Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sựđã giành hẳn một chương quyđịnh các tội xâm phạm sở hữu Chương XIV Bộ luật hình sự gồm từ Điều 133 đến Điều 145 trong đó Tội lừa đảo ch
Trang 2Kon Tum, tháng 05 năm 2020
Trang 3ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
• •
PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
MSSV :16152380107024
The University
Trang 4Kon Tum, tháng 05 năm 2020
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHIẾU NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN PHIẾU CHẤM QUÁ TRÌNH THỰC TẬP NĂM 4
5
Trang 64 VKSND Viện kiểm sát nhân dân
5 THQCT Thực hành quyền công tố
6
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước cuả VKSND tỉnh kon tum 9
Trang 8độ nghiêm trọng Thông qua việc đánh giá coi hành vi xâm phạm quyền sở hữu của conngười là tội phạm và áp dụng đối với người phạm tội một hình phạt, Nhà nước luôn thểhiện thái độ đấu tranh không khoan nhượng đối với loại hành vi này.
Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước ta đã banhành Hiến phápvà các đạo luật khác để ghi nhận, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của côngdân, trong đó các quy định của pháp luật hình sự giữ vai trò quan trọng Theo cách hiểuhiện nay "Quyền sở hữu là một hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành
để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạtcác tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định của pháp luật".Như vậy sau quyền được sống, quyền được tự do thì quyền sở hữu có một vai trò to lớnđốivới đời sống con người Tiếp theo các văn bản pháp lý trước đó, Hiến pháp 1992 - vănbản pháp lý có giá trị pháp lý cao nhất đều ghi nhận:
Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chếthị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thànhphần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu toàndân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nềntảng
Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sựđã giành hẳn một chương quyđịnh các tội xâm phạm sở hữu (Chương XIV Bộ luật hình sự) gồm từ Điều 133 đến Điều
145 trong đó Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự.Trước đó, trong Bộ luật hình sự1985, vì đề cao sở hữu tập thể, sở hữu Nhà nước nên cácnhà lập pháp thời kỳ này đã tách thành hai chương riêng: Chương các tội xâm phạm tàisản sở hữu xã hội chủ nghĩa và chương các tội xâm phạm sở hữu của công dân với các đặcđiểm pháp lý hành vikhông có gì khác nhau, có chăng chỉ khác nhau về mức hình phạt ápdụng và một vài tình tiết định khung tăng nặng
Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định quyền sở hữu là một quyền thiêngliêng và đượchiến định Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định:
1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệusinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chứckinh tế khác
2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ
8
Trang 93 Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tìnhtrạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồithường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường.
Quyền sở hữu đối với tài sản là quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ Chế độ sởhữu là một trong những vấn đề quan trọng được nhà nước bảo vệ bằng pháp luật, trong đó
có biện pháp pháp luật hình sự thể hiện kiên quyết ý chí quyền lực nhà nước trong việc xử
lý các hành vi pháp luật đối với chế độ sở hữu Trong số các tội xâm phạm sở hữu, tội lừađảo chiếm đoạt tài sản là tội xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu đối với tài sản củangười khác, tội phạm này xảy ra khá phổ biến, đây là một trong những tội xâm phạm sởhữu có diễn biến phức tạp, xảy ra thường xuyên và ngày càng gia tăng với nhiều thủ đoạntinh vi, xảo quyệt Có những vụ án số giá trị tài sản bị chiếm đoạt có khi lên đến hàng chục
tỉ đồng Nhiều trường hợp lợi dụng việc giao kết hợp đồng đầu tư, hợp đồng vay vốn hoặc
sử dụng công nghệ khoa học tiên tiến về vi tính, tin học để làm thẻ tín dụng giả, tìm kiếmmật mã số tài khoản của người khác, tổ chức trên game trên mạng nhằm lừa đảo chiếmđoạt tài sản Từ chủ thể thực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng,tài sản bị chiếm đoạt có giá trị rất lớn, có những vụ lên đến hàng chục tỷ đồng, gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh trật tự của đất nước Trong
đó, địa bàn tỉnh Kon Tum không phải là ngoại lệ
Kon Tum là một tỉnh nằm ở khu vực Tây Nguyên, là một cửa ngõ quốc tế với sự pháttriển của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế Cùng với đó là tình trạnglao động nhập cư tăng đột biến trong thời gian qua, làm cho tình hình an ninh trật tự xã hội
bị tác động lớn Tình hình tội phạm nhóm xâm phạm sở hữu nói chung, đặc biệt là tội lừađảo chiếm đoạt tài sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Kon Tum ngày càng gia tăng cả về số vụ
và mức độ hành vi, gây thiệt hại lớn về tài sản của cá nhân và tổ chức xã hội
Trước tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tác động tiêu cực trên tất cả cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, cũng như trước sự đòi hỏi mới của cuộc đấutranh phòng, chống tội phạm Những năm qua cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật củanước ta, các cơ quan bảo vệ pháp luật của tỉnh Kon Tum đã tích cực đấu tranh nhằm ngănchặn các hành vi xâm phạm sở hữu và cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.Tuy nhiên, với diễn biến phức tạp của loại tội phạm này, các cơ quan tiến hành tốtụng của tỉnh Kon Tum đã nỗ lực nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định như: chưa kịpthời, chưa toàn diện và từ đó mới chỉ đáp ứng phần nào công tác đấu tranh phòng, chốngtội phạm Việc nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới một góc nhìn thực tiễn tạiđịa phương không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa trong thựctiễn áp dụng của công tác định tội danh và quyết định hình phạt, hiệu quả phòng chống tộiphạm nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế định này trong Pháp luật hình sự Việt
Nam Chính vì vậy, tôi đã chọn: “Pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
-Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Kon Tum” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp
của mình
9
Trang 102 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu của đề tài: trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự vàthực trạng tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địabàn tỉnh Kon Tum để đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấutranh phòng ngừa loại tội phạm này
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tôi đặt ra cho mình cácnhiệm vụ sau đây:
a) Làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"theoĐiều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 và có sự so sánh tội phạm này với một số tộiphạm khác có liên quan để làm rõ thêm cách nhận biết các dấu hiệu pháp lý của tộiphạm này
b) Phân tích thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử loại tội này tại tỉnh Kon Tum trongthời gian vừa qua để thấy được các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến tình hình tộiphạm này
c) Phân tích làm sáng tỏ tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản trên cơ sở gắn với đặc điểm của tỉnh Kon Tum đồng thời chỉ ranhững vướng mắc, hạn chế trong việc đấu tranh, phòng, chống tội phạm này tại tỉnhKon Tum
d) Đưa ra các giải pháp đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnhKon Tum và đưa ra những kiến nghị đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của Bộluật hình sự liên quan đến tội danh này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phân tích tình hình và diễnbiến của tội phạm để rút ra những điểm thành công cũng như thiếu sót trong việc đấu tranhphòng chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Kon Tum, phân tích, nguyên nhân và điềukiện cũng như các giải pháp đấu tranh, phòng chống tội phạm này
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội lừađảo chiếm đoạt tài sản và diễn biến tội phạm trên địa bàn Kon Tum giai đoạn 2014 - 2020
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn góp phần tích cực làm phongphú thêm lý luận và cơ sở thực tiễn trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội lừa đảochiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Để giải quyết những vấn đề đặt ra, đề tài sửa dụng các phương pháp nghiên cứu cụthể: Phân tích, tổng hợp, nghiên cứu so sánh, thống kê, nghiên cứu tài liệu
Phương pháp phân tích và so sánh, phân tích các quy định pháp luật hiện hành.Phương pháp thống kê các số liệu của kết quả tổng kết hàng năm trong các báo cáo củangành TAND và VKSND tỉnh Kon Tum
Phương pháp phân tích tổng hợp: Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã khái
10
Trang 11quát lại tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Kon Tum, nguyên nhân, các giải pháp Qua
đó, nghiên cứu các tài liệu trên sách báo, giáo trình luật, tạp trí luật học, internet Phươngpháp nghiên cứu tài liệu
5 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, danhmụctài liệu tham khảo, nội dung của báo cáo gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Kon Tum
Chương 2: Một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừađảo chiếm đoạt tài sản
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum - một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện
11
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VKSND TỈNH KON TUM
1.1.1 Khái quát về tỉnh Kon Tum
Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao Nam Trung Bộ, phía Tây giáp nước Cộng hoàDân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, với chiều dài biên giới khoảng 260
km, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Nam giáp tỉnhGia Lai; có đường QL14 nối với các tỉnh Tây Nguyên và Quảng Nam, đường 40 điAttapeu (Lào) Nằm ở ngã ba Đông Dương, Kon Tum có điều kiện hình thành các cửakhẩu, mở rộng hợp tác quốc tế về phía Tây Ngoài ra, Kon Tum có vị trí chiến lược hết sứcquan trọng về quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái Kon Tum là đầu mối giao lưu kinh
tế của cả vùng duyên hải miền Trung và cả nước
Kon Tum có tiềm năng về thuỷ điện vào loại lớn nhất cả nước (2.790 MW) Ngoàicác công trình thuỷ điện đã và đang xây dựng Kon Tum còn có thể xây dựng các côngtrình thuỷ điện vừa và nhỏ Hiện nay, có rất nhiều nhà đầu tư đang điều tra, khảo sát cáccông trình thuỷ điện trên địa bàn Với việc đầu tư các công trình thủy điện hiện nay, trongtương lai, Kon Tum có thể sẽ là một trung tâm điều phối nguồn điện quan trọng của cảnước thông qua đường dây 500 KV
Bên cạnh đó, Kon Tum có diện tích nông nghiệp và có khả năng nông - lâm nghiệpbình quân vào loại cao so với cả nước, đất đai địa hình sinh thái đa dạng, có khả năng hìnhthành vùng chuyên canh cây công nghiệp rộng lớn, nhất là cây nguyên liệu giấy Kon Tumcòn là nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên mang nét nguyên sơ, các khu rừng nguyên sinh,
di tích đường mòn Hồ Chí Minh, di tích lịch sử chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh, ngục KonTum, ngục Đắk Glei, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của VKSND tỉnh Kon Tum
Kon Tum là một tỉnh nằm ở phía bắc cao nguyên Gia Lai - Kon Tum, phần lớn địahình thấp từ tây sang đông, từ bắc xuống nam với diện tích tự nhiên 9.676,5 km2, dân sốhơn 507.800 người, địa bàn hoạt động rộng, dân cư thưa thớt, điều kiện đi lại còn khókhăn có huyện cách thành phố 150km (huyện IaH'Drai), trình độ văn hóa còn thấp đờisống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, chưa được phát triển Trước tình hình phát triểncủa xã hội cũng như của đất nước, để góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệchế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, củatập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của nhân dân, bảo vệtrước mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân đều phải được xử lý theo pháp luật Ngày 21/8/1991 Viện trưởng Viện kiểmsát nhân dân tối cao Trần Quyết ký ban hành quyết định số 88/QĐ-VKS-TCCB trên cơ sởtách từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum về việc thành lập VKSND tỉnh Kon Tum Trước yêu cầuđổi mới tổ chức và hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao(VKSNDTC), theo lộ trình cải cách tư pháp đến năm 2020 5 VKSND tỉnh Kon Tum luônđổi mới đáp ứng phù hợp với nhiệm vụ, môi trường làm việc, đảm bảo trang thiết bị
Trang 13phương tiện làm việc đầy đủ, hiện đại, phù hợp cho hoạt động điều tra, đáp ứng với yêucầu đổi mới và yêu cầu hội nhập quốc tế như: Đảm bảo về trụ sở làm việc riêng, có phòngtiếp dân, phòng nghiệp vụ, kho lưu trữ, nhà ở tập thể cho cán bộ, nhà khách; thiết bị kỹthuật, công cụ hỗ trợ (máy ghi âm, ghi hình, điện thoại, vi tính, máy in, máy fax );phương tiện đi lại để phục vụ cho hoạt động điều tra xác minh, sẵn sàng đáp ứng trongtrường hợp cùng một lúc phải tiến hành điều tra nhiều vụ án, kiểm tra xác minh nhiều tốgiác, tin báo về tội phạm trên nhiều địa bàn khác nhau; có kế hoạch kinh phí dài hạn đểxây dựng cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động điều tra Dưới sự lãnh đạo củaĐảng bộ tỉnh Kon Tum đối với các cơ quan, ban ngành của tỉnh Kon Tum, trong đó cóVKSND tỉnh Kon Tum đã triển khai phòng, chống tội phạm và thực hiện chức năng,nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân tiến hành kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố vàxét xử các vụ án hình sự kịp thời và đúng pháp luật, hạn chế các tội phạm xảy ra trên địabàn tỉnh Kon Tum Viện kiển sát nhân dân tỉnh Kon Tum: + Địa chỉ: số 190 đường TrầnPhú, phường Trường Chinh, Thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum + Số điện thoại:0603.864802 + Fax: 0603.862975 + Email: vkskontum@vksndtc.gov.vn
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VKSND TỈNH KON TUM
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của VKSND tỉnh Kon Tum
VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp vàpháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảođảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
1.2.2 Các chức danh tư pháp trong VKSND tỉnh Kon Tum:
a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự cáccấp;
b) Kiểm sát viên: Có 4 ngạch Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân: Kiểm sát viênViện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm sát viên cao cấp; Kiểm sát viên trung cấp;Kiểm sát viên sơ cấp;
c) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra;
d) Điều tra viên: có 3 ngạch Điều tra viên: Điều tra viên cao cấp; Điều tra viên trungcấp; Điều tra viên sơ cấp;
đ) Kiểm tra viên: có 3 ngạch Kiểm tra viên: Kiểm tra viên cao cấp; Kiểm tra viênchính; Kiểm tra viên
1.2.3 Cơ cấu tổ chức của VKSND tỉnh Kon Tum
VKSND tỉnh Kon Tum là Cơ quan có dự toán kinh phí độc lập, có quyết định thànhlập, có con dấu và tài khoản riêng, có biên chế riêng Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát cóBan lãnh đạo và bộ máy giúp việc Ban lãnh đạo viện gồm có 01 Viện trưởng, 02 Phó Việntrưởng
Trang 14Bảng 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước cuả VKSND tỉnh kon tum
Lãnh đạo VKSND tỉnh Kon Tum
21 Đơn vị trực thuộc VKSND tỉnh Kon Tum
Văn phòng tổng họp (ký hiệu là VP)
Phòng Tổ chức cán bộ (ký hiệu là
P15)Phòng Thống kê tội phạm và Công nghệ
thông tin (ký hiệu là TK)
Phòng kiểm sát và giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong hoạt động tư pháp (ký hiệu
là P12)
VKSND huyện Kon RẫyVKSND huyện Đắk GleiVKSND huyện Đắk Tô
VKSND huyện Kon Plông
Trang 16KẾT CHƯƠNG 1
Sự thành lập của Ngành Kiểm sát đã đánh dấu bước phát triển của việc thực hànhquyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp tại địa phương VKSND có nhiệm vụbảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gópphần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất VKSND tỉnh KonTum là cơ quan chuyên môn nghiệp vụ hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của VKSNDtối cao
Trang 17CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI LỪA ĐẢO TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM
ĐOẠT TÀI SẢN
2.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1.1 Khái niệm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xâm phạm quyền sở hữuphổ biến nhất hiện nay Theo điều 174, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 có quy
định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đó là: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm
đoạt tài sản của người khác ”
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối,đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động khiến người có tàisản hoặc người có trách nhiệm trông giữ, quản lý tài sản vì tin nhầm, tưởng giả là thật,tưởng kẻ gian là người ngay nên tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội
2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
a Căn cứ pháp lý.
Điều 174 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về Tội lừa đảochiếm đoạt tài sản như sau:
(1) Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ
2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộcmột trong những trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 nămhoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169,
170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn viphạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
(2) Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07
năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưngthuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này
(3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15
năm:
Trang 18a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưngthuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điềunày;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh
(4) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20
năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưngthuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điềunày;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp
(5) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng,
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 nămđến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
b Các yếu tố cấu thành của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
❖ Mặt khách quan của tội phạm.
Về hành vi khách quan: (1) Hành vi của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùngthủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác mà ngay lúc đó, người bị hạikhông biết được có hành vi gian dối
(2) Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật nhưnglàm cho người bị lừa dối tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội Việc đưa rathông tin giả có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữviết (viết thư), bằng hành động, bằng hình ảnh hoặc kết hợp bằng nhiều cách thức khácnhau Hiện nay, thủ đoạn lừa đảo của tội phạm rất tinh vi, tội phạm thường thực hiện hành
vi lừa đảo trên các trang mạng xã hội hoặc các trang web, sau khi đã chiếm đoạt được tàisản, tội phạm sẽ cắt đứt mọi liên hệ với người bị hại và thường người bị hại không biếthoặc biết những thông tin không chính xác về tội phạm
Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có mộthành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối.Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sởhữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của ngườiphạm tội lại không được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi, cũng chính vì thế mà khiphân tích các dấu hiệu khách quan cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản một số quanđiểm cho rằng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hành vi khách quan là hành vi “giandối” và hành vi “chiếm đoạt”, nói như thế cũng không phải là không có căn cứ Tuy nhiên,
điều luật quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người
khác ” nên không thể coi thủ đoạn phạm tội là một hành vi khách quan được vì thủ đoạn
chính là phương thức để đạt mục đích mà biểu hiện của thủ đoạn gian dối lại bao gồmnhiều hành vi khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể khác mà người phạm tội thựchiện hành vi đó nhằm đánh lừa người khác
Trang 19❖Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vicủa mình nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra và mongmuốn hậu quả đó xảy ra
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có tính chất chiếm đoạt, do lỗi cố ý của chủ thể,mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người bị hại
Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiệnthủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản Nếu sau khi đã có tài sản một cách hợppháp, ngay thẳng rồi mới có ý định chiếm đoạt tài sản thì không phải là hành vi lừa đảochiếm đoạt tài sản, tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội phạm khác như tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Thực tế việc
chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội thường căn cứ vào tài sản thực có, tìnhtrạng tài chính, nhu cầu tài sản của người phạm tội kết hợp với lời khai nhận của ngườiphạm tội như thế nào Thông thường trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tàisản, người phạm tội bị rơi vào hoàn cảnh nợ nần do thua cờ, bạc, lô đề, kinh doanh ,không có khả năng trả nợ cho chủ nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản
❖Mặt khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước,
cơ quan, tổ chức, cá nhân Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản, bao gồm vật,tiền Việc xâm phạm quyền sở hữu cũng thể hiện ở hành vi chiếm hữu bất hợp pháp tài sảncủa người khác sau khi lừa lấy được tài sản
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chấtchiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhânthân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tàisản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiệntrong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhà làm luật không quy định thiệt hại vềtính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạtđược tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chếtngười hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từngtrường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giếtngười hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
❖Mặt chủ thể của tội phạm.
Chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lựctrách nhiệm hình sự Theo quy định tại điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thìđối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm không phải là người từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi Tức là nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chỉ có người trên 16 tuổi mới phải chịutrách nhiệm hình sự về tội này
2.2 PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC
Qua phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chúng ta thấy
Trang 20đặc trưng nổi bật của tội lừa đảo là bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Songtrong thực tiễn, nhận thức thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản không phải trường hợpnào cũng rõ ràng và thống nhất Nhiều tội phạm cũng có những hành vi gian dối như lạmdụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa dối khách hàng Vì vậy cần thiết phải phân biệttội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụngtrong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm này .
2.2.1 So sánh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi sau khi vay, mượn, thuêtài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợpđồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc đã
sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sảnquy định tại Điều 175 BLHS 2015
Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có các yếu tố khách thể, mặt chủ quan,chủ thể của tội phạm so với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cơ bản giống nhau, chỉ khácnhau ở mặt khách quan Do vậy chỉ cần phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tàisản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở mặt khách quan mà chủ yếu là thông qua hình thứchợp đồng mà có sự gian dối
Trước hết, ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mặt khách quan thể hiện ở 2nhóm hành vi sau:
Một là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của ngườikhác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạttài sản đó hoặc đã đến thời hạn trả lại và mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tìnhkhông trả
Hai là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của ngườikhác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫnđến không có khả năng trả lại tài sản
Hợp đồng trong tội lạm dụng tín nhiệm là hợp đồng đúng đắn, ngay thẳng Ở thờiđiểm kí kết hợp đồng, người phạm tội chưa có ý định chiếm đoạt tài sản Chỉ sau đó, khiđến thời hạn nhất định hoặc thời hạn phải trả lại tài sản mới có ý định không trả lại hoặc
sử dụng tài sản vào những mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏtrốn nhằm chiếm đoạt tài sản Như vậy, mục đích chiếm đoạt nảy sinh sau khi đã nhậnđược tài sản trên cơ sở hợp đồng
Để thực hiện ý định chiếm đoạt, người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tàisản có thể có hành vi gian dối như giả tạo bị mất, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản nhưnghành vi gian dối này chỉ để che giấu hành vi chiếm đoạt Hành vi gian dối không phải làdấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Đểchiếm đoạt được tài sản, người phạm tội có thể dùng những thủ đoạn khác như bỏ trốn hay
cố ý chây ỳ, không trả lại tài san
Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản trướckhi thực hiện việc ký kết hợp đồng Việc ký kết hợp đồng thực chất là phương thức để
Trang 21chiếm đoạt tài sản Hợp đồng này là hoàn toàn giả tạo nhằm tạo lòng tin để người bị hạigiao tài sản Khi người phạm tội nhận được tài sản từ hợp đồng cũng là thời điểm tội lừađảo chiếm đoạt tài sản hoàn thành Hành vi ký kết hợp đồng giả tạo là hành vi lừa dối vàhành vi nhận tài sản là hành vi chiếm đoạt được Hành vi gian dối của tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản là cơ sở quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội 7 nênhành vi gian dối là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản.
Như vậy, việc xem xét người đó phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản haylừa đảo chiếm đoạt tài sản phải xem xét đến những căn cứ chứng minh người phạm tội banđầu trước khi ký kết hợp đồng đã có ý định chiếm đoạt tài sản hay chưa và đặc biệt hợpđồng được ký kết là hoàn toàn ngay thẳng hay gian dối Người phạm tội lạm dụng tínnhiệm chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin sẵn có của người có tài sản Còn người phạm tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản thì chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin do hành vi gian dối tạora
2.2.2 So sánh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng:
Tội lừa dối khách hàng là hành vi tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý, người phạmtội biết rõ hành vi lừa dối khách hàng của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì vụ lợivẫn cố tình thực hiện tội phạm Được quy định cụ thể trong điều 198 bộ luật hình sự 2015
Khách nhau:
- Mô tả tội phạm: Tội lừa dối khách hàng là hành vi tội phạm được thực hiện do lỗi
cố ý, người phạm tội biết rõ hành vi lừa dối khách hàng của mình là nguy hiểm cho
xã hội nhưng vì vụ lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm còn tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản là tội mà người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sởhữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạttài sản đó
- Khách thể: Tội lừa dối khách hàng là trật tự kinh doanh xã hội chủ nghĩa và lợi íchcủa người tiêu dung còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản củangười khác
- Hành vi trong mặt khách quan: Tội lừa dối khách hàng là gian dối trong các lĩnhvực mua, bán bằng thủ đoạn cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo mặt hàng để lấy tiềncủa khách hàng còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối làm cho người
có tài sản tin tưởng vào sự gian dối mà trao tài sản cho người phạm tội
- Chủ thể: Tội lừa dối khách hàng là những người làm nghề mua, bán hàng còn tộilừa lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào
Trang 22- Hình phạt cao nhất: đối với tội lừa dối khách hàng hình phạt cao nhất là phạt tù từ 1năm đến 5 năm còn ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hình phạt cao nhất là tù chungthân.
Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn so vớitội lừa dối khách hàng Tuy có nhiều điểm tương đồng, song hai tội danh này lại có nhiềuđiểm khác nhau để phân biệt như trên
2.3 CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
2.3.1 Phải chịu hình phạt:
Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, được thực hiệntrong bản án kết tội của Tòa án, áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện phápcưỡng chế của Nhà nước được quy định trong Luật hình sự Vì vậy trách nhiệm hình sựđối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước hết thể hiện qua các khung hình phạt được quyđịnh trong Bộ luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Điều 174 BLHS 2015 quy định bốn khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản và được sắp xếp theo trật tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc,
đó là khung hình phạt cơ bản, khung tăng nặng thứ nhất, khung tăng nặng thứ hai vàkhung tăng nặng thứ ba
Khung 1: Khoản 1 Điều 174 BLHS 2015 quy định chế tài lựa chọn giữa hình phạtcải tạo không giam giữ và hình phạt tù Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể
bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03năm khi thỏa mãn một trong các trường hợp sau: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính vềhành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong cáctội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của BLHS, chưa đượcxóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội; Tàisản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ
Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, cáctình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như các căn cứ pháp lý khác đểđưa ra hình phạt hợp lý, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt
có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ (Điều 36 BLHS), nếu người phạmtội có ít hoặc không có tình tiết giảm nhẹ thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị phạt từ 6tháng đến 03 năm tù
Khung 2: Quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm áp dụng đối với người phạmtội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp;Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Tái phạm nguyhiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủđoạn xảo quyệt Trong đó:
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức là cáctrường hợp: người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,công tác (chức vụ, quyền hạn) của mình trong các cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt
Trang 23tài sản của người khác; người tuy không có chức vụ, quyền hạn của cơ quan Nhà nước, tổchức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội nhưng
đã lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình để lừa đảo chiếm đoạt tài sảncủa người khác
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt là trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạngian dối có tính chất tinh vi như giả danh một cơ quan, tổ chức nào đó không cóthật để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách giả mạo con dấu, giảmạo đăng ký, bố trí trụ sở làm việc giả để giao dịch, thuê tài sản để rút tiền
- Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, táiphạm nguy hiểm, chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới200.000.000 đồng là trường hợp có từ 2 người trở lên cố ý cùng tham gia phạm tội
và có sự thống nhất với nhau về ý chí, có sự câu kết chặt chẽ trong quá tình phạmtội, trong đó có một hoặc một số người thực hành và có thể có người tổ chức, ngườixúi giục, người giúp sức; Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là có từ 5 lần trở lênphạm tội, trong đó có lần đã bị xét xử nhưng chưa được xóa án tích, hoặc chưa lầnnào vị xét xử và chưa lần phạm tội nào hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự,
và người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả củacác lần phạm tội làm nguồn sống chính
Khung 3: Quy định phạt tù từ 07 năm đến 15 năm áp dụng đối với người phạm tộithuộc một trong các trường hợp sau: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đếndưới 500.000.000 đồng; Lợi dụng hoàn cảnh thiên tai, dịch bệnh để thực hiện hành vi lừađảo chiếm đoạt tài sản Tình tiết này được áp dụng không phụ thuộc vào phạm vi, mức độcủa thiên tai, dịch bệnh hoặc tính chất, mức độ của những khó khan của xã hội trong tìnhtrạng thiên tai, dịch bệnh
Khung 4: Quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân áp dụngđối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiếm đoạt tài sản trị giá500.000.000 đồng trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, trong đótình trạng chiến tranh là trạng thái xã hội đặc biệt của đất nước được tuyên bố trong thờigian trước khi nước nhà bị xâm lược cho tới khi hành đọng xâm lược đó được chấm dứttrên thực tế, còn tình trạng khẩn cấp về quốc phòng là trạng thái xã hội của đất nước khi cónguy cơ trực tiếp bị xâm lược hoặc đã xảy ra hành động vũ trang xâm lược hoặc bạo loạnnhưng chưa đến mức tuyên bố tình trạng chiến tranh, mức độ nguy hiểm của hành vi trongtrường hợp này phụ thuộc vào tính chất của hoàn cảnh chiến tranh, tính chất mức độ củatình trạng khẩn cấp
Hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 174 BLHS là người phạm tội còn
có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu mộtphần hoặc toàn bộ tài sản
Như vậy so với quy định tại Điều 139 BLHS năm 2009 thì quy định tại Điều 174BLHS 2015 có một số điểm mới sau đây:
- Thứ nhất, về yếu tố cấu thành tội phạm thì đồng thời với việc bổ sung hai tình tiết
Trang 24định tội (điểm c và d khoản 1), BLHS không quy định hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sảncủa người khác có giá trị dưới 2.000.000 đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây.
- Thứ hai, bỏ tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng”, bổ sung tình tiết “Lợi dụngthiên tai, dịch bệnh” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản
- Thứ ba, bỏ tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, bổ sung tình tiết “Lợidụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp” làm tình tiết tăng nặng định khung hìnhphạt tại khoản
- Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nhằm loại bỏ những điều kiện vậtchất của tội phạm, góp phần cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa tội phạm, ổnđịnh và đảm bảo trật tự xã hội Vật và tiền trực tiếp liên quan tới tội phạm là vật hoặc tiền
là công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện tội phạm hoặc thông qua việc thực hiệntội phạm mà có, hoặc do mua bán đổi chác những thứ ấy mà có, hoặc là vật Nhà nước cấmsản xuất, tàng trữ mua bán
- Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại nhằm khôi phục lại tình trạng sởhữu ban đầu trước khi tội phạm xảy ra Đây là biện pháp tư pháp buộc người phạm tộiphải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Trongtrường hợp làm cho tài sản bị chiếm đoạt giảm giá trị thì bên cạnh việc trả lại tài sản cònphải bồi thường trị giá tài sản bị thiệt hại Nếu vì lý do nào đó mà tài sản bị chiếm đoạt đãthất lạc hoặc không còn nữa thì người phạm tội phải bồi thường toàn bộ trị giá tài sản đãchiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Trong trường hợp người phạmtội sử dụng trái phép tài sản của người khác vào hành vi phạm tội mà làm hỏng hoặc mấttài sản đó thì cũng phải buộc sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu hoặcngười quản lý hợp pháp
- Bắt buộc chữa bệnh là biện pháp tư pháp được Bộ luật hình sự quy định áp dụngđối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặcbệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, nhằm phòngngừa khả năng gây thiệt hại cho xã hội do những người này gây ra Đối với người phạmtội khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng khi bị kết án hoặc khi đang chấp hành hìnhphạt đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thìTòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ, sau khi khỏibệnh có thể họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc phải tiếp tục chấp hành hình phạt.Đây là biện pháp tư pháp mang tính nhân đạo, tạo điều kiện cho người bệnh được chữabệnh tại cơ sở chữa bệnh chuyên khoa, trong trường hợp không cần thiết có thể giao cho
Trang 25gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩmquyền Người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người dùng thủ đoạn giandối nhằm làm cho người khác tin tưởng để chiếm đoạt tài sản, như vậy khi phạm tội họkhông thể là người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, vì vậy biệnpháp bắt buộc chữa bệnh chỉ do Tòa án áp dụng khi họ bị kết án hoặc khi họ đang chấphành hình phạt mà phát sinh bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năngđiều khiển hành vi Việc áp dụng biện pháp tư pháp này phải căn cứ vào kết luận của hộiđồng giám định pháp y.
2.3.3 Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt:
"Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội mà người đó đã phạm" "Miễn hình phạt là không buộc người phạm tội phải chịubiện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt về tội mà người đó đãthực hiện"
Điều 27, 29, 60, 62 BLHS quy định những trường hợp được miễn trách nhiệm hình
sự và miễn chấp hành hình phạt Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng được áp dụngthời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu miễn chấp hành hình phạt theo quyđịnh của những điều luật trên Ngoài ra việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự còn được
áp dụng trong trường hợp được đặc xá, đại xá hoặc trước khi hành vi phạm tội bị phátgiác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện vàđiều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, hoặc trongtrường hợp do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội khôngcòn nguy hiểm cho xã hội nữa (Điều 27 BLHS 2015)
Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, người được miễn trách nhiệm hình sự vẫn có thểphải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự, hành chính, dân sự hoặclao động hay biện pháp kỷ luật khác
2.4 QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI
SẢN TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT
2.4.1 Chuẩn bị phạm tội:
"Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra nhữngđiều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạmđó"
Trong quá trình chuẩn bị phạm tội, đối tượng tác động của tội phạm chưa bị biến đổitình trạng ban đầu, quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm chưa bị xâm hại, nhưng việcchuẩn bị phạm tội là tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm, nó hợp thànhmột thể thống nhất với hành vi phạm tội, khách thể bị xâm hại như thế nào cũng 12 phụthuộc vào quá trình chuẩn bị phạm tội Do đó có những hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạmtội cũng phải chịu chế tài nghiêm khắc của luật hình sự
Điều 14 BLHS quy định: “ Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phươngtiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gianhóm tội phạm
Trang 26So với quy định chuẩn bị phạm tội tại Điều 17 BLHS 1999 cho thấy quy định chuẩn
bị phạm tội tại Điều 14 BLHS 2015 có ba điểm mới là: Thứ nhất, Bộ luật bổ sung hành vi
“thành lập, tham gia nhóm tội phạm “ vào định nghĩa khái niệm chuẩn bị phạm tội; Thứhai, Bộ luật giới hạn và quy định hành vi chuẩn bị phạm những tội cụ thể phải chịu tráchnhiệm hình sự; Thứ ba, Bộ luật cũng giới hạn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉphải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm một số tội cụ thể (02 tội)
Từ đó xác định đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tachỉ xem xét các tình tiết thuộc điểm a khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình
sự Căn cứ vào các tình tiết đó xác định: Người mới có hành vi chuẩn bị phạm tội lừa đảochiếm đoạt tài sản thì đã bị phát hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạmnày ở giai đoạn chuẩn bị nếu tài sản có ý định chiếm đoạt có giá trị từ 200 triệu đồng trởlên (theo các điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự)
Và trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội cũng như đường lối xử
lý cũng khác so với trường hợp đã thực hiện hành vi phạm tội, Điều 57 Bộ luật hình sự
2015 quy định: “Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quyđịnh hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được ápdụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá baphần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”
2.4.2 Phạm tội chưa đạt
"Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng
vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.” (Điều
có thể tách rời nên cũng được coi là đã bắt đầu thực hiện tội phạm
Đặc điểm thứ hai: Người phạm tội không thực hiện được tội phạm tới cùng, nghĩa làhành vi đã thực hiện chưa thỏa mãn các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tộiphạm Những trường hợp hành vi phạm tội chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu thuộc mặtkhách quan của cấu thành tội phạm có thể xảy ra như người phạm tội đã thực hiện đượchành vi quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm có thể xảy ra như ngườiphạm tội đã thực hiện được hành vi quy định trong mặt khách quan của cấu thành tộiphạm (hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm và cũng là hậu quả mà người