỏm làmcho cách thể hiện bài vẽ phong phú, nhiều hình vẽ Điều đóchứng tỏ các môn học khác nh Văn, Tìm hiểu tự nhiên và xã
Trang 34hội đã có tác dụng tốt đến cách học mỹ thuật của học sinhlớp 4 - 5, giúp các em hiểu biết, khai thác đề tài dễ dàng và
cảm thụ đề tài tốt hơn Với vẽ trang trí: học sinh lớp 4 - 5 biết
xây dựng các hoạ tiết đơn giản, sắp xếp theo cách xen kẽ,nhắc lại, đối xứng vào đờng diềm, hình tròn, hình vuôngtheo ý muốn Các em đã biết tìm màu bằng cách pha trộn,
màu ở bài vẽ có đậm, có nhạt Với vẽ theo mẫu: học sinh lớp 4
-5 đã vẽ hình to vừa với trang giấy hơn, có suy nghĩ về bốcục Hình vẽ sát với mẫu thực và rõ đặc điểm hơn Song ởgiai đoạn này, nhất là ở lớp 5 có mặt hạn chế ở chỗ hình vẽ,bài vẽ và màu sắc thờng khô hơn, đôi khi "công thức" hơn ở
độ này, học sinh có nhiều thông tin, song xử lý thông tin chathuần thục, do vậy bài vẽ thờng sa vào tình trạng hơi nhiềuchi tiết, đôi khi thành vụng Có lẽ, một bộ phận các em "cốgắng" diễn tả tất cả những gì mình trông thấy, tô màu
đúng nh màu thật ở thực tế Qua thăm dò, chúng tôi thấy
đa số trả lời: Sợ vẽ sai (so với mẫu, so với thực tế) nên các em
vẽ trong tâm trạng lo ngại, thiếu mạnh dạn ở một bộ phậnnhỏ, ngập ngừng, đắn đo, nhất là đối với các em nữ Hơnnữa, ở giai đoạn này, học sinh học nhiều môn, phải thi, sức
ép của gia đình, nhà trờng về môn chính, môn phụ cũng
ảnh hởng đến việc học mỹ thuật của các em
Phân chia ra các "giai đoạn" nh trên chỉ là tơng đối
để có thể thấy đợc những nét chung nhất về sự hình
thành và phát triển ngôn ngữ tạo hình của trẻ em, góp phầnnhìn nhận, đánh giá và hớng dẫn trẻ vẽ tốt hơn Không nên cónhận xét một cách cứng nhắc có tính chất cố định và áp
đặt một điều gì với trẻ
3 Những nét đặc trng của ngôn ngữ tạo hình ở học sinh tiểu học trong phân môn Vẽ trang trí.
Đa số học sinh tiểu học thích vẽ trang trí vì vẻ đẹp củamàu sắc, của đờng nét của các hoạ tiết có sức lôi cuốn hấpdẫn, đặc biệt đối với các em nữ Hơn nữa, cách vẽ trang trí
Trang 35tự do, mọi học sinh đều có thể tham gia vào việc tìm tòi,sáng tạo, vẽ theo ý thích và trí tởng tợng của mình, không bị
gò bó nh vẽ theo mẫu hay vẽ đề tài
Học sinh có thể hoàn thành đợc tất cả các bài tập trongchơng trình Bố cục trang trí chặt chẽ, vận dụng đợc cáccách sắp xếp, nhiều học sinh t duy mạnh bạo, bài vẽ có bốcục độc đáo, nét vẽ trang trí trau chuốt Hình vẽ có sángtạo, phù hợp với nội dung trang trí Màu sắc vui tơi và trongsáng Một số học sinh có ý thức tìm tòi tạo ra những gammàu có vẻ đẹp riêng Song chất liệu màu nớc cha đợc sửdụng nhiều nên kỹ thuật vẽ loại màu trên ở học sinh còn yếu
Tóm lại: Trong chơng 1, chúng tôi phân tích một số
vấn đề xung quanh việc dạy học mỹ thuật nói chung vàphân môn Vẽ trang trí ở tiểu học nói riêng - qua tìm hiểuthực trạng vấn đề dạy học mỹ thuật và phân môn Vẽ trangtrí, cùng với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học,chúng tôi thấy: Dạy học mỹ thuật ở tiểu học cha đợc quantâm đúng mức, đặc biệt là đội ngũ giáo viên - cha vững
về chuyên môn, yếu về phơng pháp dạy học, trong khi họcsinh rất thích học mỹ thuật Và thực tế cho thấy, chơngtrình mỹ thuật ở tiểu học không có gì khó đối với các em
Với phân môn Vẽ trang trí, chúng tôi thấy: Để nâng caochất lợng dạy học phân môn Vẽ trang trí, việc cần thiết làphải cung cấp cho giáo viên mỹ thuật các kiến thức về trangtrí - phơng pháp dạy học phân môn Vẽ trang trí đó lànhững kiến thức về chuyên môn và về phơng pháp mà mộtngời giáo viên dạy mỹ thuật ở tiểu học cần phải có
Trang 36Ch ơng II:
- Macxim Goocki nói: "Con ngời bản tính là nghệ sĩ, bất
cứ đâu và bất cứ lúc nào con ngời cũng muốn đa cái đẹpvào cuộc sống" Từ trong gia đình đến ngoài xã hội, ở đâucũng có sự sắp xếp, tô điểm của con ngời, làm cho mọi vậtthêm đẹp, thêm tơi Những việc làm đó đợc gọi chung làtrang trí
- Trong dạy học, "trang trí " đợc dùng cho tên của mộtphân môn mỹ thuật Vậy trang trí là gì ?
+ Trớc tiên, trang trí là một ngành nghệ thuật gắn bógần gũi với cuộc sống con ngời Ai cũng cần đến cái đẹp,vậy nên ai cũng cần đến trang trí Nhng hiểu về trang trí
nh thế nào cho đúng là điều cần cho mọi ngời - hiểu để sửdụng sao cho phù hợp, cho đẹp
+ Khi nói đến nghệ thuật, ngời ta chú ý ngay đến bốcục, sắp xếp Bởi bố cục, sắp xếp có một ý nghĩa vô cùngquan trọng đối với việc tạo ra cái đẹp Ngời ta khen cănphòng đẹp tức là khen cách sắp xếp những gì có ở cănphòng đó một cách hợp lý Ngợc lại, có nhiều thứ tốt, quý,
đắt tiền nhng không biết cách xếp sẽ làm cho căn phòng bềbộn, lộn xộn, không đẹp và gây cảm giác khó chịu Vậy cóthể hiểu một cách ngắn gọn về trang trí nh sau:
Trang trí là một nghệ thuật sắp xếp đờng nét, hìnhmảng, hình khối, đậm nhạt, màu sắc trên mặt phẳng(giấy, tờng ) hay trong không gian (căn phòng, lớp học, công
Trang 37việc ) để tạo nên sản phẩm hay hình thể đẹp, hợp nộidung, yêu cầu của loại.
Trong khuôn khổ những bài tập trang trí những hìnhcơ bản, thì trang trí là sự khéo léo sắp xếp hoạ tiết, xử lý
đờng nét, màu sắc và độ đậm nhạt hợp lý tạo nên nhữngcảm giác vui mắt, đẹp mắt
2 Các loại hình trang trí.
Có nhiều loại hình trang trí khác nhau để tô điểm chocuộc sống Ngời ta chia thành các loại hình nh sau:
2.1 Trang trí trang phục: Nghiên cứu các kiểu quần
áo, mũ nón, giày dép làm cho việc may mặc của con ngờingày càng thêm đẹp, phù hợp thời trang và thuận tiện
2.2 Trang trí mỹ nghệ: Nghiên cứu làm đẹp những
đồ dùng sinh hoạt hàng ngày nh trang trí ấm chén, bát đĩa,giờng, tủ, bàn ghế, đồ trang sức
2.3 Trang trí nội, ngoại thất: Nghiên cứu cách bày
biện, bố trí các vật dụng, các tác phẩm nghệ thuật trongnhà, trong CLB, nhà văn hoá, công viên, ngoài quảng trờng,nơi công cộng tạo nên không khí vui tơi, trang nhã, ấmcúng hoặc trang nghiêm, phù hợp với từng loại nội ngoại thất
2.4 Trang trí sân khấu, điện ảnh: Bài trí phông,
cảnh cho các tiết mục sân khấu, phim ảnh, làm đẹp bốicảnh, nơi biểu diễn
2.5 Trang trí ấn loát: Nghiên cứu trình bày, làm
đẹp các loại sách báo, tranh ảnh
3 Trang trí trong đời sống.
Từ xa xa - ngay từ buổi bình minh của nhân loại, khicon ngời phát hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên, sự nhận thứcthế giới hiện thực đợc mở rộng, với ý thức tự giác và ngỡng mộthì con ngời đã đa cái đẹp vào phục vụ cuộc sống
Trang 38Con ngời đã biết chế tác và trang trí các công cụ lao
động bằng đá, bằng đồng, từ dánh hình đơn sơ đến tiệndụng và thẩm mỹ Cũng từ đó, trang trí luôn gắn bó với đờisống con ngời, với lịch sử phát triển của con ngời và ngàycàng đạt tới mức độ nghệ thuật cao Từ những hoa văntrang trí đơn sơ, mộc mạc trên đồ gốm Hoa Lộc (ThanhHoá) đến những hoạ tiết trang trí tinh vi, phong phú trên cácmặt trống đồng Đông Sơn, trống đồng Miếu Môn, trống
đồng Quảng Xơng và các nét, các kiểu y phục, trang phụcvới các hoạ tiết, màu sắc của các dân tộc xuyên qua các thời
đại đã chứng minh cụ thể điều đó
Ngày nay, đời sống hàng ngày của nhân dân ta từthành thị đến nông thôn đều cần đến nghệ thuật trangtrí: Trang trí một phòng học, một trụ sở, trang trí mộtphòng họp, CLB, nơi làm việc, trang trí nhà ở, trang trí sânkhấu, trang trí những vật dụng hàng ngày Từ gia đình
đến xí nghiệp đều cần đến trang trí Nói rộng ra nữa,xây dựng quy hoạch một thành phố, một vờn hoa, tìm đấtlàm nhà, trồng cây còn gọi là trang hoàng, là làm đẹp mắt,làm cho cuộc sống thêm vui tơi, cổ vũ lao động sản xuất,nâng cao ý thức thẩm mỹ của nhân dân lao động
Sắp xếp nhà ở gọn gàng, ngăn nắp, giờng, ghế, bàn tủthích nghi với cuộc sống Sân, vờn, bếp, giếng, bồn hoa
đặt đúng chỗ, thuận tiện và a nhìn đều mang ý nghĩa
về nghệ thuật trang trí Cũng nh các cụ trồng hoa, tỉa câycảnh chia ra cành cha cành con, gốc chính gốc phụ Mỗi chùmhoa nở cân đối với những đoá hàm tiếu, với chồi, với nụ Sựhài hoà vốn có sẵn từ giới tự nhiên làm chỗ dựa cho nghệthuật trang trí đời sống Các nghệ nhân Việt Nam xa rấtgiỏi về trang trí đời sống Từ nhà kiến trúc s xây dựng mộtcăn nhà với các thớc cầm trong tay đã tính ra mọi tỷ lệ vềdọc, ngang, kèo, cột, xà với nóc Bác thợ chạm đá, chạm gỗcũng chế (vẽ) kiểu trớc trên giấy, phác ra những nét chính vềnhững mẫu chạm hoa lá hay chim muông Từ nét phác hoạ
Trang 39một mẫu trang trí, đến lúc thể hiện xong, mỗi chi tiết đềuphục tùng một bố cục trang trí chung Mảng gỗ để trơn tô vẽmảng gỗ chạm Đầu xà, đầu bẫy đợc trang trí bằng nét chạmhoa lá tăng cờng vẻ dịu dàng của vách đố lụa, của hàng cộtnhẵn bóng Nh thế là nghệ thuật trang trí dân gian đã lồngvào khung cảnh chung của công trình kiến trúc, đã đanghệ thuật vào đời sống hàng ngày.
Trang trí là nghệ thuật đi sát với đời sống, để sắpxếp và bố trí các vật dụng cho tiện nghi và đẹp mắt, dùngmàu sắc và chất liệu tốt đẹp để tạo ra những kiểu vậtdụng cần thiết cho đời sống hàng ngày Vẽ ra đợc nhữngkiểu ấm chén đẹp, nung đợc đồ gốm có màu men a nhìn,cắm đợc lọ hoa cho đẹp mắt, trồng cây ở công viên và đ-ờng phố đều cần đến nghệ thuật trang trí
Nghệ thuật trang trí Việt Nam đã để lại nhiều kiểumẫu giá trị về phong cách của từng thời đại, về hiện vật đợctrang trí nh đồ gốm, các kiểu chạm gỗ, chạm đá, đúc đồng,khảm trai, vẽ sơn Trang trí trên y phục, trên các loại thổcẩm, thêu, dệt của từng miền, từng dân tộc, nhất là các dântộc miền núi
Các nghệ sĩ Việt Nam đợc thừa hởng vốn trang trítrong các ngành mỹ thuật của dân tộc để lại Chỉ cần biếtkhai thác, nâng cao và sử dụng vào đời sống hiện đại, dùngnhững nguyên liệu sẵn có hiện nay để chế tạo thànhnhững vật dụng vừa đẹp, vừa tiện nghi trong sinh hoạt hàngngày
Thử đặt câu hỏi: Trong cuộc sống nếu không có trangtrí, mọi vật dụng làm ra không có kiểu dáng khác nhau, cáinào cũng giống cái nào (bàn ghế, giờng tủ chỉ có mộtkiểu, ra đờng tất cả mọi ngời đều mặc quần áo một màu, ởtrong nhà không có sự bài trí ngăn nắp, không có màusắc ) thì cuộc sống sẽ ra sao ? Điều đó đủ nói lên tầm
Trang 40quan trọng và sự gắn bó mật thiết không thể thiếu đợc củatrang trí với cuộc sống con ngời.
4 Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của
ng-ời Việt.
4.1 Tính dân tộc trong trang trí.
Mỗi dân tộc, mỗi đất nớc đều có những nét độc đáo vềthiên nhiên, về hình dáng con ngời, về cỏ cây hoa lá, về nếpsống, về phong tục tập quán Những nét độc đáo ấy đã insâu vào tiềm thức của từng con ngời của các dân tộc
Khi sử dụng chân thực những hình ảnh ấy vào hoạ tiếttrang trí thì sản phẩm trang trí đó mang tính dân tộc vàthật sự có giá trị khi có một hình thức thể hiện phù hợp
4.2 Hoa văn (họa tiết) trang trí truyền thống Việt Nam (xem hình minh họa ở phụ lục 1).
Nhìn từ góc độ đề tài quan tâm, chúng tôi đề cập
đến hoa văn trong trang trí truyền thống của ngời Việt Với
đề mục này, chúng tôi hi vọng ít nhiều giúp ích cho các bạn
đọc có những hiểu biết cơ bản về nghệ thuật trang trí củangời Việt - một góc sáng trong đời sống tinh thần, vừa cóbản sắc riêng lại vừa hấp thụ đợc tinh hoa của các nền vănminh lớn của nhân loại hất là đối với giáo viên mỹ thuật -những hiểu biết này là cơ sở để giúp giáo viên giảng dạy tốtphân môn Vẽ trang trí ở các dạng bài, giúp học sinh làm quenvới hoạ tiết và hình trang trí dân tộc Bởi hoa văn trang trítruyền thống Việt là sự kết tụ tinh hoa từ bàn tay, khối óccủa tổ tiên, chúng đợc hình thành bởi t duy nông nghiệp
để phản ánh về một ý niệm truyền đời là cầu no đủ vàmọi điều hạnh phúc Hoa văn là một chứng cứ cụ thể nói lêndiễn trình phát triển của nghệ thuật tạo hình Việt
4.2.1 Cội nguồn hoa văn Việt Nam bắt nguồn từ thờitiền sử và sơ sử, cách đây hàng chục ngàn năm, với sự cómặt của những nét vẽ ngời xa trên đồ gốm cổ Hoa văn