1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngoại giao văn hóa nhật bản với asean giai đoạn 2012 – 2019

85 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngoại Giao Văn Hóa Nhật Bản Với ASEAN Giai Đoạn 2012 - 2019
Tác giả Trần Hồng Nhung
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Võ Huyền Dung
Trường học Trường Đại Học Ngoại Ngữ
Chuyên ngành Quốc Tế Học
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 152,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, Cộng đồng ASEAN - baogồm 10 quốc gia Đông Nam Á là một khu vực trọng yếu ở châu Á - Thái BìnhDương, là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn, đã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Ngoại trừ những nội dung đã được tham khảo có kèm theo nguồn trích dẫn, luận văn này không bao gồm một phần hoặc toàn bộ nội dung của bất kỳ một công trình nào đã được công

bố để nhận một văn bằng hay học vị ở bất kỳ một cơ sở đào tạo nào khác.

Đà Nẵng, ngày tháng năm

Tác giả luận văn

(ký tên)

Trần Hồng Nhung

Trang 4

TÓM TẮT

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, ngoại giao văn hóa luôn được Nhật Bảncoi là công cụ quan trọng và hữu hiệu nhất khi thực hiện quan hệ đối ngoại vớiASEAN Đặc biệt, ngay từ khi bắt đầu thực hiện ngoại giao văn hóa với ASEAN,Nhật Bản đã luôn chủ động và linh hoạt nhằm phù hợp với tình hình thế giới cũngnhư khu vực để có thể đạt được kết quả tốt nhất Trên cơ sở tìm hiểu về các chínhsách cũng như thực tiễn triển khai các hoạt động ngoại giao văn hóa của Nhật Bảnvới ASEAN, luận văn sẽ dự báo triển vọng của ngoại giao văn hóa Nhật Bản đối vớiASEAN trong thời gian tới, từ đó đưa ra những khuyến nghị cho Việt Nam Đề tài

“Ngoại giao văn hóa Nhật Bản với ASEAN giai đoạn 2012 — 2019” được triển

khai với nội dung gồm ba chương: Chương 1 “Cơ sở lý luận của chính sách ngoạigiao văn hóa Nhật Bản với ASEAN”; Chương 2 “Thực tiễn triển khai hoạt độngngoại giao văn hóa Nhật Bản với ASEAN giai đoạn 2012 - 2019”; Chương 3 “Triểnvọng của ngoại giao văn hóa Nhật Bản với ASEAN và hàm ý chính sách cho ViệtNam”

ABSTRACT

In this globalized context, Japan has used cultural as an important and effectivetool of foreign policy with ASEAN Especially, since the early stage of itsimplementation, Japan has been very proactive to be regionally and globallyconsistent in order to get best achievements Based on the literature review of Japan'scultural diplomacy and activities with ASEAN, the thesis will forecast prospects ofJapan‘s cultural diplomacy with ASEAN in the future and then providing strategic

implications for Vietnam With the topic “Japan‘s cultural diplomacy with ASEAN

in the period 2012 — 2019”, the thesis consists of three chapters: Chapter 1:

“Theoretical basis of Japan‘s cultural diplomacy with ASEAN”; Chapter 2:

“Practical basis of Japan‘s cultural diplomacy with ASEAN in the period 2019”; Chapter 3: “Prospects of Japan‘s cultural diplomacy with ASEAN andimplications for Vietnam”

Trang 5

2012-MỤC LỤC

• •

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

• 7 •

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI ASEAN 5

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA 5

1.1.1 Khái niệm ngoại giao văn hóa 5

1.1.2 Các loại hình hoạt động của ngoại giao văn hóa 9

1.1.3 Vai trò của ngoại giao văn hóa 13

1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI ASEAN 14

1.2.1 Lịch sử quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ sau Thế chiến thứ II 14

1.2.2 Bối cảnh khu vực và thế giới 18

1.3 KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI ASEAN 20

1.3.1 Giai đoạn trước 2012 20

1.3.2 Giai đoạn 2012 - 2019 25

Tiểu kết 27

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI ASEAN GIAI ĐOẠN 2012 - 2019 29

2.1 HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA NGOÀI NƯỚC 29

2.1.1 Hoạt động truyền thông đối ngoại 29

2.1.2 Chương trình đào tạo tiếng Nhật 31

2.1.3 Hoạt động giao lưu văn hóa và nghệ thuật 36

2.2 HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA TRONG NƯỚC 39

2.2.1 Hoạt động xúc tiến du lịch 39

2.2.2 Hoạt động xúc tiến ẩm thực 41

2.2.3 Chương trình hỗ trợ du học sinh Đông Nam Á 42

2.3 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI ASEAN GIAI ĐOẠN 2012 - 2019 44

2.3.1 Thành tựu 44

2.3.2 Hạn chế 47

Tiểu kết 49

Trang 6

CHƯƠNG 3 TRIỂN VỌNG CỦA NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI

ASEAN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 51

3.1 TRIỂN VỌNG CỦA NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI ASEAN 51

3.1.1 Cơ hội 51

3.1.2 Thách thức 54

3.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 56

3.2.1 Thực trạng hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam 56

3.2.2 Một số khuyến nghị đối với Việt Nam 63

Tiểu kết 67

KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết

tắt Viết đầy đủ bằng tiếng Anh Viết đầy đủ bằng tiếng Việt

ADB - JSP The Asian Development Bank

-Japan Scholarship Program

Ngân Hàng Phát triển Châu Á &Quỹ Học bổng Nhật Bản

ADMM ASEAN Defence Ministers'

các nước ASEAN

AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng Kinh tế ASEAN

AJCEP ASEAN - Japan Comprehensive

ASCC ASEAN Socio - Cultural

ASEM The Asia - Europe Meeting Hội nghị Thượng đỉnh Á - Âu

CEFR Common European Framework of

Reference for Languages

Khung Tham chiếu Ngôn ngữChung Châu Âu

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

Trang 8

IAI Initiative for ASEAN Integration Sáng kiến Liên kết ASEAN

JATA Japan Association of Travel Agents Hiệp hội Du lịch Nhật Bản

JICA Japan International Cooperation

Association

Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản

JENESYS Japan - East Asia Network of

Exchange for Students and Youths

Chương trình giao lưu thế hệ trẻ

và sinh viên giữa Nhật Bản và các nước Đông Nam Á

JETRO Japan External Trade Organization Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật

Bản

JNTO Japan National Tourism

Organization

Cơ quan Xúc tiến Du lịch Nhật Bản

ODA Official Development Assistance Hỗ trợ Phát triển Chính thức

TAC Treaty of Amity and Cooperation

in

Southeast Asia

Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ởĐông Nam Á

UNESCO United Nations Educational

Scientific and Cultural Organization

Tổ chức Giáo dục, Khoa học vàVăn hóa Liên Hiệp Quốc

UNICEF United Nations Children's Fund Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Văn phòng đại diện của Japan Foundation tại các

2.1 Thống kê số lượng giáo viên dạy tiếng Nhật và

người học tiếng Nhật tại Đông Nam Á năm 2015 34

3.1 Các chương trình Nhật Bản viện trợ không hoàn lại

3.2

Danh sách 10 doanh nghiệp Nhật Bản lớn nhất tại

Trang 10

2.1 Tỷ lệ số người học tiếng Nhật theo từng cấp học ở Đông Nam Á

2.4 Sự tin tưởng của người dân Đông Nam Á về việc Nhật Bản là

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ những năm 1990 đến nay, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp

và ngày càng khó dự đoán hơn Cùng với các quốc gia khác trong khu vực, Nhật Bản

đã và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như: xung đột tôn giáo - sắc tộc, dân chủ,toàn cầu hóa văn hóa, trong đời sống văn hóa, chính trị và xã hội Mặc dù từng cóthời kỳ phát triển hoàng kim, Nhật Bản đã phải đối mặt với một cuộc suy thoái kinh

tế tồi tệ vào năm 1992 Sau hơn 20 năm tập trung phát triển đồng đều các lĩnh vực đểlàm “đòn bẩy” cho sự phục hồi nền kinh tế quốc gia, kinh tế Nhật Bản đã dần hồiphục và trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ 3 thế giới khi xét về GDP danh nghĩa.Bên cạnh việc tập trung phát triển kinh tế, Nhật Bản đã nhận thức được tầm quantrọng của văn hóa và tập trung gia tăng sức mạnh mềm thông qua các hoạt độngngoại giao văn hóa Nhật Bản cũng cho rằng, việc giải quyết vấn đề bất đồng và xungđột giữa các quốc gia bằng con đường ngoại giao văn hóa sẽ là cách giải quyết hòabình, phù hợp với xu hướng chủ đạo của thế giới và có thể sẽ tạo nên những mốiquan hệ hợp tác phát triển đa phương trong tương lai, đạt những kết quả to lớn.Chính vì vậy, có thể nói ngoại giao văn hóa đóng vai trò là trụ cột của chính sáchngoại giao của Nhật Bản ở thời kỳ này

Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đã ảnh hưởng không nhỏ đến vị thế củaNhật Bản ở châu Á - khu vực luôn có nhiều tiềm năng và là sân chơi của các cườngquốc trong cuộc đua cạnh tranh quyền lực Trong khi đó, Cộng đồng ASEAN - baogồm 10 quốc gia Đông Nam Á là một khu vực trọng yếu ở châu Á - Thái BìnhDương, là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn, đãnhanh chóng nhận được sự quan tâm của Nhật Bản trong việc kết nối đời sống kinh

tế và văn hóa ở khu vực châu Á Nhận thức rõ những thành tựu ASEAN mang lạitrong việc thúc đẩy tiến bộ xã hội và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc giữa các nước ASEAN, Nhật Bản đã sớm xem ASEAN là đối tác quan trọng

và nhanh chóng thúc đẩy mối quan hệ từ “trái tim đến trái tim” - tăng cường hợp tác,giao lưu trong lĩnh vực văn hoá đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh hợp tác mới,

Trang 12

là phương tiện tốt nhất để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa người dân Nhật Bản

và Cộng đồng ASEAN Từ đó, sự hiểu biết sâu sắc về nhau sẽ là một tiền đề thiết yếutrong việc thiết lập các mối quan hệ khác về sau giữa Nhật Bản với ASEAN

Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Ngoại giao văn hóa Nhật Bản với

ASEAN giai đoạn 2012 - 2019” nhằm nghiên cứu về tình hình ngoại giao văn hóa

giữa Nhật Bản và ASEAN, từ đó có những định hướng chiến lược nhằm phát triểnmối quan hệ song phương này trong khu vực, đặc biệt là trên lĩnh vực ngoại giao vănhóa

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một cách có hệ thống hoạt động ngoại giao văn hóa Nhật Bản vớiASEAN giai đoạn 2012 - 2019, qua đó đánh giá những hoạt động này, đồng thời đưa

ra những đề xuất, định hướng cho hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát lịch sử quan hệ Nhật Bản và ASEAN;

- Phân tích những nhân tố tác động đến ngoại giao văn hóa Nhật Bản vớiASEAN;

- Phân tích và đánh giá hoạt động ngoại giao văn hóa Nhật Bản với ASEAN;

- Dự báo triển vọng của hoạt động ngoại giao văn hóa của Nhật Bản đối vớiASEAN trong thời gian tới;

- Đề xuất những khuyến nghị chính sách cho Việt Nam trong lĩnh vực ngoạigiao văn hóa đối với Nhật Bản và ASEAN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngoại giao văn hóa Nhật Bản với ASEAN giai đoạn 2012 - 2019

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Nhật Bản và Đông Nam Á

- Phạm vi thời gian: giai đoạn 2012 - 2019

- Phạm vi nội dung: ngoại giao văn hóa Nhật Bản - ASEAN

Trang 13

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Vì sao Nhật Bản chú trọng hoạt động ngoại giao văn hóa với ASEAN?

- Thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa Nhật Bản với ASEAN giai đoạn

6 Đóng góp của luận văn

- Về mặt lý luận: Diễn giải được các khái niệm liên quan và vai trò của ngoạigiao văn hóa; xác định tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giaohiện đại

- Về mặt thực tiễn: Phân tích thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa NhậtBản với ASEAN và rút ra những đề xuất tối ưu cho quan hệ đối ngoại Việt Nam -Nhật Bản và Việt Nam - ASEAN trên lĩnh vực văn hóa Luận văn là tài liệu thamkhảo hữu ích cho những ai nghiên cứu, học tập và quan tâm đến các vấn đề ngoạigiao văn hóa Nhật Bản với ASEAN

7 Cấu trúc tổng quát của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của chính sách ngoại giao văn hóa Nhật Bản với ASEAN

Chương 1 trình bày những khái niệm, lý thuyết liên quan đến ngoại giao vănhóa; đồng thời phân tích những nhân tố chủ quan và khách quan tác động đến việcNhật Bản đề ra chính sách và thực hiện hoạt động ngoại giao văn hóa tại Đông Nam

Trang 14

Á Chương này cũng trình bày khái quát chính sách ngoại giao văn hóa của Nhật Bảntrước năm 2012 và giai đoạn 2012 - 2019 để thấy được nền tảng cơ bản chính sáchngoại giao văn hóa Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam Á

Chương 2: Thực tiễn triển khai hoạt động ngoại giao văn hóa Nhật Bản với ASEAN giai đoạn 2012 - 2019

Chương 2 tập trung làm rõ quá trình thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa củaNhật Bản tại Đông Nam Á từ năm 2012 đến năm 2019 Chương này cũng đánh giákết quả việc triển khai hoạt động ngoại giao văn hóa với ASEAN của Nhật Bản ởgiai đoạn trên từ hai khía cạnh là thành tựu và hạn chế

Chương 3: Triển vọng của ngoại giao văn hóa Nhật Bản với ASEAN và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Chương 3 đưa ra những dự báo về cơ hội và thách thức của Nhật Bản khi thựchiện ngoại giao văn hóa với ASEAN trong thời gian tới; đồng thời, đề xuất một sốkhuyến nghị về chính sách ngoại giao văn hóa cho Việt Nam với ASEAN và NhậtBản

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA

• •

NHẬT BẢN VỚI ASEAN 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA

1.1.1 Khái niệm ngoại giao văn hóa

Khái niệm ngoại giao văn hóa từ lâu không còn là một khái niệm mới trongquan hệ quốc tế, để có thể đi vào định nghĩa chi tiết một cách có khoa học về ngoạigiao văn hóa (NGVH), thì chúng ta cần làm rõ hai khái niệm: khái niệm ngoại giao

và khái niệm văn hóa Hai khái niệm này chính là nguyên tắc cơ bản hình thành nênkhái niệm NGVH

* Khái ni ệ m ngo ạ i giao

Hoạt động ngoại giao vốn dĩ đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình hình thành

và phát triển xã hội loài người, những hoạt động mang tính chất này đã được tìm thấyngay từ các xã hội cổ đại, thông qua sự xuất hiện của các sứ giả và các phái viên,người mang trách nhiệm là cầu nối giữa hai đất nước, với trách nhiệm thuyết phục vàbàn bạc về những vấn đề mang tính giúp đỡ lẫn nhau hoặc có thể đem lại những lợiích song phương và giữ mối quan hệ giữa hai bên luôn theo chiều hướng tốt đẹp Đây

là hình thức mang tính sơ khai nhất của khái niệm “hoạt động ngoại giao”, sau này,cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, các hình thức hoạt động ngoại giao được

mở rộng với những hoạt động và cách thức chuyên nghiệp hơn trong việc duy trì vàphát triển mối quan hệ giữa các quốc gia Tuy nhiên, không phải ai cũng có cùngchung một cách hiểu khi nói về khái niệm quan hệ ngoại giao Có vô vàn cách khácnhau để định nghĩa khái niệm này, song có ba loại định nghĩa chính được các nhàhoạch định chính sách thường dùng nhất

Loại hình định nghĩa thứ nhất, cũng là loại dễ hiểu, không mang tính chất trừutượng, lại rất gần gũi với ngôn từ của nhân dân Loại hình định nghĩa này nghiêng vềhình thức ngoại giao, nhấn mạnh tính nghệ thuật là một đặc trưng cơ bản của ngoạigiao thay vì làm rõ về mặt cơ sở khoa học: Ngụ ý của ngoại giao là đàm phán Theo

Từ điển Oxford của Anh (1965), “Ngoại giao là việc tiến hành những quan hệ quốc

Trang 16

tế bằng cách đàm phán, đó là công tác, nghệ thuật của các nhà ngoại giao” [2,

tr.23] Nói một cách khác, loại hình này chỉ ra rằng ngoại giao thực chất chính làcông cụ đàm phán được các quốc gia sử dụng trong quan hệ quốc tế

Loại định nghĩa thứ hai, giải thích ngoại giao chỉ là phương tiện để tổ chức vàthực hiện mục tiêu của chính sách đối ngoại trong việc xử lý quan hệ quốc gia vàcông việc quốc tế Theo nhà ngoại giao E.M.Satow (Anh) - tác giả cuốn sách Ngoại

giao thực hành: “Ngoại giao là sự sắp đặt trí tuệ và lịch thiệp vào việc tiến hành

những quan hệ chính thức giữa các chính phủ” [2, tr.23] Chúng ta có thể hiểu định

nghĩa ngoại giao ở loại hình này một cách nôm na rằng: ngoại giao ra đời nhằm thựcthi nhiệm vụ duy trì và giải quyết công việc giữa các quốc gia một cách hòa bình.Loại định nghĩa thứ ba, chủ yếu nhấn mạnh về bản chất ngoại giao, chỉ ra mộtquốc gia có chủ quyền sẽ là chủ thể sở hữu công cụ ngoại giao trong hoạt động đốingoại Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, năm 1996 định nghĩa ngoại giao như sau:

“Ngoại giao là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình

và để góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung” [10, tr.661].

Nhìn chung, mỗi định nghĩa đều tập trung nhấn mạnh đến những khía cạnhkhác nhau, song những khái niệm này đều chỉ rõ ngoại giao là phương tiện để cácchủ thể quan hệ quốc tế thiết lập và duy trì các quan hệ với nhau, là công cụ để thựchiện chính sách đối ngoại của một quốc gia đến môi trường quốc tế, là nghệ thuậtđàm phán và ký kết giữa các nước bằng con đường đàm phán và các hình thức hòabình

* Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm không hề xa lạ với đời sống tinh thần và vật chất củamỗi người dân, mỗi dân tộc Tuy nhiên, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và bànluận về định nghĩa của văn hóa nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất đượcmột khái niệm chung Chính vì thế, có thể nói khái niệm văn hóa là một khái niệm vôcùng phong phú, đa dạng và là một khái niệm đa nghĩa mang tính mở Tại Hội nghịtoàn cầu về Chính sách văn hóa do UNESCO tổ chức diễn ra tại Mê- hi-cô năm 1982với sự tham gia của hơn 1000 đại biểu đại diện cho hơn 100 quốc gia và vùng lãnh

Trang 17

thổ trên toàn thế giới, UNESCO đã tổng hợp được khoảng hơn 200 định nghĩa về vănhóa mà các thành viên tham dự đã đưa ra Qua các quá trình tìm hiểu về văn hóa,khái niệm văn hóa có thể chia thành hai dạng như sau:

Theo nghĩa rộng, văn hóa được hiểu đơn giản là tất cả sự sáng tạo của conngười trong lịch sử xã hội loài người Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những khái niệmtheo một lĩnh vực nào đó mà nó được gắn liền với chữ văn hóa, chẳng hạn như vănhóa giao tiếp (ứng xử), văn hóa tôn giáo, văn hóa xã hội, Tóm lại có thể dễ dàngnhận thấy, văn hóa theo nghĩa rộng bao gồm đầy đủ những sản phẩm vật thể và phivật thể mang tính giá trị được ra đời trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và pháttriển của nhân loại Năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về văn

hóa, được coi là khái niệm về văn hóa theo nghĩa rộng: “Vì có lẽ sinh tồn cũng như

mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [9, tr.458].

* Khái niệm ngoại giao văn hóa (NGVH)

Từ những định nghĩa về ngoại giao và văn hóa ở trên, nếu kết hợp “ngoại

giao” và “văn hóa”, ta có thể thấy rõ giữa hai khái niệm này có mối quan hệ tương

trợ và chuyển hóa lẫn nhau Để đạt được những kết quả cao trong việc thực hiện cácchính sách đối ngoại, kinh tế và văn hóa của đất nước, có thể nói các giá trị văn hóađóng một vai trò rất quan trọng, hỗ trợ hoạt động ngoại giao của mỗi quốc gia Vaitrò của văn hóa đã thể hiện tốt qua việc lồng ghép những quan điểm, đường lối đốingoại, phương pháp và phong cách ngoại giao trong những hoạt động hợp tác quốc tế

Trang 18

về văn hóa Trong thời đại này, song song với việc giao lưu quốc tế ngày càng trởnên phổ biến, mỗi nền văn hóa đều cố gắng quảng bá những thành tựu, hình ảnh củaquốc gia mình đến các nền văn hóa khác và bên cạnh đó, duy trì việc tiếp thu có chọnlọc những thành tựu của các dân tộc khác để phù hợp với mình Qua đó, NGVH ngàycàng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Và trên thế giới chỉ có một số ít các nướcbằng bản sắc văn hóa của mình đã tạo ra một sức mạnh trong mối quan hệ kinh tế,chính trị, xã hội với các nước trong khu vực và thế giới Nhà nghiên cứu Simeon

Adebolu, thành viên Hiệp hội các nhà ngoại giao thương mại Anh cho rằng: “Ngoại

giao văn hóa là một hình thức ngoại giao nhấn mạnh tới sự thừa nhận văn hóa và hiểu biết lẫn nhau như là một cơ sở của đối thoại” [13] Nhà nghiên cứu Milton C.

Cummings Jr (Trung tâm nghệ thuật và văn hóa Mỹ tại Washington) định nghĩa:

“Ngoại giao văn hóa là sự giao lưu những tư tưởng, trao đổi thông tin nghệ thuật, lối sống, hệ giá trị, truyền thống, tín ngưỡng và các phương diện khác nhau của văn hóa nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau” [14] Theo GS Joseph S Nye (Đại học

Harvard, nguyên trợ lý Thứ trưởng ngoại giao Mỹ từ 1977- 1979): “Ngoại giao văn

hóa là một ví dụ hàng đầu về sức mạnh mềm hoặc khả năng thuyết phục thông qua văn hóa, giá trị và những tư tưởng trái với sức mạnh cứng, tức là chinh phục hoặc cưỡng ép thông qua sức mạnh quân sự” [15] Tại Hội thảo quốc gia “Ngoại giao văn

hóa vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế phục vụ hòa bình, hội nhập và pháttriển bền vững” (10/2008), các nhà hoạch định chính sách đều có những quan điểmriêng về định nghĩa NGVH Tuy nhiên, tất cả đều công nhận NGVH là hoạt động

ngoại giao làm văn hóa Cụ thể hơn, các nhà học giả đã rút ra kết luận: “Đi liền với

ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa là một trong ba trụ cột của hoạt động ngoại giao Đó là việc thực hiện chính sách đối ngoại để đạt được mục tiêu chính trị bằng công cụ văn hóa, biện pháp văn hóa Ngoại giao văn hóa là hoạt động ngoại giao vì văn hóa và bằng văn hóa, và là sản phẩm chung của chính sách văn hóa và chính sách ngoại giao” [2, tr 31].

Từ những quan điểm trên, ta có thể thấy được nội hàm của NGVH trên thực tế

là việc lấy giá trị văn hóa, hình thức văn hóa, lợi thế văn hóa để thúc đẩy các mối

Trang 19

quan hệ với các quốc gia khác, đồng thời đề cao các giá trị tinh hoa văn hóa của dântộc mình trong việc giao lưu trao đổi giữa các nước Đặc biệt, sau sự kiện 11/9/2001xảy ra ở Mỹ, các nhà nghiên cứu đã dự báo rằng trong thế kỷ XXI, những xung độtgiữa các nền văn minh xảy ra do yếu tố văn hóa sẽ trở nên phổ biến Chính vì vậy,các quốc gia ngày càng chú ý nhiều đến các chủ đề văn hóa như: đa dạng văn hóa,đối thoại giữa các nền văn hóa - văn minh, Kênh văn hóa cũng ngày càng được sửdụng như một phương tiện hỗ trợ thúc đẩy quan hệ, chính trị, an ninh, kinh tế,.Chẳng hạn, việc thành lập Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC) vào năm 2015 làmục tiêu của ASEAN, bên cạnh Cộng đồng An ninh - Chính trị (APSC) và Cộngđồng Kinh tế (AEC) Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) rất coi trọngviệc kết nối các quốc gia thành viên với nhau qua các hoạt động NGVH và không

ngừng hướng tới mục tiêu “một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng đùm bọc và

sẻ chia” trong suốt quá trình phát triển.

1.1.2 Các loại hình hoạt động của ngoại giao văn hóa

1.1.2.1 Hoạt động, tuyên truyền thông tin đối ngoại

Ngày nay, việc giới thiệu quảng bá văn hóa dân tộc bằng tiếng nước ngoài quasách, tài liệu và các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng góp phần quan trọngtrong công tác NGVH của một đất nước Trong đó, công tác báo chí - thông tin đốingoại được nhìn nhận là một loại hình cơ bản, có hiệu quả, chi phí thấp trong chiếnlược tuyên truyền đối ngoại phục vụ lợi ích của quốc gia Hình thức của loại hìnhtruyền thống này được sử dụng dưới các dạng: ấn phẩm; báo in; hệ thống phát thanh,truyền hình; báo điện tử Nhờ khả năng kết hợp đa dạng các loại hình báo chí, lợi thếcập nhật thông tin nhanh, liên tục, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian, báođiện tử đã khẳng định rõ vai trò trong việc làm “cầu nối” thông tin trong nước vớicộng đồng kiều bào đang sinh sống và học tập, làm việc tại nước ngoài - nhữngngười cần thông tin về tình hình đổi mới trong nước cũng như muốn đươc giao lưutình cảm với quê hương, người thân Ở trong nước, các đối tượng thông tin đối ngoạichính là các cơ quan đại diện cho nước ngoài, nhân viên các tổ chức quốc tế liênchính phủ, phi chính phủ, đặc biệt là đội ngũ phóng viên báo chí nước ngoài đang

Trang 20

hoạt động báo chí trong nước Với khả năng tác động nhanh chóng, mạnh mẽ và rộnglớn các phương tiện thông tin tuyên truyền đối ngoại đóng vai trò to lớn trong việcnâng cao dân trí, xây dựng các chuẩn mực lối sống, đạo đức, ứng xử tốt đẹp, bồidưỡng nhân cách, làm phong phú thêm đời sống văn hóa của toàn xã hội, góp phầnquan trọng trong việc đẩy mạnh NGVH.

1.1.2.2 Xây dựng các cơ sở, công trình văn hóa, lịch sử ở nước ngoài

Việc xây dựng các cơ sở, công trình văn hóa, lịch sử ở nước ngoài được đánhgiá là hoạt động mang tính hữu hiệu để giới thiệu, quảng bá hình ảnh của con người

và đất nước đến cộng đồng quốc tế Trung tâm văn hóa ở nước ngoài của các nước có

sự khác nhau về quy mô, cách thức tổ chức hoạt động, nguồn kinh phí bảo đảm,.nhưng tất cả đều hướng đến nhiệm vụ chung: quảng bá hình ảnh đất nước, phổ quátvăn hóa, đặc biệt là dạy ngôn ngữ và giới thiệu văn học, nghệ thuật của quốc gia đếnchính giới và công chúng nước sở tại Ví dụ, Việt Nam đã thành công trong việc thỏathuận, đàm phán với một số đất nước về việc xây dựng một số công trình văn hóa,lịch sử ở nước ngoài như đã khánh thành tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tạiSingapore (2011), Philippines (2011), Argentina (2012), Cho đến nay, tượng đàitưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xây dựng tại khoảng 20 quốc gia thuộcchâu Á, châu Âu, châu Mỹ và châu Phi Đặc biệt, tại Moscow (Nga), du khách hayngười dân địa phương nơi đây đều rất đỗi quen thuộc với “Quảng trường Hồ ChíMinh”, bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh đang mỉm cười, được khắc nổi trêntấm đồng hình tròn khổng lồ, cùng hình tượng chàng trai Việt Nam đang ở tư thếchuẩn bị bật dậy và cây tre được tác giả V.Tsigal đã gửi gắm vào tác phẩm với nhữngtình cảm, sự trân trọng của ông về lịch sử, biểu tượng đất nước, con người Việt Nam,

về Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ đã được UNESCO công nhận là anh hùng giảiphóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa lớn [50]

1.1.2.3 Giao lưu, trao đổi các đoàn văn hóa, nghệ thuật

Tổ chức giao lưu, trao đổi các đoàn văn hóa, nghệ thuật cũng là một trongnhững hoạt động quan trọng của NGVH Mục đích của các hoạt động này là vừaquảng bá văn hóa đất nước, vừa học hỏi, trau dồi kinh nghiệm với các nước, tranh

Trang 21

thủ nhận sự hỗ trợ nguồn lực, thiết bị từ các nước tiên tiến hơn nhằm nâng cao trình

độ biểu diễn văn hóa, nghệ thuật của quốc gia sở tại Chẳng hạn, Nhật Bản và ViệtNam cũng đã cử nhiều đoàn sang thăm, làm việc, biểu diễn nghệ thuật, tham dự triểnlãm, liên hoan phim, tổ chức Lễ hội tại mỗi nước Các hoạt động văn hóa được tổchức tại hai nước như “Lễ hội Việt Nam” tại Nhật Bản, “Lễ hội giao lưu văn hóaViệt - Nhật ” tại thành phố Đà Nẵng được diễn ra vào nửa cuối tháng 7 hằng năm,

đã gây được tiếng vang lớn trong dư luận mỗi nước, góp phần tăng cường sự hiểubiết lẫn nhau và thắt chặt thêm tình cảm giữa nhân dân hai nước Tất nhiên, khinhững hoạt động này kết thúc thì chắc chắn sẽ còn những dư âm và ấn tượng về nềnvăn hóa của quốc gia được gửi đi, điều này sẽ thôi thúc, tác động công chúng nướctiếp nhận tìm hiểu nhiều hơn về những nét đẹp văn hóa của quốc gia khác Một trongnhững yếu tố quan trọng nhất để hiện thực hoá “quan hệ đối tác chiến lược” giữa cácnước là giao lưu con người Sự hiểu biết sâu sắc về nhau sẽ là nền móng cho sự pháttriển các mối quan hệ khác

1.1.2.4 Hợp tác với quốc gia khác cùng tổ chức các sự kiện văn hóa

Mục đích của NGVH là quảng bá, giới thiệu những giá trị văn hóa, truyềnthống, phong tục, tập quán, lối sống, văn hóa nghệ thuật, của đất nước đến cộngđồng quốc tế Chính vì vậy, thông qua những sự kiện văn hóa trong các dịp lễ haycác ngày kỷ niệm thiết lập ngoại giao của các nước sẽ thúc đẩy việc quảng bá hìnhảnh tích cực của các quốc gia đến với nhau Năm 2018, ASEAN và Nhật Bản đã tổchức thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN - Nhật Bản lần thứ 21, kỷ niệm 45 nămquan hệ đối tác Hội nghị đã hoan nghênh sáng kiến của Thủ tướng Nhật Bản ShinzoAbe tổ chức Ngày ASEAN - Nhật Bản nhằm tăng cường hiểu biết chung và làm sâusắc hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai bên trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt

là lĩnh vực văn hóa Ngày nay, khi Nhật Bản và ASEAN đang ra sức đẩy mạnh mốiquan hệ toàn diện thì quan hệ hợp tác giao lưu văn hoá giữa Nhật Bản và các nướcASEAN là một bộ phận không thể thiếu trong mối quan hệ toàn diện đó

Trang 22

1.1.2.5 Tham gia các hoạt động và các tổ chức hợp tác quốc tế về văn hóa

Tham gia các đợt liên hoan phim, âm nhạc, nghệ thuật quốc tế, triển lãm sách,tranh ảnh nghệ thuật, tại các nước thông qua các kênh hợp tác UNESCO, Cộngđồng Văn hóa - Xã hội ASEAN, vừa góp phần củng cố và làm sâu sắc mối quan hệgiữa các quốc gia, vừa tạo điều kiện để nhân dân các nước hiểu biết, thưởng thức cácloại hình văn hóa của các dân tộc khác nhau trên thế giới Tổ chức Văn hóa, Khoahọc và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) là tổ chức liên ngành mang tính hợptác lớn nhất trong Liên hợp quốc Việt Nam đã tham gia UNESCO từ năm 1976 và

đã đặt cơ quan đại diện tại UNESCO vào năm 1982 Thực hiện chủ trương của Đảng

về đẩy mạnh ngoại giao đa phương, Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia các

cơ quan của UNESCO Năm 2013, Việt Nam trúng cử vào Ủy ban Di sản Thế giới(nhiệm kỳ 2013 - 2017) - cơ quan chuyên môn quan trọng hàng đầu của tổ chức này.Qua việc tham gia này, Việt Nam đã có thêm điều kiện để quảng bá, giới thiệu các disản thiên nhiên, văn hóa vật thể và phi vật thể của quốc gia ra thế giới; đồng thời,tranh thủ nhận được sự hỗ trợ của quốc tế đối với công tác duy trì, bảo tồn và pháthuy các giá trị di sản Việt Nam

1.1.2.6 Tổ chức các hoạt động văn hóa thông qua cộng đồng kiều bào

Công tác tập trung duy trì bản sắc văn hóa trong cộng đồng kiều bào đang nhậnđược nhiều sự quan tâm của chính phủ của mỗi quốc gia Cộng đồng người Việt Nam

ở nước ngoài đóng vai trò là "chất xúc tác" quan trọng đối với những thành công củahoạt động ngoại giao nhân dân trong công cuộc đổi mới Thông qua các hoạt độnggiao lưu văn hoá, tôn giáo, bà con kiều bào Việt Nam đã và đang góp phần giữ gìnbản sắc và quảng bá những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh Việt Nam ởnước ngoài, thúc đẩy, lan tỏa và giành được sự yêu mến của bạn bè các nước, gópphần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Vào dịp Tết hằngnăm, cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, làm việc và học tập tại nước ngoàithường tập trung gặp mặt tạo nên bầu không khí đoàn viên, ấm cúng của nhữngngười con xa xứ tại nơi đất khách quê người

Trang 23

1.1.3 Vai trò của ngoại giao văn hóa

1.1.3.1 Vai trò chính trị

Trong hoạt động chính trị, NGVH là một công cụ quan trọng để tăng cườnghiểu biết lẫn nhau, là nhân tố giúp thắt chặt quan hệ chính trị với các nước Có khiNGVH giữ vai trò khai thông, mở lối, tạo bước ngoặt cho quan hệ chính trị; có khi

nó có thể bổ sung cho các loại hình ngoại giao khác, nâng cao vị thế của đất nướctrong quan hệ đối ngoại Trong những vấn đề an ninh, NGVH có thể giải quyết đượcnhững vấn đề gai góc như nhân quyền qua sự lý giải văn hóa Đông Tây, tránh những

cú sốc thông qua giải thích văn hóa, Chương trình Ngày Việt Nam ở nước ngoàiđược tổ chức hằng năm tại nhiều nước trên thế giới là một hoạt động NGVH đóngvai trò tích cực trong việc quảng bá, giới thiệu hình ảnh Việt Nam đến thế giới Cáchoạt động NGVH lồng ghép trong những chuyến viếng thăm, trao đổi đoàn cấp caonhư giao lưu văn hóa nghệ thuật, giới thiệu văn hóa quốc gia hay một món quà nhỏmang ý nghĩa văn hóa, rõ ràng đã đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi cách nhìnnhận của các đối tác quốc tế đối với quốc gia Việc tổ chức các chương trình này gópphần tăng cường quan hệ giữa các nước, đồng thời đưa quan hệ của các quốc gia đivào chiều sâu, ổn định

1.1.3.2 Vai trò kinh tế

Trong hoạt động kinh tế, NGVH có những cách thức đóng góp khác nhau tuythầm lặng nhưng không kém phần hiệu quả cho sự phát triển của đất nước Thôngqua các hoạt động tuyên truyền, giao lưu văn hóa phục vụ đường lối đối ngoại rộng

mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, kết hợp mở rộng giao lưuvăn hóa với hợp tác kinh tế, lấy mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế để thúc đẩy hợptác kinh tế, khoa học, công nghệ, xúc tiến thương mại, đẩy mạnh du lịch, với các đốitác khắp thế giới Những hoạt động này sẽ phục vụ thiết thực cho công cuộc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Các hoạt động NGVH tại Việt Nam là một ví

dụ điển hình làm rõ cho vai trò kinh tế của NGVH Trong những năm gần đây, ViệtNam không ngừng phối hợp chặt chẽ với các ủy ban nhân dân địa phương để tổ chứcnhững sự kiện, chương trình văn hóa nhằm thu hút đông đảo khách du lịch và củng

Trang 24

cố niềm tin cho các nhà đầu tư về một đất nước độc lập, có truyền thống lịch sử, vănhóa lâu đời, một dân tộc yêu chuộng hòa bình, Điều này được thể hiện qua việcViệt Nam được cộng đồng quốc tế tín nhiệm đăng cai tổ chức thành công Hội nghịASEM 5 tại Hà Nội (10/2004), Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 (11/2017) tại thành phố

Đà Nẵng,

1.1.3.3 Vai trò giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc

Phương châm của NGVH là vừa kế thừa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc,vừa chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của dân tộc khác Hay nói cách khác, đằngsau sức mạnh NGVH chính là bản sắc dân tộc Trong mọi hoạt động đối ngoại,NGVH luôn luôn khẳng định vị trí, bản sắc dân tộc, nâng cao vị thế đất nước trongquan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng, các nước bạn bè Tiếp thu có chọnlọc tinh hoa văn hóa, tri thức, khoa học tiên tiến của các quốc gia khác là một ưuđiểm lớn góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa và tri thức nước nhà Bên cạnh

đó, NGVH còn hỗ trợ đưa những giá trị văn hóa của mỗi quốc gia ra xa hơn, hộinhập với nền văn hóa nhân loại, tiến đến định hướng phát triển một đất nước tiêntiến, hiện đại đồng thời vẫn giữ được bản sắc dân tộc một cách đậm đà trên trườngquốc tế Đặc biệt, việc tích cực tham gia các tổ chức cơ chế hợp tác quốc tế nhưUNESCO trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sẽ giúp quốc gia có thêmnhiều cơ hội cải thiện về tài chính cho những dự án, chương trình bảo tồn, phát triểnvăn hóa dân tộc và những chương trình phát triển văn hóa theo nghĩa rộng

1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI ASEAN

1.2.1 Lịch sử quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ sau Thế chiến thứ II

Từ thời Minh Trị Duy Tân vào những năm 1860, Nhật Bản đã nhìn nhận sự cònlại của châu Á với một sự hạ thấp về văn hóa Vào thời điểm đó, nền văn minhphương Tây phát triển một cách nổi bật Thế nên, các nhà cải cách thời Minh Trị đã

có một quyết định lớn khi chuyển hình ảnh Nhật Bản từ một nước nông nghiệp sangmột nước có nền kinh tế tiên tiến bằng cách từng bước hòa nhập vào nền dân chủphương Tây lúc bấy giờ Bằng sự khéo léo kết hợp thành công giữa phát triển kinh tế

Trang 25

và NGVH, Nhật Bản đã khiến các nước phương Tây thay đổi thái độ và cái nhìn vềNhật Bản Càng về sau, sức ảnh hưởng của phương Tây dần mờ nhạt hơn, nhất là sauThế chiến thứ II Bên cạnh đó, vào nửa cuối thế kỷ XX, thế giới đã chứng kiến sựvươn lên mạnh mẽ của các quốc gia châu Á Chính phủ Nhật Bản dần nhận thấy vaitrò quan trọng của các láng giềng châu Á và đã quyết định xây dựng một mối quan

hệ lâu dài hướng về châu Á nhằm tiến đến một Thế kỷ châu Á hùng mạnh

Trên lĩnh vực kinh tế, sau Thế chiến thứ II, Nhật Bản xác định chính sách đốingoại của nước này là “tách các vấn đề kinh tế ra khỏi các vấn đề chính trị” Cụ thể

hơn, Thủ tướng Yoshida đã khẳng định: “Chính phủ sẽ thực hiện ngoại giao kinh tế,

tức là ký các hiệp ước thương mại, mở rộng và phát triển cơ hội thương mại Làm như vậy, chúng ta sẽ đặc biệt phát triển mối quan hệ kinh tế với các quốc gia Đông Nam Á” [38], [41] Để triển khai cam kết trên, Nhật Bản đã hợp tác với các nước

Đông Nam Á dưới hình thức vốn, kỹ thuật, dịch vụ để thúc đẩy các mối quan hệ cólợi và phát triển Thông qua các cuộc đàm phán bồi thường, hiệp định bồi thườnggiữa Nhật Bản với Malaysia (1954), Philippines (1956), Indonesia (1958) và ViệtNam (1959) được ký kết, Nhật Bản đã phần nào đạt được mục tiêu “cải thiện và khôiphục tình cảm” với các quốc gia Đông Nam Á từng bị nước này chiếm đóng Nhữngnăm 60 và 70 của thế kỷ XX, quan hệ kinh tế giữa Đông Nam Á với Nhật Bản ngàycàng chặt chẽ và đa diện, khi quan hệ không còn là bồi thường chiến tranh mà đượcthay bởi viện trợ, đầu tư và thương mại Nhật Bản đã gia tăng hỗ trợ nguồn viện trợphát triển chính thức (ODA) cho Đông Nam Á từ khoảng 200 - 400 triệu USD từ đầuthập niên 60 Trong đó, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Philippines là những quốcgia mà viện trợ của Nhật Bản chiếm vị trí hàng đầu và Nhật Bản cũng là nước đầu tưchủ đạo tại khu vực này

Trên lĩnh vực chính trị, mặc dù quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và các nướcĐông Nam Á đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng ở thời gian này quan hệchính trị vẫn chưa thật sự khởi sắc khi trong tâm trí của người dân Đông Nam Á vẫncòn tồn tại hình ảnh xâm lược, chiếm đóng tàn bạo của phát xít Nhật và kí ức về

“khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” Thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore

Trang 26

cũng đã từng nói: “Đối với tôi và những người cùng thế hệ thì ảnh hưởng mạnh mẽ

và sâu sắc nhất mà người Nhật đã để lại trong lòng chúng tôi là sự khủng khiếp của những năm họ chiếm đóng, những kí ức này không thể nào xoá sạch được” [25].

Trên thực tế, những hoài nghi về việc Nhật Bản sẽ chi phối nền kinh tế nhằm tranhgiành quyền lực trong khu vực vẫn luôn hiện hữu đối với mỗi quốc gia nơi đây Nhậnthức rõ phản ứng, những chỉ trích tiêu cực của người dân các quốc gia Đông Nam Á

từ hồi ức khi bị Nhật chiếm đóng trong chiến tranh, chính phủ Nhật Bản buộc phảiđiều chỉnh lại chính sách và nỗ lực cân bằng sự ổn định trong khu vực bằng việc thựchiện các chính sách đối ngoại thiết thực, giúp đỡ cải thiện mức sống của nhân dâncác nước Đông Nam Á thay vì phương châm “phát triển kinh tế là trên hết” nhưtrước đây Thông qua bài diễn văn của Thủ tướng Takeo Fukuda trong chuyến thămcác nước ASEAN năm 1977, Nhật Bản đã chính thức công bố định hướng trongchính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam Á, qua đó đồng thời khẳngđịnh cam kết lâu dài của Nhật Bản vì một khu vực an ninh, ổn định, hòa bình, dânchủ và thịnh vượng Như vậy, sự điều chỉnh chính sách của Nhật Bản với sự tậptrung ưu tiên đối với Đông Nam Á đã chứng tỏ tầm quan trọng của khu vực này đốivới Nhật Bản, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ Quan hệhợp tác song phương và đa phương giữa Nhật Bản với các nước Đông Nam Á vì vậyngày càng tăng, quan hệ chính trị vì thế càng được củng cố và phát triển

Trên lĩnh vực văn hóa, hoạt động NGVH của Nhật Bản ở Đông Nam Á mặc dù

đã được triển khai từ trước thập niên 1970 nhưng chưa thật sự được chú trọng Chỉnhững năm sau đó, cùng với sự phát triển của các hoạt động giao lưu văn hóa quốc

tế, NGVH đã trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản Chínhsách NGVH của Nhật Bản lúc này đã có những thay đổi “Hướng về châu Á” và đẩymạnh “Hợp tác văn hóa” Nội dung cơ bản của chính sách là nhằm duy trì và củng cốmối quan hệ láng giềng tốt đẹp; thúc đẩy sự hiểu biết văn hóa lẫn nhau với các quốcgia Đông Nam Á; góp phần ổn định và thịnh vượng của khu vực này bằng cách mởrộng hợp tác và hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia trong khu vực Năm

1972, Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản (Japan Foundation) được thành lập nhằm thực

Trang 27

hiện các hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế, tổ chức các hoạt động ngoại giao đểnâng cao hơn nữa những hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân khắp thế giới với ngườidân Nhật Bản Quỹ hoạt động chủ yếu ở ba lĩnh vực: giao lưu văn hóa nghệ thuật;giáo dục tiếng Nhật ở nước ngoài; giao lưu - trí tuệ nghiên cứu Nhật Bản Kể từ khithiết lập quan hệ đối tác với ASEAN, Nhật Bản tăng cường thành lập các văn phòngđại diện của Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản ở hầu hết các nước Đông Nam Á, QuỹASEAN thuộc Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản, nhằm mục đích giới thiệu văn hóaNhật Bản sang các nước và giới thiệu văn hóa các quốc gia ASEAN đến người dânNhật Bản Ngoài các hoạt động trao đổi văn hóa thông qua Quỹ, các hoạt động traođổi văn hóa Nhật Bản còn bao gồm hợp tác bằng cách cử chuyên gia đến nhiều quốcgia khác nhau, chấp nhận nghiên cứu sinh thông qua UNESCO và các tổ chức quốc

tế khác, cung cấp dịch vụ cho sinh viên nước ngoài học tập tại Nhật Bản, tổ chức cáccuộc hội ngộ của người dân Đông Nam Á trước đây đã học ở Nhật Bản và tài trợ chocác hoạt động giao lưu của giới trẻ

Bảng 1.1 Văn phòng đại diện của Japan Foundation tại các nước ASEAN [35]

Quốc gia Địa điểm đặt Văn phòng đại diện

Như vậy, mối quan hệ giữa ASEAN - Nhật Bản đã từng bước được hình thành

và ngày càng được củng cố từ sau Thế chiến Thứ II Hợp tác giao thương giữa NhậtBản và ASEAN đã có từ lâu đời, tuy nhiên, chỉ sau khi hai bên thiết lập quan hệ vàonăm 1973, mối quan hệ này mới được nâng tầm và có nhiều hoạt động thương mại,đầu tư diễn ra, mở ra một loạt các cuộc viếng thăm chính thức của Thủ tướng Nhật

Trang 28

đến ASEAN và các chính sách hợp tác giữa hai bên trên tất cả các lĩnh vực bao gồm:chính trị, thương mại, đầu tư, viện trợ, được triển khai Song song với việc thúc đẩyhợp tác phát triển trong các lĩnh vực về chính trị, kinh tế, Nhật Bản cũng đẩy mạnhhợp tác về văn hoá, giáo dục với các nước thành viên ASEAN thông qua Quỹ Giaolưu Quốc tế Nhật Bản Đối với Nhật Bản, trao đổi văn hóa với các quốc gia ĐôngNam Á là một công cụ rất hữu hiệu để người dân các nước này hiểu biết hơn về NhậtBản và thúc đẩy tình hữu nghị và hợp tác quốc tế giữa hai bên.

1.2.2 Bối cảnh khu vực và thế giới

Dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thế giới đương đại đang cónhững chuyển biến, tác động sâu sắc trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Đặcbiệt, trong bối cảnh này, để quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng thì việc tăngcường và hiểu biết lẫn nhau giữa mỗi quốc gia trở nên vô cùng quan trọng Ngàynay, xu hướng hợp tác và hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của hầu hết các quốc giatrên thế giới, không ngoại trừ Nhật Bản

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự mở rộng của dân chủ trên thế giới, sự bùng nổcủa cách mạng công nghệ thông tin, Internet, văn hóa và các tư tưởng nổi lên nhưnhững nhân tố chủ chốt trong nền ngoại giao của một quốc gia Trước những biếnđổi to lớn về khoa học - công nghệ, các nước ASEAN đều thực hiện điều chỉnh cơcấu kinh tế, điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàngrào thuế quan và phi thuế quan, mở đường cho kinh tế quốc tế phát triển Vì vậy, mốiquan hệ giữa ASEAN - Nhật Bản không chỉ gói gọn trong quan hệ giữa hai bên hoặcgiữa Nhật Bản với các nước Đông Nam Á khác Hai bên đều có mong muốn xâydựng các mối liên kết chặt chẽ hơn ở các cấp độ hợp tác khác nhau ở khu vực châu Á

Trang 29

đồng thuận và tuyên bố chung về các vấn đề ở Biển Đông Vấn đề này không còn làvấn đề chỉ liên quan giữa Trung Quốc với các nước ASEAN mà đã trở thành vấn đềnóng liên quan đến lợi ích kinh tế, chính trị của các nước khác Chính vì vậy mà cả

Mỹ và Nhật Bản đều chú ý đến khu vực này Mỹ từ lâu luôn có ảnh hưởng nhất địnhđến các chính sách đối ngoại của cả ASEAN và Nhật Bản, việc Mỹ hướng trọng tâmtrở lại với châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng đã ítnhiều tác động đến mối quan hệ này Đồng thời, nó tạo ra các cặp quan hệ đan xengiữa Nhật - Mỹ, ASEAN - Mỹ, Trung Quốc - Mỹ, mà từ đó từng nước trong khu vựcASEAN nói riêng và tổ chức ASEAN nói chung buộc phải có những điều chỉnhtrong chính sách cho phù hợp Ngoài ra, Ấn Độ cũng là một trong những nền kinh tếtăng trưởng nhanh và đáng chú ý hiện nay Đặc biệt, việc chính quyền Thủ tướngNarendra Modi đổi tên chính sách “Hướng Đông” sang “Hành động ở phía Đông” đãthể hiện rằng ông sẽ chủ động và hành động có mục đích hơn những người tiềnnhiệm trong việc mở rộng tầm ảnh hưởng của Ấn Độ ở khu vực châu Á - Thái BìnhDương Chính phủ Ấn Độ khẳng định, sự thay đổi trên không mang động cơ chính trị

mà chỉ đơn thuần là làm sâu sắc, thúc đẩy liên kết ngày càng chặt chẽ hơn trong quan

hệ hợp tác với các nước ASEAN, thể hiện sự quan tâm hơn của chính quyền Thủtướng Modi trong việc xúc tiến các chương trình kinh tế với các nước Đông Nam Á

để thu hút đầu tư, đặc biệt là trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, cũng như thúc đẩy kết nốicác điểm thương mại trong khu vực

Thông qua các hoạt động NGVH với ASEAN, Nhật Bản cũng muốn dựa vàomối quan hệ đối ngoại này để tăng cường ảnh hưởng chính trị của Nhật Bản tại khuvực Đông Nam Á khi sự tăng cường hợp tác với ASEAN cũng góp phần giúp NhậtBản kiềm chế sự ảnh hưởng và nổi lên của các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ.Chính phủ Nhật Bản cũng nhận thức được rằng trước đây Nhật Bản chưa thật sự coitrọng hoạt động NGVH, vì vậy, hình ảnh Nhật Bản trong cộng đồng quốc tế thường

bị đánh giá như là một cỗ xe tăng Nhiều chính trị gia đã đề nghị NGVH của NhậtBản cần hướng nhiều hơn đến hoạt động tuyên truyền các giá trị tư tưởng và văn hóatại Đông Nam Á NGVH ở thế kỷ XXI ngoài mục tiêu quảng bá hình ảnh đất nước,

Trang 30

con người Nhật Bản, còn được xác định phải gánh vác vai trò ngoại giao kinh tế vàngoại giao chính trị Chính phủ Nhật Bản hướng đến việc nâng cao quốc lực thôngqua các hình tượng văn hóa, dùng văn hóa quảng bá để các nước hiểu biết, tin cậy,tín nhiệm Nhật Bản hơn Như vậy, NGVH của Nhật Bản với ASEAN ở giai đoạn nàyđược xác định ngoài mục tiêu phổ biến hình ảnh của một Nhật Bản dân chủ hòa bình,còn nhằm khẳng định các giá trị văn hóa Nhật Bản sẽ đảm nhận một vai trò quantrọng trong việc tạo dấu ấn với các nước ASEAN để khôi phục lại nền kinh tế quốcgia, nâng cao vai trò, mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản, gián tiếp đảm bảo thị trườngtiêu thụ, xuất khẩu ở khu vực Đông Nam Á nói riêng và khu vực châu Á - Thái BìnhDương nói chung.

1.3 KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI ASEAN

1.3.1 Giai đoạn trước 2012

* Chính sách ngoại giao văn hóa trong “Học thuyết Fukuda”

Nửa đầu thập niên 70, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi, quan hệgiữa Nhật Bản và các nước Đông Nam Á gặp nhiều thách thức Nguyên nhân đượcxác định bởi sự phụ thuộc ngày càng tăng của các quốc gia này vào công nghệ, kỹthuật, vốn từ Nhật Bản, sự quản lý thiếu hòa nhập và những bất đồng trong kinhdoanh, sự tràn lan hàng hóa của Nhật Bản tại thị trường ASEAN tạo nên nhữngmâu thuẫn và căng thẳng chưa thể giải quyết Xét từ nhiều góc độ, những tác độngcủa tình hình thế giới và khu vực đã buộc chính phủ Nhật Bản phải cân nhắc điềuchỉnh lại chính sách đối ngoại với thế giới nói chung và Đông Nam Á nói riêng.Vào năm 1977, trong chuyến công du tới năm nước thành viên của ASEAN vàMyanmar, Thủ tướng Takeo Fukuda đã có một bài phát biểu quan trọng mà sau này

được gọi là “Học thuyết Fukuda”, gồm ba nội dung quan trọng: Thứ nhất: “Một

người bạn chân thành là người sẽ đưa tay ra giúp trong sự hiểu biết và hợp tác không chỉ trong những lúc thuận lợi và còn cả những hoàn cảnh khó khăn Nhật Bản

sẽ là một người bạn như thế với các nước ASEAN” Thứ hai: “Sự hiểu biết từ trái tim đến trái tim giữa dân tộc Nhật Bản và các dân tộc Đông Nam Á sẽ là nền tảng

Trang 31

củng cố mối quan hệ lẫn nhau và mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện của Nhật Bản với ASEAN trên khuôn khổ cụ thể của các tổ chức cho việc thúc đẩy giao dịch thương mại của hai bên” Thứ ba: “Nhật Bản sẽ hỗ trợ hơn mức gấp đôi những hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong vòng 5 năm tới” [18] “Học thuyết Fukuda”

sau đó đã trở thành định hướng cho chiến lược phát triển quan hệ Nhật Bản với cácnước ASEAN trong giai đoạn mới

Từ sau Thế chiến thứ II, học thuyết này được xem là một chính sách ngoại giaohoàn chỉnh và mở rộng của Nhật Bản theo hướng “học Á thoát Âu” Theo các nhàphân tích, học thuyết này đóng vai trò quan trọng, làm “cầu nối” giữa ASEAN và banước Đông Dương, nhằm mục tiêu làm giảm bớt căng thẳng ở khu vực Đông Nam

Á Nội dung chính của chính sách NGVH trong học thuyết này là cải thiện quan hệvới các nước trong khu vực, thúc đẩy viện trợ và phát triển quan hệ giao lưu văn hóađối với các nước ASEAN Ở giai đoạn những năm 1980, các nhà hoạch định chínhsách Nhật Bản chỉ rõ mục tiêu của đất nước: phải có trách nhiệm làm thay đổi cáchnhìn của cộng đồng thế giới, đồng thời cần phải thay đổi tâm lý của người dân Nhật

Bản Điều đó được thể hiện rõ khi Thủ tướng Fukuda nhấn mạnh sự hiểu biết “từ

trái tim đến trái tim” không thể là một “con đường một chiều chỉ phục vụ để giới thiệu nền văn hóa Nhật Bản tới bạn bè láng giềng”, và rằng “chúng ta cũng giới thiệu những nét văn hóa cổ xưa và huy hoàng của các nước Đông Nam Á tới với người dân Nhật Bản” [18] “Học thuyết Fukuda” được coi là chính sách Đông Nam

Á lâu dài của Nhật Bản, là hạt nhân cơ bản trong chính sách châu Á - Thái BìnhDương, là cơ sở nền tảng cho những chính sách “thúc đẩy ngoại giao văn hóa” màNhật Bản theo đuổi đến nay, mở ra một chương mới cho mối quan hệ Nhật

Bản - ASEAN

* Chính sách ngoại giao văn hóa dưới thời Thủ tướng Koizumi

Bước sang thế kỷ XXI, nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa trong ngoạigiao, vào tháng 12/2005, dưới thời Thủ tướng Junichiro Koizumi, chính phủ NhậtBản đã công bố “Chiến lược ngoại giao văn hóa thế kỷ XXI” - khẳng định việc chútrọng đến văn hóa hiện đại, coi truyền bá văn hóa là nhiệm vụ cấp thiết của quốc giavới mục tiêu cố gắng thúc đẩy sự quan tâm sâu rộng hơn nữa tới văn hóa Nhật Bản

Trang 32

Đây còn được xem như là sự mở rộng của “Học thuyết Fukuda” trong bối cảnh mới.

“Chiến lược ngoại giao văn hóa thế kỷ XXI” của Nhật Bản được thực hiện dựa trên

Từ góc độ khác, văn hóa được hiểu theo nghĩa là quảng cáo sự tín nhiệm

Hai là, tránh khỏi xung đột, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa và văn minh khác nhau Ngày nay, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, việc phát minh

hàng loạt vũ khí hủy diệt, sự mâu thuẫn trong cộng đồng về chủng tộc, sắc tộc, tôngiáo, đang trở thành mối đe dọa cấp thiết đối với cộng đồng quốc tế trong côngcuộc xây dựng một thế giới hòa bình Bên cạnh những biện pháp đối phó được đề ra,cộng đồng quốc tế dần xác định sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau của các nền vănhóa, văn minh đóng một vai trò thiết yếu trong việc giảm thiểu những xung đột này.Thực tế, theo Báo cáo NGVH Nhật Bản, việc giao lưu và tín nhiệm lẫn nhau về vănhóa trong thời hiện đại nay là rất khó, bởi các loại xung đột thường xuyên xảy rakhắp nơi trên toàn cầu khiến các quốc gia đều cảnh giác và đề phòng lẫn nhau Dựavào kinh nghiệm của chính mình, Nhật Bản đã có thể hiểu được những vấn đề khókhăn mà các nước thành viên ASEAN đang gặp phải trong quá trình toàn cầu hóa,hiện đại hóa đất nước Từ đó, Nhật Bản tăng cường hiểu biết lẫn

nhau giữa Nhật Bản và ASEAN với mục tiêu tiếp biến giữa các nền văn hóa vănminh mà không làm phức tạp thêm những mâu thuẫn

Ba là, bồi dưỡng giá trị và đóng góp cho sự phát triển của quan niệm văn hóa chung của toàn nhân loại Sự phát triển của quan niệm văn hóa chung của toàn nhân

loại đang không ngừng nâng cao và phát triển theo chiều hướng tích cực nhờ vàoviệc bảo vệ và tôn trọng tính đa dạng của văn hóa Sự phụ thuộc quá nhiều vào bối

Trang 33

cảnh thế giới ngày càng sâu sắc được “Chiến lược ngoại giao văn hóa Nhật Bản thế

kỷ XXI” nêu ra trong vấn đề ảnh hưởng của toàn cầu hóa Để tạo dựng thành cônghình ảnh của một đất nước hòa bình, thịnh vượng, con người hài hòa với một bản sắcvăn hóa truyền thống đặc biệt, đòi hỏi Nhật Bản cần đẩy mạnh những hoạt độngNGVH để gia tăng sức hấp dẫn của việc trở thành “cây cầu nối giao lưu văn hóaquốc tế” đối với ASEAN nói riêng và toàn thế giới nói chung

Bên cạnh ba mục tiêu trên thì “Chiến lược ngoại giao văn hóa thế kỷ XXI” củachính quyền Thủ tướng Koizumi còn bao gồm ba trụ cột tinh thần là truyền bá vănhóa, hấp thu văn hóa và cộng sinh:

Trụ cột thứ nhất, “truyền bá văn hóa”: đây được xem như là trụ cột lớn nhất

của chiến lược Việc truyền bá sẽ thông qua các hoạt động như công cụ truyền hình,phổ cập giáo dục tiếng Nhật, giao lưu văn hóa nghệ thuật, phim hoạt hình, truyệntranh, âm nhạc điện ảnh, Chủ trương của truyền bá văn hóa không mang tính

“cưỡng bức” mà chú trọng đến thế mạnh văn hóa riêng của dân tộc, lồng ghép vănhóa của Nhật Bản vào những hoạt động văn hóa khoa học, văn hóa sinh hoạt, vănhóa giải trí của các nước khác Vì thế, Nhật Bản luôn tăng cường những chương trìnhgiảng dạy tiếng Nhật ở các nước châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á Nhà ngôn ngữ học

Dell Hymes vẫn thường nói: “Chìa khóa để hiểu ngôn ngữ trong ngữ cảnh là phải

bắt đầu không phải với ngôn ngữ mà là với ngữ cảnh” [44], ngữ cảnh được hiểu theo

nghĩa rộng, chính là văn hóa Nhật Bản tin tưởng rằng ngôn ngữ sẽ giúp người học

hiểu về văn hóa, con người cũng như tăng độ “yêu mến” với đất nước có ngôn ngữ

mà mình sử dụng Ví dụ, Việt Nam - một trong những quốc gia thành viên ASEAN,hiện là nơi có số người học, số trường và số giáo viên giảng dạy tiếng Nhật lớn thứhai thế giới Ngoài ra, đối với trẻ em các nước ASEAN thì những cuốn truyện tranhNhật Bản nổi tiếng thế giới như Doreamon, Conan, Cậu bé bút chì Shin, là mộtphần không thể thiếu trong tuổi thơ của mình

Trụ cột thứ hai, “hấp thu văn hóa” nhân loại: có thể nói lịch sử văn hóa Nhật

Bản là lịch sử “học hỏi” rất nhiều các tinh hoa của các nền văn hóa khác nhau ở cáclĩnh vực khác nhau Họ đã coi “hấp thu” là nguồn kích hoạt kích thích nền văn hóa

Trang 34

Nhật Bản phát triển, đây là hình thức không mang tính cưỡng chế hay pha trộn “lẫnlộn” các giá trị văn hóa khác với Nhật Bản “Hấp thu” ở đây có nghĩa là phải tạo ramôi trường chung, ở đó các nền văn hóa được tự do giao lưu, cọ sát, để người dânNhật Bản “cảm nhận” và “hấp thu” một cách tự nhiên, có chọn lọc nhất Vì vậy, NhậtBản tích cực tiếp nhận du học sinh nước ngoài và đưa vào hạng mục “loại hình nhậpcư”, cung cấp điều kiện cư trú thích đáng cho người nước ngoài Cùng với đó, NhậtBản tích cực thúc đẩy phát triển giao lưu nhân tài tạo cơ hội cho họ cư trú và nghiêncứu và dùng thể chế linh hoạt thu dùng nhân tài quốc tế Với chính sách NGVH này,Nhật Bản đẩy mạnh chính sách “hấp thu văn hóa sáng tạo” với mong muốn biếnNhật Bản thành nơi “sáng tạo văn hóa” tràn đầy sức sống.

Trụ cột thứ ba, “cộng sinh”: các phương thức thúc đẩy cộng sinh là thúc đẩy

đối thoại giữa các nền văn minh, truyền bá quan niệm cơ bản về hợp tác quốc tế củaNhật Bản, thúc đẩy công tác bảo vệ, tu sửa tài sản, di sản văn hóa vật thể và phi vậtthể của nhân loại Nhật Bản là quốc gia đi đầu trong việc kêu gọi các nước cùng bảo

vệ các giá trị văn hóa chung của nhân loại, tích cực trong các hoạt động củaUNESCO với mục tiêu nâng cao “lòng tôn sùng và cộng sinh” Vì vậy, Nhật Bảncũng là quốc gia đi đầu trong việc xây dựng công ước về Bảo vệ những Di sản Vănhóa phi vật thể của UNESCO năm 2003

Chính sách NGVH của Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Koizumi chú trọng đếnvăn hóa hiện đại, coi truyền bá văn hóa là nhiệm vụ của xã hội với mục tiêu cố gắngthúc đẩy sự quan tâm sâu rộng hơn nữa đến văn hóa Nhật Bản Đặc biệt, trong bảncông bố chiến lược này cũng khẳng định định hướng NGVH mà Nhật Bản theo đuổi

ở thế kỷ XXI là thông qua các hoạt động phổ biến văn hóa đại chúng, chủ yếu nhưphổ cập tiếng Nhật, quảng bá truyện tranh, phim hoạt hình, âm nhạc hiện đại,

1.3.2 Giai đoạn 2012 - 2019

NGVH có vai trò trụ cột của chính sách ngoại giao công chúng mới của NhậtBản ở thế kỷ XXI Đặc biệt là trong những năm gần đây, Nhật Bản cũng giống nhưnhững quốc gia khác trên thế giới bắt đầu xác định lại chính sách ngoại giao theohướng ngoại giao công chúng với các nước thành viên ASEAN Ở giai đoạn này,

Trang 35

việc xác định dùng văn hóa như một phương tiện để triển khai chính sách ngoại giaocông chúng được xác định rõ ràng, cụ thể hơn, chú trọng hơn

Thừa kế quan điểm trong “Chiến lược ngoại giao văn hóa thế kỷ XXI”, ba mục

tiêu và trụ cột tinh thần: “truyền bá”, “hấp thu”, “cộng sinh” tiếp tục được các nhà

hoạch định chính sách chủ động triển khai, mở rộng hơn trong giai đoạn này Đó là

“truyền bá” ra ngoài, “hấp thu” văn hóa ngoại quốc, và ưu tú trong giao lưu “cộng sinh” Ở giai đoạn này, các công cụ chủ chốt của “truyền bá” được Nhật Bản tận

dụng tối đa sức mạnh của thành tựu công nghệ, truyền thông để truyền bá các giá trịvăn hóa của đất nước đến các quốc gia ASEAN một cách hiệu quả Thứ nhất, tăngcường phổ biến tiếng Nhật để đáp ứng sự quan tâm về Nhật Bản cũng như nhu cầutìm hiểu và nghiên cứu tiếng Nhật ngày càng tăng của quốc gia ASEAN Thứ hai,tích cực truyền tải thông tin văn hóa đương đại bao gồm văn hóa đại chúng nhưtruyện tranh, phim hoạt hình, trò chơi, âm nhạc, điện ảnh, thời trang, Thứ ba, nângcao trách nhiệm của việc tuyên truyền thông tin qua các công cụ truyền thông đối với

ASEAN Nhận thấy quan niệm “hấp thu có tính sáng tạo” đã đạt được nhiều thuận

lợi trong việc biến Nhật Bản trở thành một “trung tâm sáng tạo văn hóa” thực thụ,chính phủ Nhật Bản đã tiếp tục triển khai, xây dựng một hệ thống riêng biệt nhằm hỗtrợ các hoạt động giao lưu văn hóa Chính sách NGVH Nhật Bản giai đoạn này sẽ

nâng cao “lòng tôn sùng và cộng sinh” Nhật Bản muốn đóng vai trò như là cầu nối

giữa các nền văn hóa và các giá trị đa dạng của thế giới Chính vì thế, chính phủ NhậtBản đã đề xuất những biện pháp nhằm bảo vệ không gian công cộng của văn hóa, thểhiện tinh thần tôn trọng sự hòa hợp và cùng chung sống lẫn nhau

Tiếp nối đường hướng của Học thuyết Fukuda, chính sách Đông Nam Á dướithời Thủ tướng Shinzo Abe vẫn tuân theo ba nguyên tắc chính của Học thuyết này,nghĩa là Nhật Bản sẽ không bao giờ trở thành cường quốc quân sự với ASEAN; NhậtBản luôn thúc đẩy quan hệ với ASEAN dựa trên sự thấu hiểu thật sự và Nhật Bản sẽđẩy mạnh việc hợp tác với các quốc gia thành viên ASEAN như các đối tác bìnhđẳng Tuy nhiên, trước những biến đổi thực tế trong quan hệ quốc tế trên thế giới vàkhu vực châu Á - Thái Bình Dương, Thủ tướng Abe đã phải hiện thực hóa lại chính

Trang 36

sách NGVH với Đông Nam Á để cho phù hợp với tình hình mới Ngay sau khi nhậmchức vào tháng 12/2012, Thủ tướng Shinzo Abe đã chọn các nước ASEAN chochuyến thăm nước ngoài đầu tiên của mình Lịch trình chuyến công du đầu tiên trêncương vị mới của Thủ tướng Abe tuy không gây bất ngờ lớn nhưng cũng khiến cácnhà nghiên cứu quan tâm đến sự ưu tiên của chính sách đối ngoại mà Nhật Bản dànhcho khu vực này Trong bài diễn văn tại Jarkata, Indonesia (1/2013), Thủ tướng Abe

đã đưa ra năm nguyên tắc hợp tác với ASEAN: đó là cùng với các thành viênASEAN bảo vệ và thúc đẩy các giá trị phổ quát như tự do, dân chủ và các quyền cơbản của con người; cùng với các quốc gia thành viên ASEAN bảo đảm các vùng biển

mở và tự do được quản trị bằng luật pháp và quy định chứ không phải bằng vũ lực vàchào đón sự tái cân bằng của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương; thúc đẩy đầu tư vàthương mại; bảo vệ, chăm sóc các di sản và truyền thống văn hóa phong phú củaASEAN và thúc đẩy giao lưu giữa các thế hệ trẻ nhằm tăng cường hiểu biết chung.Tại Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 40 năm quan hệ ASEAN - Nhật Bản ở Tokyo, Nhật

Bản (12/2013), Thủ tướng Abe đã phát biểu: “Chúng tôi muốn khẳng định tầm nhìn

mới về quan hệ hữu nghị Nhật Bản - ASEAN” [16] Một lần nữa, năm nguyên tắc

được chính phủ Nhật Bản đề xuất đầu năm 2013 được đưa ra thảo luận tại Hội nghị;các nhà lãnh đạo ASEAN đặc biệt đánh giá cao sự hợp tác tích cực và hỗ trợ quantrọng của Nhật Bản dành cho ASEAN trong hợp tác, liên kết khu vực, xây dựngCộng đồng ASEAN, thu hẹp khoảng cách phát triển, cũng như trong ứng phó với cácthách thức trong khu vực

* Chiến lược “Cool Japan” dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe

Thuật ngữ “Cool Japan” lần đầu tiên được sử dụng chính thức trong bản dựthảo “Chiến lược ngoại giao văn hóa thế kỷ XXI” (2005) dưới thời Thủ tướngKoizumi Sau một thời gian bị quên lãng, thuật ngữ này được nhà mĩ thuật đương đạiNhật Bản - Takashi Murakami đề cập trong bài tham luận tại hội thảo chuyên đề của

“Khả năng Cool Japan” (2010) Trong bài tham luận, ông đưa ra quan điểm nhấnmạnh đến điểm tích cực của manga, anime, Ông gọi đó là những loại hình văn hóamang “vẻ đẹp Nhật Bản/Cool Japan” và khẳng định đây là những tác phẩm nghệ

Trang 37

thuật của Nhật Bản, được sản sinh ra Nhật Bản [5, tr.115] Tháng 12/2012, Thủtướng Abe và nội các đã bắt đầu tiến hành xây dựng “Chiến lược Cool Japan” Chiếnlược này được coi là một phần trong “Chiến lược phục hồi Nhật Bản” Mục tiêu củachiến lược Cool Japan là chia sẻ văn hóa ẩm thực, thời trang và văn hóa truyền thốngđộc đáo của Nhật Bản với Cộng đồng ASEAN, đồng thời làm nổi bật lòng hiếukhách của con người Nhật Bản và vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh đất nước.Thông qua việc thúc đẩy các dịch vụ văn hóa, tập trung vào các ngành công nghiệpvăn hóa mang tính sáng tạo như quảng cáo, kiến trúc, nghệ thuật và đồ cổ, hàng thủcông, thiết kế, thời trang, phim ảnh và video, trò chơi, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn,xuất bản, phần mềm máy tính và dịch vụ, phát thanh và truyền hình, đồ nội thất, đồgia dụng, đồ trang sức, văn phòng phẩm, các sản phẩm thực phẩm, du lịch, Nhật Bản

hy vọng rằng với những sản phẩm và ngành nghề trên có thể thúc đẩy sản xuất trongnước, gia tăng xuất khẩu, đem lại sức sống cho nền kinh tế, khuyến khích du lịch,tăng cường mối quan hệ văn hóa và ngoại giao của nước này với ASEAN

ASEAN đã thành công khi hòa hợp, dung hòa các nền văn hóa khác nhau đểtạo nên sự đa dạng văn hóa ở Đông Nam Á Dựa trên sự hiểu biết và chia sẻ về vănhóa và xã hội với các nước thành viên ASEAN, Nhật Bản đã phát triển hơn nữa quan

Trang 38

hệ hợp tác toàn diện giữa Nhật Bản và ASEAN, thích ứng hiệu quả với tình hìnhmới, đóng góp tích cực cho hòa bình, an ninh, ổn định và phát triển thịnh vượngtrong khu vực Vì vậy, chính sách NGVH Nhật Bản triển khai theo hướng lấy vănhóa đại chúng để làm cơ sở cho việc quảng bá hình ảnh đất nước, tăng cường sự hiểubiết về Nhật Bản của công dân các nước ASEAN, xây dựng cho mình phương hướng

và phương thức phát triển lĩnh vực ngoại giao này một cách rõ ràng để đạt được mụctiêu đã đề ra cho hoạt động NGVH đối với ASEAN dựa trên ba trụ cột tinh thần

“truyền bá, hấp thu và cộng sinh”, mở rộng thị trường công nghiệp sáng tạo thôngqua các sản phẩm văn hóa trong chiến lược “trở lại châu Á” của mình

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN

• • • •

HÓA NHẬT BẢN VỚI ASEAN GIAI ĐOẠN 2012 - 2019

2.1 HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA NGOÀI NƯỚC

2.1.1 Hoạt động truyền thông đối ngoại

Hoạt động truyền thông đối ngoại là một hoạt động không thể thiếu của NGVHgiữa Nhật Bản với các nước ASEAN Các phương tiện truyền thông đại chúng ngàycàng khẳng định vai trò quan trọng trong việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh Nhật Bản

ra thế giới và tiếp thu các tinh hoa văn hóa của thế giới vào Nhật Bản

* Giao lưu nhân dân

Trong quan hệ với các nước thành viên ASEAN thì truyền thông đối ngoại đóngmột vai trò rất quan trọng, nó được coi là chiếc cầu nối hiệu quả giữa các nướcASEAN và Nhật Bản Chính vì vậy, Nhật Bản là một trong những nước đối tác đầutiên thiết lập quan hệ đối thoại với ASEAN năm 1973 và mối quan hệ này được gắnkết hơn khi Nhật Bản chính thức ký kết Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam

Á (TAC) nhằm thúc đẩy nền hòa bình vĩnh viễn, sự thân thiện và hợp tác lâu bền giữanhân dân Nhật Bản và Đông Nam Á, góp phần vào sức mạnh, tình đoàn kết và quan

hệ chặt chẽ hơn của cả hai bên Năm 2013 là năm đánh dấu kỷ niệm 40 năm quan hệchính thức giữa Nhật Bản - ASEAN Tại Hội nghị Thượng đỉnh ở Tokyo, Nhật Bản

và ASEAN khẳng định sẽ tăng cường mối quan hệ hợp tác đối tác dựa trên bốn trụcột: “hòa bình - ổn định”, “thịnh vượng”, “nâng cao chất lượng cuộc sống” và “tìnhhữu nghị” [28] Ngoài ra, Nhật Bản và ASEAN nhấn mạnh vào việc trao đổi, giao lưucon người và văn hóa, đặc biệt là trong giới trẻ và trí thức, nhằm thúc đẩy ý thức về

sự gắn kết, tôn trọng lẫn nhau và hiểu biết về các truyền thống và giá trị của nhau.Trong chuyến thăm Indonesia (1/2013), Thủ tướng Shinzo Abe đã công bố thực hiệnmột chương trình trao đổi nguồn nhân lực với tên gọi là “JENESYS 2.0” được đưa ravới mục tiêu có khoảng 30.000 thanh niên từ khu vực châu Á - Thái Bình Dương baogồm cả ASEAN sẽ tham gia vào “Mạng lưới trao đổi sinh viên và thanh niên NhậtBản - Đông Á” với hy vọng góp phần làm sâu sắc thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa

Trang 40

thanh thiếu niên; củng cố tình bạn giữa giới trẻ Nhật Bản và ASEAN, mối quan hệNhật Bản - ASEAN ngày càng bền chặt hơn Trên thực tế, chương trình JENESYS làmột trong những chương trình giao lưu thanh niên nổi bật nhất mà Thủ tướng ShinzoAbe đã triển khai từ năm 2008 Chỉ tiêu của chương trình lúc này là mời 6.000 thanhthiếu niên các nước Đông Á trong đó có ASEAN sang tham quan và giao lưu tại Nhậtvới quy mô 350 triệu yên Tuy nhiên, đến năm 2010 chương trình đã tổng kết thànhquả và vượt chỉ tiêu đề ra, khi hơn 8.500 thanh niên được mời sang Nhật để giao lưu

và tìm hiểu về Nhật Bản Tiếp nối thành công này, từ 2013 đến 2015, chương trìnhJENESYS 2.0 đã thu hút hơn 10.000 thanh niên từ các quốc gia ASEAN và khoảng

600 người Nhật được mời đến các nước Đông Nam Á để trải nghiệm học hỏi và giaolưu văn hóa nơi đây Kể từ đó, chương trình JENESYS được diễn ra định kỳ hàngnăm nhằm tăng cường cơ hội giao lưu gặp gỡ giữa thanh niên ASEAN và Nhật Bản.Gần đây nhất, chương trình này đã có khoảng 1.200 thanh thiếu niên ASEAN thamgia “Giao lưu thanh niên, sinh viên Nhật Bản - Đông Á” với chủ đề “Thể thao: Bóngném bầu dục” vào tháng 9/2019 tại Nhật Bản

* Trao đổi các ấn phẩm xuất bản và nghe nhìn

Không chỉ vậy, Nhật Bản còn hỗ trợ nhiều dự án về biên dịch các văn bản tiếngNhật thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, cũng như xuất bảnsách báo, truyện tranh về văn hóa Nhật Bản bằng tiếng nước ngoài Các tác phẩm nổitiếng được dịch thuật từ tiếng Nhật sang nhiều tiếng khác như “Rừng Na Uy”,

“Totochan - cô bé bên cửa sổ”, “Kafka bên bờ biển”, đã được người dân Đông Nam

Á đón nhận rất nhiệt tình và từ đó đến nay đã được tái bản nhiều lần Đặc biệt, trongvăn học Nhật Bản nói riêng và nền văn hóa Nhật Bản nói chung, manga là đại diệnnổi bật nhất khi xét về độ “phủ sóng” đại chúng Nhiều tựa manga đã trở thành sáchtruyện “gối đầu giường” của những thế hệ thanh thiếu niên ở các nước Đông Nam Ánhư Việt Nam, Indonesia, Philippines, Malaysia, Không thể không kể đến bộ truyệntranh “Doraemon” (nhà xuất bản Kim Đồng) - một trong những bộ manga nổi tiếng

và phổ biến nhất ở khu vực Đông Nam Á nhờ vào nội dung truyện cuốn hút lồng ghépnhững nét đẹp văn hóa Nhật Bản, truyện còn mang tính giải trí và giáo dục phù hợpvới lứa tuổi thiếu nhi Hình ảnh chú mèo máy đáng yêu Doraemon và cậu bạn hậu đậu

Ngày đăng: 25/08/2021, 09:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Luận Thùy Dương (2017), Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN, Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN
Tác giả: Luận Thùy Dương
Nhà XB: Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự thật
Năm: 2017
[2] Vũ Trọng Lâm - Lê Thanh Bình (2015), Văn hóa đối ngoại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa đối ngoại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Tác giả: Vũ Trọng Lâm - Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật
Năm: 2015
[3] Vũ Dương Huân (2018), Ngoại giao và công tác ngoại giao, Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao và công tác ngoại giao
Tác giả: Vũ Dương Huân
Nhà XB: Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật
Năm: 2018
[4] Kishore Mahbuhani - Jeffery Sng (2017), Phạm Bích (dịch), ASEAN diệu kỳ - Vì một cộng đồng phát triển bền vững và thịnh vượng, Công ty Sách Thái Hà, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN diệu kỳ - Vì một cộng đồng phát triển bền vững và thịnh vượng
Tác giả: Kishore Mahbuhani - Jeffery Sng
Năm: 2017
[5] Trần Quang Minh - Hoàng Minh Lợi (2017), Nghiên cứu Đông Bắc Á năm 2016, Tập 2: Văn hóa - Xã hội - Môi trường, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Đông Bắc Á năm 2016, Tập 2: Văn hóa - Xã hội - Môi trường
Tác giả: Trần Quang Minh - Hoàng Minh Lợi
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
[6] Trần Quang Minh (2015), Thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh mới ở Đông Á, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh mới ở Đông Á
Tác giả: Trần Quang Minh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2015
[7] Hoàng Khắc Nam (2006), Bài giảng “Nhập môn quan hệ quốc tế”, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng “Nhập môn quan hệ quốc tế”
Tác giả: Hoàng Khắc Nam
Năm: 2006
[8] Hoàng Khắc Nam (2008), Hợp tác đa phương ASEAN+3: Vấn đề và triển vọng, Nxb. Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác đa phương ASEAN+3: Vấn đề và triển vọng
Tác giả: Hoàng Khắc Nam
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2008
[9] Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật Hà Nội (2011), Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3
Tác giả: Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật Hà Nội (2011)
Năm: 2011
[10]Hoàng Phê (1996), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học
Năm: 1996
[11] Nguyễn Thị Quế - Nguyễn Tất Giáp (2013), Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản sau chiến tranh lạnh, Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật Hà Nội, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản sau chiến tranh lạnh
Tác giả: Nguyễn Thị Quế - Nguyễn Tất Giáp
Nhà XB: Nxb. Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật Hà Nội
Năm: 2013
[14] Milton C. Cummings Jr (2008): Cultural diplomacy and the United States Government: A Survey, Washington, D.C: Center for Arts and Culture Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cultural diplomacy and the United States Government: A Survey
Tác giả: Milton C. Cummings Jr
Năm: 2008
[15] Joseph S. Nye: Soft Power (2004): The Means To Success In World Politics, United States by Public Affairs.Các trang web hỗ trợ Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Means To Success In World Politics
Tác giả: Joseph S. Nye: Soft Power
Năm: 2004
[12] Alexander Bukh (2014), Revisiting Japan's Cultural Diplomacy: A Khác
[13] Simeon Adebolu (2007), Cultural Diplomacy Introduction to an Essential Part of Diplomatic Relations Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Số hiệu bảng Tên bảng Trang - Ngoại giao văn hóa nhật bản với asean giai đoạn 2012 – 2019
hi ệu bảng Tên bảng Trang (Trang 8)
DANH MỤC CÁC BẢNG - Ngoại giao văn hóa nhật bản với asean giai đoạn 2012 – 2019
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 8)
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ • ' • - Ngoại giao văn hóa nhật bản với asean giai đoạn 2012 – 2019
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ • ' • (Trang 9)
Bảng 1.1. Văn phòng đại diện của Japan Foundation tại các nước ASEAN [35] - Ngoại giao văn hóa nhật bản với asean giai đoạn 2012 – 2019
Bảng 1.1. Văn phòng đại diện của Japan Foundation tại các nước ASEAN [35] (Trang 26)
Bảng 2.1. Thống kê số lượng giáo viên dạy tiếng Nhật và người học tiếng Nhật tại Đông Nam Á năm 2015 [34] - Ngoại giao văn hóa nhật bản với asean giai đoạn 2012 – 2019
Bảng 2.1. Thống kê số lượng giáo viên dạy tiếng Nhật và người học tiếng Nhật tại Đông Nam Á năm 2015 [34] (Trang 43)
Bảng 3.1. Các chương trình Nhật Bản viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam giai đoạn 2014 - 2016 [33] - Ngoại giao văn hóa nhật bản với asean giai đoạn 2012 – 2019
Bảng 3.1. Các chương trình Nhật Bản viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam giai đoạn 2014 - 2016 [33] (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w