1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh lào cai giai đoạn 2005 2010 lý luận và thực tiễn luận văn tốt nghiệp đại học

74 1,6K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2005 - 2010: lý luận và thực tiễn
Tác giả Mai Thị Thu Trang
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Huyền Sang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Cử nhân luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại Thông tư liên tịch của Bộ Công an - Viện KSND Tốicao - TAND Tối cao - Bộ Tư pháp số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy địn

Trang 1

Trờng đại học vinh

Khoa luật

===  ===

mai thị thu trang

tội mua bán trái phép chất ma túy

trên địa bàn tỉnh lào cai giai đoạn 2005 - 2010:

lý luận và thực tiễn

khóa luận tốt nghiệp đại học

Ngành cử nhân luật

Vinh - 2011

Trang 2

Trờng đại học vinh

Khoa luật

===  ===

tội mua bán trái phép chất ma túy

trên địa bàn tỉnh lào cai giai đoạn 2005 - 2010:

lý luận và thực tiễn

khóa luận tốt nghiệp đại học

Ngành cử nhân luật

Giảng viên hớng dẫn: ThS Phạm thị huyền Sang

Sinh viên thực hiện: mai thị thu trang

Vinh - 2011

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Phạm ThịHuyền Sang, trưởng bộ môn Luật hình sự, khoa Luật, trường Đại học Vinh -người đã định hướng đề tài và tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quátrình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Em cũng xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Luật trườngĐại học Vinh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trongsuốt bốn năm học vừa qua Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trìnhhọc không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hànhtrang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin

Con xin cảm ơn cha mẹ và gia đình đã sinh ra và nuôi dạy con khônlớn, luôn bên cạnh động viên và ủng hộ con trên con đường mà con yêu thích

và lựa chọn

Cám ơn các bạn sinh viên khoa Luật khóa 2007-2011 Các bạn đã giúp

đỡ ủng hộ, cũng như đóng góp nhiều ý kiến quý báu, qua đó giúp mình hoànthiện khóa luận tốt hơn

Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng nhưng chắc hẳn khóa luận của em vẫncòn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được nhiều những ý kiến đánh giáquý, phê bình của quý thầy cô, của anh chị và các bạn

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2011.

Sinh viên

Mai Thị Thu Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ 3

4 Đối tượng, phạm vi 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY -NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 5

1.1 Khái quát về tội mua bán trái phép chất ma túy 5

1.1.1 Khái quát về ma túy 5

1.1.2 Khái quát về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Chương XVIII, Điều 194 Bộ luật Hình sự 8

1.2 Các dấu hiệu pháp lí về tội mua bán trái phép chất ma túy 8

1.2.1 Khách thể tội mua bán trái phép chất ma túy 8

1.2.2 Mặt khách quan tội mua bán trái phép chất ma túy 13

1.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm 19

1.2.4 Chủ thể tội mua bán trái phép chất ma túy 21

1.3 Đường lối xử lí tội mua bán trái phép chất ma túy 23

1.3.1 Phạm tội không có các tình tiết là yếu tố định khung 23

1.3.2 Phạm tội trong trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng .24

1.4 Nhận xét 35

Chương 2 TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - THỰC TIỄN TẠI TỈNH LÀO CAI 38

Trang 5

2.1 Tình hình kinh tế - xã hội, đặc điểm địa lý của tỉnh Lào Cai 38

Trang 6

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 382.1.2 Đặc điểm địa lý 392.2 Tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh

Lào Cai 402.2.1 Tình hình tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn

tỉnh Lào Cai 402.2.2 Thực tiễn xét xử tội mua bán trái phép chất ma túy ở tỉnh Lào

Cai trong giai đoạn 2005 - 2010 542.3 Các biện pháp, chính sách của tỉnh Lào Cai nhằm ngăn chặn tội

phạm về ma túy 602.4 Một số giải pháp khắc phục tình trạng mua bán trái phép chất

ma túy trên địa bàn tỉnh Lào Cai 612.4.1 Nguyên nhân của tình trạng mua bán trái phép chất ma túy

tại Lào Cai 612.4.2 Giải pháp khắc phục tình hình tội mua bán trái phép chất ma

túy tại địa bàn tỉnh Lào Cai 64

KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 7

là thứ hàng hóa “hấp dẫn” mang lại “siêu lợi nhuận”, đồng thời cũng lànguyên nhân của nhiều loại tội phạm, làm băng hoại đạo đức, lối sống trong

xã hội, làm biết bao gia đình bất hạnh, đau khổ

Ở Việt Nam nói chung và đặc biệt là các tỉnh miền núi nói riêng nhưtỉnh Lào Cai do vị trí địa lí hiểm trở, trình độ dân trí lại thấp nên tội phạm về

ma túy ngày càng gia tăng cả về số vụ phạm tội cũng như tính chất, mức độnguy hiểm của tội phạm

Lào Cai là một trong những tỉnh miền núi biên giới, có vị trí chiến lược

về an ninh - quốc phòng, có diện tích tự nhiên 6.344 km², với 188,08 kmđường biên giới giáp với Vân Nam (Trung Quốc), trong đó có 130 km là sôngsuối Bên cạnh đó Lào Cai có 25 dân tộc sinh sống, trong đó đồng bào dân tộcthiểu số chiếm 64% Trình độ dân trí không đồng đều, nhiều vùng đồng bàocòn những tập tục lạc hậu, nhận thức về pháp luật còn hạn chế Vì vậy đây lànhững yếu tố làm phát sinh tội phạm, đặc biệt là những tội phạm về ma túy

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, bị dưluận xã hội lên án mạnh mẽ Song do ham lời bất chính, coi thường pháp luật

và đạo lý nên vẫn có rất nhiều người hàng ngày, hàng giờ dùng mọi thủ đoạn

để buôn bán thứ hàng hóa chết người đó Ma túy đã trở thành một “quốc nạn”tác động trực tiếp vào từng cá nhân, từng gia đình và toàn xã hội Ma túy kéotheo một loạt các tội phạm như: trộm cắp, giết người, chiếm đoạt tài sản… và

Trang 8

rất nhiều các loại bệnh tật nguy hiểm, trong đó có căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS.

Vì vậy đấu tranh phòng chống ma túy là vấn đề cấp bách được Nhà nước vàtoàn xã hội quan tâm Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương,chính sách để phát triển kinh tế, xã hội cho miền núi nhằm đẩy lùi tiến tới xóa

bỏ tệ nạn ma túy Các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy đã bị xử lý bằngnhững hình phạt rất nghiêm khắc Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các tội phạm

về ma túy nói chung, tội phạm mua bán trái phép chất ma túy nói riêng vẫnkhông ngừng diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm

Vì các lý do trên, em quyết định chọn đề tài “Tội mua bán trái phép chất ma tuý trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2005 - 2010: lý luận và thực tiễn” làm khoá luận tốt nghiệp đại học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Ma túy đang là vấn đề toàn cầu thu hút được nhiều người nghiên cứu.Trong thời gian qua hàng loạt các công trình nghiên cứu, các bài luận án tiến

sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về ma túy trong đó có các công trình nổi bật:

- “Hiểm họa ma túy và cuộc chiến mới” của GS TS Nguyễn XuânYêm, TS Trần Văn Luyện (2001)

- “Đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh LàoCai” của ThS Thân Công Thanh (2008)

- “Bình luận khoa học luật hình sự phần các tội phạm tập IV (bình luậnchuyên sâu về tội phạm ma túy)” của ThS Đinh Văn Quế (2002)

- “Công tác kiểm sát điều tra án ma túy” của TS Dương Thanh Biểu.Các công trình kể trên thường được các tác giả nghiên cứu ở nhữngphương diện và cấp độ khác nhau: tội phạm học, hình pháp học, luật học.Nhưng công tác đấu tranh phòng chống ma túy ngoài những đặc điểm chungthì ở mỗi địa phương lại có những đặc điểm riêng nhưng địa lí, kinh tế, xãhội, tập quán, phương thức thủ đoạn khác nhau Hơn thế nữa Lào Cai đang làmột địa bàn phức tạp về ma túy, đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc ít người Vì

Trang 9

vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ có ý nghĩa thiết thực trong công tác phòngchống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh.

3 Mục đích và nhiệm vụ

Ở góc độ khóa luận tốt nghiệp, mục đích của khóa luận là nghiên cứutội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lào Cai về mặt lý luận vàthực tiễn Qua việc phân tích các dấu hiệu pháp lý và đưa ra các số liệu cụ thể

về mua bán trái phép ma túy trên địa bàn tỉnh, khóa luận đưa ra một số giảipháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này

ở giai đoạn hiện nay

Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ của khóa luận là:

- Về mặt lí luận: Phân tích các khía cạnh pháp lý của tội mua bán tráiphép chất ma túy Điều 194 BLHS Việt Nam 1999

- Về mặt thực tiễn: Phân tích tình hình tội phạm, thực tiễn xét xử tộimua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lào Cai Từ đó đưa ra một sốgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm

4 Đối tượng, phạm vi

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lí luận và thực

tiễn về tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lào Cai

- Phạm vi nghiên cứu khóa luận là tình hình tội phạm về mua bán trái

phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Lào Cai từ năm 2005 - 2010

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

về đấu tranh phòng chống tội phạm, có sử dụng các văn bản pháp luật, cácbáo cáo tổng kết xét xử, các tài liệu trong nước có liên quan

Trang 10

Khóa luận sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, sosánh, xã hội học Trong đó, phương pháp phân tích là chủ đạo nhằm đi sâuhơn vào vấn đề cần nghiên cứu.

6 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của khoá luận được chia thành 2 chương:

Chương 1: Tội mua bán trái phép chất ma tuý theo Điều 194 - BLHS

Việt Nam - Những vấn đề lý luận

Chương 2: Tội mua bán trái phép chất ma tuý - Thực tiễn tại tỉnh

Lào Cai

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1

TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - NHỮNG VẤN ĐỀ

LÍ LUẬN

1.1 Khái quát về tội mua bán trái phép chất ma túy

1.1.1 Khái quát về ma túy

1.1.1.1 Ma túy là gì ?

Đã từ lâu, ma tuý là vấn đề toàn cầu, tác động lên hầu hết các quốc gia

và khu vực trên thế giới ở nhiều cấp độ khác nhau, gây những thiệt hại lớn cả

về kinh tế chính trị và xã hội Có rất nhiều ý kiến, quan điểm đưa ra về kháiniệm ma tuý, song có thể khái quát ma tuý là một chất có từ trong tự nhiênhoặc nhân tạo, có khả năng gây nghiện khi con người sử dụng không đúng,không hợp lý Nó có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định và pháttriển của cộng đồng

Theo từ điển Hán Việt thì ma tuý được dùng chỉ các chất mà khi sửdụng có trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng lâu thành nghiện

Theo tổ chức y tế Thế giới (WHO): “Ma tuý là thực thể hoá học hoặcthực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì tình trạngbình thường của cơ thể, việc sử dụng những chất đó sẽ làm thay đổi chứcnăng sinh học của con người.”

Trong Bộ luật Hình sự nước ta, lần đầu tiên thuật ngữ “ma tuý” đượcquy định tại Điều 203 của Bộ luật Hình sự 1985 tại mục: “Tội tổ chức dùng cácchất ma tuý” Ngày 21/12/1999, Bộ luật Hình sự mới được thông qua thì “matuý” là các chất đã được xác định và có tên gọi riêng trong khoa học Danh mụccác chất ma tuý (bao gồm danh mục quy định tại Công ước Quốc tế 1961-1971-1981) gồm 225 chất ma tuý và 22 tiền chất để sản xuất ra ma túy

Trang 12

1.1.1.2 Tác hại của ma túy

Có thể nói ma tuý là một thảm hoạ lớn đối với nhân loại Không mộtquốc gia, một dân tộc nào thoát ra ngoài vòng xáy khủng khiếp của nó đểtránh khỏi những hậu quả do nghiện hút và buôn lậu ma tuý gây ra Ma tuýđang làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nhân lực, tàichính, huỷ diệt những tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy độngcho việc phát triển kinh tế - xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người

Ma tuý đang làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống yên vuigia đình, gây xói mòn đạo lý, kinh tế, xã hội Nghiêm trọng hơn, ma tuý còn

là tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh HIV/AIDS phát triển

Khi đã nghiện ma tuý gây nên những hậu quả khôn lường cho bản thân,gia đình và xã hội Qua một số công trình nghiên cứu có thể nhận thấy rằng

ma tuý có những tác hại cơ bản:

- Với bản thân người nghiện:

Về sức khỏe: Ma tuý phá hoại sức khoẻ con người, làm cho ngườinghiện bị rối loạn sinh lý, trao đổi chất kém, cơ thể suy nhược, các chức năng

hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá, sinh dục và sinh sản suy giảm, dễ mắc các bệnhtim mạch, gan, thần kinh… Ma tuý làm cho người nghiện suy giảm khả năngchống đỡ bệnh tật, dễ mắc các bệnh lao, phổi, viêm gan A, viêm gan B, HIV/AIDS

Về mặt tâm lí: Người nghiện trở nên ích kỷ, thờ ơ với mọi người, kể cảvới người thân của chính mình Nếu thiếu thuốc người nghiện trở nên u sầu,cau có, vật vã, tính tình trở nên hung hãn, không làm chủ được bản thân, cónhững hành động không phù hợp với đạo đức, tập quán và pháp luật, dễ dàngdẫn đến con đường tội phạm

Về mặt đạo đức: Ma tuý làm thay đổi trạng thái, tâm lý của ngườinghiện Nó làm cho người nghiện sa sút về tinh thần, thay đổi nhân cách Họhay cáu gắt, nói dối, ăn cắp, gây xung đột với bố mẹ, anh chị, vợ con Lúc này

Trang 13

họ chỉ có một nhu cầu lớn nhất là làm sao để có ma tuý sử dụng, ngoài rakhông còn quan tâm đến ai

Về mặt kinh tế: Khi mắc nghiện, người nghiện tiêu một lượng tiềnkhổng lồ vào ma tuý Nếu tính trung bình 1 ngày người nghiện nhẹ dùng50.000 đồng ma tuý và người nghiện nặng dùng trên 100.000 đồng thì ít nhấttrong năm 1 người nghiện phải chi hơn 18.000.000 đồng, đó là một con sốquá lớn Mặt khác do uy tín, sức khoẻ của người nghiện giảm sút, tâm lýkhông ổn định nên đa số không có việc làm hoặc việc làm không ổn định Chiphí để điều trị cai nghiện cũng rất tốn kém Trung bình 1 lần cai cắt cơn cần1.200.000đ/người

- Với gia đình

Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình Nhu cầu cần tiền để mua

ma tuý của người nghiện là rất lớn, ma tuý có thể tiêu tốn hết tiền của, tài sản,

đồ đạc của gia đình vào việc mua ma tuý để thoả mãn cơn nghiện của mình

Sức khỏe của các thành viên khác trong gia đình giảm sút vì lo lắng,mặc cảm cho những người nghiện ma túy

Gây tổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan

vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc )

Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của ngườinghiện do ma tuý gây ra

- Với xã hội

Nghiện ngập là đầu mối dẫn đến những tệ nạn xã hội Để có tiền thoảmãn cơn nghiện, người nghiện không từ một hành vi nào để kiếm tiền Nhữnghành vi phạm pháp như : trộm cắp, móc túi, giật đồ… thậm chí giết người họcũng dám làm

Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội

Tăng chi phí ngân sách xã hội cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc phục,giải quyết các hậu quả do ma tuý đem lại Ma tuý còn là nguồn gốc, là điềukiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS (một hiểm hoạ toàn cầu chưa có

Trang 14

thuốc chữa) Hiện nay nước ta có trên 130.000 người nhiễm HIV/AIDS thì có75% là do tiêm chích ma tuý.

1.1.2 Khái quát về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Chương XVIII, Điều 194 Bộ luật Hình sự

Tội mua bán trái phép các chất ma tuý là hành vi cố ý trao đổi các chất

ma tuý bằng tiền hay hiện vật trái với các quy định của Nhà nước

Theo quy định tại Thông tư liên tịch của Bộ Công an - Viện KSND Tốicao - TAND Tối cao - Bộ Tư pháp số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tạiChương XVIII "Các tội phạm về ma túy" của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì

"Mua bán trái phép chất ma túy" là một trong các hành vi sau đây:

- Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vàonguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túycho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;

- Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

- Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

- Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụthuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);

- Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất

ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;

- Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

- Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác

Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện mộttrong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy nói trên đều bị truy cứu tráchnhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy (với vai trò đồng phạm)

1.2 Các dấu hiệu pháp lí về tội mua bán trái phép chất ma túy

1.2.1 Khách thể tội mua bán trái phép chất ma túy

Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

và bị tội phạm xâm hại Có thể nói, trong bất cứ chế độ xã hội có giai cấp nào

Trang 15

Nhà nước cũng đều xác lập, bảo vệ, củng cố và thúc đẩy sự phát triển củanhững quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Ở các chế độ

xã hội khác nhau thì các quan hệ xã hội được bảo vệ cũng khác nhau Hệthống quy phạm pháp luật hình sự luôn là công cụ hữu hiệu để Nhà nước bảo

vệ các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình

Ma túy là loại độc dược gây nghiện nguy hiểm Theo quy định của Nhànước chỉ một số cơ quan nhà nước mới được phép sản xuất ma túy nhằm mụcđích phục vụ cho y học và cho nghiên cứu khoa học Sự thống nhất quản lýcủa Nhà nước về chất ma túy nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng ma túy,bảo vệ sức khỏe người dân và ngăn ngừa các tội phạm về ma túy

Điều 6 Hiến pháp 1992 đã quy định “Nghiêm cấm sản xuất, vậnchuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túykhác Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa bệnh xã hộinguy hiểm”

Hiện nay, việc sản xuất một số chất ma túy chủ yếu được tiến hànhtrong lĩnh vực y tế nhằm mục đích chữa bệnh Hoạt động này được quy địnhchặt chẽ từ khâu quản lý, sản xuất đến buôn bán và sử dụng

Điều 3 Luật phòng chống ma túy 2000 cũng quy định cấm các hành viliên quan đến ma tuý như: trồng, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán…các chất ma túy

Khách thể chung của các tội phạm về ma túy là chế độ quản lí nhànước về ma túy ở tất cả các khâu, các quá trình quản lí Các tội phạm này cóđối tượng là các chất ma túy và các vật dụng phục vụ sản xuất và sử dụngchất ma túy

Như vậy, tội mua bán trái phép chất ma túy xâm phạm chế độ độcquyền quản lý của Nhà nước về ma túy, trực tiếp là chế độ quản lý của Nhà

nước về việc trao đổi chất ma túy Không những thế nó còn góp phần tạo ra

một lớp người nghiện trong xã hội, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tựcông cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của xã hội

Trang 16

Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm

bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hạicho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

Đối tượng tác động của tội mua bán trái phép chất ma túy là các chất

ma túy bao gồm các chất ma túy theo nghĩa hẹp, các chất hướng thần, các tiềnchất ma túy và hướng thần (gọi tắt là các tiền thần ma túy); các cây trồng hoặcnguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy

Ở nước ta, việc xác định các chất ma túy, các chất hướng thần và cáctiền chất ma túy và hướng thần được dựa trên cơ sở tham khảo các bảng quyđịnh về các chất ma túy và các chất hướng thần của 3 Công ước của Liên hợpquốc và kiểm soát ma túy

Theo Công ước quốc tế về thống nhất các chất ma túy năm 1961, 1971,

1988 thì ma túy là bất kỳ chất liệu nào được liệt kê trong bảng I, II, III, IV củaCông ước, dù dưới dạng tự nhiên hay tổng hợp (Việt Nam đã tham gia baCông ước này năm 1997)

Theo quy định tại Điều 2 Luật phòng chống ma túy năm 2000: Chất matúy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danhmục do Chính phủ ban hành Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chếthần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng Chất hướng thần làchất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần cóthể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng

Theo Nghị định 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 và Nghị định133/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ ban hành các danh mụcchất ma túy và tiền chất thì hiện nay các chất ma túy bao gồm 228 chất chiathành 3 danh mục và 40 hóa chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất,điều chế ma túy

Một chất nào đó là ma túy thì chất đó phải có các đặc điểm

- Được quy định trong danh mục do chính phủ ban hành, nguồn gốc tựnhiên hoặc tổng hợp

Trang 17

- Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch (nhưdung dịch thuốc phiện, dung dịch hêrôin dùng để tiêm, chích) hoặc chất matúy ở thể lỏng đã được pha loãng để tiện cho việc sử dụng thì không coi toàn

bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượngmoócphin trong dung dịch để tính trọng lượng của chất ma túy đó;

- Đối với xái thuốc phiện thì không coi là nhựa thuốc phiện mà phảixác định hàm lượng moócphin trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng củathuốc phiện

Hiện nay ở Việt Nam thường gặp một số chất ma túy là:

- Thuốc phiện: Thuốc phiện là nhựa từ cây thuốc phiện, có mùi đặctrưng hơi hăng hắc, màu nâu đen hoặc cánh gián, dẻo hoặc nhão Thuốc phiện

đã nấu chín có màu đen, rắn chắc hơn (3kg thuốc phiện sống sẽ cho khoảng1kg thuốc phiện chín) Trong thành phần thuốc phiện có khoảng 40 ancaloit

và 5 chất cơ bản là morphine, codeine, thebaine, papaverine và natotin Thuốcphiện gây nghiện nhanh và mạnh

- Morphine: Là chất ma tuý dạng bột màu trắng Từ nhựa thuốc phiệnngười ta chế xuất morphine (cứ khoảng 10kg thuốc phiện thì thu được khoảng1kg morphine bazơ, từ đó có thể thu được 1kg morphine) Morphine có tácdụng gây nghiện cao

Trang 18

- Hêrôin: Là loại ma túy độc hại phổ biến nhất ở nước ta hiện nay.Hêrôin được điều chế từ ma túy, cứ khoảng 1kg ma túy thì thu được 800 -950g hêrôin Hêrôin có khả năng gây nghiện rất nhanh, người nghiện bị suysụp nhanh chóng cả về thể xác lẫn tinh thần Một liều khoảng 0,06g có thểgây chết người ngay sau khi tiêm.

- Nhựa cần sa: Từ các bộ phận lá, hoa, quả cây cần sa người ta chiếtxuất ra nhựa cần sa Các hoạt chất của cây cần sa gây cho người sử dụng cảmgiác hưng phấn, sảng khoái, song tác dụng nguy hiểm nhất của cần sa là gây

ảo giác làm sai lệch tinh thần

- Côcain: Cây cô ca là loại cây có chứa chất ma túy Khi sử dụng nócon người mất cảm giác đói, sảng khoái, chống mệt mỏi nhưng lại gây nghiệncho người sử dụng Từ lá cây cô ca người ta điều chế được cao cô ca vàcôcain Côcain có khả năng gây tê, độc và gây nghiện

- Amphetamine: Là chất ma túy gây kích thích mạnh hệ thần kinhtrung ương, làm tăng sự co bóp của tim, co mạch máu ngoại biên, tăng huyết

áp Với liều vừa phải amphetamine có tác dụng làm tăng khả năng lao độngtrí óc, giảm buồn ngủ, tăng sức lực Với liều cao amphetamine gây nghiệnnguy hiểm

- Methamphetamine: Gây kích mạnh hệ thần kinh trung ương, là chất

có độc tính và khả năng gây nghiện mạnh, gây chứng hoang tưởng

- Methadone: Là chất ma túy giảm đau mạnh gấp 5 lần morphine,thường thấy dạng viên con nhộng 5mg hoặc ống 5mg hoặc 10mg

- Methoqualone: Là chất ma túy an thần gây ngủ, màu trắng dạng viênnén 200mg

- LSD: Là chất gây nghiện tạo ảo giác mạnh, làm cho người dùng mấtcảm giác sợ hãi, làm những việc mà lúc bình thường không làm được (nhưnhảy từ trên cao xuống, chạy trên mặt tường cao…)

- MDMA (estasy): Là một dạng ma túy tổng hợp có tác dụng kích thíchthần kinh Estasy tăng hưng phấn của hoạt động thần kinh vì vậy tăng cường

Trang 19

độ vận động cơ thể Người sử dụng estasy cảm thấy cơ thể sung mãn, sẵnsàng làm mọi việc nặng nhọc, nguy hiểm, vận động suốt đêm mà không mệt.Estasy có vai trò tăng khả năng hoạt động tình dục.

1.2.2 Mặt khách quan tội mua bán trái phép chất ma túy

Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thànhtội phạm, không có mặt khách quan thì sẽ không có các yếu tố khác của tộiphạm và do vậy không có tội phạm Mặt khách quan được hiểu là mặt bênngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tạibên ngoài thế giới khách quan

Mặt khách quan bao gồm các yếu tố:

- Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội;

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;

- Các điều kiện khác bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội

(công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…)

Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan là biểuhiện cơ bản, những biểu hiện của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành

vi khách quan, không có hành vi khách quan thì không có tội phạm

Mua bán dân sự là quyền của mỗi công dân Song ma túy là loại hàng hóaNhà nước độc quyền quản lý nên mọi hành vi trao đổi ma túy trái với các quyđịnh của pháp luật đều bị coi là mua bán ma túy trái phép, bị coi là tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm về ma túy tuy khác nhau về hìnhthức thể hiện cụ thể, về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội nhưnggiống nhau ở chỗ đều là những hành vi vi phạm các quy định của nhà nước

về chế độ quản lí nhà nước về ma túy Đó có thể là những hành vi thực hiệnnhững điều mà Nhà nước cấm các cá nhân làm (như hành vi khách quan củacác tội quy định từ Điều 192 - Điều 200 BLHS) hoặc có thể là những hành

vi của những người có trách nhiệm được Nhà nước giao cho thực hiện, thựchiện không đầy đủ hoặc làm những việc ngoài phạm vi những quy định về

Trang 20

quản lí, sử dụng chất ma túy (như hành vi khách quan của tội “cưỡng bức,lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều

200 BLHS)

Theo quy định tại Thông tư liên tịch của Bộ Công an - Viện KSND Tốicao - TAND Tối cao - Bộ Tư pháp số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tạiChương XVIII "Các tội phạm về ma túy" của Bộ luật Hình sự năm 1999 thìhành vi mua bán trái phép chất ma túy được thực hiện dưới những hình thứcsau đây:

* Bán trái phép chất ma túy cho người khác là dùng ma túy mà mình có(không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) cho người kháclấy tiền hoặc tài sản

Nếu một người đã có hành vi chào bán trái phép chất ma tuý, đã thoảthuận về giá cả, địa điểm giao hàng nhưng trên đường mang ma tuý đến địađiểm giao hàng thì bị bắt thì bị định tội mua bán trái phép chất ma tuý ở giaiđoạn phạm tội chưa đạt

Người bán hộ chất ma túy cho người khác để lấy tiền công hoặc lợi íchkhác thì cũng bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy

Ví dụ: Ngô Thị Hường là người yêu của Đặng Minh Dũng, ở cùngDũng từ ngày 11/9/2006 Trong thời gian ở cùng Dũng, Hường có biết Dũngbán thuốc lắc (estasy) Một lần Dũng đi vắng, gọi điện cho Hường dặn mởcủa cho một người tên là Bờm vào nhà và lấy túi nilon trong đó có 50 viênthuốc màu vàng giấu trong xô nhựa giao cho Bờm Tại cơ quan điều traHường khai đã giao 50 viên estasy cho Bờm Hường biết đó là thuốc lắcnhưng giá cả và việc thanh toán giữa Dũng và Bờm thì Hường không biết.Ngày 14/06/2007 Hường đã bị TAND Thành phố Hà Nội xử 3 năm tù về tộimua bán trái phép chất ma túy

Người nào bán chất ma túy cho người khác và còn cho họ sử dụng địađiểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu, quản lý của mình thì ngoài việc bị truy

Trang 21

tố về tội mua bán trái phép chất ma túy người đó còn bị truy tố về tội “Chứachấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” Điều 198 Bộ luật Hình sự Nếu hành

vi đó lặp đi lặp lại nhiều lần thì còn bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng tráiphép chất ma túy” Điều 197

Trường hợp một người biết là chất ma tuý giả nhưng làm cho ngườikhác tưởng là chất ma tuý thật nên mua bán, trao đổi thì người biết chất matúy giả đó không bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy mà

bị truy cứu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS

1999 nếu thoả mãn các dấu hiệu khác nữa của tội này Nếu giám định có hàmlượng ma tuý thì dù hàm lượng nhỏ cũng bị truy cứu TNHS theo các điều luậttương ứng đối với tội mua bán trái phép chất ma tuý

Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là ma tuý thì đềuphải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất matuý Nếu chất được giám định không phải là ma tuý nhưng người thực hiệnhành vi mua bán ý thức rằng chất đó là chất ma tuý (nhầm lẫn về đối tượng)thì bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 194

* Mua chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác là dùng tiềnhoặc tài sản đổi lấy chất ma túy sau đó dùng chất ma tuý đó để bán lại chongười khác lấy tiền hoặc tài sản

Nếu một người mua chất ma tuý về với mục đích là để bán nhưng chưakịp bán thì bị bắt, thì vẫn bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất matuý (phạm tội chưa đạt) Chỉ khi nào xác định được mục đích của một ngườimua chất ma tuý nhằm bán lại cho người khác thì mới truy cứu TNHS người

đó về tội mua bán trái phép chất ma tuý Nếu không xác định được mục đíchcủa người đó là nhằm bán lại thì tùy từng trường hợp người đó có thể bị truycứu TNHS về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Hành vi dùng chất ma tuý nhằm trao đổi, thanh toán trái phép hoặcdùng tài sản đem trao đổi, thanh toán lấy chất ma tuý nhằm bán lại cho người

Trang 22

khác cũng giống như trường hợp mua chất ma tuý nhằm bán trái phép chongười khác.

Nếu một người mua trái phép chất ma tuý về sử dụng dần thì không bịtruy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma tuý Nếu một người mua tráiphép chất ma tuý về để sử dụng dần nhưng sau đó lại đem bán bớt một phầnthì vẫn bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma tuý

Ví dụ: Phan Thị Hiền đã mua một gói heroin với giá 460 000 đồng về để

sử dụng dần (Hiền nghiện ma tuý) Sau khi sử dụng hết một nửa, do cần tiềnnên Hiền đã bán số heroin còn lại cho Đỗ Tấn Hưng Hiền đã bị bắt quả tangkhi đang bán hêrôin cho Hưng và bị truy tố về tội mua bán trái phép chất matuý

Một người thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý để sản xuấttrái phép chất ma tuý thì bị truy cứu TNHS về tội sản xuất trái phép chất matuý quy định tại Điều 193 BLHS

* Xin chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác là việc mộtngười bằng lời nói hoặc hành động của mình để người khác cho mình chất matuý rồi dùng chất ma tuý đó đem bán cho người khác để lấy tiền hoặc tài sản

Tương tự như trường hợp mua chất ma tuý nhằm bán trái phép, mộtngười xin chất ma tuý nhưng chưa kịp bán thì bị bắt, nếu xác định được mụcđích của người đó là để bán chất ma tuý, thì người đó sẽ bị truy cứu TNHS

về tội mua bán trái phép chất ma tuý Nếu không xác định được mục đích củangười đó là để bán chất ma tuý thì người đó có thể bị truy cứu TNHS về tộitàng trữ trái phép chất ma tuý

Ví dụ: A và B chơi thân với nhau Thấy B từ ngày buôn bán hêrôin thìgiàu lên nhanh chóng, A đã ngỏ lời xin B một ít về bán thử, nếu làm ăn được

sẽ lấy hàng về để bán B đã cho A 5 gói heroin nặng 0,43g A đã bị bắt quảtang khi đang bán một gói heroin mà mình xin được

Trang 23

Việc cho chất ma tuý phải là tự nguyện Nếu một người ép người khácphải cho mình chất ma tuý thì người đó còn bị truy tố thêm về tội chiếm đoạtchất ma tuý.

* Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là hành vicất giữ, cất giấu chất ma túy sau đó đem bán chất ma túy đó cho người khác

Hành vi tàng trữ chất ma tuý nhằm bán giống như hành vi tàng trữ tráiphép chất ma tuý nhưng khác nhau ở một điểm căn bản nhất, đó là mục đíchcủa việc tàng trữ: Nếu chỉ tàng trữ mà không đem bán hoặc không chứngminh được mục đích của việc tàng trữ là nhằm bán trái phép chất ma tuý đóthì người phạm tội chỉ bị truy cứu TNHS về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý;còn nếu chứng minh được mục đích của người phạm tội là tàng trữ nhằm bántrái phép chất ma tuý thì người đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội mua bán tráiphép chất ma tuý

Ví dụ: A mua 500 viên estasy về để bán cho các vũ trường Do chưaliên lạc được với những người có nhu cầu mua nên A giấu estasy trong hòmgạo ở góc nhà đợi liên lạc được thì bán Trong một lần kiểm tra an ninh, công

an phường đã khám xét và thu được số thuốc lắc đó Tại cơ quan điều tra, A

đã khai là mua estasy về để bán nhưng chưa kịp bán thì bị thu giữ Vì vậy A

đã bị truy tố về tội mua bán trái phép chất ma tuý

* Vận chuyển chất ma túy đem bán cho người khác là hành vi chuyểndịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác, từ người này sangngười khác… bằng bất kỳ hình thức nào, sau đó đem bán chất ma túy này chongười khác

Người phạm tội bị bắt trong quá trình vận chuyển trái phép chất matuý, nếu chứng minh được mục đích của người đó là nhằm bán trái phép chất

ma tuý thì người phạm tội sẽ bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất

ma tuý Nếu không chứng minh được người đó vận chuyển chất ma tuý nhằmbán trái phép thì người phạm tội chỉ bị truy cứu TNHS về tội vận chuyển tráiphép chất ma tuý

Trang 24

Nếu hành vi vận chuyển không trái phép nhưng người vận chuyển chất

ma túy đó lại bán chất ma túy đó cho người khác thì phải định tội “Chiếmđoạt, mua bán trái phép chất ma túy”

Ví dụ: A là lái xe của sở y tế Hà Nội A được lệnh chở một lượng matúy nhất định đến công ty dược phẩm HT để điều chế thuốc Trên đường đi A

đã bán một phần chất ma túy đó để lấy tiền sử dụng Hành vi của A sẽ bị truycứu về tội chiếm đoạt, mua bán trái phép chất ma túy

Người nào cất giữ hoặc vận chuyển ma túy cho người khác mà biếtđược mục đích của người đó là mua bán trái phép chất ma túy mà vẫn làm thì

sẽ bị truy cứu TNHS với vai trò đồng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy

Ví dụ: Nhân dịp A đi ăn cưới ở QN, B là dì ruột của A đã nhờ A mang

1 gói hàng đến bến xe BC sẽ có người đến nhận A biết đó là heroin, biết dìmình buôn bán heroin nhưng do nể nên A đồng ý A đã bị công an tỉnh QNbắt quả tang khi đang giao gói hàng cho C

Thông thường, hành vi mua bán trái phép chất ma tuý bao giờ cũng baogồm nhiều giai đoạn, trong đó có giai đoạn cất giữ (tàng trữ) và vận chuyểnchất ma tuý Đó là các bước tất yếu của một quá trình mua bán Bởi khôngphải lúc nào người mua ma tuý cũng có thể bán lại ngay lập tức chất ma tuý

đó cho người khác Đôi khi người ta phải tàng trữ chất ma tuý để dự trữ hàng,tìm thời điểm thích hợp để bán hoặc vận chuyển chất ma tuý đến địa điểmthuận lợi để bán Vì vậy khi một người cất giữ hoặc vận chuyển trái phép chất

ma túy bán chất ma tuý đó thì dù đã bán được ma tuý hay chưa người đó cũng

bị xử lý về tội mua bán trái phép chất ma túy Trong trường hợp này khôngcần xử lý thêm về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý nữa.Tuynhiên cần phải chứng minh được mục đích của người đó là nhằm bán tráiphép chất ma tuý Trách nhiệm này thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng vàngười tiến hành tố tụng

Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong các hành

vi kể trên

Trang 25

Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan

hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Đó có thể là thiệt hại về vậtchất, thể chất hoặc tinh thần…

Tội mua bán trái phép chất ma túy là tội cấu thành hình thức ngườiphạm tội chỉ cần thực hiện một trong các dạng hành vi quy định tại mặtkhách quan là tội phạm đã hoàn thành nên hậu quả của các hành vi đó gây rakhông phải là yếu tố bắt buộc để định tội Những thiệt hại do hành vi muabán chất ma túy gây ra cho xã hội là thiệt hại phi vật chất không thể cân, đo,đong, đếm Vì vậy khi xác định hình phạt không cần phải xác định quan hệnhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả thực tế xảy ra Việc quyếtđịnh hình phạt dựa vào số lượng và trọng lượng chất ma túy Số lượng vàtrọng lượng chất ma túy mà người phạm tội mua bán trái phép càng lớn thìhình phạt càng nặng

Các dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạmtội… không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội mua bán trái phép chất ma túy

1.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm là thể thống nhất của mặt khách quan và mặt chủ quan Mặtkhách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan làhoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội Mặt chủ quan của tội phạmkhông tồn tại một cách độc lập mà luôn luôn gắn liền với mặt khách quan củatội phạm Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn luôn gắn liềnvới các biểu hiện bên ngoài của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm động cơ phạm tội, mục đích phạmtội và lỗi của người phạm tội, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả cácCTTP Lỗi là dấu hiệu không thể thiếu được của bất cứ CTTP nào Tội muabán trái phép chất ma túy cũng không phải là ngoại lệ

Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho

xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dướihình thức cố ý hoặc vô ý

Trang 26

Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi khihành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiệnkhách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòihỏi của xã hội Lỗi trong luật Hình sự Việt Nam là lỗi cá nhân, lỗi của conngười cụ thể khi thực hiện hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội Khoa họcluật Hình sự phân chia thành các hình thức lỗi: lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý giántiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin, lỗi vô ý do cẩu thả Theo quy định tại Điều 9 vàĐiều 10 BLHS 1999 thì:

- Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trướchậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra

- Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trướchậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ýthức để mặc cho hậu quả xảy ra

- Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấytrước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng chorằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thựchiện và đã gây ra hậu quả nguy hại đó

- Lỗi vô ý do cẩu thả là lỗi trong trường hợp người phạm tội đã gây rahậu quả nguy hại cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước đượchành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù phải thấy trước và có thểthấy trước hậu quả đó

Pháp luật bảo hộ quyền mua bán của mỗi cá nhân Tuy nhiên đối tượngcủa hành vi mua bán phải là tài sản được phép giao dịch Ma tuý là loại “hànghoá” đặc biệt, được Nhà nước độc quyền quản lý Vì vậy mọi hành vi muabán ma tuý không được sự cho phép của Nhà nước đều bị coi là có lỗi

Lỗi của người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là lỗi cố ý trựctiếp Về ý chí, người phạm tội nhận thức được hành vi mua bán ma túy là hành

Trang 27

vi trái pháp luật, họ có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn vàthực hiện xử sự khác nhưng họ vẫn thực hiện hành vi mua bán ma tuý Về lýchí, người phạm tội nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy gâyhậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó phát sinh.

Tuy nhiên, tội mua bán trái phép chất ma túy là tội có cấu thành tộiphạm hình thức, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc Do vậy vấn đề cóthấy trước hay không thấy trước hậu quả thường không được đặt ra khi xemxét lý trí của người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp

Có nhiều động cơ thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi mua bántrái phép chất ma túy và họ còn có nhiều mục đích khác nhau khi thực hiệnhành vi này Tuy nhiên động cơ mục đích không phải là yếu tố bắt buộc trongcấu thành tội phạm tội mua bán trái phép chất ma túy Nên vấn đề động cơ vàmục đích không cần phải xét đến

1.2.4 Chủ thể tội mua bán trái phép chất ma túy

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độtuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể

Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để xác định conngười có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ có người cónăng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ thể của tội phạm

Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xãhội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi ấy Ở đây là khảnăng kiềm chế được hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện và khả nănglựa chọn xử sự khác không nguy hiểm cho xã hội

Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật Hình sự Việt Nam làngười đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ởtrong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 1999:

Trang 28

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọitội phạm.

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịutrách nhiệm về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệtnghiêm trọng”

Đối chiếu với tội mua bán trái phép chất ma túy Điều 194:

Khoản 1 Điều 194 là tội phạm nghiêm trọng Do đó chủ thể của tội muabán trái phép chất ma túy theo khoản 1 là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy

đủ năng lực trách nhiệm hình sự Khoản 2, 3, 4 Điều 194 là tội phạm rấtnghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Vì thế nên chủ thể của tội muabán trái phép chất ma túy theo khoản 2, 3, 4 Điều 194 là người từ đủ 14 tuổitrở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự

Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi mua bán trái phép chất ma túy cần phải chú ý:

- Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành

vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên, nếu tổng trọng lượng chất

ma túy của các lần cộng lại dưới mức tối thiểu hoặc không xác định đượctổng trọng lượng các chất ma túy của tất cả các lần đã đến mức tối thiểu theoquy định tại các điểm g, h, i, k, l, m, n hoặc o khoản 2 Điều 194 thì họ khôngphải chịu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy

- Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành

vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên, nếu tổng trọng lượng chất

ma túy của các lần cộng lại từ mức tối thiểu quy định tại các điểm g, h, i, k, l,

m, n hoặc o khoản 2 Điều 194 thì phụ thuộc vào tổng trọng lượng chất ma túyđược xác định trong từng trường hợp cụ thể, mà họ phải bị xét xử theo khoảntương ứng (khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4) quy định tại Điều 194 Tuy nhiêntrong trường hợp này cần phân biệt:

Trường hợp người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thựchiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên và trọng lượng

Trang 29

chất ma túy của mỗi lần thuộc trường hợp quy định tại các điểm g, h, i, k, l,

m, n hoặc o khoản 2 Điều 194 thì tùy thuộc vào loại chất ma túy mà họ phải

bị áp dụng điểm tương ứng và điểm b “phạm tội nhiều lần” quy định tạikhoản 2 Điều 194

Trường hợp người chưa thành niên chưa đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổithực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên và trọnglượng chất ma túy của mỗi lần thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 hoặckhoản 4 Điều 194 thì cùng với việc phải bị xét xử theo khoản tương ứng, họcòn phải bị áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1Điều 48

1.3 Đường lối xử lí tội mua bán trái phép chất ma túy

1.3.1 Phạm tội không có các tình tiết là yếu tố định khung

Khoản 1 Điều 194 là cấu thành cơ bản của tội mua bán trái phép chất

ma túy, đó là các trường hợp phạm tội mua bán trái phép chất ma túy khôngthuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 194 (phạm tộikhông có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ định khung) Khoản 1 Điều 194

quy định “người nào…mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù có thời hạn từ 2 năm đến 7 năm”.

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều

194 Bộ luật Hình sự, tòa án phải căn cứ vào các quy định về quyết định hìnhphạt tại chương VII Bộ luật Hình sự (từ Điều 45 - Điều 54)

Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1Điều 46, không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 thì tòa án có thể ápdụng dưới mức thấp nhất trong khung hình phạt: Tòa án có thể quyết địnhhình phạt dưới 2 năm từ nhưng không được dưới 3 tháng tù

Khoản 1 Điều 185đ của BLHS 1985 quy định hình phạt tù từ 3 nămđến 10 năm Như vậy khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 quy định hình phạt nhẹhơn BLHS 1985 Do đó, đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy thực

Trang 30

hiện trước 0h00 ngày 01/07/2000 mà sau 01/07/2000 mới phát hiện xử lý thì

áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS 1999

1.3.2 Phạm tội trong trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng

Theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự “phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ bảy đến mười lăm năm”

Có tổ chức (điểm a khoản 2)

Theo khoản 3 Điều 20 Bộ luật Hình sự 1999: “Phạm tội có tổ chức làhình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ với những người cùng thực hiệntội phạm.”

Mua bán trái phép chất ma túy có tổ chức là trường hợp có nhiều người

cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch kế hoạch để thực hiệnhành vi mua bán trái phép chất ma túy dưới sự điều khiển thống nhất củangười cầm đầu Đây thường là nhóm tội phạm được hình thành theo phươnghướng lâu dài bền vững, chúng có điều kiện chuẩn bị các công cụ, phươngtiện đầy đủ chu đáo

Trong phạm tội có tổ chức thường có các dạng người như người

tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức được quy định rõtheo khoản 2 Điều 20 Bộ luật Hình sự 1999

Người tổ chức: Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc mua bán tráiphép chất ma túy như: khởi xướng ra việc mua bán trái phép chất ma túy,vạch chủ trương, kế hoạch thực hiện tội phạm, kế hoạch che giấu tội phạm,tập hợp, rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm, phân công tráchnhiệm và điều khiển hoạt động của những người đồng phạm khác để đạt đượcmục đích chung là mua bán trái phép chất ma túy

Người thực hành: Là người trực tiếp thực hiện hành vi mua bán tráiphép chất ma túy

Người xúi giục: Là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác muabán trái phép chất ma túy Nếu xúi giục trẻ em phạm tội thuộc trường họp quyđịnh tại khoản 1 Điều 194 và trẻ em dưới 14 tuổi phạm tội thuộc khoản 2,

Trang 31

khoản 3, khoản 4 Điều 194 thì người xúi giục sẽ trở thành người thực hành,còn trẻ em là công cụ, phương tiện phạm tội.

Người giúp sức: Tạo điều kiện về tinh thần và vật chất cho việc muabán trái phép chất ma túy; cung cấp tiền, công cụ, phương tiện, tìm địađiểm… cho việc mua bán trái phép chất ma túy; hứa hẹn che giấu tội phạm,tiêu thụ tài sản do mua bán trái phép chất ma túy mà có

Phạm tội mua bán trái phép chất ma túy có tổ chức có thể có tất

cả những người đồng phạm, nhưng cũng có thể chỉ có người tổ chức và thựchành Nhưng nhất định phải có người tổ chức và người thực hành Nếu thiếumột trong hai người này thì không thể có phạm tội có tổ chức Nếu có người

tổ chức và người thực hành nhưng người thực hành chưa thực hiện hành vimua bán trái phép chất ma túy (mới có mục đích mua bán trái phép chất matúy) thì vẫn truy cứu TNHS về tình tiết có tổ chức ở giai đoạn chuẩn bị phạmtội hoặc phạm tội chưa đạt

Trong phạm tội có tổ chức phải có sự điều khiển chung của một têncầm đầu Thường thấy trong các đường dây ma túy lớn thường có rất nhiềungười Tuy nhiên không phải tất cả những người này đều biết mặt nhau mà mỗiđường dây đó thường chia thành các nhóm nhỏ Có những người đóng vai tròquan trọng trong đường dây được tham gia bàn bạc, chỉ đạo…, có những ngườichỉ thực hiện một số hành vi nhất định, không có vai trò lớn Vì vậy không phảitất cả những người trong cùng một đường dây ma túy đều phạm tội có tổ chức

mà đôi khi chỉ có một số tên bị coi là phạm tội có tổ chức

Phạm tội có tổ chức thường gây ra thiệt hại lớn hơn so với phạm tộithông thường, vì vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với nhữngngười phạm tội có tổ chức

Ở Việt Nam đã có một số vụ mua bán ma túy có tổ chức lớn như vụ VũXuân Trường, Siêng Phênh, Đào Xuân Xe mua bán chất ma túy xuyên quốcgia, vụ “chợ ma túy” Thanh Nhàn do Cao Thị Lan cầm đầu gây nhức nhối cho

xã hội Gần đây tội phạm có tổ chức đã phát triển và diễn biến phức tạp Đặcbiệt, loại hình hoạt động theo kiểu "xã hội đen" đã xuất hiện ở một số tỉnh,

Trang 32

thành phố Điển hình là các băng: Phúc "Bồ", Khánh "Trắng" ở Hà Nội; Hùng

"Bo", Tài "Lừa", Sáu "Râu" Tư Kiệt, Trương Văn Cam tại TP HCM; băngDung "Hà" , Cu Nên ở Hải Phòng; băng Sơn Điều, Hà Khôi tại Nam Định

Phạm tội nhiều lần (điểm b khoản 2)

Mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần là đã hai lần mua bán trái phépchất ma túy trở lên mà mỗi lần phạm tội đều có đầy đủ cấu thành tội mua bántrái phép chất ma túy, đồng thời trong số các lần phạm tội chưa có lần nào bịtruy cứu TNHS và chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS Trong trường hợp nàyngười phạm tội phải chịu TNHS về tổng số lượng các chất ma túy của các lầncộng lại, nếu điều luật có quy định về số lượng chất ma túy để định khunghình phạt

Không coi là phạm tội nhiều lần trong các trường hợp sau:

- Có hai lần mua bán trái phép chất ma túy nhưng trong đó có một lầnchưa tới mức truy cứu TNHS

- Có hai lần mua bán trái phép chất ma túy trong đó đã có một lần bịkết án hoặc được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt

- Người phạm tội có hai lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng mỗi lầnthực hiện một hành vi khác nhau (ví dụ: một lần vận chuyển trái phép chất matúy, một lần mua bán trái phép chất ma túy)

- Có hai lần mua bán trái phép chất ma túy nhưng một lần bị xử phạthành chính hoặc xử lý kỷ luật

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm c khoản 2)

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mua bán trái phép chất ma túy

là người có chức vụ, quyền hạnh trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức xãhội, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang… đã sử dụng vị trí công tác,chức vụ, quyền hạn của mình trong cơ quan, tổ chức để mua bán trái phépchất ma túy

Ví dụ: A là trưởng công an phường, trong một lần đi công tác ở LạngSơn, A đã lợi dụng chức vụ của mình câu kết với các đối tượng mua bán ma

Trang 33

túy ở Lạng Sơn để mua ma túy với giá rẻ về bán lại cho một số người ở khuvực A sống.

Nếu có chức vụ, quyền hạn nhưng việc phạm tội không liên quan

gì đến chức vụ, quyền hạn thì cũng không thuộc trường hợp này

Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức (điểm d khoản 2)

Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để mua bán trái phép chất ma túy

là trường hợp người phạm tội lợi dụng cơ quan, tổ chức mà mình là thànhviên để mia bán trái phép chất ma túy

Trường hợp này người phạm tội nhân danh cơ quan, tổ chức mà mình

là thành viên để mua bán trái phép chất ma túy Còn trường hợp lợi dụng chức

vụ, quyền hạn là người phạm tội nhân danh cá nhân với chức vụ, quyền hạn

cụ thể của mình trong cơ quan, tổ chức để mua bán trái phép chất ma túy

Vận chuyển, mua bán qua biên giới (điểm đ khoản 2)

Mua bán ma túy qua biên giới là mua, bán, trao đổi thanh toán chất matúy qua biên giới nước CHXHCN Việt Nam với nước ngoài

Người nào vận chuyển ma túy qua biên giới cho người khác mà biếtmục đích của người đó là mua bán trái phép chất ma túy thì cũng bị truy cứuTNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới với vai trò là ngườigiúp sức trong đồng phạm

Tội phạm chỉ hoàn thành khi người phạm tội đã mua bán trái phép chất

ma túy qua biên giới Nếu mục đích của người phạm tội là mua bán qua biêngiới nhưng chưa mua bán qua biên giới được thì không coi là mua bán tráiphép chất ma túy qua biên giới (việc xác định mục đích mua bán qua biêngiới trong trường hợp này cũng rất khó khăn)

Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em (điểm e khoản 2)

Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội là trường hợp người phạm tội đã

dụ dỗ, mua chuộc, hăm dọa khống chế, lôi kéo… người dưới 16 tuổi thựchiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy Nếu trẻ em chưa tới mức bị truycứu TNHS thì người phạm tội vẫn bị coi là sử dụng trẻ em vào việc phạm tội

Trang 34

Bán ma túy cho trẻ em là dùng ma túy mà mình có được dưới bất

kỳ hình thức nào để bán cho người dưới 16 tuổi để lấy tiền hoặc lấy tài sản

Nếu người phạm tội chỉ sử dụng trẻ em vào việc phạm tội thì chỉ bị truycứu TNHS về tình tiết sử dụng trẻ em vào việc phạm tội Nếu người phạm tộichỉ bán ma túy cho trẻ em thì chỉ bị truy cứu TNHS về tình tiết bán ma túycho trẻ em

Đ189đ BLHS 1985 quy định: “Sử dụng người chưa thành niên vào việcphạm pháp” còn khoản 2 Điều 194 BLHS 1999 quy định: “Sử dụng trẻ emvào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em” là tình tiết định khung hìnhphạt Vì vậy đối với hành vi sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán matúy cho trẻ em xảy ra trước 0h00 ngày 01/07/2000 mà sau 0h00 ngày01/07/2000 mới bị phát hiện xử lý thì không áp dụng tình tiết này

Khi áp dụng tình tiết cần phải chú ý:

- Trẻ em từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi được sử dụng vào việc mua bántrái phép chất ma túy hoặc mua chất ma túy trái phép thuộc một trong cáctrường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 194 BLHS thì bịcoi là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy; nếu thuộc trường hợp quy địnhtại khoản 1 Điều 194 thì không coi là mua bán trái phép chất ma tuý

Ví dụ: A nợ B 5 triệu đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên đến ngày

trả nợ A vẫn không thanh toán được cho B B đã ép A phải cho con trai A là

C (13 tuổi) đến làm cho B để trả nợ Hàng ngày khi có khách gọi điện muahêrôin, B đều bắt C mang hêrôin đến điểm hẹn giao hàng và mang tiền về cho

B Hành vi của A bị truy tố theo tình tiết định khung “sử dụng trẻ em vào việcphạm tội”

Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng của chất ma túy quy định tại một trong các điểm

từ điểm… đến điểm… khoản… điều này (điểm o khoản 2, điểm h khoản

3, điểm h khoản 4)

Trang 35

* Trường hợp các chất ma túy đó đều có trọng lượng dưới mức tối thiểuquy định tại khoản 2 thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó đượcxác định như sau:

Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma tuý

so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy đó tại điểm tương ứng trong quyđịnh tại khoản 2

Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lạivới nhau

Bước 3: Xác định điểm, khoản, điều luật Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm

về trọng lượng của các chất ma túy dưới 100% thì người phạm tội chỉ bị truycứu TNHS theo khoản 1, nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất

ma túy từ 100% trở lên, thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo tình tiếtđịnh khung: “có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đótương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…”quy định tại điểm o khoản 2

Ví dụ: Một người mua bán 400g nhựa thuốc phiện và 300g hêrôin (đều

thuộc khoản 1 Điều 194) Tổng trọng lượng của các chất ma túy được xácđịnh như sau:

- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện so với mức tốithiểu đối với nhựa thuốc phiện quy định tại điểm g khoản 2 Điều 194 là 80%.(400g so với 500g)

- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của hêrôin so với mức tối thiểu đốivới hêrôin quy định tại điểm h khoản 2 Điều 194 là 60% (3g so với 5g)

- Tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của cả hai chất nhựa thuốc phiện

và heroin là 80% + 60% = 140% (thuộc trường hợp từ 100% trở lên), cho nênngười phạm tội bị truy cứu TNHS theo điểm o khoản 2 Điều 194

* Trường hợp các chất ma túy đó đều được quy định trong cùngmột điểm của khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 194 thì cộng trọng lượng củacác chất ma túy đó lại với nhau và so sánh với quy định về trọng lượng trong

Trang 36

điều luật tương ứng để truy cứu TNHS người phạm tội theo khoản nào phùhợp của điều luật đó.

Ví dụ: Một người mua bán 300g nhựa thuốc phiện và 300g nhựa cần sa

Do nhựa thuốc phiện và nhựa cần sa được quy định trong cùng điểm g khoản

2, điểm a khoản 3, điểm a khoản 4 Điều 194 nên chỉ cần cộng trọng lượngnhựa thuốc phiện và nhựa cần sa là 300g + 300g = 600g Đối chiếu với quyđịnh về trọng lượng trong Điều 194, thì người phạm tội bị truy cứu TNHStheo điểm g khoản 2 Điều 194

* Trường hợp các chất ma túy đó có trọng lượng tại các điểm khácnhau của cùng khoản 2 (khoản 3) thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đóđược xác định theo các bước sau đây:

Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy

so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy đó tại điểm tương ứng quy địnhtại khoản 3 (khoản 4)

Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lạivới nhau

Bước 3: Xác định điểm, khoản, điều luật Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm

về trọng lượng các chất ma túy dưới 100%, thì người phạm tội chỉ bị truy cứuTNHS theo tình tiết định khung: “Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng sốlượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại mộttrong các điểm từ…” quy định tại điểm h khoản 3 (điểm h khoản 4) Điều 194

Ví dụ: Một người mua bán 4kg nhựa thuốc phiện và 30g côcain (đềuthuộc khoản 3 Điều 194) Tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xácđịnh như sau:

- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện so với mức tốithiểu đối với nhựa thuốc phiện quy định tại điểm a khoản 4 Điều 194 là 80%(4kg so với 5kg)

- Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của cocain so với mức tối thiểu đốivới cocain quy định tại điểm b khoản 4 là 30% (30g so với 100g)

Trang 37

- Tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện và cocain

là 80% + 30% = 110% (thuộc trường hợp 100% trở lên) cho nên người phạmtội bị truy cứu TNHS theo điểm h khoản 4 Điều 194

* Trường hợp trong các chất ma túy đó, có chất ma túy có trọng lượngquy định tại khoản 1, có chất ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 2(hoặc khoản 3), hoặc có chất ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 2, cóchất ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 3 Điều 194, thì tổng trọnglượng của các chất ma túy đó được xác định theo các bước sau đây:

Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy

có trọng lượng nhiều nhất so với mức tối thiểu đối với chất đó quy định tạikhoản 3 (khoản 4) Điều 194 theo nguyên tắc chất ma túy có trọng lượng nhiềunhất thuộc khoản 2 thì so với mức tối thiểu đối với chất ma túy đó quy địnhtại khoản 3; chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất thuộc khoản 3 thì so vớimức tối thiểu đối với chất đó quy định tại khoản 4

Bước 2: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túykhác so với mức tối thiểu đối với chất ma tuý đó quy định tại khoản 3 (khoản4) Điều 194 theo nguyên tắc mức tối thiểu đối với chất ma túy có trọng lượngnhiều nhất ở khoản nào thì mức tối thiểu của các chất ma túy khác lấy ởkhoản đó

Bước 3: Cộng các tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túylại với nhau và xác định điểm, khoản, điều luật Nếu tổng tỷ lệ phần trăm vềtrọng lượng của các chất ma túy là từ 100% trở lên thì người phạm tội bị truycứu TNHS theo tình tiết định khung: “Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng sốlượng của các chất ma túy đó tương đương với số lượng của các chất ma túyquy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm h khoản 3 (điểm hkhoản 4) (khoản tương ứng của điều luật có quy định mức tối thiểu đối vớichất ma túy có trọng lượng nhiều nhất)

Ví dụ: Một người mua bán 4,5kg nhựa thuốc phiện và 4g hêrôin Trongtrường hợp này nhựa thuốc phiện có trọng lượng thuộc điểm a khoản 3 Điều

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. THTP mua bán trái phép chất ma túy tại địa bàn  tỉnh Lào Cai từ năm 2005 đến năm 2010 - Tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh lào cai giai đoạn 2005   2010 lý luận và thực tiễn luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2.1. THTP mua bán trái phép chất ma túy tại địa bàn tỉnh Lào Cai từ năm 2005 đến năm 2010 (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w