1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam thực tiễn trên địa bàn thành phố kon tum

51 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 99,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BLHS 2015 Bộ luật hình sự 2015 quy định 13 điều tại chương XVI về các tội xâm phạm sở hữu.Khoa học

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

The University

DƯƠNG CAO MINH TRÚC

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIÊP

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM - THỰC

• • • • TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

KON TUM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN :ThS.NGUYỄN THỊ TRÚC PHƯƠNG

Trang 3

trong khoa Sư phạm và Dự bị Đại học trường Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tumlời cảm ơn chân thành.

Đặc biệt, tôi xin gởi đến cô Nguyễn Thị Trúc Phương người đã tận tình hướng dẫn,giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài báo cáo thực tập này lời cảm ơn sâu sắc nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các ban phòng củaViện kiểm sát Nhân dânThành phố Kon Tum, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tìm hiểu thực tiễn trong suốtquá trình thực tập tại Viện

Cuối cùng tôi xin cảm ơn các anh cô chú phòng Hình sự và Phòng Dân sự của Việnkiểm sát nhân thành phố Kon Tum đã giúp đỡ, cung cấp những số liệu thực tế để tôi hoànthành tốt đề tài thực tập tốt nghiệp này

Đồng thời nhà trường đã tạo cho tôi có cơ hội được thưc tập nơi mà tôi yêu thích,cho tôi bước ra đời sống thực tế để áp dụng những kiến thức mà các thầy cô giáo đã giảngdạy Qua công việc thực tập này tôi nhận ra nhiều điều mới mẻ và bổ ích trong chuyênngành mình học để giúp ích cho công việc sau này của bản thân

Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện đề tài này tôikhông tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 M ục đích nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP 4

1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT THÀNH PHỐ KON TUM 5

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM 4

1.2.1 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum 4

1.2.2 Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum 5

1.3 CƠ CẤU TỐ CHỨC 5

1.4 NỘI QUY CHUNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 7

CHƯƠNG 2.QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 8

2.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BLHS 2015 8

2.1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 8

2.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 8

2.2 PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC 13

2.2.1 Phân biệt với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 13

2.2.2 Phân biệt với tội lừa dối khách hàng 14

2.3 CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 15

2.3.1 Hình phạtđối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

15 2.3.2 Các biện pháp tư pháp 17

2.3.3 Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt 18

2.4 QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT 19

2.4.1 Chuẩn bị phạm tội 19

Trang 5

2.4.2 Phạm tội chưa đạt

2.4.3 Đồng phạm 202.4.4 Xóa án tích 222.4.5 Đương nhiên được xóa án tích 22

2.5 THỰC TIỄN VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM 24

2.5.1 Thực tiễn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Kon Tum từ

2015 đến nay 242.5.2 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 272.5.3 Một số biện pháp đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tronggiai đoạn hiện nay 33

2.6 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 42 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46 KẾT LUẬN 44 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

19

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BLHS Bộ luật hình sự

2 BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

3 TAND Tòa án nhân dân

4 VKSND Viện kiểm sát nhân dân

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những quyền quan trọng luôn được pháp luật nói chung và pháp luật hình

sự nói riêng bảo vệ tránh sự xâm hại của các hành vi phạm tội là quyền sở hữu Thời gianqua các tội phạm xâm phạm sở hữu diễn ra rất phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tàisản nhà nước, tài sản công dân, ảnh hưởng đến đời sống trật tự của xã hội Tội lừa đảochiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu đang diễn biến theo chiềuhướng gia tăng, đây là loại tội phạm xảy ra thường xuyên, với các thủ doạn tinh vi xảoquyệt, từ chủ thể thực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng Tronggiai đoạn nền kinh tế đất nước đang ngày càng phát triển theo cơ chế thị trường với địnhhướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý và chính sách pháp luật không phải lúc nào cũngngay lập tức phù hợp với thực trạng nền kinh tế, do đó tình hình tội phạm có nhiều biếnđổi, đặc biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được thực hiện với nhiều thủ đoạn tinh vi,xảo quyệt, có những vụ án số giá trị tài sản bị chiếm đoạt có khi lên đến hàng chục tỉđồng Nhiều trường hợp lợi dụng việc giao kết hợp đồng đầu tư, hợp đồng vay vốn hoặc

sử dụng công nghệ khoa học tiên tiến về vi tính, tin học để làm thẻ tín dụng giả, tìm kiếmmật mã số tài khoản của người khác, tổ chức trên game trên mạng nhằm lừa đảo chiếmđoạt tài sản BLHS do Nhà nước quy định các hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tộiphạm và quy định các chế tài tương ứng nhằm trừng trị và giáo dục đối với người phạmtội cũng như răn đe phòng ngừa chung đối với toàn xã hội nhằm đấu tranh phòng chốngtội phạm bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của mọi tổ chức và lợi ích của công dân, gópphần duy trì trật tự an ninh xã hội Tuy nhiên, trong từng điều luật cụ thể các nhà làm luậtchỉ có thể quy định các dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất cả một cấu thành tội phạm, trongkhi thực tế tội phạm xảy ra với muôn hình muôn vẻ, vô cùng đa dạng và phức tạp, tội lừađảo chiếm đoạt tài sản cũng vậy, chỉ được quy định trong BLHS bởi những dấu hiệu đặctrưng nhất

Từ những lý do nêu trên tác giả quyết định chọn đề tài “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài

sản theo pháp luật hình sự Việt Nam - Thực tiễn trên địa bàn Thành phố Kon Tum” để làm

đề tài cho bài báo cáo tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm làm rõ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theoĐiều 174 BLHS năm 2015 đánh giá thực trạng, nguyên nhân và điều kiện phạm tội lừađảo chiếm đoạt tài sản ở địa bàn Thành phố Kon Tum trong thời gian qua, từ đó đề ra một

số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản

Để đạt được mục đích nêu trên, tôi làm rõ các vấn đề sau:

Làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - BLHS 2015 Phân tích các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đánh giá thực trạng về tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những năm gần đây Tìm ra những thủ đoạn phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và hậu quả của tội phạm

Trang 8

đó

Đề xuất những biện pháp đấu tranh, phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Kết quả nghiên cứu làm sáng rõ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản, đánh giá thực trạng, nguyên nhân và điều kiện phạm tội từ đó góp phần nângcao hiệu quả quá trình áp dụng pháp luật hình sự, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để đấutranh phòng chống triệt để đối với loại tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bảo vệ lợi ích củanhà nước, của công dân và của mọi tổ chức xã hội, xây dựng một xã hội an toàn, lànhmạnh mang tính nhân văn cao

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong đề tài, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được nghiên cứu dưới góc độ hình sự vàtội phạm học trong một số năm gần đây

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, tôi dựa trên các quan điểm, chính sách củaĐảng và nhà nước về các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạmnói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng

Đề tài vừa mang tính lí luận vừa mang tính thực tiễn góp phần tích cực làm phongphú thêm lí luận và cơ sở thực tiễn trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội lừa đảochiếm đoạt tài sản ở địa bàn Thành phố Kon Tum

Khi viết đề tài trên, tác giả có sử dụng một số biện pháp nghiên cứu cụ thể như:Phương pháp thống kê hình sự:

Là thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu nhằm đánh giá chính xác, khách quan tìnhhình vi phạm pháp luật hình sự, tội phạm, kết quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tốtụng trong công tác phòng, chống tội phạm; cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời

để phục vụ hoạt động phòng, chống tội phạm và các hoạt động quản lý, điều hành có liênquan; bảo đảm tính thống nhất về số liệu thống kê hình sự

Các số liệu sử dụng trong đề tài được nhóm thống kê từ kết quả tổng kết hằng nămtrong các báo cáo của ngành TAND và Viện kiểm sát nhân dân Kon Tum; các tài liệu vụ

án hình sự trong thực tiễn xét xử, cũng như cổng thông tin của TAND và VKSND trênmạng internet

Phương pháp phân tích và so sánh:

Trong đề tài tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích để giải thích nội dung kháiniệm, dấu hiệu nhận biết tội phạm từ các quy định của pháp luật trong bộ luật Hình sự Cụthể, phân tích khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phân tích các nguyên nhân phạmtội, số vụ xảy ra qua từng năm,

Từ đó, lấy đó là cơ sở để so sánh số lượng phạm tội của từng năm, so sánh nhómphạm tội để biết chiều hướng của tội phạm này gia tăng hay giảm xuống hay để biết đượctình hình tội phạm này trên địa bàn

Phương pháp phân tích tổng hợp:

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã khái quát lại tình hình tội phạm trên địabàn tỉnh Kon Tum, nguyên nhân, các giải pháp Qua đó, nghiên cứu các tài liệu trên sách

Trang 9

báo, giáo trình luật, tạp trí luật học, internet,

Tổng hợp những quan điểm, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thànhtừng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Tổng hợp lý thuyết bao gồm những nộidung sau:

+ Bổ sung tài liệu, sau khi phân tích phát hiện thiếu hoặc sai lệch

+ Lựa chọn tài liệu

+ Sắp xếp tài liệu

Sau đó, liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệthống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Tác giả đã nghiên cứu tài liệu từ các nguồn tài liệu khác nhau như:

+ Tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành: nhằm tìm kiếm luận cứ cho nghiên cứu

vì nguồn tài liệu này mang độ tin cậy rất cao do thuộc chính lĩnh vực nghiên cứu chuyênngành và mang tính thời sự cao Cụ thể: Tạp chí Luật học, Tạp chí Luật sư, Tạp chí Tòa ánnhân dân, Tạp chí Viện kiểm sát nhân dân,

+ Tác phẩm khoa học: Sách giáo trình chuyên nghành luật, Sách chuyên khảo, Sáchkhoa học,

+ Tài liệu lưu trữ: tác giả tìm kiếm trong các văn kiện chính thức của cơ quan nhànước, các tổ chức chính trị - xã hội, các hồ sơ thuộc thể loại thông tin không công bố trênbáo chí như: Hiến pháp nhà nước, các bộ luật được ban hành, Thông tư, Nghị định chínhphủ,

+ Thông tin đại chúng: gồm báo chí, bản tin từ các cơ quan thông tấn, chương trìnhphát thanh, truyền hình an ninh Kon Tum, vì đây là một nguồn tài liệu quý, phản ảnhnhững nhu cầu bức thiết từ xã hội Lấy đó là cơ sở để xây dựng tính cấp thiết của đề tàinghiên cứu

5 Kết cấu đề tài

Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm

2 chương:

Chương 1: Tổng quan về Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Kon Tum

Chương 2: Quy định của pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Thực tiễn vềtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Kon Tum và một số kiến nghị nhằmnâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

CHƯƠNG 1.

GIỚI THIỆU VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP

1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT THÀNH PHỐ KON TUM

Năm 1991, tỉnh Kon Tum được tái thành lập từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum theo Nghịquyết Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ IX, thị xã Kon Tum trở thành tỉnh lỵ tỉnh Kon Tum.Ngày 10 tháng 12 năm 2008, Hội đồng Nhân dân Tỉnh đã thông qua đề án thành lập thànhphố Kon Tum trên cơ sở diện tích và dân số hiện tại của thị xã Kon Tum Ngày 13 tháng 9năm 2009, thị xã Kon Tum chính thức trở thành thành phố Kon Tum

Trang 10

183 thôn, tổ dân phố, trong đó có 94 thôn (62 thôn đồng bào DTTS) và 85 tổ dân phố.Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum lúc mới được thành lập trụ sở được đặttại số 96 Trần Phú, phường Quyết Thắng, thị xã Kon Tum Được sự đầu tư của Viện kiểmsát nhân dân tối cao, năm 2013 trụ sở mới của Viện kiểm sát nhân dân thành phố KonTum đặt tại số 341 Duy tân, Tổ 3,phường Duy Tân, thành phố Kon Tum được hoàn thành

và đi vào sử dụng Trụ sở hiện có 15 phòng làm việc, 01 phòng họp, kết cấu 01 trệt, 02lầu; nhà công vụ có 05 phòng, gồm: 01 bếp ăn tập thể, 04 phòng ở của cán bộ Ngoài ra,trụ sở còn có 01 sân tennis phục vụ nhu cầu rèn luyện của cán bộ, Kiểm sát viên trongngành

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM

Theo quy định tại khoản 1, Điều 107 Hiến pháp 2013 và khoản 1, Điều 2 Luật tổchức Viện kiểm sát nhân dân 2014 thì Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hànhquyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phốKon Tum cũng có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối các

vụ việc theo thẩm quyền quy định của pháp luật tại địa bàn thành phố Kon Tum Tại Điều

3 và Điều Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 quy định:

Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụnghình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiệnngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quátrình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sáttính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động

tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ

án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động;việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động

tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Viện kiểm sát nhân dân nói chung và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tumnói riêng có nhiệm vụ quy định tại khoản 3, Điều 107 Hiến pháp 2013 và khoản 2, Điều 2Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014: "Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệHiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hộichủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân,

Trang 11

góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" Ngoài thựchiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thì Viện kiểm sát nhân dân thành phố KonTum còn có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại địa phương góp phần đảmbảo an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Kon Tum

1.3 CƠ CẤU TỐ CHỨC

Trong quá trình hoạt động từ khi được thành lập đến nay, trải qua nhiều lần thay đổi

cơ cấu tổ chức Hiện nay, biên chế VKS nhân dân thành phố KonTum có 22 đồng chí(trong đó: 03 Kiểm sát viên trung cấp, 06 Kiểm sát viên sơ cấp, 04 chuyên viên, 01 Cánsự) và 04 đồng chí hợp đồng theo nghị định 68 của Chính phủ Đứng đầu đơn vị là đồngchí Nguyễn Văn Ngà giữ chức vụ viện trưởng: 02 đồng chí Phó viện trưởng là đồng chí YHồng Vân và đồng chí Trịnh Thị Thúy

Tổ chức bộ máy của VKS nhân dân thành phố KonTum gồm 03 bộ phận nghiệp vụ

và Văn phòng: 05 kiểm tra viên; 03 Chuyên viên: 01 cán sự; 04 đồng chí hợp đồng Trảiqua quá trình hoạt động và phát triển đến nay, chi bộ có tổng số Đảng viên là 11 đồng chíchi bộ nhiều năm liền đạt danh hiệu tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh

Chi đoàn VKS nhân dân TP KonTum đã hoạt động sôi nổi và có chất lượng Côngđoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Ngành các năm đều đạt Công đoàn vững mạnh, vữngmạnh xuất sắc, đơn vị nhiều năm liền đạt danh hiệu đơn vị văn hoá

- Bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ ánhình sự gồm 06 đồng chí: Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Thị Thúy, Nguyễn Hồng Thắng,Trần Bá Tài, Nguyễn Trung Kiên, Phan Minh Cường

- Bộ phận kiểm sát thi hành án Dân sự, thi hành án Hành chính, kiểm soát việc tạmgiam, tạm giữ và thi hành án hình sự bao gồm gồm có 03 đồng chí: Lưu Thị Lý, NguyễnHồng Dũng, Hoàng Văn Dân

- Bộ phận kiểm sát giải quyết các vụ án , vụ việc Dân sự, Hành chính, Hôn nhân giađình, Kinh doanh, Thương mại và những việc khác theo quy định của pháp luật gồm có 04đồng chí: Nguyễn Thị Lan, Trần Thị Thu Thủy, Phạm Thị Hằng, Lê Thanh Việt

- Bộ phận giải quyết khiếu nại , tố cáo, thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát và kiểmsát trong hoạt động tư pháp có 01 đồng chí: Vũ Văn Hiếu

- Văn phòng gồm có 04 đồng chí: Trần Thị Tuyết Nga, Lương Vũ Ngọc Linh, NguyễnThị Duyên, Lê Văn Tùng, Nguyễn Thanh Phương

1.4 NỘI QUY CHUNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM

1 Việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo; nộp đơn khiếu nại, tố cáo được tiếnhành tại phòng tiếp công dân của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum

2 Nghiêm cấm việc cản trở, gây phiền hà, sách nhiễu đối với công dân đến khiếunại, tố cáo và kiến nghị, phản ánh

3 Nghiêm cấm việc gây rối trật tự ở nơi tiếp công dân; vu cáo, xúc phạm uy tín,danh dự của cơ quan nhà nước, người thi hành nhiệm vụ

4 Tuyệt đối không mang theo chất cháy, chất nổ, vủ khí hoặc vật nguy hiểm khácvào phòng tiếp công dân

Trang 12

Quy định đối với công dân:

- Công dân đến khiếu nại, tố cáo phải xuất trình giấy tờ tuỳ thân, đơn và các tài liệuchứng cứ có liên quan đến khiếu nại, tố cáo Nếu là người đại diện đến khiếu nại, tố cáophải có giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật

- Trường hợp có đông người đến khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung thì cử ngườiđại diện để trình bày

- Công dân đến khiếu nại, tố cáo phải tuân thủ nội quy tiếp công dân, được hướngdẫn giải thích về việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo

- Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi sai trái, cản trở, gây phiền

hà của Cán bộ tiếp công dân

Quy định đối với cán bộ, kiểm sát viên khi tiếp công dân:

- Phải mang trang phục của ngành kiểm sát, đeo thẻ công chức

- Tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh thuộc trách nhiệm của VKSND và

xử lý theo quy chế của ngành Kiểm sát

- Hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo

- Từ chối tiếp những người đang trong tình trạng say rượu, người tâm thần hoặc viphạm nội quy tiếp công dân

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Với tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Kon Tum ngày càng diễn biến phứctạp, tính chất tội phạm ngày càng nguy hiểm, thủ đoạn hoạt động tinh vi nhưng với chứcnăng và nhiệm vụ của ngành, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã phối hợpchặt chẽ với các cơ quan tư pháp đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm , gópphần giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố, hàng năm đơn vị luôn hoàn thành tốtcác nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho

Trang 13

CHƯƠNG 2.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

- THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT

TÀI SẢN.

2.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BLHS 2015

Bộ luật hình sự 2015 quy định 13 điều tại chương XVI về các tội xâm phạm sở hữu.Khoa học luật hình sự đã đưa ra khái niệm chung đối với các tội xâm phạm sở hữu nhưsau: "Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự thựchiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chứchoặc cá nhân"

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu, vì vậy kháiniệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn khái niệm chung của các tội xâm phạm

sở hữu, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu đặc thù nói riêng Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnđược quy định tại Điều 174 BLHS 2015

Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu vớimục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, kẻ phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối, làmcho người bị hại tưởng giả là thật, tự nguyện đưa tài sản cho kẻ phạm tội Từ đó có thể đưa

ra khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt, được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối”

Khái niệm này chỉ khái quát về tội phạm, muốn hiểu rõ hơn về tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản phải xem xét qua các dấu hiệu pháp lý đặc trưng gồm: Khách thể của tộiphạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm

2.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

a Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khách thể của tội phạm nói chung là quan hệ xã hội cụ thể được luật hình sự bảo vệtránh khỏi sự xâm hại của tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại và gây ra hoặc có thể gây

ra những thiệt hại đáng kể Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tộiphạm và được hiểu là đối tượng bị tội phạm xâm hại Bất cứ tội phạm nào cũng đều xâmhại một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ Các quan hệ xãhội được Luật hình sự bảo vệ được nêu khái quát chung tại Điều 8 BLHS năm 2015

Trong mối tương quan với tội phạm nói chung, một tội phạm cụ thể có khách thểchung, khách thể loại và khách thể trực tiếp Bất kỳ tội phạm cụ thể nào cũng xâm phạmtới khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp Trong đó, khách thể chung củatội phạm được hiểu là tổng hợp những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và có thể

bị tội phạm xâm hại Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm hại tới khách thể chung là quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân Khách thể loại của tội phạm là nhóm các quan hệ xã hội

Trang 14

cùng hoặc gần tính chất được nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị nhómcác tội phạm xâm hại, thường được quy định thành một chương trong phần các tội phạm

cụ thể Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnđược quy định tại chương XVI của Bộ luật hình sựquy định về các tội xâm phạm sở hữu Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội

cụ thể được quy phạm pháp luật hình sự cụ thể bảo vệ và bị tội phạm cụ thể xâm hại và sựxâm hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cụ thể

đó Một tội phạm có thể xâm hại nhiều quan hệ xã hội khác nhau nhưng trong đó chỉ cómột hoặc một số quan hệ xã hội bị xâm hại có tính chất của khách thể trực tiếp.Khách thểtrực tiếp của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu về tài sản, đây cũng là quan

hệ xã hội chủ yếu mà hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm hại Đặc điểm khác nhau cơbản nhất của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữa khác đó là tộinày chỉ xâm hại đến một khách thể là quan hệ sở hữu tài sản Khác với một số tội xâmphạm sở hữu khác xâm hại đồng thời nhiều khách thể khác nhau như tội cướp tài sản,cướp giật tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản vì các tội phạm này ngoài khách thể làquan hệ sở hữu, người phạm tội còn nhằm đến khách thể quan trọng khác đó là quyềnđược bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự của người bịhại

Bộ luật dân sự quy định Quan hệ sở hữu là quan hệ trong đó người sở hữu tài sản cóquyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản và phải được tôn trọng và bảo vệ Cá nhân,

tổ chức xâm phạm trái phép đến quan hệ này sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Đốitượng tác động của hành vi xâm phạm sở hữu là tài sản, bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá

và quyền tài sản Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp quyền tài sản đều là đốitượng tác động của hành vi xâm phạm sở hữu, mà tài sản phải được thể hiện dưới dạng vậtchất

Cần phải lưu ý rằng một số tài sản đặc biệt như: rừng, tài nguyên khoáng sản, cácchất ma túy, vũ khí quân dụng không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản quyđịnh tại điều này Vì đây là những tài sản đặc biệt, có công dụng, tính năng đặc biệt đượcpháp luật bảo vệ một cách nghiêm ngặt hơn nên sẽ là đối tượng tác động của những hàng

vi phạm tội khác được quy định trong Bộ luật hình sự như: Tộichiếm đoạt chất ma túy

Điều 252 Bộ luật hình sự, tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên Điều 227 Bộ luật hình sự.

b Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội phạm nói chung được hiểu là những biểu hiện của tội phạmbên ngoài thế giới khách quan bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xãhội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ phương tiện, phương pháp,thủ đoạn, hoàn cảnh, thời gian, địa điểm phạm tội Mặt khách quan của tội phạm là yếu tốquan trọng trong xác định cấu thành tội phạm để định tội, đồng thời giúp phân biệt cấuthành tội phạm này với cấu thành tội phạm khác Trong các dấu hiệu thuộc về mặt kháchquan của tội phạm thì hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản và quan trọng nhất Nếukhông có hành vi khách quan thì không thể nói đến các biểu hiện khách quan khác, hành

vi khách quan là cầu nối giữa khách thể và chủ thể, không có hành vi khách quan thìkhông có tội phạm Hành vi khách qua được hiểu là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới

Trang 15

khách quan của con người dưới những hình thức cụ thể, được ý thức kiểm soát và ý chíđiều khiển dưới dạng hành động hoặc không hành động Theo quy định của Bộ luật hình

sự hiện nay, hành khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện dưới hai hành vithực tế là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tàisản, cụ thể như sau:

Thứ nhất,hành vi lừa dối là hành vi có chủ đích của người phạm tội, nhằm mục đích

khiến cho người bị hại tin rằng những thông tin gian dối mà người phạm tội đưa ra là sựthật và tự nguyện trao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người phạm tội Hành vi này rất

đa dạng có thể là bằng hành động, bằng lời nói hoặc những biểu hiện khác nhằm cung cấpnhững thông tin sai lệch biến không thành có, biến ít thành nhiều, nhằm phục vụ mộtmục đích cuối cùng đó là khiến cho người bị hại tin đó là sự thật và tự nguyện giao tài sảncho người phạm tội

Thứ hai, người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản của người sở hữu tài sản, thông qua

việc người sở hữu tài sản tin vào những thông tin gian dối mà người phạm tội đưa ra và tựnguyện trao tài sản cho người phạm tội Cho dù ngay sau đó người sở hữu tài sản phát hiện

ra hành vi lừa đảo, cung cấp thông tin sai lệch của người phạm tội nhưng bản chất củahành vi chiếm đoạt vẫn dựa trên thủ đoạn lừa dối thì vẫn xử lý về tội này.Cần lưu ý trườnghợp mà khoa học luật hình sự Việt Nam gọi là các trường hợp chuyển hóa tội phạm Cụthểnếu như người sở hữu tài sản phát hiện ra hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảochiếm đoạt tài sản và người phạm tội tiếp tục dùng những thủ đoạn khác để chiếm đoạt tàisản như dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực thì người phạm tội sẽ bị xử lý về tội phạm tươngứng khác

Nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không bị nhầm lẫn, không trao tài sản vàngười phạm tội cũng không có hành động chiếm đoạt nào khác thì có thể người phạm tộikhông bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng sẽ bị truycứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.Trong trường hợp này, xét về mặt khách quan hành vi gian dối là hành vi đưa ra nhữngthông tin giả Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốnngười khác tin đó là sự thật nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại Nếu người phạmtội dùng thủ đoạn gian dối, nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không đủyếu tố để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà cấu thành một tội khác tương ứngvới mục đích phạm tội

c Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chủ thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, có ý nghĩa quantrọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội Theopháp luật hình sự Việt Nam chủ thể của tội phạm phải là con người hoặc pháp nhânthương mại cụ thể, và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Tức là, có đủ có đủ tuổi theoquy định của pháp luật và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể Trước khi Bộ luật hình sựnăm 2015 được ban hành thì chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân, nhưng đến Bộ luậthình sự năm 2015 thì chủ thể của tội phạm ngoài cá nhân ra còn có pháp nhân thương mạiđược quy định tại Điều 8, tuy nhiên pháp nhân thương mại chỉ bị truy cứu trách nhiệmhình sự đối với các tội được quy định tại Chương XI (Những quy định đối với pháp nhân

Trang 16

thương mại phạm tội) và trong một số điều luật của tội phạm cụ thể.

Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước hết cũng phải đáp ứng yêu cầu vềchủ thể của tội phạm của pháp luật hình sự Theo đó cũng phải đáp ứng điều kiện về tuổichịu trách nhiệm hình sự và về năng lực trách nhiệm hình sự Đây là hai dấu hiệu bắt buộcphải có về chủ thể của mọi tội phạm

Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về độ tuổi chịutrách nhiệm hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loạitội phạm Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự

về các tội được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, trong đó đối với tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản không được liệt kê tại Điều này Vì vậy có thể hiểu chỉ người từ

đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Bộluật hình sự không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối vớingười dưới 16 tuổi

Người thực hiện hành vi phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nghĩa

là người đó nhận thức và điều khiển được hành vi của mình.Bộ luật hình sự hiện hànhkhông quy định thế nào là người có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định tìnhtrạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, nếu như người thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự mà họ không thuộc tình trạng không cónăng lực trách nhiệm hình sự, thì họ đương nhiên là người có năng lực trách nhiệm hình

sự Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 thì tình trạng không có nặng lực

trách nhiệm hình sự là “người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc

bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” Như vậy, chỉ khi nào người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác tới

mức làm mất khả năng nhận thức hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra mớiđược coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự Nếu bệnh của họ chưa tới mức làmmất khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình thì tùy thuộc vàotừng trường hợp cụ thể, họ phải chịu toàn bộ hoặc một phần trách nhiệm hình sự Liênquan đến việc nhận thức được và điều khiển được hành vi của mình, ngoài mắc bệnh tâmthần hoặc bệnh khác như đã đề cập trên, thì còn có trường hợp do trong tình trạng say dodùng rượu hoặc chất kích thích khác Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015thì người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích khác vẫn phảichịu trách nhiệm hình sự

Ngoài ra, do chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường nên không

có ngoại lệ đối với người nước ngoài, người không quốc tịch khi thực hiện hành vi lừa đảotrên lãnh thổ Việt Nam Trừ một số người được hưởngquyền miễn trừ tư pháp, tráchnhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao theo quy định của điềuước quốc tế và Bộ luật hình sự

d Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo pháp luật hình sự Việt Nam mặt chủ quan của cấu thành tội phạm là mặt bêntrong của tội phạm, mặt chủ quan phản ánh tâm lý, thái độ của chủ thể tội phạm đối vớihành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra Tội phạm là sự thống nhất

Trang 17

của hai mặt khách quan và chủ quan, nếu mặt khách quan là toàn bộ những biểu hiện rabên ngoài thế giới khách quan, thì ngược lại mặt chủ quan là toàn bộ những diễn biến tâm

lý bên trong của chủ thể lúc phạm tội Chính mặt chủ quan này thúc đẩy chủ thể thực hiệnhành vi phạm tội, thể hiện thái độ với hậu quả của hành vi phạm tội, thúc đẩy chủ thể lựachọn các công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội Do đó, mặt chủ quan bao giờ cũngluôn luôn gắn với mặt khách quan của tội phạm, chỉ khi mặt chủ quan đó được thể hiện rabên ngoài qua hành vi thì mới cấu thành tội phạm Nếu chưa được thể hiện ra bên ngoài thìđơn giản mới chỉ là suy nghĩ trong đầu Luật hình sự không truy cứu trách nhiệm mộtngười đối vớisuy nghĩ Các dấu hiệu tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm các yếu tốnhư: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội

* Yếu tố lỗi

Yếu tố lỗi là yếu tố bắt buộc khi buộc tội người khác và là yếu tố cơ bản nhất để cấuthành một tội phạm Lỗi được hiểu là mặt tâm lý bên trong của mỗi con người, được tạothành từ hai yếu tố là lý trí và ý chí Một người chỉ được xem là có lỗi khi người đó nhậnthức rõ tính chất của hành vi mình gây ra nhưng vẫn quyết định thực hiện hành vi đó Đó

là sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có điều kiện để lựa chọn một

xử sự khác đúng đắn hơn

Bộ luật hình sự Việt Nam chỉ quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưngkhông quy định dấu hiệu lỗi của tội phạm Tuy nhiên xét theo bản chất và tính chất củahành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì về mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện do lỗi

cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tàisản Cụ thể như sau:

- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình gây ra là nguy hiểm

cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện Nhận thức được những thủ đoạn mình đưa ra làkhông đúng sự thật, nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm khiến người khác tin đó là sự thật

và tự nguyện giao tài sản cho mình Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước khithực hiện hành vi lừa dối đã có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác

- Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hành vi lừa dối xảy ra và đưa đến kết quả là

chiếm đoạt được tài sản của người khác

* Động cơ, mục đích phạmtội

Bên cạnh lỗi, thì động cơ và mục đích phạm tội cũng là hai yếu tố quan trọng củamặt khách quan

Động cơ được hiểu là những động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện

hành vi phạm tội Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người thực hiện hành vi có thể cónhiều động cơ khác nhau có thể là do tham lam, nhu cầu tiêu dùng cá nhân, tư lợi hay lườilao động,.tuy nhiên đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản động cơ không có ý nghĩa trongviệc định tội danh, mà chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt

Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải

đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội Mục đích của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạttài sản là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác Mục đích này luônluôn phải có trước khi người phạm tội thực hiện hành vi, nếu mục đích này xuất hiện sauthì có thể sẽ cấu thành một tội khác trong Bộ luật hình sự Có thể nói mục đích chiếm đoạt

Trang 18

tài sản là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, ngườiphạm tội có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hay chấp nhậnmục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu tráchnhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

2.2 PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC

Qua phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chúng ta thấyđặc trưng nổi bật của tội lừa đảo là bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Songtrong thực tiễn, nhận thức thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản không phải trường hợpnào cũng rõ ràng và thống nhất

Nhiều tội phạm cũng có những hành vi gian dối như lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạttài sản, lừa dối khách hàng Vì vậy cần thiết phải phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản với một số tội phạm khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn đấu tranhphòng chống tội phạm này

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi sau khi vay, mượn, thuêtài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợpđồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc đã

sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sảnquy định tại Điều 175 BLHS 2015

Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có các yếu tố khách thể, mặt chủ quan,chủ thể của tội phạm so với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cơ bản giống nhau, chỉ khácnhau ở mặt khách quan Do vậy chỉ cần phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tàisản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở mặt khách quan mà chủ yếu là thông qua hình thứchợp đồng mà có sự gian dối

Trước hết, ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mặt khách quan thể hiện ở 2nhóm hành vi sau:

Một là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của ngườikhác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạttài sản đó hoặc đã đến thời hạn trả lại và mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tìnhkhông trả

Hai là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của ngườikhác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫnđến không có khả năng trả lại tài sản

Hợp đồng trong tội lạm dụng tín nhiệm là hợp đồng đúng đắn, ngay thẳng Ở thờiđiểm kí kết hợp đồng, người phạm tội chưa có ý định chiếm đoạt tài sản Chỉ sau đó, khiđến thời hạn nhất định hoặc thời hạn phải trả lại tài sản mới có ý định không trả lại hoặc sửdụng tài sản vào những mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏtrốn nhằm chiếm đoạt tài sản Như vậy, mục đích chiếm đoạt nảy sinh sau khi đã nhậnđược tài sản trên cơ sở hợp đồng

Để thực hiện ý định chiếm đoạt, người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài

Trang 19

sản có thể có hành vi gian dối như giả tạo bị mất, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản nhưnghành vi gian dối này chỉ để che giấu hành vi chiếm đoạt Hành vi gian dối không phải làdấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Đểchiếm đoạt được tài sản, người phạm tội có thể dùng những thủ đoạn khác như bỏ trốn hay

cố ý chây ỳ, không trả lại tài sản

Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản trướckhi thực hiện việc ký kết hợp đồng Việc ký kết hợp đồng thực chất là phương thức đểchiếm đoạt tài sản Hợp đồng này là hoàn toàn giả tạo nhằm tạo lòng tin để người bị hạigiao tài sản Khi người phạm tội nhận được tài sản từ hợp đồng cũng là thời điểm tội lừađảo chiếm đoạt tài sản hoàn thành Hành vi ký kết hợp đồng giả tạo là hành vi lừa dối vàhành vi nhận tài sản là hành vi chiếm đoạt được Hành vi gian dối của tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản là cơ sở quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội nên hành

vi gian dối là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Như vậy, việc xem xét người đó phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản haylừa đảo chiếm đoạt tài sản phải xem xét đến những căn cứ chứng minh người phạm tội banđầu trước khi ký kết hợp đồng đã có ý định chiếm đoạt tài sản hay chưa và đặc biệt hợpđồng được ký kết là hoàn toàn ngay thẳng hay gian dối Người phạm tội lạm dụng tínnhiệm chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin sẵn có của người có tài sản Còn người phạm tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản thì chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin do hành vi gian dối tạora

Tội lừa dối khách hàng là hành vi tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý, người phạmtội biết rõ hành vi lừa dối khách hàng của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì vụ lợivẫn cố tình thực hiện tội phạm Được quy định cụ thể trong điều 198 bộ luật hình sự 2015.Giống nhau:

- Về mặt khách quan: cả hai tội đều thực hiện hành vi phạm tội bằng thủ đoạn giandối để chiếm đoạt tài sản

- Về mặt chủ quan: cả hai tội đều thực hiện do hình thức lỗi cố ý trực tiếp Ngườiphạm tội đều thấy trước hành vi của mình là gian dối, trái pháp luật, nguy hiểm; tuy nhiênngười phạm tội mong muốn thực hiện được hành vi của mình để chiếm đoạt tài sản củangười khác

Khách nhau:

- Mô tả tội phạm: Tội lừa dối khách hàng là hành vi tội phạm được thực hiện do lỗi

cố ý, người phạm tội biết rõ hành vi lừa dối khách hàng của mình là nguy hiểm cho xã hộinhưng vì vụ lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội màngười phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tàisản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó

- Khách thể: Tội lừa dối khách hàng là trật tự kinh doanh xã hội chủ nghĩa và lợi íchcủa người tiêu dung còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của ngườikhác

- Hành vi trong mặt khách quan: Tội lừa dối khách hàng là gian dối trong các lĩnh

Trang 20

vực mua, bán bằng thủ đoạn cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo mặt hàng để lấy tiềncủa khách hàng còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối làm cho người

có tài sản tin tưởng vào sự gian dối mà trao tài sản cho người phạm tội

- Chủ thể: Tội lừa dối khách hàng là những người làm nghề mua, bán hàng còn tộilừa lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào

- Hình phạt cao nhất: đối với tội lừa dối khách hàng hình phạt cao nhất là phạt tù từ 1năm đến 5 năm còn ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hình phạt cao nhất là tù chungthân

Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn so vớitội lừa dối khách hàng Tuy có nhiều điểm tương đồng, song hai tội danh này lại có nhiềuđiểm khác nhau để phân biệt như trên

2.3 CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, được thực hiệntrong bản án kết tội của Tòa án, áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện phápcưỡng chế của Nhà nước được quy định trong Luật hình sự Vì vậy trách nhiệm hình sựđối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước hết thể hiện qua các khung hình phạt được quyđịnh trong Bộ luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Điều 174 BLHS 2015 quy định bốn khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản và được sắp xếp theo trật tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc,

đó là khung hình phạt cơ bản, khung tăng nặng thứ nhất, khung tăng nặng thứ hai vàkhung tăng nặng thứ ba

Khung 1: Khoản 1 Điều 174 BLHS 2015 quy định chế tài lựa chọn giữa hình phạtcải tạo không giam giữ và hình phạt tù Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể

bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03năm khi thỏa mãn một trong các trường hợp sau: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính vềhành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong cáctội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của BLHS, chưa đượcxóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội; Tàisản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, cáctình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như các căn cứ pháp lý khác đểđưa ra hình phạt hợp lý, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt

có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ (Điều 36 BLHS), nếu người phạmtội có ít hoặc không có tình tiết giảm nhẹ thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị phạt từ 6tháng đến 03 năm tù

Khung 2: Quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm áp dụng đối với người phạmtội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp;Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Tái phạm nguy

Trang 21

hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủđoạn xảo quyệt Trong đó:

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức là cáctrường hợp: người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,công tác (chức vụ, quyền hạn) của mình trong các cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạttài sản của người khác; người tuy không có chức vụ, quyền hạn của cơ quan Nhà nước, tổchức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội nhưng

đã lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình để lừa đảo chiếm đoạt tài sảncủa người khác

- Dùng thủ đoạn xảo quyệt là trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạngian dối có tính chất tinh vi như giả danh một cơ quan, tổ chức nào đó không có thật đểlừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách giả mạo con dấu, giả mạo đăng ký,

bố trí trụ sở làm việc giả để giao dịch, thuê tài sản để rút tiền

- Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, táiphạm nguy hiểm, chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000đồng là trường hợp có từ 2 người trở lên cố ý cùng tham gia phạm tội và có sự thống nhấtvới nhau về ý chí, có sự câu kết chặt chẽ trong quá tình phạm tội, trong đó có một hoặcmột số người thực hành và có thể có người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức; Phạmtội có tính chất chuyên nghiệp là có từ 5 lần trở lên phạm tội, trong đó có lần đã bị xét xửnhưng chưa được xóa án tích, hoặc chưa lần nào vị xét xử và chưa lần phạm tội nào hếtthời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, và người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làmnghề sinh sống và lấy kết quả của các lần phạm tội làm nguồn sống chính

Khung 3: Quy định phạt tù từ 07 năm đến 15 năm áp dụng đối với người phạm tộithuộc một trong các trường hợp sau: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đếndưới 500.000.000 đồng; Lợi dụng hoàn cảnh thiên tai, dịch bệnh để thực hiện hành vi lừađảo chiếm đoạt tài sản Tình tiết này được áp dụng không phụ thuộc vào phạm vi, mức độcủa thiên tai, dịch bệnh hoặc tính chất, mức độ của những khó khan của xã hội trong tìnhtrạng thiên tai, dịch bệnh

Khung 4: Quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân áp dụngđối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiếm đoạt tài sản trị giá500.000.000 đồng trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, trong đótình trạng chiến tranh là trạng thái xã hội đặc biệt của đất nước được tuyên bố trong thờigian trước khi nước nhà bị xâm lược cho tới khi hành đọng xâm lược đó được chấm dứttrên thực tế, còn tình trạng khẩn cấp về quốc phòng là trạng thái xã hội của đất nước khi cónguy cơ trực tiếp bị xâm lược hoặc đã xảy ra hành động vũ trang xâm lược hoặc bạo loạnnhưng chưa đến mức tuyên bố tình trạng chiến tranh, mức độ nguy hiểm của hành vi trongtrường hợp này phụ thuộc vào tính chất của hoàn cảnh chiến tranh, tính chất mức độ củatình trạng khẩn cấp

Hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 174 BLHS là người phạm tội còn

có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một

Trang 22

phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy so với quy định tại Điều 139 BLHS năm 2009 thì quy định tại Điều 174BLHS 2015 có một số điểm mới sau đây:

- Thứ nhất, về yếu tố cấu thành tội phạm thì đồng thời với việc bổ sung hai tình tiếtđịnh tội (điểm c và d khoản 1), BLHS không quy định hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sảncủa người khác có giá trị dưới 2.000.000 đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây làphạm tội: Một là, đã bị xử phạt hành chính về hành vi tham ô tài sản hoặc hành vi lạmdụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt

vi phạm hành chính mà còn vi phạm; Hai là, đã bị kết án về tội tham ô tài sản hoặc tội lạmdụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

- Thứ hai, bỏ tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng”, bổ sung tình tiết “Lợi dụngthiên tai, dịch bệnh” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 3

- Thứ ba, bỏ tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, bổ sung tình tiết “Lợidụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp” làm tình tiết tăng nặng định khung hìnhphạt tại khoản 4

- Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nhằm loại bỏ những điều kiện vậtchất của tội phạm, góp phần cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa tội phạm, ổnđịnh và đảm bảo trật tự xã hội Vật và tiền trực tiếp liên quan tới tội phạm là vật hoặc tiền

là công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện tội phạm hoặc thông qua việc thực hiệntội phạm mà có, hoặc do mua bán đổi chác những thứ ấy mà có, hoặc là vật Nhà nước cấmsản xuất, tàng trữ mua bán

- Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại nhằm khôi phục lại tình trạng sởhữu ban đầu trước khi tội phạm xảy ra Đây là biện pháp tư pháp buộc người phạm tộiphải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Trongtrường hợp làm cho tài sản bị chiếm đoạt giảm giá trị thì bên cạnh việc trả lại tài sản cònphải bồi thường trị giá tài sản bị thiệt hại Nếu vì lý do nào đó mà tài sản bị chiếm đoạt đãthất lạc hoặc không còn nữa thì người phạm tội phải bồi thường toàn bộ trị giá tài sản đãchiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Trong trường hợp người phạmtội sử dụng trái phép tài sản của người khác vào hành vi phạm tội mà làm hỏng hoặc mấttài sản đó thì cũng phải buộc sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu hoặcngười quản lý hợp pháp

- Bắt buộc chữa bệnh là biện pháp tư pháp được Bộ luật hình sự quy định áp dụngđối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc

Trang 23

bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, nhằm phòngngừa khả năng gây thiệt hại cho xã hội do những người này gây ra Đối với người phạmtội khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng khi bị kết án hoặc khi đang chấp hành hìnhphạt đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thìTòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ, sau khi khỏibệnh có thể họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc phải tiếp tục chấp hành hình phạt.Đây là biện pháp tư pháp mang tính nhân đạo, tạo điều kiện cho người bệnh được chữabệnh tại cơ sở chữa bệnh chuyên khoa, trong trường hợp không cần thiết có thể giao chogia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩmquyền Người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người dùng thủ đoạn giandối nhằm làm cho người khác tin tưởng để chiếm đoạt tài sản, như vậy khi phạm tội họkhông thể là người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, vì vậy biệnpháp bắt buộc chữa bệnh chỉ do Tòa án áp dụng khi họ bị kết án hoặc khi họ đang chấphành hình phạt mà phát sinh bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năngđiều khiển hành vi Việc áp dụng biện pháp tư pháp này phải căn cứ vào kết luận của hộiđồng giám định pháp y.

"Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội mà người đó đã phạm" "Miễn hình phạt là không buộc người phạm tội phải chịubiện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt về tội mà người đó đãthực hiện"

Điều 27, 29, 60, 62 BLHS quy định những trường hợp được miễn trách nhiệm hình

sự và miễn chấp hành hình phạt Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng được áp dụngthời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu miễn chấp hành hình phạt theo quyđịnh của những điều luật trên Ngoài ra việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự còn được

áp dụng trong trường hợp được đặc xá, đại xá hoặc trước khi hành vi phạm tội bị phátgiác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện vàđiều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, hoặc trongtrường hợp do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội khôngcòn nguy hiểm cho xã hội nữa (Điều 27 BLHS 2015)

Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, người được miễn trách nhiệm hình sự vẫn có thểphải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự, hành chính, dân sự hoặclao động hay biện pháp kỷ luật khác

2.4 QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

"Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra nhữngđiều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó"Trong quá trình chuẩn bị phạm tội, đối tượng tác động của tội phạm chưa bị biến đổitình trạng ban đầu, quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm chưa bị xâm hại, nhưng việcchuẩn bị phạm tội là tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm, nó hợp thành

Trang 24

một thể thống nhất với hành vi phạm tội, khách thể bị xâm hại như thế nào cũng phụ thuộcvào quá trình chuẩn bị phạm tội Do đó có những hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tộicũng phải chịu chế tài nghiêm khắc của luật hình sự.

Điều 14 BLHS quy định: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phươngtiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gianhóm tội phạm

So với quy định chuẩn bị phạm tội tại Điều 17 BLHS 1999 cho thấy quy định chuẩn

bị phạm tội tại Điều 14 BLHS 2015 có ba điểm mới là: Thứ nhất, BLHS bổ sung hành vi

“thành lập, tham gia nhóm tội phạm” vào định nghĩa khái niệm chuẩn bị phạm tội; Thứhai, BLHS giới hạn và quy định hành vi chuẩn bị phạm những tội cụ thể phải chịu tráchnhiệm hình sự; Thứ ba, BLHS cũng giới hạn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phảichịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm một số tội cụ thể (02 tội)

Từ đó xác định đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tachỉ xem xét các tình tiết thuộc điểm a khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS Căn cứvào các tình tiết đó xác định: Người mới có hành vi chuẩn bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạttài sản thì đã bị phát hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này ở giaiđoạn chuẩn bị nếu tài sản có ý định chiếm đoạt có giá trị từ 200 triệu đồng trở lên (theocác điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 174 BLHS)

Và trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội cũng như đường lối xử

lý cũng khác so với trường hợp đã thực hiện hành vi phạm tội, Điều 57 Bộ luật hình sự

2015 quy định: “Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quyđịnh hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được ápdụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá baphần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”

2.4.2 Phạm tội chưa đạt

"Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng

vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.” (Điều

có thể tách rời nên cũng được coi là đã bắt đầu thực hiện tội phạm

Đặc điểm thứ hai: Người phạm tội không thực hiện được tội phạm tới cùng, nghĩa là

Trang 25

hành vi đã thực hiện chưa thỏa mãn các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tộiphạm Những trường hợp hành vi phạm tội chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu thuộc mặtkhách quan của cấu thành tội phạm có thể xảy ra như người phạm tội đã thực hiện đượchành vi quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm có thể xảy ra như ngườiphạm tội đã thực hiện được hành vi quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm(hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm và cũng là hậu quả mà người phạm tộimong muốn).

Đặc điểm thứ ba: Nguyên nhân của việc không thực hiện được phạm tội tới cùng (tộiphạm chưa hoàn thành) là vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Cónghĩa là bản thân người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng, nhưng tộiphạm không hoàn thành được là do những cản trở khách quan

Trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội chưa đạt Điều 15 BLHS quy định:

“Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt” Phạm tộichưa đạt do nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội nên mọi trường hợp phạm tộichưa đạt đều phải chịu trách nhiệm hình sự không phụ thuộc vào loại tội là tội phạm ítnghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng Đây là điểmkhác so với trường hợp chuẩn bị phạm tội bởi so với chuẩn bị phạm tội thì phạm tội chưađạt nguy hiểm hơn Sự nguy hiểm này thể hiện ở chỗ người phạm tội chưa đạt đã thực hiệntội phạm, khách thể đã bị xâm hại do đó về mức độ trách nhiệm hình sự, phạm tội chưađạt bị xử phạt nặng hơn

-Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm (người tổ chức)

-Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (người xúi giục)

-Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (người giúp sức)

Trong vụ đồng phạm có thể có cả bốn loại người đồng phạm trên, cũng có thể chỉ cómột loại người thực hành Những hành vi của các đồng phạm là sự liên kết thống nhất hỗtrợ cho nhau, cùng gây ra hậu quả

Do đó những người thực hiện hành vi đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnđều phải chịu trách nhiệm hình sự chung về tội phạm đã thực hiện Tuy nhiên, mỗi đồngphạm thực hiện những hành vi khác nhau, tính nguy hiểm cho xã hội của những hành vi đó

là khác nhau, nên việc xác định trách nhiệm hình sự đối với từng đồng phạm là khác nhau.Điều này thể hiện ở nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 17 BLHS 2015 có thể xác định đồng phạm phải cónhững dấu hiệu khách quan và chủ quan sau:

-Về mặt khách quan: Có 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện chủ thể

Ngày đăng: 25/08/2021, 09:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1 BLHS Bộ luật hình sự - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam thực tiễn trên địa bàn thành phố kon tum
1 BLHS Bộ luật hình sự (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w