Đối với tình hình thực tế về sự gia tăng tội phạm trên địa bàn huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum trong những năm gần đây tội trộm cắp tài sản, đã không ít gây ảnhhưởng xấu đến trật tự an toàn x
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
NGUYỄN VĂN VŨ
BÁO CÁO THỰC TẬP
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
Kon Tum, tháng 5 năm 2021ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
The University
Trang 2A of Daoangypck
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY,
Trang 3Ban giám hiệu Trường Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum cùng toàn thể quýthầy cô giáo của Trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em trong quá trình học tậpcũng như hoàn thành chuyên đề thực tập, đặc biệt là cô giáo Trương Thị Hồng Nhungngười đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề thực tập của mình.
Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em có cơhội thực tập, học hỏi được những kinh nghiệm thực tế, không chỉ về kiến thức chuyênmôn mà còn về kỹ năng nghề nghiệp để tự trang bị thực tế cho mình và tiếp thu những cáimới làm giàu kiến thức cho mình
Mặc dù đã được trang bị kiến thức tại trường nhưng do trình độ và kinh nghiệmthực tế còn chưa hoàn chỉnh vì vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót trong bài viết
Kính mong quý thầy cô giúp đỡ để hoàn thành bài báo cáo thực tập này
Xin chân thành cảm ơn !
Sa Thầy, ngày 14 tháng 5 năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Văn Vũ
Trang 4MỤC LỤCLỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tổng số vụ án, số bị cáo bị xét xử về tội phạm hình sự nói chung và tội
Trộm cắp tài sản nói riêng phải giải quyết tại TAND huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
từ năm 2016-2020
Bảng 3.2 Tình hình xét xử về tội Trộm cắp tài sản phải giải quyết tại TAND huyện
Sa Thầy, tỉnh Kon Tum từ năm 2016-2020
Bảng 3.3 Hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo bị xét xử về tội trộm cắp tài
sản
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề bài
Trong cuộc sống hiện nay điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là mộttrong những yếu tố hàng đầu cho sự phát triển của quốc gia Phương châm phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần đã làm cho quan hệ pháp luật về nền kinh tế nhiều thành phần đãlàm cho quan hệ pháp luật về kinh tế, dân sự, hình sự ngày càng đa dạng phong phú,kinh tế ngày càng được phát triển, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện hơn, bên sự pháttriển đó, nền kinh tế thị trường đã nảy sinh những mặt trái, đó là sự tha hóa biến chất vềđạo đức và nhân phẩm của một số bộ phận con người làm phát sinh ra tệ nạn xã hội, dẫnđến tình hình chính trị, an ninh, xã hội đi theo khuynh hướng xấu
Tội phạm ngày càng gia tăng, tính chất mức độ ngày càng nguy hiểm và ngày càngtinh vi hơn, trong đó các loại phạm tội như tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản,lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và nó xảy ra càng ngày càng phức tạp với nhiềuhình thức khác nhau Đối với tình hình thực tế về sự gia tăng tội phạm trên địa bàn huyện
Sa Thầy tỉnh Kon Tum trong những năm gần đây tội trộm cắp tài sản, đã không ít gây ảnhhưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, và nhận thấy cần phải tìm hiểu những quy định, hìnhphạt nắm vững các quy định pháp luật nguyên nhân, điều kiện của loại tội phạm này để có
những biện pháp phòng chống hiệu quả Vì vậy, em quyết định chọn đề tài “Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum” làm đề tài nghiên
cứu cho báo cáo thực tập cuối khóa
2 Mục đính nghiên cứu
Nghiên cứu về Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy,tỉnh Kon Tum, kể từ đó tìm ra nguyên nhân và đưa ra các biện pháp để phòng ngừa, ngănchặn tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Sa Thầy nói riêng và tỉnh Kon Tum nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành qua thực tiễn áp dụng trên địa bànhuyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
b Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu quy định Pháp luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản vàthực tiễn trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được kết quả, nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã
sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: so sánh, tổng hợp phân tích,
Trang 8Chương 2: Một số vấn đề cơ bản và quy định của pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản
Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội trộm cắp tài sản trong quá trình xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
8
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY,
TỈNH KON TUM 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
1.1.1 Giới thiệu về huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Sa Thầy là huyện miền núi, biên giới, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Kon Tum, vớitổng diện tích tự nhiên 143.522,3 ha; phía Tây giáp Vương quốc Căm pu chia với đườngbiên giới dài khoảng 34,5 km Dân số của huyện hiện nay khoảng 51.000 người, trong đó,đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 57,6%, gồm 06 dân tộc chủ yếu sinh sống là: Ja Rai,HLăng, Thái, Rơ mâm, Rơ Ngao, Kinh Huyện có 10 xã, 01 thị trấn (trong đó, 07 xã thuộcdiện đặc biệt khó khăn, 02 xã biên giới), với 74 thôn, làng (trong đó, 42 thôn, làng là vùngđồng bào dân tộc thiểu số); trên 80% dân số của huyện sống ở nông thôn làm nông nghiệp,đời sống còn gặp nhiều khó khăn; đến cuối năm 2017, toàn huyện có 3.382 hộ nghèo,chiếm 26,83%
Kinh tế của huyện tiếp tục phát triển khá, sản xuất nông nghiệp đều đạt và vượt chỉtiêu kế hoạch đề ra; một số cây trồng chủ lực của huyện tiếp tục phát triển; kết cấu hạ tầng,nhất là hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn ngày càng khang trang, đồng bộ Văn hóa, xã hộitiếp tục phát triển Đến cuối năm 2020, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 115,151 tỷđồng, đạt 178% dự toán tỉnh giao; thu nhập bình quân đầu người 35,67 triệu đồng, tỷ lệ hộnghèo 20,58% Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp tiếp tục đượcnâng lên; nội bộ cấp uỷ đoàn kết, thống nhất, uy tín của Đảng bộ đối với Nhân dân ngàycàng được củng cố Hệ thống chính trị được kiện toàn, đội ngũ cán bộ trưởng thành nhiềumặt; quan hệ giữa Đảng với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân gắn
bó chặt chẽ; chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữvững
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum được thành lập theo Quyết định số112/QĐ-UB ngày 11 tháng 10 năm 1979 của UBND Tỉnh Kon Tum, có trụ sở nằm tại sốnhà 194, đường Trần Hưng Đạo, thôn 2, Thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.Ngay sau ngày thành lập TAND huyện Sa Thầy đã có nhiều nỗ lực, vừa khắc phục mọi khókhăn, tiến hành xây dựng cơ sở vật chất vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, với chứcnăng xét xử TAND huyện Sa Thầy đã không ngừng phát huy vai trò, chức năng của mình,kịp thời xét xử nghiêm minh các vụ việc, phục vụ cho nhiệm vụ đảm bảo công bằng xã hội,
ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện, tích cực tuyên truyền các chủ trươngchính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Hiện nay, Tòa án nhân dân huyện
có 07 biên chế và 02 hợp đồng dài hạn Trong đó, 03 Thẩm phán và 03 Thư ký; 01 thạc sỹluật, 06 đại học luật, 01 đại học kế toán; 08 đảng viên; 01 trung cấp lý luận chính trị, 01 cao
Trang 10cấp lý luận chính trị.
NHÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của tòa án Nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Theo Điều 2 luật tổ chức tòa án nhân dân 2014, tòa án Nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnhKon Tum có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn sau:
Một là, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyềncon người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phầngiáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọngnhững quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạmpháp luật khác
Hai là, Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án
hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giảiquyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện cáctài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng rabản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt,biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân Bản án,quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhântôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành
Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum thực hiện đúng với chứng năng,nhiệm vụ được quy định trên và thực hiện giải quyết xét xử sơ thẩm các loại án: Hình sự,dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính theo thẩm quyềnquyền và thực hiện công tác thi hành án phạt tù đối với các bản án thuộc thẩm quyền củamình
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy được tổ chức theo Điều 45 Luật tổ chức Tòa án nhândân 2014 về cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
và tương đương được quy định như sau:
Một là, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có
thể có Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa xử lý hànhchính Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyêntrách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Căn cứ quy định tại khoản này và yêu cầu, thực tế xét xử ở mỗi Tòa án nhân dânhuyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương, Chánh án Tòa án nhân dântối cao quyết định việc tổ chức Tòa chuyên trách Hiện nay, căn cứ vào thực tế xét xử cácloại án thì Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy chưa đủ điều kiện thành lập Tòa hình sự, Tòadân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính chuyên trách
Trang 11Hai là, Bộ máy giúp việc.
Bà là, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương cóChánh án, Phó Chánh án, Chánh tòa, Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm traviên về thi hành án, công chức khác và người lao động Tuy nhiên, do Tòa án nhân dânhuyện Sa Thầy chưa đủ điều thành lập Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưathành niên, Tòa xử lý hành chính chuyên trách nên không có chức danh Chánh tòa, PhóChánh tòa, Thẩm tra viên về thi hành án
Cơ cấu tổ chức tòa án nhân dân huyện Sa Thầy
06 Lương Công Anh Thứ ký
07 Nguyễn Thị Kiều Kế toán
08 Nguyễn Thị Thơm Văn phòng
09 Nguyễn Văn Đăng Văn phòng
Trong đó:
- Chánh án là một chức danh tố tụng Chánh án Toà án có hai nhóm nhiệm vụ: nhómnhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng hình sự;
và nhóm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người khi trực tiếp tiến hành giải quyết
vụ án hình sự Bộ luật tố tụng hình sự đã phân định rất rõ ràng, cụ thể hai nhóm nhiệm vụ,quyền hạn và trách nhiệm đó
Với tư cách người đứng đầu Toà án trong tố tụng hình sự, Chánh án Toà án có nhữngnhiệm vụ và quyền hạn sau: tổ chức công tác xét xử của Toà án; quyết định phân công PhóChánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự; quyết định phâncông thư ký Toà án tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự; quyết định thay đổi Thẩm phán,Hội thẩm, Thư ký Toà án trước khi mở phiên toà; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩmcác bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án theo quyết định của Bộ luật này;
Ra quyết định thi hành án hình sự; quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù; quyết định tạmđình chỉ chấp hành hình phạt tù; quyết định xóa án tích; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộcthẩm quyền của Toà án Khi trực tiếp tiến hành giải quyết vụ án hình sự, Chánh án Toà án
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháptạm giam; quyết định xử lý vật chứng; quyết định chuyển vụ án; cấp, thu hổi giấy chứngnhận cho người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộcthẩm quyền của Toà án
- Phó Chánh án Toà án là một trong những chức danh tố tụng Mối quan hệ giữa
Trang 12Chánh án và Phó Chánh án Toà án trong tố tụng hình sự là mối quan hệ tố tụng Mốiquan hệ đó do Bộ luật tố tụng hình sự điều chỉnh Khi Chánh án Toà án vắng mặt,một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn củaChánh án Việc ủy nhiệm đó phải được thực hiện bằng văn bản và phải thông báocho các ngành hữu quan biết việc ủy nhiệm đó Khi đã được ủy nhiệm thì Phó Chánh
án được thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn của Chánh án Toà án Phó Chánh
án phải chịu trách nhiệm trước Chánh án về nhiệm vụ được giao
Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự, Phó Chánh án Toà án có nhữngnhiệm vụ và quyền hạn được quy định đối với Chánh án khi tiến hành giải quyết vụ án hìnhsự
- Chánh văn phòng: là người đứng đầu, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Văn phòng Tòa án.
- Thư ký: Là cán bộ giúp việc cho Thẩm phán và thực nhiện các nhiệm vụ tố tụng theoquy định của pháp luât
KON TUM
1.3.1 Nội quy đối với cán bộ tòa án khi tiếp dân
Trong quá trình tiếp dân cán bộ tòa án phải tuên thủ các quy định sau:
1 Khi tiếp dân phải ăn mặc gọn gàng, tự giới thiệu tên chức vụ của mình để đượcngười tiếp biết
2 Người được giao trách nhiệm tiếp dân phải có thái độ lịch thiệp, hướng dẫn cho họvào phòng tiếp dân
3 Phải lắng nghe, ghi chép vào sổ theo dõi tiếp dân đầy đủ nội dung mà công dân trìnhbày Nếu là đơn thư kiếu nại tố cáo gửi qua đường bưu điện thì phải ghi rõ ngày màTòa án nhận được Không gây phiền hà, sách nhiễu đối với công dân đến khiếu nại,
+ Nếu thấy việc khiếu nại không thuộc thẩm quyền của Tòa án thì hướng dẫn côngdân đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết
+ Việc khiếu nại đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét có văn bản quyết định giảiquyết đúng chính sách pháp luật thì trả lời rõ và yêu cầu công dân chấp hành
Trang 13+ Đối với công dân đến tố cáo, cần phải đảm bảo bí mật cho người tố cáo, không tiết
lộ nội dung tố cáo hoặc chuyển đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo cho cơ quan, tổ chức, cánhân người bị tố cáo
+ Nếu công dân tố cáo trình bày trực tiếp thì phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ tên, địachỉ của công dân và người bị tố cáo Nếu công dân cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quanđến nội dung tố cáo thì phải biên nhận và bảo quản chu đáo
+ Phải ghi đầy đủ nội dung tố cáo, ghi lời tố cáo phải cho công dân đọc lại, nghe lại,yêu cầu cùng ký xác nhận
1.3.2 Nội quy đối với công dân đến khiếu nại, tố cáo
Khi đến tòa án khiếu nại, tố cáo, công dân cần tuân thủ các quy định sau:
1 Phải xuất trình giấy tờ tùy thân Tuân thủ nội quy tiếp công dân và thực hiện theo
sự hướng dẫn của cán bộ tiếp dân
2 Trình bày trung thực sự việc, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, tốcáo của mình và ký xác nhận vào nội dung đã trình bày Được nghe hướng dẫn, giảithích về thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo (Theo luật kiếu nại tố cáo)
3 Trường hợp nhiều công dân đến khiếu nại, tố cáo cùng một nội dung thì phải cử đạidiện để trình bày với cán bộ tiếp dân
4 Được kiếu nại tố cáo về những hành vi sai trái cản trở, gây phiền hà, sách nhiễu củangười tiếp dân
1.4. CÔNG VIỆC THỰC TẬP TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
Được sự phân công của Chánh án tòa án nhân dân huyện Sa Thầy thì công việc của
em tại đơn vị thực tập là phụ giúp các anh chị trong tòa án như là (giao công văn đến choCông An, Viện kiểm sát, Thi hành án; ghi sổ thụ lý và kết quả giải quyết các vụ việc hônnhân và gia đình, dân sự, hình sự; cùng đi xem xét tại chỗ và thẩm định giá ) và nghiêncứu hồ sơ, tài liệu ở trong tòa án đối với các vụ án, vụ việc; đặc biệt là đối với các vụ án
về tội danh “trộm cắp tài sản” mà bản thân em chọn làm đề thực tập của mình.
Trong thời gian thực tập, với sự cố gắng của bản thân cũng như sự giúp đỡ của anhchị cùng với những gì từ trải nghiệm thực tế, thì đây là cơ hội để em được tiếp xúc thực tế,học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng kiến thức đã học vào công việc thực tế, là trải nghiệm làhành trang quí báu để em mang theo với chặng đường sau này Với những gì học hỏi vàtiếp thu từ anh chị em đã học hỏi và trao dồi thêm cho mình kiến thức, kỹ năng phươngpháp, cách thức, tác phong làm việc của ngành tòa án:
Một là, cùng với những kiến thức đã học tập được nhà trường, những kiến thức về
thực tiễn đã giúp em hoàn thiện hơn về pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản ở các khíacạnh như bản chất pháp lý, đặc trưng của tội phạm hay nhận biết và so sánh với các tộiphạm khác trong cùng trương các tội phạm sở hữu
Hai là, qua nghiên cứu hồ sơ trong đơn vị, em đã biết cách tìm
hiểu một hồ sơ cụ thể, qua đó học được các phương pháp như phân tích, thống kê, nghe nhìn, quan sát Lý luận đi cùng với thực tiễn giúp em biết cách vận dụng các kiến thức về mặt lý thuyết một 7
Trang 14cách nhanh chóng, dễ hiểu, và quan trọng nhất là một “thử nghiệm đáng gia’” cho công
việc sau này của bản thân khi rời ghế nhà trường Các kỹ năng về đặt vấn đề, đưa ra cácgiả thiết xung quanh giải quyết xét xử loại tội phạm này cũng giúp em phần nào nắm đượccách làm rõ vấn đề bằng cách tự mình quan sát, đưa ra câu hỏi rồi tự mình đưa ra lập luận
Ba là, Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự, làm bút lục, trích lục hồ sơ vụ
án đã giúp bản thân em hiểu rõ hơn về quá trình thụ lý, giải quyết một vụ án hình sự lànhư thế nào và để đưa một vụ án hình sự ra truy tố và xét xử trước pháp luật thì hồ sơ baogồm đầy đủ những gì?
Bốn là, Tham gia những phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng như những phiên tòa hình
sự sơ thẩm lưu động đã giúp em được tiếp cận thực tế, hiểu rỏ hơn về trình tự thủ tục tiếnhành một phiên tòa hình sự
Như vậy, với những kiến thức thực tế ở trên đã giúp em có một cái nhìn thực tế tổngquát và hoàn thiện hơn về chuyên ngành Luật mà em đang theo học
án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum được thành lập nên như thế nào để có được Tòa án nhân dân được như bây giờ
1 4
Trang 15CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN2.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI CẮP TÀI SẢN
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm về tội trộm cắp tài sản
Theo pháp luật hình sự thì khái niệm tội phạm được các nhà nghiên cứu đưa ra một
số ý kiến cũng như các định nghĩa và quan điểm khác nhau Theo quan điểm mà em hiểu
thì: “Tội phạm là những hành vi gây ra nguy hiểm cho xã hội, và nó cố lỗi, trái pháp luật.”
Theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, thì khái niệm tội phạm được luật ghi
rõ trong tại Điều 8 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Tội phạm là những hành vinguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ Luật hình sự, do người có năng lực phápnhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thóngnhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa,quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâmphạm nhưng lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộluật này phải bị xử lý hình sự
Theo tại điều luật, CTTP của tội trộm cắp tài sản nó không mô tả rõ thế nào là hành
vi trộm cắp tài sản Tuy nhiên trên khái niệm và các dấu hiệu của tội phạm mỗi người đưa
ra mỗi quan điểm khác nhau, thì theo quan điểm mà em hiểu được căn cứ theo Điều 173
Bộ luật hình sự 2015 thì: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi mang tính lén lút để chiếm đoạt tài sản của người sở hữu tài sản và nó được thực hiện bởi người có năng lực hành vi TNHS mang tính cố ý, xâm phạm đến người sở hữu tài sản, cá nhân hoặc tổ chức và cơ quan.”
Về đặc điểm của nó thì tội trộm cắp tài sản là một tội phạm mang tính chất cụ thể, nó
có đủ các dấu hiệu của một tội phạm, đó là:
Tính nguy hiểm cho xã hội: Được biểu hiện ở chỗ người phạm tội có hành vi tác
động trái pháp luật tài sản của chủ sở hữu làm cho việc chủ sở hữu mất quyền chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản với giá trị nhất định
Tính có lỗi: Lỗi là trạng thái tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi
phạm tội do mình gây ra Theo quy định của BLHS, lỗi của người có hành vi trộm cắp tàisản là lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức rõ hành vi tác động trái pháp luật lên tài sản củangười khác, gây thiệt hại về tài sản, cụ thể là giá trị tài sản của chủ sở hữu hoặc ngườiquản lý tài sản Người phạm tội trộm cắp tài sản được thực hiện hành vi mang tính lén lút
để nhằm chiếm đoạt tài sản
Tính trái pháp luật hình sự: Tội trộm cắp tài sản nó được thể hiện ở việc người phạm
tội thực hiện những hành bị luật hình sự nghiêm cấm và bảo vệ tại Điều 173 của BLHS2015
Trang 16Tính hình phạt: Theo quy định của BLHS, chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu
hành phạt được quy định tại BLHS Đối với tội trộm cắp tài sản, các hình phạt được quyđịnh trong BLHS để áp dụng đối với người thực hiện tội phạm này là: cải tạo không giamgiữ, tù có thời hạn.1
Mặc dù tính chất lén lút là đặc trưng cơ bản nhất và nổi bật của tội trộm cắp tài sảnnhưng không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài san mà đi kèm với nó là hành
vi chiếm đoạt tài sản
Đối chiếu với đặc trưng nổi bật như vậy, thì quy định của Bộ luật hình sự một sốnước trên thế cũng tương tự, ví dụ:
Quy định của Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân trung hoa về tội trộm cắp tài sản.
BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ
2 ngày 01/7/1979, có hiệu lực từ ngày 01/01/1980 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm
1997, 1999, 2001, 2002 và 2005
Theo đó, tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 264 trong chương “Tội xâm
phạm tài sản” BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như sau: “Người nào có hành vi trộm cắp tài sản của công hoặc tư với số lượng tương đối lớn hoặc trộm cắp nhiều lần thì bị phạt tù đến dưới ba năm, cải tạo lao động hoặc quản chế, kèm theo phạt tiền hoặc chỉ bị phạt tiền; nếu trộm cắp với số lượng lớn hoặc có những tình tiết nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm và bị phạt tiền; nếu trộm cắp với số lượng đặc biệt lớn hoặc có những tình tiết đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ mười năm trở lên hoặc tù chung thân và bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản; nếu có một trong những hành vi dưới đây thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình và bị tịch thu tài sản: 1 Trộm cắp tiền, tài sản với số lượng đặc biệt lớn từ ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác; 2 Trộm cắp
di sản quý hiếm, có tình tiết nghiêm trọng”.
Thông qua quy định trên cho thấy điều luật cũng chỉ nêu được tên của hành vi trộmcắp tài sản mà không đưa ra được khái niệm mô tả hành vi thế nào là trộm cắp tài sản.Dấu hiệu bắt buộc được phản ánh trong cấu thành tội phạm của điều luật này là hậuquả thiệt hại về tài sản, đồng thời điều luật cũng không quy định rõ giá trị tài sản bị chiếm
đoạt tối thiểu là bao nhiêu mà chỉ sử dụng các thuật ngữ chung chung như “số lượng lớn”,
“số lượng đặc biệt lớn”, điều này sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, và
quy định như vậy 10 cũng rất khó để xác định được đâu là vi phạm hành chính và đâu là viphạm hình sự
Về hình phạt bao gồm hình phạt tiền, cải tạo lao động hoặc quản chế, tù có thời hạn,
tù chung thân, tử hình So với Bộ luật hình sự Việt Nam, hình phạt cao nhất đối với tộitrộm cắp tài sảm là đến 20 năm, còn đối với Luật hình sự Trung Hoa là tử hình
Quy định của BLHS Liên bang Nga đối với tội trộm cắp tài sản
Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 158 chương “Các tội xâm phạm quyền
sở hữu” của BLHS Liên bang Nga hiện hành, được ban hành năm 1996, sửa đổi, bổ sung
năm 2010, như sau:
1 https://www.slideshare.net/trongthuy2/luan-van-tinh-hinh-toi-trom-cap-tai-san-tai-tp-ha-noi-hay-9d
10
Trang 17“1 Trộm cắp tài sản nghĩa là bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tiền đến tám mươi nghìn rúp hoặc bừng lương hoặc bằng thu nhập khác của người bị kết
án đến sáu tháng, hoặc bị phạt lao động đến một trăm tám mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ sáu tháng đến một năm, hoặc bị hạn chế tự do đến hai năm, hoặc bị phạt giam đến bốn tháng, hoặc bị phạt tù đến hai năm.
2 Hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện:
a) Bởi nhóm người có bàn bạc từ trước;
b) Kèm theo hành vi đột nhập trái pháp luật vào nhà hoặc nhà kho khác;
c) Kèm theo việc gây ra thiệt hại đáng kể cho công dân;
d) Từ quần áo, túi xách hoặc đồ xách tay khác trên người bị hại thì bị
phạt tiền đến hai trăm nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến một năm.
3 Hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện:
a) Kèm theo hành vi đột nhập trái pháp luật vào nhà ở;
b) Từ ống dầu mỏ, ống dẫn các sản phẩm dầu mỏ, ống dẫn ga;
c) Ở mức độ nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ một trăm nghìn đến năm trăm nghìn rúp hoặc bằng lương hoặc bằng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến một năm;
4 Hành vi trộm cắp được thực hiện:
a) Bởi nhóm có tổ chức;
b) Ở mức độ đặc biệt lớn thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm hoặc không kèm theo bị phạt tiền đến một triệu rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến hai năm”.
Theo quy định của Bộ luật hình sự Liên bang Nga cho thấy tại điều luật đã đưa rađược định nghĩa của tội trộm cắp tài sản Theo đó, hành vi phạm tội trộm cắp tài sản làhành vi chiếm đoạt tài sản một cách bí mật tài sản của người khác Điều luật đã mô tảđược thế nào là hành vi trộm cắp, đó là hành vi bí mật chiếm đoạt tài sản của người khácnhưng lại không quy định trị giá tài sản cụ thể là bao nhiêu mà chỉ cần người phạm tộithực hiện hành vi bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị coi là phạm tội trộm cắp
và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự Do vậy, quy định này không phân biệt được ranhgiới giữa vi phạm hành chính và hình sự về hành vi trộm cắp
2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản
11
a Khách thể của tội trộm cắp tài sản
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tộiphạm xâm hại
Cũng như các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong phần 12 các tội
Trang 18xâm phạm sở hữu, tội trộm cắp tài sản đặc trưng bởi hành vi chiếm đoạt tài sản, tuy nhiênhành vi chiếm đoạt tài sản của tội trộm cắp tài sản được thực hiện một cách lén lút, khôngxâm phạm đến quan hệ nhân thân mà trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu, đây cũng làmột điểm khác với các tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội bắt cóc nhằm CĐTS, đặcđiểm này được thể hiện trong cấu thành tội trộm cắp tài sản mà nhà làm luật không quyđịnh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt Sau khi ngườiphạm tội đã chiếm đoạt được tài sản nhưng bị đuổi bắt mà có hành vi chống lại người đuổibắt để tẩu thoát mà gây chết người, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu tráchnhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác theo hành vi tương ứng 2.
b Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồmhành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và mối quan hệ nhân quảgiữa hành vi và hậu quả
Về hành vi khách quan: Trong tội trộm cắp tài sản, người phạm tội chỉ có một hành
vi khách quan duy nhất đó là CĐTS nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, bí mật Đặctrưng lén lút của hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản cũng chỉ đòi hỏi phải cótrong ý thức của người phạm tội, nó thể hiện ở việc người phạm tội che giấu hành vi đangphạm tội của mình, không cho phép chủ tài sản biết có hành vi CĐTS khi hành vi nàyđang xảy ra Thực tế cho thấy, khi người phạm tội thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tàisản với chủ sở hữu nhưng lại công khai CĐTS với những người có mặt ở đó nhưng nhữngngười có mặt lúc tài sản bị chiếm đoạt vì lý do nào đó mà không biết chủ tài sản là 13 ai,không có trách nhiệm quản lý tài sản đó thì hành vi của người CĐTS trong trường hợp nàyvẫn bị coi là hành vi trộm cắp tài sản; trong trường hợp này, người CĐTS chỉ có hành viche giấu hành vi trộm cắp của mình đối với chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lýtài sản mà không cần che dấu với những người khác
Về đối tượng tác động Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, người phạm
tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháptài sản Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam, tài sản có nhiều hình thức khác nhau.Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyềntài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản”
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, nó tồn tại khách quan bên ngoài ý thức màcon người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình Với ý nghĩa phạm trù pháp lý, vậtchỉ có ý nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểmsoát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người Không phải bất cứ một bộ phậnnào của thế giới vật chất đều được coi là vật Vì vậy, có trong thế giới vật chất, có những
bộ phận ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật Nhưvậy, trong giao lưu dân sự muốn trở thành vật thì phải thỏa mãn được những điều kiện, đólà: là bộ phận của thế giới vật chất; mang lại lợi ích cho chủ thể; con người chiếm hữu
2 Mục 6 Phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BCA-BTP
12
Trang 19được; có thể đang tồn tại hoặc có thể sẽ hình thành trong tương lai Vật là một hình thứctài sản và có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Vật phải nằm trong
sự chiếm hữu của con người thì khi đó vật mới là đối tượng tác động của tội trộm cắp tàisản Đối với trường hợp vật vô chủ (có thể là trường hợp chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữucủa mình và tài sản không nằm trong phạm vi quản lý) thì hành vi lấy đi loại tài sản nàykhông bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản
Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc vềcông dụng của vật với nhau mà vật được phân thành: Vật chính là vật độc lập có thể khaithác theo tính năng (ti vi, điều hòa, máy ảnh ); vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việckhai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vậtchính điều (khiển ti vi, điều hòa, vỏ máy ảnh,.) Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng củavật khi được chia ra thành nhiều phần nhỏ mà Bộ luật dân sự phân chia vật thành vật chiađược và vật không chia được Dựa vào đặc tính, giá trị của tài sản sau khi sử dụng thì chiathành vật tiêu hao và vật không tiêu hao Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật mà người
ta phân loại vật thành vật thành vật cùng loại và vật đặc định Ngoài ra, người ta còn chia
ra làm vật đồng bộ và vật không đông bộ
Tiền: Theo Mác thì tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giớihàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác Nó trựctiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuấthàng hóa Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không cóquy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền Chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưuhành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận mới được coi là tài sản Tiền là công cụthanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản và là thước đo giá trị
Giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhậnquyền tài sản của một chủ thể khác3 Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khácnhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái Xét về mặt hình thức giấy
tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định Nội dung thể hiệntrên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản
và quyền này được pháp luật bảo vệ Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ cóthể chuyển nhượng với điều kiện chuyển 15 nhượng tòan bộ một lần, việc chuyển nhượngmột phần giấy tờ có giá là vô hiệu Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thểđưa ra yêu cầu, tính rủi ro
Quyền tài sản: Theo Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền tài sản làquyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trítuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Quyền là một quyền năng dân sự chủquan của chủ thể và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền tài sản là quyền trị giáđược bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sửdụng đất và các quyền tài sản khác
Về hậu quả: Hậu quả của tội trộm cắp tài sản do người phạm tội gây ra là thiệt hại về
giá trị tài sản bị chiếm đoạt bất hợp pháp Tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt bao gồm
3 https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A5y_t%E1%BB%9D_c%C3%B3_gi%C3%A1
13
Trang 20các loại tiền, hàng hóa và các giấy tờ có giá trị thanh toán như ngân phiếu, công trái, tráiphiếu Căn cứ quy định của BLHS hiện hành, giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000đồng trở lên mới cấu thành tội phạm; còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồngthì phải kèm theo điều kiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tàisản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều
168 (tội cướp tài sản), 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), 170 (tội cưỡng đoạt tàisản), 171 (tội cướp giật tài sản), 172 (tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), 174 (tội lừa đảochiếm đoạt tài sản), 175 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản) và điều 290 (tội sửdụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạttài sản) của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại vàgia đình họ; tài sản là di vật, cổ vật Có thể khẳng định tội trộm cắp tài sản có cấu thànhvật chất bởi dấu hiệu cấu thành hậu quả được phản ánh trong cấu 16 thành tội phạm củatội trộm cắp tài sản Tuy nhiên, mặc dù người có hành vi trộm cắp chưa chiếm đoạt đượctài sản mà nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ thì vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản nhưng
là phạm tội chưa đạt chứ không nhất thiết phải có thiệt hại về tài sản mới cấu thành tộiphạm
Về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Mối quan hệ nhân quả phản ánh
hành vi và hậu quả trong mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Theo đó, hành vi tráipháp luật phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; trong hành vi trái pháp luật phảichứa đựng khả năng thực tế, mầm mống nội tại, nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậuquả; hậu quả xảy ra phải là hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành
vi trái pháp luật
c Chủ thể của tội trộm cắp tài sản
“Chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại tất cả các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 173 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại các khoản 3 và 4 Điều 173 BLHS”.
Điều 12 BLHS năm 2015 quy định: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà
Bộ luật này có quy định khác Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134,
141, 142, 143, 14
Trang 21144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287,
289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này [12, tr14] Như vậy, căn cứ theo Điều 8 và điều
173 BLHS hiện hành ta có thể xác định được rằng: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịutrách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản Còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi màthực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chỉ phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo 17khoản 3 và khoản 4 Điều 173 BLHS
d Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm đó là những diễn biến tâm lý bên trong của người phạmtội bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội Giống như các tội có tính chất chiếm đoạtkhác, tội trộm cắp tài sản cũng được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội trộmcắp tài sản nhận thức được rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội vàthấy trước hậu quả của hành vi đó khi tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái phép vàmong muốn hậu quả xảy ra Mục đích của tội phạm là chiếm tài sản của người khác
Trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã xuất hiện mụcđích chiếm đoạt Do vậy, có thể khẳng định dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội trộmcắp tài sản là mục đích CĐTS Tuy nhiên, cùng với mục đích chiếm đoạt thì người phạm tộicòn có thể có những mục đích khác nếu mục đích đó không cấu thành một tội phạm độc lậpkhác thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản
2.2 PHÂN BIỆT TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
2.2.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản
Xuất phát từ các dâu hiệu đặc trung tội TCTS và tội cướp tài sản, xét trên cả haiphương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật, có thể rút ra sự giống nhau và khácnhau giữa hai tội này như sau:
Khác nhau:
Sự khác nhau cơ bản giữa tội trộm cắp tài sản và tội cướp tài sản là ành vi phạm tộicủa người phạm tội: đối với tội TCTS, hành vi của người phạm tội là lén lút lấy tài sản đangtrong sự quản lý cảu người khác một cách trái pháp luật mà không dùng bất kỳ vũ lực nàotác động đến chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản Đối tội cướp tài sản, hành vicủa người phạm tội là dùng vũ lực, đê dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi kháclàm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự Như vậy, để phân biết sựgiống nhau và khác nhau giữa hai tội này, cần phải xem xét hành vi của người phạm tội dựatrên các yếu tố cơ bản sau đây: Động cơ, mục đích của người phạm tội, hành vi khách quan,khách thể, hậu quả
21
Trang 22Bảng 1.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản
Khách thể bị xâm phạm
Luôn có xâm phạm tới quyền sở hữu
nhưng không xâm phạm tới sức khỏe,
tính mạng của nạn nhân
Luôn có xâm phạm tới quyền sở hữu, sức khỏe và tính mạng của nạn nhân
Hậu quả
Thiệt hại về tài sản là dấu hiệu định tội
của tội trộm cắp tài sản
Không phải là dấu hiệu định tội của tội cướp tài sản, người phạm tội chỉ cần có hành vi được mô tả trong CTTP của tội cướp tài sản là đã cấu thành tội cướp tài sản
2.2.2 Phân biệt tội trộm cắp tài sản và tội cướp giật tài sản
Tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản đều là các tội nhằm trong nhóm các tội phạm quyền sở hữu Hai tội nầy đều có điểm chung là lỗi cố ý trực tiếp và mục đíc là chiếm đoạt tài sản của người khác Tuy nhiên, chúng vẫn có sự khác biệt cơ bản
Để phân biệt tội TCTS với tội cướp giật tài sản, chúng ta cũng chủ yếu tập chung phân tíchyếu tố hành vi khách quan của người phạm tội
r
rri J A • *7
Tội trộm căp tài sản
Tội cướp giật tài sản Hành vi khách quan
Chiếm đoạt tài sản của người khác một
cách lén lút
Tội phạm lợi dụng sơ hở, với thủ đoạn nhanh chóng, ngay tức khắc để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản
Khách thể bị xâm phạm
Luôn có xâm phạm tới quyền sở hữu
nhưng không xâm phạm tới sức khỏe,
Trang 23Tính chất công khai
Người phạn tội che giấu hành vi của mình,
chiếm đoạt tài sản một cách lén, lút mà
người quản lý tài sản không biết là hành vi
trộm cắp
Người phạm tội không cần che giấu hành vi
và thực hiện công khai hành vi chiếm đoạt Công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sả, sau đó là công nhiên đối với mọi người xung quanh Chủ sở hữu biết rõ mình bị mất tài sản nhưng không có điều kiện để cản trở hành vi chiếm đoạt
2.3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
2.3.1 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015
a Từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời sau thành công của Cách mạng tháng 8
đã phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách, đó là vừa phải đối phó với thù trong giặc ngoài,vừa phải từng bước quản lý, phát triển và xây dựng đất nước Để bảo vệ thành quả của cáchmạng và duy trì sự ổn định xã hội, Nhà nước ta đã ban hành nhiều Sắc lệnh, Nghị định,Thông tư để xử lý tội phạm nói chung, tập trung vào các tội phản cách mạng Có nhiều vănbản pháp luật quy định xử lý tội phạm trong đó có các quy định về tội xâm phạm sở hữu nóichung và tội trộm cắp tài sản nói riêng như: Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 do Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký cho phép tạm thời giữ lại các luật, lệ tại miền Bắc, Trung, Nam Bộ cho đếnkhi ban hành các VBPL thống nhất trong toàn quốc; Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1948 quyđịnh trừng trị các hành vi trộm cắp vật dụng nhà binh trong thời bình và thời kỳ chiến tranh.Nghị định số 32 - NĐ ngày 06/4/1952 của Bộ tư pháp quy định đường lối xét xử các tộitrộm cắp, lừa đảo, biển thủ tài sản; Thông tư số 11 - BK ngày 14/12/1949 của liên Bộ nội
vụ, Quốc phòng, Tư pháp ấn định phương pháp đối phó với các vụ trộm cắp tại nơi có chiếnsự
Ngoài các văn bản pháp luật trên thì phải kể đến hai văn bản pháp luật được Ủy banthường vụ Quốc hội thông qua ngày 21/10/1970 đó là Pháp lệnh số 149-LCT về trừng trịcác tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh số 150-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tàisản riêng của công dân Tội trộm cắp tài sản được quy định thành hai loại, cụ thể là quyđịnh tại Điều 7 Pháp lệnh về trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Điều 6 Pháp lệnhtrừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân
Trong Pháp lệnh số 149-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp
23
Trang 24lệnh số 150-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân đã xây dựng haiCTTP hoàn chỉnh về tội trộm cắp tài sản trong đó quy định riêng biệt về trộm cắp tài sản xãhội chủ nghĩa và trộm cắp tài sản riêng của công dân Nội dung Pháp lệnh quy định cụ thểcác tình tiết định khung trong điều luật, có các khung hình phạt tương ứng với tính chất,mức độ nguy hiểm của tội phạm, góp phần phân hóa TNHS đối với người phạm tội Việcban hành đồng thời hai Pháp lệnh này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước takhông những đối với tài sản của Nhà nước mà còn đối với cả tài sản riêng của công dân,làm cho người dân nâng cao niềm tin vào chính quyền Dân chủ cộng hòa, tích cực tham giasản xuất và chiến đấu.
b Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về tội trộm cắp tài sản
BLHS năm 1985 được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 27/6/1985, cóhiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986 đã đánh dấu một bước phát triển mới đối với kỹthuật lập pháp của khoa học pháp lý nước ta nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Điềunày đã khắc phục được tình trạng các văn bản pháp luật chồng chéo, không thống nhấttrước đó; nó được thể hiện dưới hình thức Bộ luật, có tính bao quát tất cả các hành vi nguyhiểm cho xã hội, có tác dụng bảo vệ thành quả của cách mạng, an ninh quốc gia, trật tự antoàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tội trộm cắp tài sản được quy địnhtrong Bộ luật hình sự năm 1985 bao gồm hai Điều luật độc lập, trong đó Điều 132 BLHSquy định về tội trộm cắp tài sản XHCN và Điều 155 BLHS quy định về tội trộm cắp tài sảncủa công dân
Tại Điều 132 BLHS năm 1985 về tội trộm cắp tài sản XHCN được quy định thành bakhoản với mức hình phạt thấp nhất của khoản 1 là “phạt cải tạo không giam giữ đến hainăm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm” và hình phạt cao nhất quy định tại khoản 3
là “tù chung thân hoặc tử hình” Tại Điều 155 BLHS năm 1985 về tội trộm cắp tài sản củacông dân quy định thành ba khoản với mức hình phạt ở khoản 1 là “phạt cải tạo không giamgiữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm” và khung hình phạt cao nhất ởkhoản 3 là “phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm”
Như vậy, so với các quy định tương ứng của các văn bản pháp luật đã được ban hànhtrước năm 1985 thì tại Điều 132 và Điều 155 BLHS năm 1985 đã quy định rõ ràng và cụthể hơn hành vi phạm tội trộm cắp tài sản XHCN và hành vi phạm tội trộm cắp tài sản củacông dân
Về hình phạt: Trong giai đoạn này, tư tưởng chỉ đạo là chú trọng bảo vệ tài sản xã hộichủ nghĩa và tài sản riêng của công dân BLHS năm 1985 đã quy định tương đối đầy đủ vàtập trung hệ thống hình phạt và tiêu chí áp dụng Việc quy định như vậy đã thể hiện quanđiểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc áp dụng hình phạt đó là không phải chỉ nhằmmục đích trừng trị mà còn nhằm mục đích giáo dục, cải tạo và răn đe đối với những ngườikhác
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: BLHS năm 1985 ra đời thì lần đầu tiên các quy định
về tình tiết giảm nhẹ (Điều 38) và tình tiết tăng nặng (Điều 39) được quy định khá đầy đủ,làm tiêu chí để quyết định hình phạt Ngoài ra, còn có một số hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa
24
Trang 25án nhân dân Tối cao về một số tình tiết khác như người phạm tội đầu thú, gia đình bị cáo tựnguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thay cho bị cáo cũng được coi là tình tiếtgiảm nhẹ.
Với tính chất của tội phạm ngày càng gia tăng và thủ đoạn ngày càng tinh vi, BLHSnăm 1985 chưa phản ánh được đầy đủ Do đ 21 lập pháp, tuy nhiên nó được ban hành trongthời kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp, có sự phân biệt rõ ràng trong việc bảo vệ tài sảnXHCN và tài sản của công dân Mặc dù đã trải qua bốn lần sửa đổi, bổ sung (vào các năm28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992, 10/5/1997) nhưng những lần sửa đổi, bổ sung này chủyếu nhằm phục vụ cho cuộc đấu tranh đối với một số loại tội phạm nhất định, và sau các lầnsửa đổi, bổ sung đó thì BLHS đã không còn là một chỉnh thể thống nhất, do đó cần có mộtBLHS mới thay thế để phù hợp với điều kiện xã hội hơn Chính vì lẽ đó, BLHS năm 1999
ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển cho phù hợp với điều kiện và tình hình xã hội lúc bấygiờ đã thay thế BLHS năm 1985 Tội trộm cắp tài sản thay vì quy định ở hai điều luật khácnhau như ở BLHS năm 1985 (Điều 132 tội trộm cắp tài sản XHCN và Điều 155 tội trộmcắp tài sản của công dân) thì nay đã được quy định trong một điều luật, đó là Điều 138BLHS năm 1999
c Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội trộm cắp tài sản
Bộ luật hình sự năm 1999 được thông qua ngày 21/12/1999 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hộikhóa X và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 cho thấy trong tư tưởng của các nhà làm luật đã cómột sự nhìn nhận khách quan hơn về sự bình đẳng của các thành phần sở hữu trong các mốiquan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật hình sự nói riêng, do đó đã khắc phục đượcnhững hạn chế trong việc phân biệt giữa các thành phần sở hữu mà BLHS năm 1985 đã quyđịnh
Sau nhiều năm thi hành, Bộ luật hình sự năm 1999 đã góp phần quan sót sau 10 năm thi hành, trong đó đáng chú ý là chưa thể chế hóa được quan điểm, chủ trương mới của Đảng và Nhà nước ta về cải cách
tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08- 22 NQ/TW và Nghị mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã đặt ra cho
hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng phải
là công cụ pháp lý sắc bén nhằm thúc đẩy và bảo vệ cho sự phát triển của nền kinh tế Vì vậy, ngày 19/6/2009, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng
25
Trang 26Điều 138 BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 vẫn giữ nguyên quy định là 5khoản, trong đó có 4 khoản định khung và 01 khoản quy định là hình phạt bổ sung và mức
hình phạt thấp nhất được quy định tại khoản 1 vẫn là “phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” và mức hình phạt cao nhất được quy định tại khoản 4 Điều này vẫn là “phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân” Điểm khác biệt ở đây là trị giá tài sản bị chiếm đoạt được nâng lên từ “năm trăm nghìn đồng” thành “hai triệu đồng”; điều này cho thấy sự phù hợp của các quy định của pháp
luật so với nền phát triển của kinh tế
d Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tình tiết định
tội.
Căn cứ theo quy định, so sánh Điều 138 BLHS năm 1999 với Điều 138 BLHS năm
1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì thấy về cơ bản các quy định tại Điều 138 vẫngiữ nguyên, kể cả thứ tự các khoản và khung hình phạt Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm
1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã có sự thay đổi trị giá tài sản tối thiểu bị chiếm đoạt đểcấu thành tội trộm cắp tài sản đó là từ “năm trăm nghìn đồng” thành “hai triệu đồng” Bởitrong giai đoạn trước năm 2009 khi nền kinh tế vẫn còn đang ở một mức độ nào đó và tàisản trị giá từ năm trăm nghìn trở lên là tương đối lớn, do đó hành vi trộm cắp tài sản trị giá
từ năm trăm nghìn đồng đã được coi là hành vi nguy hiểm 23 cho xã hội và cấu thành tộitrộm cắp tài sản, tuy nhiên, đến năm 2009 thì nền kinh tế xã hội đã phát triển đến một mức
độ nhất định, đời sống của nhân dân được nâng lên, do đó chiếm đoạt tài sản trị giá từ haitriệu đồng trở lên mới thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
e Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về hình phạt và tình tiết định khung
tăng nặng
Theo quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì tội trộmcắp tài sản được chia thành 4 khung hình phạt gồm một khung cơ bản (khoản 1) và bakhung tăng nặng (khoản 2, khoản 3 và khoản 4)
• Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về hình phạt trong cấu thành tội phạm cơ bản
Khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 chính là CTTP cơ bản của tội trộm cắp tài sản.Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS thì một hành vi được coi là thỏa mãn cấu thành
cơ bản của tội trộm cắp tài sản khi thỏa mãn điều kiện lén lút chiếm đoạt tài sản của ngườikhác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồngnhưng thuộc một trong các trường hợp sau:
- Gây hậu quả nghiêm trọng: Hậu quả nghiêm trọng này có thể là
những thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và các thiệt hại phi vật chất Cụ thể được quy định tại điểm a tiểu mục 3.4 Mục 3 Phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999; theo đó, những 20
Trang 27thiệt hại này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của chủ tài sản hoặc ngườiquản lý tài sản đó Cũng có thể sẽ xảy ra thiệt hại cho sức khỏe của người khác trong tộitrộm cắp tài sản bởi thông thường người phạm tội thực hiện hành vi tội phạm một cách lénlút nên họ không bao giờ đối mặt với 24 người chủ sở hữu tài sản, người quản lý tài sảnhoặc người khác Tuy nhiên, khi hành vi trộm cắp tài sản của người phạm tội mà bị pháthiện thì người đó có thể có hành vi chống trả lại người đuổi bắt để tẩu thoát, từ đó gây ranhững thương tích hoặc tổn hại nhất định cho người đuổi bắt Trong một số trường hợpnhất định, người phạm tội còn có hành vi phá hủy hoặc gây thiệt hại đến tài sản khác nhưtrường hợp để lấy trộm tài sản trong nhà thì người phạm tội phải cắt khóa, cậy cửa để vàonhà; để lấy xe máy thì người phạm tội phải dùng vam phá khóa
- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt: Đó là trường hợp người phạm tội
chiếm đoạt tài sản nhưng chưa đủ điều kiện cấu thành một trong những tội chiếmđoạt tài sản được quy định trong BLHS năm 1999 Tại tiểu mục 1.1 mục 1 Phần 1Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BCA-BTP ngày25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công
an - Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV các tội xâmphạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999 thì trường hợp “đã bị xử phạt hànhchính về hành vi chiếm đoạt” là nếu trước đó đã bị xử lý bằng một trong các hìnhthức sau đây về hành vi chiếm đoạt nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị
xử lý mà lại thực hiện một trong các hành vi chiếm đoạt tài sản, đó là: đã bị xử phạt
vi phạm hành chính theo quy định của Pháp lênh xử lý VPHC (nay là Luật xử lýVPHC); đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của Điều lệnh, Điều lệ của lựclượng vũ trang nhân dân; đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của cơ quan cóthẩm quyền
- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm : Người phạm tội bị coi là “đã bị kết án về tội chiếm đoạt” nếu trước đó đã bị kết án
về một trong các tội, đó là: Tội cướp tài sản (Điều 133); Tội bắt cóc nhằm chiếmđoạt tài sản (Điều 134); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135); Tội cướp giật tài sản(Điều 136); Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản 25 (Điều 137); Tội trộm cắp tài sản(Điều 138); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); Tội lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản (Điều 140); Tội tham ô tài sản (Điều 278); Tội lạm dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS) Như vậy, đối với những người
đã bị kết án về một trong các tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà sau
đó lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì dù giá trị tài sản chiếm đoạt đó chưađến hai triệu đồng nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự
• Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về hình phạt và những tình tiết định khung tăng nặng trong các CTTP tăng nặng
* Về cấu thành tội phạm tăng nặng thứ nhất theo khoản 2 Điều 138 Khoản 2 Điều
138 BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt được áp dụng là tù từ hai năm đếnbảy năm, được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau:
27
Trang 28- Có tổ chức: Cũng tương tự như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, trộm cắp
tài sản có tổ chức là trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thựchiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 BLHS 1999), trong đó có người tổ chức, ngườithực hành, người xúi giục, người giúp sức; đó là hình thức đặc biệt của tội phạmđồng phạm, nó mang đầy đủ dấu hiệu của đồng phạm nhưng có tính chất và mức độnguy hiểm cao hơn đồng phạm thông thường Tuy nhiên, không phải vụ trộm cắptài sản có tổ chức nào cũng có đủ những người giữ vai trò như trên mà tùy vào từngtrường hợp cụ thể có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không cóngười xúi giục hoặc người giúp sức, nhưng nhất thiết phải có người tổ chức vàngười thực hành thì mới là phạm tội có tổ chức
- Có tính chất chuyên nghiệp: Theo hướng dẫn tại Mục 5.1 Nghị quyết số
01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS thì phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp là: a) Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một 26 tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích; b) Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính” [29] Đối với trường hợp phạm tội này thì nhất thiết người thực hành
phải thưc hiện hành vi nhiều lần (từ 05 lần trở lên) nhưng không phải cứ thực hiệnhành vi trộm cắp tài sản nhiều lần đều là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp màphải xem xét việc thực hiện hành vi phạm tội của họ đó có thật sự làm nguồn sốnghay không Nếu người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nhưng họkhông lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống thì không được coi đó là có tính chấtchuyên nghiệp mà chỉ là trường hợp phạm tội nhiều lần (quy định tại điểm g khoản
1 Điều 48 BLHS) Nếu người phạm tội chỉ trộm cắp tài sản một lần và có lấy việcphạm tội đó làm nghề sinh sống, còn những lần phạm tội khác không phải là trộmcắp tài sản thì cũng không phải là trộm cắp tài sản có tình chất chuyên nghiệp màchỉ là tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 BLHS
- Tái phạm nguy hiểm: Cũng giống như tất cả những trường hợp tái phạm nguy hiểm
ở các loại tội phạm khác, chỉ cần xác định người phạm tội có đầy đủ các dấu hiệuđược quy định tại khoản 2 Điều 49 BLHS Đây là tình tiết không phụ thuộc vàotính chất, mức độ nguy hiểm cũng như hành vi phạm tội cụ thể của tội phạm nàyhay tội phạm khác mà là tình tiết định khung tăng nặng thuộc về nhân thân củangười phạm tội
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm: Thủ đoạn xảo quyệt là những mánh khóe,
cách thức gian dối, thâm hiểm mà người phạm tội thực hiện nhằm làm cho người bịhại và những người khác không thể đề phòng Còn thủ đoạn nguy hiểm là trườnghợp người phạm tội đã có những thủ đoạn nhằm gây nguy hại đến tính mạng, sứckhỏe của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản
- Hành hung để tẩu thoát: Sau khi người phạm tội đã trộm cắp được tài 27 sản mà bị
28