LỜI MỞ ĐẦUViệc lạm dụng vị trí thống lĩnh hay độc quyền là một trong những lĩnhvực thách thức của Luật cạnh tranh ở những nước đã và đang phát triển.Những tình huống liên quan tới việc l
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việc lạm dụng vị trí thống lĩnh hay độc quyền là một trong những lĩnhvực thách thức của Luật cạnh tranh ở những nước đã và đang phát triển.Những tình huống liên quan tới việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độcquyền có thể bao gồm từ những hành vi mang tính cướp đoạt của nhữngdoanh nghiệp trên thị trường bị cô lập trong nước đối với những sản phẩmcông nghệ thấp tới những ngành công nghiệp cao, trong đó việc tếp cận vớimột mạng lưới bị hạn chế bởi những mục đích phản cạnh tranh
Các trường hợp lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền có thể cótầm quan trọng đặc biệt trong những nền kinh tế chuyển đổi Ví dụ, các điềukhoản trong Luật cạnh tranh liên quan tới việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị tríđộc quyền có thể đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết những hành vimang tính cạnh tranh liên quan đến các doanh nghiệp độc quyền trước đây củaNhà nước Các điều khoản về vấn đề lạm dụng vị trí thống lĩnh cũng có thể cóích trong việc nới lỏng những hạn chế đối với việc tiếp cận các hệ thống phânphối trên thị trường trong nước
Trong các trường hợp liên quan tới việc lạm dụng vị trí thống lĩnh hay
vị trí độc quyền hóa, cần phải bảo đảm rằng việc áp dụng không làm hạn chếnhững hành vi kinh doanh có hiệu quả Một điều quan trọng phải nhận thứcđược là các doanh nghiệp có thể đạt được vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyềntrên thị trường một cách chính đáng (thông qua sự đổi mới, các phương phápsản xuất hay phân phối tốt hơn, hay những nỗ lực kinh doanh lớn hơn)
Để có được một môi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát đượccác hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền cóhiệu quả đang là vấn đề quan trọng đối với thực trạng hiện nay của nước ta Vì
vậy, tôi đã chọn “Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
và những vấn đề pháp lý đặt ra đối với môi trường cạnh tranh ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình Em xin chân thành cảm ơn TS Đồng
Ngọc Ba đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Trang 2Ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấugồm 2 chương:
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh và vị trí thống lĩnh thị trường vị trí độc quyền.
Chương II: Pháp luật điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và những vấn đề pháp lý đặt ra đối với môi trường cạnh tranh ở Việt Nam.
Mặc dù đã hết sức cố gắng tìm hiểu lý thuyết và thực tế, tuy nhiên docòn hạn chế về tài liệu tham khảo, về thời gian cũng như khản năng điều tra,thu thập dữ liệu thực tế và trình độ kiến thức của bản thân còn hạn chế nên đềtài không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong được sự nhậnxét góp ý của các thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn Xinchân thành cảm ơn
Trang 3lý xã hội, Nhà nước cần xây dựng chính sách duy trì cạnh tranh và hạn chếtình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyềntrong kinh doanh.
Sự cần thiết phải duy trì cạnh tranh xuất phát từ nguyên nhân cạnhtranh chính là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển trong kinh tế thị trường
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường,
là năng lực phát triển của kinh tế thị trường Cạnh tranh có thể đem đến lợi íchcho người này và mang lại thiệt hại cho người khác Tuy nhiên, xét dưới góc
độ toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác động tích cực Ngày nay, hầu hết cácquốc gia có nền kinh tế thị trường đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranhkhông những là động lực phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tếquốc gia mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, người tiên dùng có quyền lựa chọn việcmua sản phẩm, sử dụng một dịch vụ mà họ cho là tốt nhất Nếu một sản phẩmchất lượng kém thì sự cạnh tranh của cơ chế thị trường và sự lựa chọn củangười tiêu dùng sẽ là yếu tố để buộc các nhà sản xuất kinh doanh phải sảnxuất những sản phẩm với chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, nếukhông họ sẽ bị đào thải Cạnh tranh còn là yếu tố đặc biệt cho người sản xuất
Trang 4và người tiêu dùng không thể lợi dụng ưu thế của người kia trên thị trường.Như vậy, cạnh tranh còn là động lực điều tiết thị trường.
Cạnh tranh còn có khả năng tạo ra một sức ép liên tục đối với giá cảhàng hóa, dịch vụ Bởi vì người tiêu dùng có quyền lựa chọn một sản phẩm
mà mình cần ở một doanh nghiệp khác trên thị trường với một mức giá thấphơn so với cùng loại hàng hóa của doanh nghiệp Từ đó, các nhà sản xuất,cung ứng buộc phải chọn phương thức cung ứng dịch vụ sao cho chi phí nhỏnhất với công nghệ hiệu quả nhất, mà vẫn bán được sản phẩm đáp ứng yêucầu của khách hàng
Do đó, các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều khuyến khíchcạnh tranh với mong muốn cạnh tranh có thể đem lại một số lợi ích sau:
+ Bảo đảm và đáp ứng sở thích của người tiêu dùng Nghĩa là sản phẩmhàng hóa phải ổn định ở mức giá hợp lý thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng
+ Cạnh tranh nhằm tạo ra động lực điều tiết nền kinh tế thị trường,chống lại độc quyền trong nền kinh tế
+ Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu
+ Cạnh tranh tạo môi trường thuận lợi để sản xuất thích ứng với sự biếnđộng của cầu và công nghệ sản xuất
+ Cạnh tranh tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập Cạnhtranh sẽ hạn chế hành vi bóc lột trên cơ sở quyền lực thị trường và việc hìnhthành thu nhập không tương ứng với năng suất;
+ Cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới
Trang 5Tuy nhiên, để bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh cũng như những mặttích cực của nó, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực của cạnh tranh và kiểmsoát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền, Nhà nước cần phải canthiệp vào quá trình cạnh tranh, điều tiết hoạt động đó theo mục tiêu, chínhsách của mình.
1.1.2 Cơ chế hình thành và hậu quả.
a) Cơ chế hình thành
Ở mức độ khái quát có thể nói đến những nguyên nhân chủ yếu sau đây
đã dẫn đến hiện tượng độc quyền và thống lĩnh thị trường:
+ Nhờ vào chính những nỗ lực tự thân của chính doanh nghiệp có vị tríthống lĩnh hay doanh nghiệp độc quyền, nhóm doanh nghiệp độc quyền, như:chú trọng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ; doanhnghiệp nắm trong tay những phát minh, sáng chế và bí quyết công nghệ mànhững đối thủ cạnh tranh khác không có; nhờ ưu thế về vốn đầu tư ban đầutrong những ngành, lĩnh vực đòi hỏi suất đầu tư trên một đơn vị sản phẩm lớn;nhờ ưu thế về công nghệ, tiến bộ kỹ thuật, trình độ quản lý…
+ Doanh nghiệp có được vị trí thống lĩnh, độc quyền có thể là kết quảcủa quá trình sáp nhập, hợp nhất hai hoặc nhiều doanh nghiệp nhằm tập trungnguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ…
Ngoài ra, độc quyền còn xuất hiện do sự thông đồng giữa các doanhnghiệp về giá cả, sản lượng và khách hàng hoặc thị trường tiêu thụ về mặt địa
lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngành, lĩnh vực sản xuất
+ Do đặc thù của công nghệ sản xuất hoặc do đặc thù của ngành hàng,lĩnh vực kinh doanh hoặc những lợi thế khác dẫn đến tình trạng độc quyền tựnhiên
+ Ngoài con đường hình thành độc quyền từ quá trình cạnh tranh và độcquyền tự nhiên, còn có độc quyền nhà nước Đây là tình trạng độc quyền đượctạo ra để các doanh nghiệp nhà nước có thể chi phối những lĩnh vực quan
Trang 6trọng của nền kinh tế quốc dân, cho phép nhà nước điều tiết quá trình cạnhtranh theo ý muốn nhằm ổn định trật tự nền kinh tế, bảo vệ lợi ích của xã hội.
b) Hậu quả
Thống lĩnh thị trường, độc quyền trong kinh doanh dù tồn tại và hìnhthành bằng cách nào cũng thường gây ra những hậu quả tiêu cực đối với nềnkinh tế quốc dân: kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, làm ảnh hưởng đếnlợi ích của người tiêu dùng Thống lĩnh thị trường và độc quyền trong kinhdoanh là những yếu tố hạn chế tự do kinh doanh, văn minh thương mại
1.2 Khái niệm và các vấn đề liên quan đến việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
1.2.1 Thế nào là vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền:
a Trên thế giới
Theo quy định tại điểm 2 I Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên HợpQuốc( Bộ quy tắc đồng thuận đa phương và kiểm soát các hành vi hạn chếkinh doanh) thì vị trí thống lĩnh quyền lực thị trường được hiểu là : “ tìnhtrạng trong đó một doanh nghiệp độc lập hay liên kết với một số những doanhnghiệp khác, có khả năng kiểm soát được thị trường liên quan đối với mộthoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể”
b Ở Việt nam
Luật cạnh tranh năm 2004 đã không quy định thế nào là vị trí thống lĩnhthị trường, vị trí độc quyền mà chỉ đưa ra các hành vi mang tính chất lạmdụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền Qua đó có thể hiểu một cách khái quát
+ Vị trí thống lĩnh được hiểu là khả năng kiểm soát thực tế hoặc tiềmnăng đối với thị trường liên quan của một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch
vụ của một hoặc một số doanh nghiệp Như vậy, vị trí thống lĩnh không chỉđược xem xét dưới góc độ vị trí của một doanh nghiệp mà còn có thể là vị trícủa một nhóm doanh nghiệp cùng hoạt động Tức là giữa nhóm doanh nghiệpnày không có sự thỏa thuận trước
Trang 7+ Vị trí độc quyền là vị trí trong đó chỉ có một người bán duy nhất.Doanh nghiệp này không phải cạnh tranh với bất cứ đối thủ cạnh tranh nàotrong việc bán sản phẩm của mình trên thị trường Với mong muốn tối đa hóalợi nhuận, doanh nghiệp độc quyền sẽ ấn định giá độc quyền sản phẩm ở mức
mà mình sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất Mặt khác, doanh nghiệp độc quyềnkhông phải gánh chịu sức ép cạnh tranh Do đó không có nhu cầu phải cải tiếnchất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất
Độc quyền kinh doanh là hành vi độc chiếm thị trường Nó rất giốngvới việc đá bóng một mình trong sân “Vinh quang không lớn, nhưng muốnthắng bao nhiêu bàn cũng được” Điều đáng nói là với tư cách như vậy trongkinh doanh, đối tượng phải gánh chịu hậu quả là tất cả khách hàng Nghĩa là
ít trừ một ai trong xã hội: Từ Nhà nước đến các doanh nghiệp và những ngườitiêu dùng bình thường
Thế thì ai được lợi bởi độc quyền kinh doanh? Tất nhiên những doanhnghiệp đang giữ vị thế độc quyền Các doanh nghiệp này không chịu sức épphải cải tiến và nâng cao hiệu quả không ngừng
Như vậy, dưới góc độ kinh tế học, độc quyền trong kinh doanh là trạngthái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm không
có sản phẩm thay thế gần gũi; là việc một doanh nghiệp hay một tập đoànkinh tế với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định khống chế thịtrường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
Theo quy định của Luật cạnh tranh năm 2004, doanh nghiệp được coi là
có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hang hóa ,dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan Xét thấy, vịtrí độc quyền đã loại bỏ khả năng có sự tồn tại của cạnh tranh trên thị trườngliên quan bởi tại đó chỉ có một doanh nghiệp duy nhất là doanh nghiệp đangđược xem xét hoạt động Do vậy, để xác định vị trí độc quyền , chỉ cần xácđịnh thị trường liên quan và xác định số lượng doanh nghiệp hoạt động trên
Trang 8thị trường Nếu chỉ có một doanh nghiệp duy nhất thì đó là doanh nghiệp đó
có vị trí độc quyền
1.2.2 Thế nào là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
a Khái niệm:
(i) Thế giới
- Tại Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên Hợp Quốc được thông quangày 22 tháng 4 năm 1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của tổ chức hợp tác vàphát triển Liên Hợp Quốc định nghĩa:
“ Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnhtranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặcđộc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằngcách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh”
Theo đó, Bộ quy tắc đã đưa ra quy định việc nghiêm cấm các hành viliên quan đến việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường khi:
+ Một doanh nghiệp hoạt động độc lập hay liên kết với các doanhnghiệp khác đang kiểm soát một thị trường liên quan đối với một hoặc mộtnhóm hàng hóa, dịch vụ nhất định
+ Hành vi của một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nhằmhạn chế khả năng gia nhập thị trường liên quan hoặc hạn chế quá mức cạnhtranh làm phương hại hay có thể gây tác động bất lợi cho sự phát triển kinh tế,thương mại
- Theo quy định tại Điều L 420-2 Bộ luật thương mại của Pháp thì : “Hành vi của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp khai thác mộtcách lạm dụng vị trí thống lĩnh của mình trên thị trường trong nước hoặc mộtphần của thị trường này, theo các điều kiện quy định tại Điều L 420-1, bịnghiêm cấm Các hành vi lạm dụng này chủ yếu bao gồm: từ chối bán hàng,bán hàng kèm, hoặc bán hàng theo những điều kiện phân biệt đối xử cũng như
là chấm dứt quan hệ thương mại đã được thiết lập chỉ với lí do duy nhất là
Trang 9phía đối tác đã từ chối chấp nhận các điều kiện thương mại vì các điều kiệnnày không được thể hiện rõ ràng.
Mặt khác, hành vi của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệpkhai thác một cách lạm dụng tình trạng chi phối của mình đối với các doanhnghiệp phu thuộc như các doanh gnhiệp là khách hàng hoặc là nhà cung cấp,
bị nghiêm cấm ngay sau khi hành vi này có khả năng ảnh hưởng đến sự vậnhành hoặc cấu trúc của quy luật Luật cạnh tranh Các hành vi lạm dụng này cóthể chủ yếu bao gồm từ chối bán hàng, bán hàng kèm hoặc các hành vi phânbiệt đối xử được quy định tại Điều L 442-6”
Theo Án lệ của Pháp thì vị trí thống lĩnh được hiểu là “ khả năng đốimặt với đối thủ cạnh tranh thực tế” và “ doanh nghiệp được coi là chiếm lĩnhmột vị trí ưu thế trên thị trường khi nắm giữ thị phần ưu thế trên thị trường sovới các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh khác”
- Luật cạnh tranh của Canada liệt kê chín nhóm hành vi phản cạnh tranh
có thể bị cấm( Điều 78) và điều 79 quy định ba dấu hiệu của hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh là: một hoặc một nhóm doanh nghiệp kiểm soát thị trườngliên quan; thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định trong Luật cạnhtranh; hành vi đó đã, đang, hoặc có thể làm cản trở, làm giảm cạnh tranh trênthị trường một cách đáng kể
- Liên minh Châu Âu:
Vấn đề lạm dụng vị trí thống lĩnh được quy định tại điều 82 Hiệp ĐịnhROME Điều 82 CE không đưa ra định nghĩa về lạm dụng vị trí thống lĩnh màchỉ quy định : “ đi ngược với thị trường chung và bị cấm, trong chừng mực màthị trường của các quốc gia thành viên EU có thể bị tác động , hành vi của mộthoặc nhiều doanh nghiệp khác một cách lạm dụng vị trí thống lĩnh của mìnhtrên thị trường chung hoặc trên một phần của thị trường chung”
Án lệ ngày 13-02-1976, Tòa Tư pháp EU đã đưa ra một định nghĩa về
vị trí thống lĩnh:
Trang 10“ Một tình trạng sức mạnh kinh tế do một doanh nghiệp nắm giữ manglại cho doanh nghiệp này khả năng ngăn cản việc duy trì quy luật cạnh tranhtrên thị trường liên quan bắng cách tạo ra những hành vi ứng xử một cách độclập trong chừng mực mà các đối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng làngười tiêu dùng của doanh nghiệp đó có thể nhận biết được Tóm lại, đó làkhả năng hoạt động, quyền lực thị trường được thể hiện thông qua việc gâyảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh và đồng thời là một sức mạnh gần nhưtuyệt đối vì doanh nghiệp trong trường hợp này thoát ra khỏi tác động của cácđối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp càng có vị trí thống lĩnh thì doanh nghiệp đócàng có khả năng xử sự một cách độc lập, tăng giá mà không sợ bị giảm thịphần”
(ii) Việt Nam
Luật cạnh tranh (2004) không quy định thế nào là hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền mà chỉ đưa ra khái niệm về hành vihạn chế cạnh tranh nói chung Theo đó, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vicủa doanh nghiệp làm giảm , sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, baogồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế
Để tồn tại trong nền kinh tế thị trường, khi mà quá trình cạnh tranhngày càng diễn ra mạnh mẽ, bất kì doanh nghiệp nào cũng mong muốn mình
có được vị trí thống lĩnh thị trường,vị trí độc quyền Do đó buộc họ phải thamgia vào tiến trình cạnh tranh và trong tiến trình đó họ dần xác lập được vị trícủa mình Tuy nhiên, khi đã đạt được vị trí đó thì họ lại luôn có xu hướng lạmdụng để nâng cao vị thế tuyệt đối đó của mình và đã gây ra thiệt hại cho xãhội
Xét một cách chung nhất, có thể định nghĩa: Lạm dụng vị trí thống lĩnh,
vị trí độc quyền được hiểu là hành vi của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền sử dụng bằng mọi cách, mọi thủ đoạn để loại bỏ sự cạnh
Trang 11tranh, loại bỏ và tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh khỏi rào cản phát triển của mình, qua đó duy trì và nâng cao hơn nữa vị trí đó trên thương trường.
Với tư cách là những biểu hiện cụ thể của hành vi hạn chế cạnh tranh,hành vi lạm dụng có một số điểm lưu ý sau đây:
+ Xét về biểu hiện khách quan: Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị tríđộc quyền để hạn chế cạnh tranh là những hành vi vi phạm cụ thể được Luậtcạnh tranh liệt kê
+ Chủ thể thực hiện: Là những doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thịtrường hoặc có vị trí độc quyền
Hậu quả: Là khả năng làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trênthị trường
Từ đó, có thể nhận dạng hành vi lạm dụng để hạn chế cạnh tranh lànhững hành vi được quy định trong Luật cạnh tranh do doanh nghiệp hoặcnhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường liênquan thực hiện làm giảm, sai lệch và cản trở cạnh tranh trên thị trường
b Dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
Cho dù ở mỗi nước có thể được mô tả bằng những cách thức khác nhaunhưng hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền luôn có 3dấu hiệu nhận dạng là:
+ Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường liên quan
Có thể nói, vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền có thể được hình thành từ sự tích
tụ trong quá trình cạnh tranh, từ những điều kiện tự nhiên của thị trường như:yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại củacác rào cản gia nhập thị trường… Vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền đem lạicho doanh nghiệp quyền lực thị trường, hay là khả năng chi phối các quan hệtrên thị trường ( Theo cuốn Từ điển kinh tế học hiện đại, “quyền lực thịtrường là khả năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh nghiệp
Trang 12trong việc tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ
mà họ bán hoặc mua”) Như vậy, cần quan tâm đến 2 vấn đề:
- Hành vi lạm dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độcquyền trên thị trường liên quan đã được xác lập Do đó, pháp luật không nhằmđến việc xóa bỏ vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền của doanh nghiệp, phápluật chỉ hướng đén việc loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh Một khi doanh nghiệp có quyền lựcthị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì chúng vẫn là chủ thểđược pháp luật bảo vệ;
- Chủ thể thực hiện hành vi lạm dụng có thể là một doanh nghiệp đơn
lẻ hoặc một nhóm doanh nghiệp ( tối đa là 4) có vị trí thống lĩnh hoặc vị tríđộc quyền trên thị trường liên quan
Vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền đem lại cho doanh nghiệp lợi thếtrong cuộc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường liên quan,khả năng chi phối các quan hệ với khách hàng Những lợi thế có thể là khảnăng kiểm soát các yếu tố của thị trường như nguồn nguyên liệu, hía cả, khảnăng tài chính…Từ đó tạo ra địa vị không ngang bằng trong cạnh tranh giữadoanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường và các đối thủ của nó Trong quan hệ
ấy, doanh nghiệp có điều kiện tận dụng những ưu thế trên nhằm gây khó khăncho đối thủ trong quá trình kinh doanh hoặc gia nhập thị trường Đối vớikhách hàng, vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền đã khẳng định địa vị quantrọng của doanh nghiệp trong cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trườngliên quan bởi họ là nguồn cung hoặc nguồn cầu chủ yếu của thị trường Khi
đó, doanh nghiệp có cơ hội để bóc lột khách hàng bằng cách đặt ra những điềukiện giao dịch không công bằng
+ Thứ hai, hành vi lạm dụng là những hành vi được Luật cạnh tranh liệt
kê Luật cạnh tranh năm 2004 nghiêm cấm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh ,
vị trí độc quyền thực hiện các hành vi được quy định tại Điều 13 và Điều 14.Một hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường chỉ
Trang 13bị quy kết là lạm dụng để hạn chế cạnh tranh khi nó mang đầy đủ dấu hiệu củamột hành vi nào đó đã được Luật liệt kê trong nhóm hành vi lạm dụng Dướigóc độ lý luận, hành vi lạm dụng mang trong mình nó không chỉ là thủ đoạnlợi dụng lợi thế do quyền lực thị trường đem lại cho doanh nghiệp, mà còn lànguyên nhân gây ra những hậu quả không tốt cho tình trạng cạnh tranh trên thịtrường hiện tại hoặc tương lai.
+ Thứ ba, hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch , cản trở hoặc
giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan Dấu hiệu này cho thấy khả nănghạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụng và tác hại của nó đối với thị trường.Như đã phân tích, doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng với mục đích duytrì, củng cố vị trí hiện có hoặc tận hưởng các lợi ích có được từ việc bõ lộtkhách hàng Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế( OECD) đã đưa ra nhiềukhuyến nghị về việc xác định hành vi lạm dụng, trong đó họ cảnh báo rằngchỉ có thể chống lại sự lạm dụng quyền lực thị trường thành công ,khi phápluật và người thi hành nó xác định được những hành vi cụ thể có thể gây hạicho cạnh tranh và đánh giá được những tác động toàn diện của chúng trên thịtrường có liên quan Theo cách tiếp cận tương tự, Luật cạnh tranh (2004)không căn cứ vào mục đích mà dùng hậu quả của hành vi đối với tình hìnhcạnh tranh trên thị trường để làm dấu hiệu xác định sự lạm dụng
Dấu hiệu về hậu quả của hành vi là căn cứ để phân biệt hành vi lạmdụng với hiện tượng tập trung kinh tế Tập trung kinh tế được Luật cạnh tranhquy định bao gồm bốn hành vi là sáp nhâp, hợp nhất, mua lại và liên doanh.Thực chất, chúng là các chiến lược do các doanh nghiệp thực hiện nhằm tậptrung các nguồn lực hiện có bằng cách cộng dồn hoặc liên kết những yếu tố vềvốn, thị trường , lao động…từ các doanh nghiệp tham gia nhằm nâng cao khảnăng kinh doanh và cạnh tranh Các hành vi trên khi thực hiện đều có khảnăng hình thành nên các thế lực độc quyền mà không thông qua sự tích tụ tưbản Từ đó, khả năng làm giảm, sai lệch hoặc hạn chế cạnh tranh của tập trungkinh tế được chứng minh bằng những suy đoán là việc các doanh nghiệp sáp
Trang 14nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh đều có thể làm thay đổi cấu trúc vàtương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường do chúng đã tạo
ra các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có quyền lực thị trường, trong khihậu quả mà hành vi lạm dụng gây ra được chứng minh bằng những lợi ích màcác doanh nghiệp khác hoặc khách hàng phải gánh chịu Nói cáh khác, phápluật chống lạm dụng hướng đến việc cấm đoán hành vi, còn pháp luật kiểmsoát tập trung kinh tế có nhiệm vụ ngăn chặn khả năng hình thành các thế lực
có quyền lực trên thị trường bằng việc tiến hành tập trung kinh tế
1.3 Các yếu tố cấu thành hành và tác động cuả hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền trong môi trường cạnh tranh.
1.3.1 Các yếu tố cấu thành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
Ở mỗi quốc gia sẽ có một cách xác định khác nhau về các yếu tố cấuthành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, nhưng nhìn chungthì các yếu tố cấu thành chủ yếu, bao gồm:
(i) Chủ thể
Khác với chủ thể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ít nhất phải là haichủ thể trở lên, chủ thể của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị tríđộc quyền có thể là một doanh nghiệp Đó có thể là một cá nhân hoặc môtpháp nhân , thuộc lĩnh vực tư hoặc công, điều quan trọng là phải thực hiện “hoạt động thương mại, kinh tế nhằm mục đích lợi nhuận”
Theo Điều 420-2 Bộ quy tắc về cạnh tranh cuả Liên Hợp Quốc thì chủthể của lạm dụng vị trí thống lĩnh , vị trí độc quyền có thể là một nhóm doanhnghiệp Đó có thể là một nhóm doanh nghiệp có mối quan hệ liên kết vớinhau, ví dụ: các công ty con của cùng một tập đoàn, với điều kiện là chúng “thực hiện một chính sách thương mại hoặc hợp tác phân phối” Nhưng đócũng có thể là một nhóm doanh nghiệp độc lập với nhau
(ii) Thị trường liên quan
Trang 15Xác định thị trường thường là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhấttrong các phân tích về cạnh tranh Tất cả các tính toán, đánh giá và phán xét
về các hành vi kinh doanh và tác động của nó đến quá trình kinh doanh đềuphải dựa vào quy mô và loại thị trường liên quan
Thị trường liên quan là một trong những khái niệm cơ bản quan trọnghàng đầu của Luật cạnh tranh và trước tiên nó thuộc về phạm trù kinh tế Nộihàm của nó thường được xác định thông qua hai yếu tố là thị trường sản phẩmliên quan và thị trường địa lý liên quan Theo Luật mẫu về cạnh tranh của Tổchức Thương mại và phát triển của Liên Hợp quốc( UNCTAD) thì: “ Thịtrường liên quan dùng để chỉ những điều kiện chung theo đó người bán vàngười mua trao đổi hàng hóa, và cũng có nghĩa chỉ ra phạm vi về mặt khônggian để xác định những nhóm người bán và người mua hàng hóa trong đócạnh tranh có thể bị hạn chế”
Thị trường liên quan được xác định thông qua thị trường sản phẩm liênquan và thị trường địa lý liên quan:
+ Thị trường sản phẩm liên quan :
Có một định nghĩa về thị trường sản phẩm là: “ Một sản phẩm hoặcnhóm sản phẩm được mua bán trên một khu vực địa lý nhất định với giả thiếtrằng doanh nghiệp vì mục đích lợi nhuận tối đa, là chỉ có một người bán cácsản phẩm đó có thể nâng giá lên một lượng nhỏ nhưng đáng kể trên mức cânbằng của thị trường trong một khoảng thời gian dài” OCED 1993) Theo cáchđịnh nghĩa này thì thị trường sản phẩm sẽ bao gồm ba yếu tố: Tăng giá, phảnứng của người mua và nguyên tắc “ thị trường nhỏ nhất”
Theo quy định tại khoản 1 điều 3 luật cạnh tranh năm 2004 thì: Thịtrường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thểthay thế cho nhau về đặc tính , mục đích sử dụng và giá cả
Trong đó, “ đặc tính” của hàng hóa được xác định theo những căn cứchủ yếu như tính chất vật lý, tính chất hóa học, tính chất kỹ thuật và các tácđộng đối với người sử dụng nhằm có thể phân biệt với hàng hóa khác hoặc có
Trang 16thể xếp các hàng hóa cùng loại với nhau “ Mục đích sử dụng” của hàng hóa,dịch vụ, được hiểu là mục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hóa, dịch vụ
đó “ Giá cả” của hàng hóa, dịch vụ là giá bán lẻ cho người tiêu dùng và cóthể được niêm yết theo quy định của pháp luật về niêm yết giá
+ Thị trường địa lý liên quan: Là một khu vực địa lý cụ thể trong đó cónhững hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranhtương tự và có sự khác biệt đáng kể đối với các khu vực lân cận
Hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau dựa trên các căn
cứ cơ bản như: hàng hóa, dịch vụ có mục đích sử dụng giống nhau; đặc tính( vật lý, hóa học, kỹ thuật…) có thể thay thế cho nhau; thời gian sử dụng hànghóa, cung ứng dịch vụ; sự thay đổi về cung và cầu của hàng hóa, dịch vụ khi
có sự thay đổi về giá của một hàng hóa, dịch vụ khác…
Ví dụ: Khi tổng công ty bưu chính viễn thông yêu cầu các doanh nghiệpthành viên thống nhất mức cước điện thoại di động tối thiểu thì thỏa thuậnkhống chế giá của các doanh nghiệp này chỉ có tác động trên thị trường ViệtNam Khi hiệp hội Taxi Hà Nội thỏa thuận khống chế giá, thỏa thuận sử dụngloại xe giữa các doanh nghiệp thành viên thì các thỏa thuận này chỉ có hiệulực thị trường Hà Nội mà không ảnh hưởng đáng kể đến thị trường các khuvực đăng kí khác
Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan trong quá trình xử lí vụviệc cạnh tranh:
+ Xác định thị trường liên quan là công việc đầu tiên để xác định thịphần của từng doanh nghiệp trong vụ việc cạnh tranh Theo các quy định tạikhoản 2 Điều 9, Điều 11, 18, 19 của Luật cạnh tranh, thị phần là cơ sở để xácđịnh liệu các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có bị cấmthực hiện thỏa thuận đó hay không, xác định vị trí thống lĩnh thị trường củanhóm doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp…
+ Xác định thị trường liên quan là cơ sở quan trọng để xác định haidoanh nghiệp có phải là đối thủ cạnh tranh của nhau hay không? Các doanh
Trang 17nghiệp chỉ có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau nếu những doanh nghiệp nàycùng hoạt động trên cùng một thị trường liên quan.
+ Xác định thị trường liên quan giúp cho việc xác định mức độ gây hạnchế cạnh tranh do hành vi vi phạm các quy định của Luật cạnh tranh gây ra
(iii) Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
Cần phải nhấn mạnh rằng, bản thân vị trí thống lĩnh thị trường, vị tríđộc quyền tự thân nó không bị cấm Chỉ khi nào doanh nghiệp sử dụng mộtcách lạm dụng vị trí thống lĩnh đó để loại bỏ đối thủ cạnh tranh, thông qua đólàm sai lệch, biến dạng quy luật cạnh tranh trên thị trường thì hành vi đó mới
bị xem xét, xử lý
1.3.2 Tác động cuả hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền trong môi trường cạnh tranh.
Giống như các hiện tượng khác, thống lĩnh và độc quyền có tác độngrất lớn đối với đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, theo cả chiều hướngtích cực và tiêu cực
(i) Tác động tích cực
+ Thống lĩnh và độc quyền góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ, tậptrung các nguồn lực để phát triển, nhất là trong những ngành kinh tế mũinhọn Sau khi đã xác lập được vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, cáccông ty thống lĩnh, độc quyền thường phát triển nhanh chóng thành những tậpđoàn hùng mạnh Sự tích tụ và tập trung nguồn lực vào tay một hoặc mộtnhóm các doanh nghiệp tạo điều kiện đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoahọc công nghệ, mở rộng quy mô, tăng năng suất lao động, tạo ra những bướcngoặt mang tính đột phá cho bản thân doanh nghiệp và cho ngành sản xuất đó
Sự mở rộng về quy mô sản xuất, đến lượt nó sẽ tạo động lực kích thích trở lạicác doanh nghiệp, bởi trên thực tế ai cũng biết rằng lợi nhuận của một doanhnghiệp sẽ tăng lên theo quy mô sản xuất kinh doanh
Đối với độc quyền nhà nước, nếu duy trì ở quy mô thích hợp và đượckiểm soát tốt sẽ góp phần tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế ,tạo thế chủ động
Trang 18trong việc hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ các ngành và các cơ sở sản xuấttrong nước, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng…và đáp ứng các nhu cầu của quốc
kế dân sinh Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, độc quyền nhà nước được sửdụng như là một công cụ kinh tế hữu hiệu bên cạnh các công cụ khác trongviệc điều tiết nền kinh tế quốc dân
(ii) Tác động tiêu cực
+ Thống lĩnh và độc quyền đi ngược lại trật tự cạnh tranh lành mạnh ,kìm hãm động lực phát triển của nền kinh tế Khi đã có vị trí thống lĩnh, vị tríđộc quyền, các doanh nghiệp luôn tìm cách duy trì vị trí thống lĩnh, vị trí độcquyền của mình bằng cách tiêu diệt các đối thủ tiềm năng, hạn chế sự xuấthiện trên thị trường của các đối thủ này Bằng thủ đoạn bóp chết đối thủ cạnhtranh thực chất đã triệt tiêu sự cạnh tranh trên thương trường, mà một khikhông còn sự cạnh tranh thì sẽ không còn áp lực để các doanh nghiệp pháttriển
+ Thống lĩnh và độc quyền tạo ra nguy cơ khủng hoảng và suy thoáicủa nền kinh tế Các doanh nghiệp thống lĩnh và độc quyền sử dụng vị thế nàyvào việc tự đánh giá cả hàng hóa độc quyền, kìm hãm sản lượng hàng hóa đểtăng giá bán nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch mà không chú trọng tới việc đổimới công nghệ, tăng năng suất nữa Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho nănglực của các công ty thống lĩnh và độc quyền bị suy yếu, thậm chí dẫn đến suygiảm và suy thoái của cả một ngành sản xuất nào đó Sự khan hiếm của hànghóa và giá cả leo thang do tình trạng thống lĩnh và độc quyền gây ra sẽ lànguyên nhân đưa đến sự lạm phát và gây mất ổn định nền kinh tế, làm tăng sốngười thất nghiệp
+ Thống lĩnh và độc quyền tạo ra cho các công ty thống lĩnh và độcquyền những khoản thu nhập bất chính từ lợi nhuận siêu ngạch, góp phần làmgia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất công trong xã hội Lợi nhuận mà cáccông ty độc quyền có được thực chất là nhờ vào việc hưởng mức chênh lệchquá đáng từ giá cả độc quyền so với giá tự nhiên của hàng hóa, tức là đã bòn
Trang 19rút thu nhập của đại bộ phận người tiêu dùng bỏ vào túi một số ít công ty độcquyền, đẩy những người nghèo đi đến chỗ nghèo thêm, còn các công ty độcquyền thì ngày một “ phất” lên nhanh chóng.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng không chỉ phải chi phí đắt thêm cho hànghóa, dịch vụ thống lĩnh, độc quyền mà họ còn chịu thiệt thòi khi không đượchưởng những thành quả sáng tạo trong sản xuất Nhà sản xuất sau khi đã đạtđến vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền sẽ lơ là việc đầu tư cho nghiên cứu, phátminh vì giờ đây họ không còn đối thủ để cạnh tranh, ganh đua nữa Thay vào
đó, họ chỉ lo việc khống chế số lượng để tăng giá nhằm thu về lợi nhuận thốnglĩnh, độc quyền tối đa Kết quả là nền sản xuất bị giậm chân tại chỗ, thị trường
sẽ thiếu vắng những sản phẩm dịch vụ mới với chất lượng tốt hơn, còn ngườitiêu dùng thì vẫn phải chấp nhận những sản phẩm , dịch vụ cũ với giá cao vì
họ không còn có một sự lựa chọn nào khác
+ Thống lĩnh và độc quyền còn dẫn đến tình trạng “ cửa quyền” chomột nhóm người có lợi ích Thống lĩnh, độc quyền tất yếu sẽ sản sinh ra cơchế “ ban phát” và điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt và sảnxuất
Ngoài ra, thống lĩnh và độc quyền còn là bạn đồng hành của tiêu cực vàtham nhũng Các doanh nghiệp thống lĩnh và độc quyền luôn có xu hướng liên
hệ và tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan quản lý nhà nước để bảo vệ vị thếthống lĩnh, độc quyền của mình Điều này làm xuất hiện nguy cơ tham nhũng,tha hóa trong bộ máy công quyền ( Ví dụ: Ở Hàn Quốc, khi các Chacbol vượt
ra ngoài tầm kiểm soát, chúng quay trở lại, mua chuộc, lôi kéo các quan chứcnhà nước, gây nên nạn tham nhũng trầm trọng) Ở Việt Nam hiện nay cũngvậy, trong bối cảnh dư luận xã hội đang lên tiếng mạnh mẽ để phản đối tìnhtrạng thống lĩnh, độc quyền, để duy trì vị trí thống lĩnh, độc quyền, các doanhnghiệp thống lĩnh, độc quyền phải tìm cách nuôi bộ máy công quyền, muachuộc các nhà chức trách để họ lên tiếng bảo vệ sự thống lĩnh và độc quyền
Trang 20Chương II
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI
VỚI MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
2.1 Xác định vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của doanh nghiệp
Điều 11 và điều 12 Luật cạnh tranh năm 2004 quy định về các căn cứxác định vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền của doanh nghiệp, theođó:
- “Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thịphần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chếcạnh tranh một cách đáng kể”
- “Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếucùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trườnghợp sau :
a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liênquan
b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liênquan
c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trườngliên quan”
- “ Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanhnghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanhtrên thị trường liên quan”
Như vậy, việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyềnđược thực hiện qua hai bước cơ bản: xác định thị trường liên quan và xác địnhmức độ thống lĩnh hoặc độc quyền của doanh nghiệp trên thị trường Vấn đềđặt ra đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền là trướchết phải xác định được chính xác vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền thị trườngcủa doanh nghiệp
Trang 212.1.1 Xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
Luật cạnh tranh đặt ra 2 căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh của doanhnghiệp trên thị trường liên quan, áp dụng theo thứ tự ưu tiên là: thị phần cuảdoanh nghiệp, khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
Ví dụ: Ở vương quốc Anh, một doanh nghiệp được coi là có vị trí thốnglĩnh khi mua hoặc bán 25% trở lên của một loại hàng hóa, dịch vụ trong nướchoặc trên một khu vực nhất định Trong khi đó, Luật của Mông Cổ và Ucrainacho rằng vị trí thống lĩnh của một hoặc một nhóm công ty chỉ xuất hiện khichúng chiếm trên 50% mức cung ứng một loại sản phẩm nào đó; Theo Luậtcạnh tranh của Látvia, Extônia, Dămbia, Ba Lan… một doanh nghiệp đượccoi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 40 % trở lên trên thịtrường liên quan, mức Liên bang Nga đưa ra là 65%
Luật cạnh tranh của Việt Nam đưa ra 4 mức thị phần tương ứng với sốlượng doanh nghiệp là 30%( 1 doanh nghiệp), 50%( hai doanh nghiệp), 65%( ba doanh nghiệp), 75%( 4 doanh nghiệp) Cơ sở để đề xuất mức thị phần nhưtrên là từ thực tiễn thị trường Việt Nam, trong đó có đến 96% doanh nghiệp
Trang 22tham gia kinh doanh là doanh nghiệp vừa và nhỏ Do đó, một doanh nghiệp cóđược thị phần từ 30% trở lên không phải là nhiều Tất cả các doanh nghiệphoặc nhóm doanh nghiệp có thị phần đạt từ các mức tối thiểu nói trên đềuđược coi là có vị trí thống lĩnh thị trường.
Việc quy định mức thị phần này dựa vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tếcủa đất nước cũng như tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam vàđáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vịt rí thốnglĩnh thị trường Mức thị phần này cũng được một số các quốc gia trên thế giới
áp dụng như Cộng hòa SEC, Bồ Đào Nha…
Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước cho thấy, việc xác định vị tríthống lĩnh chủ yếu dựa vào thị phần như pháp luật nước ta nhiều khi chưachính xác Bởi trong nhiều trường hợp những yếu tố khách quan như có ràocản gia nhập thị trường, cấu trúc thị trường hiện tại và tương quan về vị thếgiữa các doanh nghiệp… sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành vị trí thốnglĩnh thị trường Do đó một số nước đã sử dụng kết hợp nhiều yếu tố khác nhau
để xác định vị trí thống lĩnh của nhiều doanh nghiệp Luật cạnh tranh Ấn Độnăm 2002 định nghĩa vị trí thống lĩnh là “ một vị trí có sức mạnh, do mộtdoanh nghiệp nắm giữ cho phép doanh nghiệp đó: (1) Hoạt động độc lập vớicác lực lượng cạnh tranh áp đảo khác trên thị trường; hoặc (2) Gây ảnh hưởngđối với các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng hoặc thị trường có liên quancủa doanh nghiệp theo mong muốn của doanh nghiệp đó Pháp luật về cạnhtranh của Hoa Kỳ cũng không quy định thế nào là vị trí thống lĩnh, nhưngtrong các án lệ, Tòa án của nước này lại xác định vị trí thống lĩnh là quyềnkiẻm soát giá cả thị trường hoặc loại trừ cạnh tranh…
Do đó, pháp luật ở các quốc gia kể trên không coi thị phần là yếu tố duynhất hay quan trọng nhất để xác định vị trí của doanh nghiệp, mà bên cạnh đó,các yếu tố có thể tác động đến khả năng chi phối thị trường nói trên cũng sẽđược phân tích đồng thời và kết quả tổng hợp sẽ phản ánh quyền lực củadoanh nghiệp trên thị trường liên quan Cách thức này sẽ khắc phục được
Trang 23những tình huống mà doanh nghiệp có thị phần lớn nhưng do chịu tác độngbởi nhiều yếu tố khách quan nên không thể chi phối thị trường, do đó khôngthể coi là có vị trí thống lĩnh Tuy nhiên, để thực hiện việc phân tích tổng hợpnày một cách có hiệu quả thì đòi hỏi thị trường phải đảm bảo yếu tố minhbạch, trung thực về thông tin…
Thực trạng: Ở bất kì nền kinh tế nào, một doanh nghiệp chiếm trên 30%thị phần trở lên đồng nghĩa với việc có khả năng bóp méo sự phát triển lànhmạnh của thị trường, do có thể áp đặt các điều kiện thương mại hay gây cảntrở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ cũng như các doanh nghiệp khác và gâythiệt hại cho khách hàng Đây là điều vi phạm pháp luật về cạnh tranh Nhưvậy, chiếu theo Luật cạnh tranh thì hầu hết những tập đoàn kinh tế hiện naynhư là Điện lực Việt Nam EVN, Petrolimex, Than - khoáng sản… đều đangphạm luật, bởi thực tế thị phần mà các tập đoàn này nắm giữ đã bỏ xa giới hạn30% Thậm chí có những tập đoàn gần như “ một mình một chợ” mà EVN làmột ví dụ điển hình Tuy nhiên để xác định các tập đoàn này có phạm luật haykhông còn phụ thuộc vào việc có xác định được “hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường” hay không Ngoài ra, việc xác định cũng chỉ được đặt rakhi có ai đó khiếu kiện các tập đoàn này lên Cục quản lý cạnh tranh Trongkhi đó, nhiều doanh nghiệp thậmc hí còn không biết ai được quyền khiếu kiện,quy trình kiện ra sao… ( Ví dụ: Petrolimex chiếm 60% thị phần xăng dầu cảnước nhưng chế độ hoa hồng hợp lý và không có ai khiếu kiện cả Theo đó,Petrolimex vẫn không thể bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh liên quan đếnviệc xác định thị phần)
(ii) Khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
Theo khoản 1 Điều 11 Luật cạnh tranh năm 2004 , việc xác định mộtdoanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường không chỉ dựa vào mức thị phầncủa doanh nghiệp đó trên thị trường liên quan mà trong trường hợp doanhnghiệp không đạt được mức thị phần nêu trên nhưng “có khả năng gây hạn
Trang 24chế cạnh tranh một cách đáng kể” vẫn được coi là có vị trí thống lĩnh thịtrường.
Theo Điều 11 Luật cạnh tranh năm 2004, khả năng gây hạn chế cạnhtranh một cách đáng kể sẽ được sử dụng để xác định vị trí thống lĩnh khi mộtdoanh nghiệp chưa tích lũy đủ mức thị phần tối thiểu mà Luật quy định đểđược coi là có vị trí thống lĩnh Theo đó, nếu doanh nghiệp có mức thị phầndưới 30% trên thị trường liên quan nhưng nếu có căn cứ cho rằng doanhnghiệp này có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể thì vẫn đượcxem là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Điều 22 Nghị định 116/2005/ NĐ-CP đã đưa ra các căn cứ để xác định khả năng gây hạn chế cạnhtranh một cách đáng kể, bao gồm:
1 Năng lực tài chính của doanh nghiệp
2 Năng lực tài chính của tổ chức cá nhân thành lập doanh nghiệp
3.Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặcchi phối hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặc điều lệcủa doanh nghiệp
4 Năng lực tài chính của công ty mẹ
5 Năng lực công nghệ
6 Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
7 Quy mô của mạng lưới phân phối
Từ những căn cứ trên, cho thấy khả năng tiềm tàng của doanh nghiệptrong việc chi phối thị trường và khả năng đạt tới mức thị phần thống lĩnhtrong tương lai Khả năng đó có thể được minh họa bằng: tiềm năng tài chínhsẵn có của doanh nghiệp; sự hỗ trợ tài chính của những người có liên quan( tổchức, cá nhân đã thành lập nên doanh nghiệp, doanh nghiệp mẹ…), sức mạnhbảo trợ của mạng lưới phân phối, sự thâm nhập thị trường mua và thị trườngtiêu thụ của doanh nghiệp đó, mối liên kết của doanh nghiệp với doanh nghiệpkhác, rào cản về thâm nhập thị trường, lợi thế về cấu trúc thị trường của doanhnghiệp…
Trang 25Luật cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã từng quy định
về vấn đề này Ví dụ khoản 3 Điều 22 Luật chống hạn chế cạnh tranh củaĐức năm 1990 quy định : một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường làdoanh nghiệp chiếm ít nhất 1/3 thị phần về một loại hàng hóa hoặc dịch vụkinh doanh nhất định, song không áp dụng tiêu chí này nếu trong năm tàichính cuối cùng đã khóa sổ, doanh thu của doanh nghiệp dưới 250 triệuDM( Hiện nay, các nước trong cộng đồng chung Châu Âu dùng chung đồngtiền EUR)
Ví dụ điển hình có thể đưa ra là, trong vụ Michenlin, Tòa án cộng đồngChâu Âu phán quyết rằng căn cứ vào Điều 82 Hiệp ước thành lập Cộng đồngkinh tế Châu Âu (EEC), vị trí thống lĩnh thị trường được hiểu là “trường hợpsức mạnh kinh tế cho phép doanh nghiệp hành động độc lập với các đối thủcạnh tranh và người tiêu dùng” Hay trong vụ United Brands, Tòa án cộngđồng Châu Âu đã phán quyết: việc công ty nào có phạm vi liên kết dọc lớn vàchiến lược quảng cáo của chúng chỉ nhằm vào một nhãn hiệu duy nhất là “chiquita”, do đó đã bảo đảm cho công ty một lượng khách hàng ổn định vàkiểm soát được mọi giai đoạn của quá trình phân phối mà khi kết hợp vớinhau đã tạo cho công ty một lợi thế vô cùng lớn so với đối thủ cạnh tranh
Việc sử dụng khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể làm căn cứ
dự phòng khi xác định vị trí thống lĩnh thị trường nếu yếu tố thị phần chưa đủ
để kết luận có ý nghĩa đối với quá trình đấu tranh chống các toan tính lạmdụng sức mạnh tài chính, công nghệ để lũng đoạn thị trường từ phía các doanhnghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước Khả năng xuất hiện những thủđoạn cấu kết ngầm hoặc đầu tư ngầm để chiếm lĩnh, lũng đoạn thị trường từcác thế lực tài chính quốc tế và trong nước không phải là ít Chúng có thểdựng lên các doanh nghiệp dưới hình thức các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài hoặc doanh nghiệp trong nước làm bình phong để thực hiện nhữngtính toán nói trên Nếu phân tích từ thị phần, thì những doanh nghiệp nàykhông đủ tiêu chuẩn để được coi là thống lĩnh hoặc độc quyền , song với sự
Trang 26tài trợ của doanh nghiệp gốc, chúng có thể thực hiện những hành vi hạn chếcạnh tranh và có khả năng gây ra hậu quả không khác gì doanh nghiệp thốnglĩnh thị trường thật sự Từ đó có thể khống chế các quan hệ mà nó tham giahoặc bằng hành vi nhất định gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác và cáckhách hàng.
Bài học từ ngành giải khát của Việt Nam trong vòng gần 10 năm trước
là một ví dụ điển hình: Cocacola Mỹ khi mới vào thị trường Việt Nam, lúcđầu, Cocacola hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp Việt Nam - Mỹ Đểloại bỏ các hãng nước ngọt có ga khác khỏi thị trường Việt Nam cũng nhưloại bỏ chính bên Việt Nam trong kinh doanh, Cocacola đã sử dụng biện phápbán phá giá, tức là bán hàng dưới giá vốn để cạnh tranh, đồng thời sử dụngcác biện pháp quảng cáo, khuyến mại rầm rộ Với giá bán như vậy, các hãngnước ngọt non trẻ của Việt Nam đã không thể trụ vững và phải nhường thịtrường cho Cocacola Đồng thời, bên Việt Nam trong liên doanh cũng không
có khả năng bù lỗ cho liên doanh theo quy định của Luật đầu tư đã phải bánlại thị phần cho Mỹ Khi đã trở thành độc quyền trên thị trường nước ngọtViệt Nam, Cocacola bắt đầu tăng giá và các khách hàng Việt Nam bắt đầuhứng chịu hậu quả cuả việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường củaCocacola
2.1.2 Xác định vị trí độc quyền của doanh nghiệp
Theo quy định tại điều 12 Luật cạnh tranh năm 2004 thì: “Doanhnghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnhtranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trườngliên quan”
Theo quy định của Luật cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có vị tríđộc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ
mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan Dưới góc độ lýthuyết, vị trí độc quyền đã loại bỏ khả năng có sự tồn tại cạnh tranh trên thịtrường liên quan bởi tại đó chỉ có một doanh nghiệp duy nhất là doanh nghiệp