1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế việt nam

50 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại bài tập lớn
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinhtế - xã hội, gắn với thu hút công nghệ h

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đối với bất kỳ một quốc nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển thì để phát triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam (có

tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển kinh tế) Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn lớn cho phát triển kinh tế, trên cả giác độ vĩ mô và vi mô Trên giác độ vĩ mô, FDI tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người, là 3 khía cạnh để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia Trên giác độ vi mô, FDI có tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, vấn

đề lưu chuyển lao động giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước Đầu tư nước ngoài là nhân tố quan trọng và khẳng định rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VIệt Nam Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII) Trong khi FII có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển thì FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, bổ sung vốn trong nước, tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý, tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công, tăng nguồn thu cho ngân sách.

Thực tế trong những năm qua cũng như dự báo cho giai đoạn tới đã khẳng định tầm quan trọng của FDI với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay Đánh giá đúng vị trí, vài trò của đầu tư nước ngoài, Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là

Trang 2

một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm và đề

ra nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu là FDI) đối với chiến lược phát triển KT-XH của cả nước Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của bài tập lớn.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn vốn FDI

- Phạm vi nghiên cứu: Nền kinh tế Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những tác động của vốn FDI đến phát triển kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và một số giải pháp để đạt được những mục tiêu phát triển trong tương lai.

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như điều tra, phân tích, đánh giá…

5 Kết cấu Đề tài

Ngoài phần tóm lược, phần mở đầu & kết luận … đề tài gồm có 3 chương:

* Chương 1: Cơ sở lý luận chung về FDI và vai trò của FDI và vai trò

của FDI đối với các nước đang phát triển

* Chương 2: Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế Việt Nam

* Chương 3 : Một số kiến nghị và giải pháp đẩy mạnh thu hút nguồn

vốn FDI vào Việt Nam

Trang 3

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ VAI TRÒ CỦA

FDI ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1.1 Cơ sở lý luận chung về FDI

1.1.1 Khái niệm về FDI

FDI là hình thức đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư nước ngoài góp một lượng vốn đủ lớn để thiết lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhờ đó cho phép

họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, cùng với các đối tác nước nhận đầu tư chia sẻ rủi ro và thu lợi nhuận từ những hoạt động đầu tư đó.

Đến nay định nghĩa mà nhiều nước và các tổ chức hay dùng nhất là định nghĩa của tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) đã đưa ra vào năm 1977 như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn dành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường”.

1.1.2 Hình thức của FDI

Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những hình thức chủ yếu

là hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual-Business-Cooperation) là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi là bên hợp doanh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một pháp nhân Và ở Việt Nam, hình thức này có 221 dự án chiếm 1,7% trong tổng số

dự án và khoảng 2,5% số vốn đầu tư tính đến tháng 7 năm 2011

- Doanh nghiệp liên doanh

Trang 4

Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture): là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với các nước tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư Tính đến hết tháng 7 năm 2011, nước ta có 2.388 dự án của các doanh nghiệp liên doanh, chiếm 18,5% tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và chiếm trên 30% số vốn đầu tư

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% Foreign Cantrerisce) là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh Ở Việt Nam, hình thức này có xu hướng gia tăng cả về số dự án và vốn đăng ký Hiện có trên 78% số dự án và khoảng 62% số vốn đầu tư (đến tháng 7 năm 2011 có 10.143 dự án có hiệu lực với trên 12 tỷ USD vốn đầu tư Hiện nay trong đó tổng dự án và tổng vốn trên thì nhà đầu tư đăng ký dưới hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 78% về số dự án (62% về tổng vốn), đăng ký dưới hình thức liên doanh chiếm 18,5% về số dự án (27% về tổng vốn đăng ký) Số còn lại đăng ký thuộc lĩnh vực hợp doanh BOT công ty cổ phần và công ty quản

lý vốn

1.2 Vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển

1.2.1 Bổ sung vốn cho nền kinh tế

Trong thời kỳ đầu mới phát triển, trình độ kinh tế của các nước đang phát triển thấp, GDP và GDP tính theo đầu người thấp vì vậy khả năng tích lũy vốn trong nội bộ nền kinh tế rất hạn chế Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư

để phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển

lại rất lớn FDI với vai trò là một nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, giúp các

Trang 5

nước đang phát triển giải quyết được bài toán thiếu vốn Trong các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì nguồn vốn FDI được đánh giá là rất quan trọng với nhiều nước FDI chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của các nước đang và kém phát triển

Ngoài ý nghĩa bổ sung một lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triển kinh tế, cần nói đến chất lượng của vốn FDI Sự có mặt của nguồn vốn này đã góp phần tạo điều kiện cho nguồn vốn Nhà nước tập trung vào các vấn đề kinh tế xã hội ưu tiên (cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi…) Nguồn vốn này cũng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các nguồn vốn trong nước Các doanh nghiệp nhà nước phải đầu tư và chú ý đến hiệu quả đầu tư trong điều kiện phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn FDI Các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra sự liên kết với các công ty trong nước nhận đầu tư thông qua các mối quan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu Qua đó, FDI thúc đẩy đẩy đầu tư trong nước đang phát triển Nhờ vậy, các tiềm năng trong nước được khai thác hiệu quả hơn.

1.2.2 Chuyển giao công nghệ

Thông qua FDI, các công ty nước ngoài sẽ đem lại công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản xuất ở nước sở tại thông qua thành lập các công ty con hay chi nhánh Sự xuất hiện của các công ty nước ngoài xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở tận dụng những lợi thế có được từ công ty mẹ để sẵn sang cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước Vì vậy, hoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ khuyến khích nhưng cũng gây áp lực về đổi mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước.

FDI không chỉ mang lại công nghệ cho các nước đang phát triển thông qua con đường chuyển giao từ nước ngoài vào mà còn bằng cách xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo cho đội ngũ lao động ở các nước đang phát triển để phục vụ cho các dự án đầu tư Ngoài ra, chuyển giao công

Trang 6

nghệ còn được thông qua việc chuyển lao động Thông qua FDI, kĩ năng quản

lý, kĩ năng tay nghề lao động được truyền bá vào các nước đang phát triển.

1.2.3 Tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực

FDI giúp các nước đang phát triển tận dụng được lợi thế về nguồn lao động dồi dào Ở nhiều nước, khu vực có vốn FDI tạo ra số lượng lớn việc làm cho người lao động, đặc biệt trong lĩnh vực chế tạo Nhìn chung, số lượng việc làm trong khu vực có vốn FDI và tỷ trọng trong tổng lao động ở các nước phát triển có xu hướng tăng lên.

Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vào việc đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động Năng suất lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI thường cao hơn trong các doanh nghiệp nhà nước Với tiêu chí coi hiệu quả làm việc là ưu tiên hàng đầu trong tuyển dụng và sử dụng lao động, các doanh nghiệp có vốn FDI thường xây dựng đội ngũ công nhân, nhân viên lành nghề,

có tác phong công nghiệp và kỷ luật cao.

1.2.4 Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới

Vai trò này của FDI thể hiện rõ nhất ở các nước áp dụng chính sách thu hút FDI hướng vào xuất khẩu Sự xuất hiện của các dự án FDI đi kèm với công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại đã giúp các nước nâng cao chất lượng

và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu Bên cạnh đó, thông qua các mối quan

hệ sẵn có của các nhà đầu tư nước ngoài, hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn FDI được tiếp cạn với thi trường thế giới.

1.2.5 Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

Hoạt động FDI góp phần làm phong phú, đa dạng và sâu sắc các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển Nền kinh tế trong nước dần dần tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Trang 7

Điều này tạo thuân lợi cho các nước tham gia vào các hiệp định hợp tác song phương, đa phương.

Ngoài ra, FDI còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước đang phát triển theo hướng tích cực: tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm dần, thay vào đó là tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần Bên cạnh đó, FDI giúp tăng trưởng kinh tế, tăng ngân sách nhà nước.

2000 đến 2004 vốn FDI vào nước ta biến chuyển chậm chạp xoay quanh mốc 4 tỷ USD do các

Trang 8

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỐN FDI Ở VIỆT NAM TRONG

THỜI GIAN QUA 2.1 Thực trạng FDI tại Việt Nam giai đoạn 2000-2011

Trong thời gian qua, dòng vốn FDI vào Việt Nam không ngừng tăng lên Đặc biệt, ngay cả khi kinh tế thế giới phải đối mặt với nhiều khó khăn, bất ổn, dòng vốn FDI vào Việt Nam vẫn đang được duy trì.

Biểu đồ 2.1 Quy mô FDI vào Việt Nam giai đoạn 2000 - 2011

( Nguồn : cục đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch và đầu tư)

Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011 có nhiều biến động Nhìn vào biểu đồ ta dễ nhận thấy từ năm nhà đầu tư nước ngoài mới tiếp cận thị trường Việt Nam nên còn nhiều e ngại và thận trọng vì chưa nắm bắt được các đặc điểm của thị trường đầu tư.

Từ năm 2005 đến 2008, số vốn FDI tăng mạnh cả vốn đăng ký lẫn vốn giải ngân (Việt Nam gia nhập WTO mở rộng thương mại quốc tế) Năm 2008 vốn FDI đăng ký đạt mức rất cao gấp hơn 3.5 lần năm 2007 song số vốn giải ngân giai đoạn 2005-2008 không tăng tương xứng Đặc biệt năm 2008, vốn giải ngân chỉ đạt 11.5 tỷ USD thấp hơn rất nhiều so với con số 71 tỷ Có thể thấy kết quả đó là do chính phủ Việt Nam quá chú trọng con số FDI đăng ký

Trang 9

mà tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, chấp nhận các dự án FDI không chọn lọc, chạy theo số lượng bỏ quên chất lượng khiến các dự án FDI ồ

ạt vào Việt Nam và cũng nhiều trong số đó gặp vấn đề, bị bỏ dở hoặc kéo dài thời gian triển khai, gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế.

Từ năm 2008 trở lại đây, lượng vốn FDI lại giảm xuống 14.696 tỷ USD năm 2011 do tác động của khủng hoảng kinh tế Tuy nhiên số vốn giải ngân giai đoạn này vẫn khá ổn định.

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu đầu tư theo ngành

(Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam)

Vốn đầu tư FDI cũng có sự chuyển dịch dần theo hướng giảm mạnh tỷ trọng trong nông nghiệp và tăng mạnh trong lĩnh vực dịch vụ Năm 2011 vốn FDI đầu tư trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp đã giảm xuống chỉ còn 1% trong tổng vốn đầu tư đăng ký - mức thấp nhất từ trước đến nay.

- Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực Nông - Lâm - Ngư

Hiện nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rủi ro đầu tư cao trong lĩnh vực này, nên kết quả thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực Nông - Lâm - ngư chưa được như mong muốn

Đến hết năm 2007, lĩnh vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp có 933 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 4,4 tỷ USD, đã thực hiện khoảng 2,02 tỷ USD, chiếm 10,8% về số dự án, 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,9% vốn thực

Trang 10

hiện, (giảm từ 7,4% so với năm 2006) Trong đó, các dự án về chế biến nông sản, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký của ngành, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía đường, gạo, xay xát bột mì, sắn, rau Tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâm sản, chiếm 24,67% tổng vốn đăng ký của ngành Rồi tới lĩnh vực chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc chiếm 12,7% Cuối cùng là lĩnh vực trồng trọt, chỉ chiếm gần 9% tổng số dự án Có 130 dự án thuỷ sản với vốn đăng ký là 450 triệu USD.

Các dự án đầu tư nước ngoài trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Nam Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15% Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bằng sông Hồng lượng vốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước

- Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ

Nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh dịch vụ phát triển từ khi thi hành Luật Đầu tư nước ngoài (1987) Nhờ vậy, khu vực dịch vụ đã có sự chuyển biến tích cực đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế Một số ngành dịch vụ (bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, kinh doanh bất động sản) tăng trưởng nhanh, thu hút nhiều lao động và thúc đẩy xuất khẩu Cùng với việc thực hiện lộ trình cam kết thương mại dịch

vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và xuất khẩu.

Trong khu vực dịch vụ đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất động sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (42% tổng vốn đầu tư nước

Trang 11

ngoài trong khu vực dịch vụ), du lịch - khách sạn (24%), giao thông vận bưu điện (18%).

tải Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng

Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thu hút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng Qua mỗi giai đoạn các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại Danh mục các lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư Trong những năm 90 thực hiện chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các dự án: sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, sản xuất hàng xuất khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và có tỷ lệ nội địa hoá cao Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết với WTO (năm 2006), Việt Nam đã bãi

bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không yêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trong nước Qua các thời kỳ, định hướng thu hút đầu tư nước ngoài lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế so sánh khi thu hút đầu tư nước ngoài Nhờ vậy, cho đến nay các dự án đầu tư nước ngoài thuộc các lĩnh vực nêu trên (thăm dò

và khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may ) vẫn giữ vai trò quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và công nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc

Trang 12

gia nổi tiếng thế giới: Intel, Panasonic, Canon, Robotech.v.v Hầu hết các dự

án đầu tư nước ngoài này sử dụng thiết bị hiện đại xấp xỉ 100% và tự động hoá đạt 100% cho sản lượng, năng suất, chất lượng cao, do đó có ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu giá trị của toàn ngành.

2.1.1 Cơ cấu FDI theo đối tác đầu tư

Tính đến hết năm 2009, đã có 89 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án FDI vào Việt Nam.

Trong đó các nước châu Á chiếm 69% Trong khu vực này, Asean chiếm 19% tổng vốn đăng kí, châu Âu chiếm 24% tổng số vốn đăng kí, riêng Euro 10%, châu Mỹ 5% và riêng Mỹ chiếm 3,6%.

Giai đoạn 2000-2006: Vốn FDI từ các nước ASEAN vào Việt Nam giảm rõ rệt Vốn FDI vào Việt Nam chủ yếu là từ châu Âu.

Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ vốn đăng kí năm 2009

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

FDI từ các nước châu Âu, châu Mỹ và Đông á tiếp tục tăng mạnh

Giai đoạn 2006-2011: Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông vẫn là 5 nước đứng đầu danh sách về đầu tư FDI vào Việt Nam.

Trang 13

Biểu đồ 2.4 FDI vào Việt Nam năm 2011

(Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam)

Bảng 2.1 FDI vào Việt Nam phân theo chủ đầu tư

Nước( vùng lãnh thổ) Số vốn đăng ký mới và tăng

thêm( tỷ USD)

Tỷ lệ phần %

(Số liệu: Cục đầu tư nước ngoài- Bộ kế hoạch và Đầu tư)

2.1.2 Cơ cấu FDI theo lãnh thổ

Lượng vốn FDI tập trung vào các địa phương có điều kiện kinh tế thuận lợi, cơ sở hạ tầng phát triển.

Trong giai đoạn này, các tỉnh phía nam luôn thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất Đặc biệt thành phố Hồ Chí Minh thường đứng đầu.

Trang 14

Về số vốn đăng ký: Lợi thế của thành phố là có vị trí địa lý thuận lợi, trung tâm kinh tế và là một thị trường năng động nhất của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tiềm năng về nguồn nhân lực dồi dào đến năm 2009 TPHCM luôn là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài với hơn 3.141 dự án đầu tư được cấp giấy chứng nhận còn hiệu lực trên tổng số vốn đăng ký khoảng 25,6 tỷ USD Năm 2011, Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với 3 tỷ USD chiếm 20.4% tổng vốn đầu tư, Hải Dương thứ 2, Hà Nội thứ 3 Quảng Nam là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất trong năm 2010 với 4,2 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm Tiếp theo là Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 2,56 tỷ USD, 2,2 tỷ USD,

2 tỷ USD và 1,3 tỷ USD.

Năm 2009 Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất trong năm 2009 với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm Tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 4,1 tỷ USD, 2,5 tỷ USD, 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD Năm

2008, tỉnh Ninh Thuận đứng đầu về số vốn đăng ký do có dự án liên doanh sản xuất thép giữa tập đoàn Lion Malaysia với Vinashin tổng vốn đăng ký 9,79 tỷ USD.

Bà Rịa - Vũng Tàu đứng thứ hai với 4 dự án, tổng vốn đăng ký 9,35 tỷ USD Đáng chú ý là quy mô dự án đã tăng lên, bình quân 51,47 triệu USD/dự

án, cao hơn rất nhiều so với thời gian trước.

- Cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư:

• Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Ở Việt Nam, hình thức này có 221 dự án chiếm 1,7% trong tổng số dự

án và khoảng 2,5% số vốn đầu tư tính đến tháng 7 năm 2011

• Doanh nghiệp liên doanh

Trang 15

Tính đến hết tháng 7 năm 2011, nước ta có 2.388 dự án của các doanh nghiệp liên doanh, chiếm 18,5% tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và chiếm trên 30% số vốn đầu tư

• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Ở Việt Nam, hình thức này có xu hướng gia tăng cả về số dự án và vốn đăng ký Hiện có trên 78% số dự án và khoảng 62% số vốn đầu tư (đến tháng

7 năm 2011 có 10.143 dự án có hiệu lực với trên 12 tỷ USD vốn đầu tư Hiện nay trong đó tổng dự án và tổng vốn trên thì nhà đầu tư đăng ký dưới hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 78% về số dự án (62% về tổng vốn), đăng

ký dưới hình thức liên doanh chiếm 18,5% về số dự án (27% về tổng vốn đăng ký) Số còn lại đăng ký thuộc lĩnh vực hợp doanh BOT công ty cổ phần

và công ty quản lý vốn

2.2 Vai trò của FDI đến phát triển kinh tế Việt Nam

2.2.1 Tác động tích cực

2.2.1.1 Vai trò của FDI đến tăng trưởng kinh tế

Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Các dự án đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi dần đời sống sản xuất, kinh doanh của địa phương, có tác dụng kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác.

Trang 16

trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn, từ tỷ trọng chiếm 13,1% vào năm 1990 đã tăng lên mức 20% năm 2000 Trong 5 năm 2001-2005 chiếm khoảng 16% tổng vốn đầu tư xã hội, hai năm 2006-2007 chiếm khoảng 16% Vốn FDI chiếm 25,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2010 Ưu điểm vượt trội của nguồn vốn này so với các nguồn vốn đầu tư khác là đi kèm theo chuyển giao công nghệ, thúc đẩy xuất khẩu, tiếp nhận kiến thức quản lý hiện đại Mặt khác, so với các nguồn vốn nước ngoài khác, vốn FDI “ít bị nhạy cảm” trước những biến động của thị trường tài chính toàn cầu

Tỷ trọng đóng góp của khu vực có vốn FDI vào GDP cũng tương đối

ổn định và có xu hướng tăng dần qua các năm Điều này tiếp tực khẳng định vai trò quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với bổ sung vốn đầu tư phát triển của Việt Nam.

Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn FDI ở Việt Nam 2000 - 2011

( Nguồn:Tổng cục thống kê)

Trang 17

- FDI với nguồn thu ngân sách và các cân đối vĩ mô

Cùng với sự phát triển, FDI đóng góp ngày càng tăng vào nguồn thu ngân sách cho nhà nước thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng vào việc thặng dư của tài khoản vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung

Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm Riêng 2 năm 2006 và 2007 khu vực kinh tế có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ

1996 - 2000 và bằng 83% thời kỳ 2001 - 2005 Năm 2010, các doanh nghiệp FDI nộp ngân sách nhà nước đạt 3,1 tỉ USD, tăng 26% so với năm 2009, vượt 6% so với kế hoạch đề ra và đóng góp 18,4% tổng thu ngân sách nội địa.

- Góp phần nâng cao năng lực công nghệ cho nước chủ nhà và góp phần tạo động lực cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.

Sự tham gia của doanh nghiệp FDI góp phần phá vỡ cơ cấu thị trường độc quyền, tăng tính cạnh tranh của thị trường Điều này đã đưa lại tác động tích cực lẫn tiêu cực:

+ Doanh nghiệp FDI với lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất, các bí quyết marketing đã tạo ra sức ép đáng kể buộc các doanh nghiệp trong nước phải thay đổi cách thức quản lý, nâng cao công nghệ, sử dụng các hoạt động marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua FDI các công ty nước ngoài đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang cho Việt Nam Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI là một trong những kênh chủ yếu,

có tính đột phá để nâng cao năng lực công nghệ của Việt Nam Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI luôn đi kèm với đào tạo nhân lực vận hành, quản lý, nhờ đó đã hình thành được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có

Trang 18

trình độ, tay nghề khá cao Khảo sát cho thấy, có 44% doanh nghiệp FDI thực hiện đào tạo lại lao động với các mức độ khác nhau (cho khoảng 30% số lao động tuyển dụng) Đối với một số khâu chủ yếu của dây chuyền công nghệ tiên tiến hoặc đặc thù, lao động sau khi tuyển dụng được đưa đi bồi dưỡng ở các doanh nghiệp mẹ ở nước ngoài Đến nay, hầu hết các công nghệ có trình

độ tiên tiến và đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật cao ở Việt Nam.

- Tác động tới xuất khẩu và cán cân thanh toán

FDI thúc đẩy hoạt động thương mại, tạo hành lang cho hoạt động xuất khẩu và tiếp cận nhanh nhất với thị trường thế giới Xuất khẩu là một trong những giải pháp tăng trưởng kinh tế, góp phần tăng thu nhập cho nền kinh tế,

từ đó giải quyết các vấn đề xã hội Theo quy luật của các nước đang phát triển, cán cân thanh toán của các nước này luôn ở tình trạng thâm hụt Do vậy, hoạt động FDI đã góp phần vào việc hạn chế một phần nào đó tình trạng thâm hụt của cán cân thanh toán thông qua thặng dư xuất khẩu và chuyển vốn đầu

tư vào nước tiếp nhận FDI Thông qua FDI, hoạt động xuất nhập khẩu của các nền kinh tế chủ nhà được kích hoạt, trở nên hết sức sôi động Khởi đầu là xuất khẩu các sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp và khai khoáng, tiếp đến là các sản phẩm thuộc các ngành công nghiệp cần nhiều lao động như dệt may, công nghiệp chế biến và sau đó là các sản phẩm có hàm lượng tư bản cao như sản phẩm điên, điện tử, cơ khí.

Thời kỳ 1996 - 2000, xuất khẩu của khu vực FDI chỉ đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước Đến năm 2000,

tỷ lệ này đã tăng lên chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%, tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2005,

2006 và 2007 Năm 2008 xuất khẩu của khu vực FDI chiếm khoảng 44%, đạt 24,2 tỷ USD, tăng 24% so với năm 2007 (không tính dầu thô, nếu tính cả dầu thô thì kim ngạch của doanh nghiệp FDI đạt 34,5 tỷ USD, chiếm 55% tổng

Trang 19

kim ngạch xuất khẩu) Xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (kể cả dầu khí) trong năm 2010 đạt 38,8 tỷ USD, tăng 27,8% so với cùng kỳ và chiếm 53,1% tổng xuất khẩu cả nước Xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (kể

cả dầu khí) trong 12 tháng đầu năm 2011 đạt 54,46 tỷ USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm 2010 và chiếm 56,57% kim ngạch xuất khẩu.

Biểu đồ 2.6 Tổng xuất khẩu cả nước

(Nguồn: Tổng cục Hải quan)

- Tác động tới quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế

Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng vận động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và quốc tế hoá đang diễn ra hết sức nhanh

Trang 20

chóng dưới sự tác động của mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ Đối với các nước đang và kém phát triển nói chung cũng như Việt Nam nói riêng thì quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là con đường tốt nhất để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới,

có điều kiện phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động quốc tế Trong xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá các hoạt động kinh tế hiện nay, mức độ thành công của mở cửa và hội nhập kinh tế với thế giới có tác động chi phối mạnh mẽ tới sự thành công của công cuộc đổi mới, đến kết quả của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa cũng như tốc

độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Đầu tư nước ngoài cũng như khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và đặc biệt là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đã trở thành một động lực quan trọng thức đẩy quá trình phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, là nhân tố cơ bản có vai trò đặc biệt quan trọng tác động tới quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại

và hội nhập kinh tế quốc tế.

2.2.1.2 Vai trò của FDI với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

FDI góp phần tái cấu trúc nền kinh tế, FDI làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp với chiến lược công nghiệp hoá của các nước chủ nhà.

- Huy động vốn để thay đổi cơ cấu kinh tế với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên.

Trong 10 năm qua đầu tư nước ngoài đóng một vai trò quan trọng cho

sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng bước trở thành nguồn đầu tư quan trọng của Quốc gia, góp phần phát triển các ngành công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động Nhiều công trình lớn đã hoàn thành đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu

tư, nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng trưởng giai đoạn sau đó

Trang 21

được khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ xuất khẩu.

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp qua các năm (từ 23,79% vào năm 1991 lên 40% năm

2004, 41% năm 2005 và năm 2006).

Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong 5 năm qua chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Cụ thể tỷ trọng trên tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7% vào 2 năm 2004 và

2005 Đặc biệt, một số địa phương (Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc ) tỷ

lệ này đạt đến 65 - 70% giá trị sản xuất công nghiệp của địa bàn

Đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may Hiện đầu tư nước ngoài đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60% cán thép, 33% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giày, 55% sản lượng sợi, 25% hàng may mặc.

Đầu tư nước ngoài đã góp phần hình thành và phát triển trong cả nước

hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ.

Trang 22

Bảng 2.2 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo

thành phần kinh tế

Đơn vị: tỷ đồng

TỔNG SỐ 988540.0 1199139.5 1466480.1 1903128.1 2298086.6 Kinh tế Nhà nước 246334.0 265117.9 291041.5 345278.3 420956.8 Trung ương 189275.9 207964.0 232495.7 286593.7 352573.5 Địa phương 57058.1 57153.9 58545.8 58684.6 68383.3 Kinh tế ngoài Nhà

nước 309087.6 401869.6 520073.5 709903.3 885517.2

Tư nhân 225053.6 306967.0 407537.2 572723.3 722550.9

Cá thể 80024.2 90252.3 107626.0 130539.1 154236.0 Khu vực có vốn

đầu tư nước ngoài 433118.4 532152.0 655365.1 847946.5 991612.6

(Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam)

- Thực hiện công nghiệp hoá nông thôn.

Mặc dù nguồn vốn đầu tư còn hạn chế song, các dự án FDI đã góp phần không nhỏ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, nâng cao giá trị xuất khẩu cho nông sản Việt Nam, trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh và áp dụng các công nghệ mới, công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh khi tham gia hội nhập Với 758 dự án đã và

Trang 23

đang triển khai, lĩnh vực FDI trong nông nghiệp đem lại doanh thu hàng năm khoảng 312 triệu USD, xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm và tăng mạnh trong thời gian gần đây.

Những đóng góp tích cực:

-Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài tương đối phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ngành, nguồn vốn được thu hút khá đồng đều vào các lĩnh vực trồng trọt, chế biến nông, lâm sản, sản xuất mía đường, sản xuất thức

ăn chăn nuôi, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rừng và sản xuất nguyên liệu giấy.

- Các dự án FDI đã góp phần tạo thêm năng lực sản xuất mới, công nghệ sản xuất tiên tiến, nâng cao tính cạnh tranh của hàng nông lâm sản Các chương trình mía đường, trồng và chế biến rau quả, chương trình trồng rừng, chuyển giao công nghệ mới, tạo ra các loại giống cây trồng, giống vật nuôi và các sản phẩm chế biến đạt tiêu chuẩn quốc tế.

- Tạo việc làm cho hàng vạn lao động công nghiệp (đến nay có khoảng 75.000 lao động công nghiệp đang làm việc tại các doanh nghiệp FDI của ngành), sản xuất nguyên liệu và các dịch vụ lao động cho công nghiệp chế biến, v.v Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ngày càng trưởng thành, công nhân được nâng cao trình độ, tay nghề.

2.2.1.3 Vai trò của FDI với đảm bảo phúc lợi xã hội cho con người

- Tác động tới việc làm và chất lượng nguồn lao động

Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động hiện đang được xã hội quan tâm và coi đây là một trong những nhân tố góp phần làm cho xã hội phát triển công bằng và bền vững Mọi người có việc làm sẽ làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, các vấn đề xã hội đựơc giải quyết, nâng cao đời sống cho mọi tầng lớp dân cư Song song với việc giải quyết việc làm là việc không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng lao động, tạo ra cho nền kinh tế nhiều đội ngũ lao động có tay nghề, có trình độ khoa học công nghệ cao, đội ngũ cán bộ quản lý

Trang 24

có năng lực quản lý vĩ mô, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động trong nước cũng như nâng cao hơn nữa chất lượng lao động là một trong những mục tiêu đặt ra khi thực thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Đến nay đây là mục tiêu mà chúng ta đã thu được kết quả cao hơn so với các mục tiêu khác Số liệu thống

kê cũng cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của các doanh nghiệp FDI trong việc tạo ra việc làm mới trong hai thập kỷ qua, đặc biệt trong những năm gần đây.

Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theo thành phần kinh tế:

Bảng 2.3 Thành phần kinh tế qua các năm 2000 – 2010

Chia ra Kinh tế Nhà

nước

Kinh tế ngoài Nhà nước

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nghìn người

Trang 25

(Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam)

- Nâng cao mức sống, mức thu nhập của người dân

Số liệu công bố qua các cuộc điều tra gần đây về tiền lương cho thấy các doanh nghiệp FDI đang thắng thế trong cạnh tranh thu hút nhân lực cấp cao, như các chức danh quản lý doanh nghiệp Mức lương trả cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp FDI trung bình là 12 triệu đồng/tháng (năm2005), cao hơn nhiều so với mức lương tương ứng ở các doanh nghiệp nhà nước (4,3 triệu) và doanh nghiệp tư nhân (3 triệu) Nếu tính bình quân lương tháng của toàn bộ lao động trong doanh nghiệp qua các cuộc khảo sát tiền lương do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành từ đầu thập kỷ này thì người lao động trong doanh nghiệp FDI vẫn được hưởng mức lương cao hơn so với ở các doanh nghiệp trong nước khác (thấp nhất là ở doanh nghiệp tư nhân).

- Nâng cao cơ sở hạ tầng cho xã hội

Kết cấu hạ tầng giữ vai trò quan trọng, nó tạo điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, qua đó quyết định sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra chuyển đổi căn bản cơ cấu kinh tế đặc biệt là công nghiệp xây dựng và dịch vụ, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong cả nước, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân.Việc nâng cao kết cấu hạ tầng sẽ làm tăng khả năng thu hút FDI vào Việt Nam Vì vậy, Chính phủ nên kêu gọi khu vực kinh tế tư nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, vì sự

Ngày đăng: 25/08/2021, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Khánh Duy (6/2006) Triển vọng FDI vào Việt Nam trong bối cảnh, hội nhập 2006 - 2010, Tạp chí phát triển kinh tế Khác
2. PGS. TS Nguyễn Hồng Sơn (6/2006) Đầu tư nước ngoài (FDI) triển vọng thế giới và thực tiễn Việt Nam, những vấn đề kinh tế thế giới - Bộ kế hoạch và đầu tư Khác
3. PGS. TS Đỗ Đức Bình - PGS. TS Nguyễn Đức lạng (2006) Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong đầu tư nước ngoài - kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam Khác
4.Trọng Hà (5/9/2006), Thu hút đầu tư nước ngoài, những con số biết nói. Tạp chí bât động sản nhà đất Khác
6. Giáo trình Kinh tế quốc tế ( Đại học Kinh tế quốc dân) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w