1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức học tập theo nhóm cho học sinh dự bị đại học dân tộc với sự trợ giúp của website dạy học (thể hiện qua phần quang hình)

100 467 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức học tập theo nhóm cho học sinh dự bị đại học dân tộc với sự trợ giúp của website dạy học (thể hiện qua phần quang hình)
Tác giả Lương Viết Mạnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Mai Văn Trinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và PPDH môn Vật lý
Thể loại Luận văn thạc sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HS của trường DBĐH Dân tộc thì có một đặcthù riêng là các em đã được học kiến thức cơ bản ở THPT, đồng thời sinh hoạttập trung ở khu nội trú, mỗi lớp HS được ở chung một số phòng, nên có

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

(Thể hiện qua phần Quang hình)

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH môn Vật lý

Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS MAI VĂN TRINH

Trang 3

VINH, 2009

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa đào tạo Sau đại học, Khoa Vật lý Trường Đại học Vinh; Ban giám hiệu, Ban KHTN, Tổ bộ môn Vật lý Trường DBĐH Dân tộc Sầm Sơn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập, triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn.

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Mai Văn Trinh đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Cuối cùng, tác giả xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bè bạn đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và triển khai thực hiện đề tài.

Vinh, tháng năm 2009

Tác giả

Lương Viết Mạnh

Trang 4

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNTT Công nghệ thông tin

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp của luận văn 4

8 Cấu trúc của luận văn 4

NỘI DUNG 6

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức học tập theo nhóm cho học sinh DBĐH Dân tộc với sự trợ giúp của Website 6

1.1 Quan niệm về dạy và học 6

1.1.1 Nhiệm vụ và bản chất của quá trình dạy học 6

1.1.2 Một số hình thức tổ chức dạy học hiện nay 6

1.1.3 Lợi thế của ứng dụng CNTT trong dạy học vật lý 11

1.2 Tổ chức học tập theo nhóm 12

1.2.1 Nhóm học tập là gì? 12

1.2.2 Các nguyên tắc trong việc triển khai nhóm học tập 15

1.2.3 Nhóm học tập với dạy học vật lý 15

1.3 Website dạy học 24

1.3.1 Một số khái niệm liên quan đến Website dạy học 24

1.3.2 Đặc trưng của Website dạy học 25

1.3.3 Cấu trúc và nguyên tắc xây dựng của Website dạy học 26

1.3.4 Ý tưởng sư phạm của việc sử dụng Website 27

1.4 Website và dạy học vật lý ở trường DBĐH Dân tộc 31

1.4.1 Đặc điểm dạy học ở trường Dự bị đại học dân tộc 31

1.4.2 Đặc điểm tâm lý học sinh dự bị đại học dân tộc trong học tập 32

1.4.3 Về phương pháp học tập 33

Trang 6

1.4.4 Sử dụng Website trong tổ chức học tập theo nhóm 34

1.5 Kết luận chương 1. Chương 2: Tổ chức học tập theo nhóm cho học sinh DBĐH Dân tộc với sự trợ giúp của website (Thể hiện qua phần Quang hình) 36

2.1 Tổng quan dạy học phần Quang hình ở trường DBĐH dân tộc 36

2.1.1 Cấu trúc phần Quang hình 36

2.1.2 Grap nội dung phần Quang hình ở trường DBĐH Dân tộc 39

2.1.3 Thực trạng việc dạy học phần Quang hình 40

2.2 Xây dựng Website hỗ trợ việc tổ chức học tập theo nhóm, phần Quang hình ở trường DBĐH dân tộc 42

2.2.1 Ý tưởng sư phạm của việc thiết kế Website 42

2.2.2 Giới thiệu tổng quan Website dạy học Quang hình 44

2.2.3 Nội dung cơ bản của Website Quang hình 45

2.3 Điều kiện tổ chức hoạt động dạy học 53

2.3.1 Các kỹ năng cần lưu ý khi sử dụng Website dạy học vật lý 53

2.3.2 Cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết 54

2.3.3 Điều kiện về nhận thức 55

2.4 Tổ chức học tập theo nhóm cho học sinh DBĐH Dân tộc phần Quang hình với sự trợ giúp của Website dạy học 56

2.4.1 Ý tưởng sư phạm 56

2.4.2 Mục tiêu cuả bài học 57

2.4.3 Chuẩn bị cho bài học 58

2.4.4 Phân chia nhóm 59

2.4.5 Tổ chức hoạt động dạy học bài Thấu kính 60

2.5 Kết luận chương 2. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 70

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 70

3.2 Đối tượng và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 70

Trang 7

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 70

3.2.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 71

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 71

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 72

3.4.1 Nhận xét về tiến trình dạy học 72

3.4.2 Nhận định về kết quả học tập của học sinh 73

3.4.3 Xử lý kết quả bằng thống kê toán học 74

3.5 Kết luận chương 3. KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Elbert Einstein, người đã tạo ra bước đột phá về khoa học thế giới vớithuyết tương đối cũng không làm việc một mình Chính ông cũng khẳng địnhđiều đó: “ Cuộc sống của tôi và những thành tựu mà tôi đạt được ngày hôm nay

là nhờ sự đóng góp của rất nhiều người Do đó, tôi phải sống và làm việc saocho xứng đáng với những gì họ đã làm cho tôi” [18]

R.Johnson và D.Johnson đã phân tích 122 công trình nghiên cứu 57 năm vềcác PPDH cho trẻ em ở các độ tuổi khác nhau về các thao tác tư duy như: hìnhthành khái niệm, giải quyết vấn đề bằng lời, phân loại ghi nhớ và học thuộclòng, các hoạt động thực hành, phỏng đoán, dự đoán đã chỉ ra rằng học hợp táctheo nhóm có hiệu quả hơn hẳn so với các phương pháp khác như tranh đua và

cá nhân vì: Quá trình trao đổi trong học hợp tác theo nhóm đã làm tăng khả năngkhám phá và phát triển các thao tác tư duy trong quá trình nhận thức ở mức độcao hơn nhiều so với thao tác tìm nguyên nhân trong phương pháp tranh đua.Trong phương pháp này luôn nảy sinh những mâu thuẫn giữa các tư tưởng, quanđiểm, đưa ra kết luận, cơ sở lý luận và những thông tin tiếp nhận được của cácthành viên trong nhóm Giải quyết được những mâu thuẫn trên sẽ tạo điều kiện

để phát triển động cơ học tập như một tiền đề để nâng cao kiến thức, thấu hiểucác khái niệm và việc lưu giữ các kiến thức cũng sẽ bền hơn Sự trao đổi giữacác thành viên trong học tập theo nhóm sẽ tạo điều kiện cho các thông tin đượcxuật hiện nhiều lần, được nói ra, được giải thích, được tích hợp và được cungcấp hợp tác Những thông tin được nhắc đi nhắc lại nhiều lần sẽ được lưu giữlâu hơn trong trí nhớ dài hạn, điều đó làm tăng khả năng thành đạt Sự chia sẻkinh nghiệm, kiến thức giữa HS có những năng lực khác nhau sẽ làm phong phúthêm kinh nghiệm học tập.[46]

Trong những năm gần đây Bộ giáo dục và Đào tạo đã đẩy mạnh việc ápdụng CNTT và PTDH hiện đại vào dạy học Bên cạnh đó website đã và đang trởthành một phương tiện tìm kiếm, trình diễn và trao đổi thông tin có tính phổ cập

và thống nhất cao, khá quen thuộc đối với nhiều người Cùng với mạng Internet,Website đã từng bước xâm nhập vào các hoạt động giáo dục và mang lại những

Trang 9

hiệu quả đáng quan tâm

Trường DBĐH Dân tộc thuộc hệ thống các trường Đại học, có nhiệm vụ bổtúc nâng cao trình độ văn hoá cho HS người DTTS đã tốt nghiệp THPT thi trượtĐại học vào học Trường DBĐH Dân tộc là tài sản quý giá của đồng bào cácDTTS cũng như của đồng bào cả nước Con em các dân tộc được vào học làniềm hạnh phúc của mỗi gia đình; là tương lai của mỗi dân tộc; là tài sản quýcủa quốc gia Vì vậy, việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là tất yếu vàthiết thực Có nhiều nguyên nhân và lý do khác nhau nên kết quả học tập của đại

bộ phận HS còn yếu, HS không tích cực học tập, ỷ vào chính sách dân tộc,không phát huy hết khả năng bản thân Trong quá trình học tập, nhiều em không

biết “cách học”, học cái gì, học như thế nào để đạt kết quả tốt nhất? Việc đào

tạo cán bộ cho đồng bào các DTTS miền núi là một chủ trương mang tính chiếnlược của Đảng và Nhà nước, chăm lo việc học tập cho HS con em các DTTS làtrách nhiệm của toàn ngành nói chung, trường DBĐH Dân tộc nói riêng Hiệnnay cả nước có 4 trường DBĐH Dân tộc, nhìn chung ở đối tượng HS dân tộc ýthức học tập chưa thực sự cao, chưa phát huy hết khả năng bản thân và chưa cóphương pháp học tập khoa học HS của trường DBĐH Dân tộc thì có một đặcthù riêng là các em đã được học kiến thức cơ bản ở THPT, đồng thời sinh hoạttập trung ở khu nội trú, mỗi lớp HS được ở chung một số phòng, nên có điềukiện tập hợp nhóm học tập để trao đổi, giúp đỡ nhau trong học tập.[19]

Phần ''Quang hình" trong chương trình Vật lý ở trường DBĐH Dân tộc là

phần nghiên cứu về ánh sáng, từ sự truyền của ánh sáng đến sự tạo ảnh qua cácquang cụ, đòi hỏi HS phải có sự tập trung cao độ, đào sâu suy nghĩ, sự phối hợptrong học tập, truy tìm tài liệu ở thư viện, sách vở , đó là một khó khăn khôngnhỏ đối với HS nhất là HS DBĐH Dân tộc Bản thân là một GV đang trực tiếpgiảng dạy bộ môn Vật lý tại Trường DBĐH Dân tộc chúng tôi nhận thấy rằngviệc tiếp tục nghiên cứu ứng dụng CNTT vào QTDH theo nhóm sẽ khắc phụcđược những khó khăn trên và góp phần đổi mới hoạt động dạy học trong nhàtrường, do đó sẽ nâng cao được chất lượng dạy học

Xuất phát từ những yếu tố đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “TỔ CHỨC HỌC

TẬP THEO NHÓM CHO HỌC SINH DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA WEBSITE DẠY HỌC” thể hiện qua phần Quang hình.

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tổ chức học tập theo nhóm cho HS DBĐH Dân tộc với sự trợgiúp của Website dạy học, nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và hợp tác tronghọc tập, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần Quang hình nói riêng, dạyhọc bộ môn Vật lý nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lý luận dạy học Vật lý ở trường DBĐH Dân tộc.

- CNTT trong dạy học Vật lý

- Phương pháp học tập theo nhóm cho HS DBĐH Dân tộc với sự trợ giúpcủa CNTT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phần Quang hình của môn Vật lý ở Trường DBĐH Dân tộc

- Dạy học phần Quang hình với sự hỗ trợ của Website và hoạt động theonhóm

4 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức tốt việc học tập theo nhóm cho HS DBĐH dân tộc với sự trợgiúp của website dạy học phần Quang hình thì sẽ phát huy tính tích cực, tự lực

và hợp tác trong học tập của HS góp phần nâng cao chất lượng học tập phần nàynói riêng và dạy học vật lý nói chung

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu chương trình khung, chuẩn kiến thức vật lý của HS ởtrường DBĐH Dân tộc

5.2 Nghiên cứu lý luận dạy học về việc tổ chức hoạt động nhận thức của

HS trong dạy học vật lý và đặc điểm tâm lý của HS DBĐH Dân tộc trong họctập

5.3 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc thiết kế bài học phầnQuang hình theo hướng học tập theo nhóm

Trang 11

5.4 Xây dựng và sử dụng Website hỗ dạy học phần Quang hình ở trườngDBĐH Dân tộc theo hướng tổ chức học tập theo nhóm

5.5 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của cácphương án đã thiết kế, điều chỉnh và hoàn thiện

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc các sách, tài liệu về những vấn

đề liên quan đến việc giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra trong luận văn

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Trao đổi với đồng nghiệp về thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng cácPPDH, sự trợ giúp của CNTT; tổ chức dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ củaWebsite cho phần Quang hình ở trường DBĐH Dân tộc trong dạy học

- TNSP ở trường DBĐH Dân tộc Sầm sơn để đánh giá chất lượng của đềtài trong quá trình dạy học

6.3 Phương pháp thống kê: Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm để đánhgiá hiệu quả của tiến trình dạy học và các giải pháp sư phạm đã đề ra

7 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc sử dụng Website hỗ trợQTDH vật lý ở Trường DBĐH Dân tộc

- Vận dụng phương pháp tổ chức học tập theo nhóm để tích cực hoá hoạtđộng nhận thức, phát huy tính tự lực trong học tập của HS DBĐH Dân tộc

- Thiết kế Website dạy học, hỗ trợ tốt việc tổ chức học tập theo nhóm cho

HS phần "Quang hình" ở Trường DBĐH Dân tộc đồng thời đề xuất tiến trìnhdạy học và phương án tiến hành tổ chức học tập theo nhóm cho HS với sự hỗ trợcủa Website dạy học đã thiết kế, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ởTrường DBĐH Dân tộc

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được trình bày trong bài báo đã đăng

ở Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt 9/2009; 03 báo cáo tại 03 Hội thảo khoa họcđược tổ chức tại Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn và 01 Đề tài Nghiêncứu khoa học cấp trường đã được nghiệm thu đạt loại xuất sắc

Trang 12

8 Cấu trúc luận văn (gồm 3 phần)

* Phần mở đầu:

* Phần nội dung: Gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức học tập theo nhóm

cho HS DBĐH Dân tộc với sự trợ giúp của Website

Chương 2: Tổ chức học tập theo nhóm cho HS DBĐH Dân tộc với sự trợ

giúp của Website (thể hiện qua phần Quang hình)

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

* Phần kết luận

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC

HỌC TẬP THEO NHÓM CHO HỌC SINH DBĐH DÂN TỘC

VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA WEBSITE

1.1 Quan niệm về dạy và học

1.1.1 Nhiệm vụ và bản chất của QTDH

1.1.1.1 Nhiệm vụ của QTDH

Dạy học là sự tương tác giữa thầy và trò, nhằm truyền lại cho thế hệ saunhững kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người đã được tích luỹ từ các thế hệtrước để làm tăng sức mạnh toàn diện của họ, là dạng hoạt động quan trọng nhất

và chiếm nhiều thời gian nhất của nhà trường Dạy học có 3 chức năng cơ bản:

a) Giáo dưỡng (trang bị hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo ); b) Giáo dục (Hình thành thế giới quan, thái độ, niềm tin ); c) Phát triển (trí tuệ, tâm hồn, ý

Dạy học tuân theo những nguyên tắc và quy luật nhất định; chứa đựngnhững mâu thuẫn và có động lực nhất định Nếu tìm hiểu sâu hơn, có thể thấydạy học là một hệ thống động, được cấu thành từ những yếu tố sau đây: mụcđích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, kết quả dạy học Dạy học là một hiện tượng xã hội đã có từ lâu đời Nó luôn luôn được đổi mớicho phù hợp với sự phát triển KT - XH của từng thời kỳ lịch sử

1.1.2 Một số hình thức tổ chức dạy học hiện nay

1.1.2.1 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề [28]

a Khái niệm dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Trang 14

Kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là kiểu dạy học mà GV tạo ranhững tình huống gợi vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác,tích cực, chủ động sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo trithức, rèn luyện kỹ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác.

b Đặc trưng của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

- HS được đặt vào một tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được thôngbáo tri thức dưới dạng có sẵn

- HS hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động trithức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải chỉnghe thầy giảng một cách thụ động

- Mục tiêu dạy học không phải chỉ là làm cho HS lĩnh hội kết quả của quátrình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn ở chỗ làm cho họ phát triển khảnăng tiến hành những quá trình như vậy Nói cách khác, HS không chỉ học kếtquả của việc học mà trước hết là học bản thân việc học

c Những hình thức và cấp độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

- Người học độc lập phát hiện và giải quyết vấn đề: Đây là một hình thứcdạy học mà tính độc lập của người học được phát huy cao độ Thầy giáo chỉ tạo

ra tình huống gợi vấn đề, người học tự phát hiện và giải quyết vấn đề đó

- Người học hợp tác phát hiện và giải quyết vấn đề: Ở hình thức này, quátrình phát hiện và giải quyết vấn đề không diễn ra một cách đơn lẻ ở một ngườihọc, mà là có sự hợp tác giữa những người học với nhau, chẳng hạn dưới hìnhthức học nhóm, học tổ…

- Thầy trò vấn đáp phát hiện và giải quyết vấn đề: Trong vấn đáp phát hiện

và giải quyết vấn đề, học trò làm việc không hoàn toàn độc lập mà có sự gợi ýdẫn dắt của thầy khi cần thiết Phương tiện để thực hiện hình thức này là nhữngcâu hỏi của thầy và những câu trả lời hoặc hành động đáp lại của trò

- GV thuyết trình phát hiện và giải quyết vấn đề: Ở hình thức này Thầygiáo tạo ra tình huống gợi vấn đề, sau đó chính bản thân thầy phát hiện vấn đề

và trình bày quá trình suy nghĩ giải quyết (chứ không phải chỉ đơn thuần nêu lờigiải)

Trang 15

d Tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Bước 1: Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề

Bước 2: Tìm giải pháp

Bước 3: Trình bày giải pháp

Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp

e Những cách thức tạo ra tình huống có vấn đề trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

- Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, thí nghiệm

- Lật ngược vấn đề

- Xem xét tương tự

- Khái quát hoá

- Giải bài tập mà chưa biết thuật giải để giải trực tiếp

- Tìm sai lầm trong lời giải

- Phát hiện nguyên nhân sai lầm và sửa chữa sai lầm

- Nhìn một tính chất theo nhiều góc độ khác nhau để phát hiện vấn đề, tạo

+

Trang 16

- Phát hiện mâu thuẫn trong nội bộ lý luận hoặc trong thực tế, mâu thuẫngiữa nội dung và hình thức, giữa cái chung và cái riêng, giữa bản chất và hiệntượng trong toán học.

- Mở rộng trường hợp từ những cái riêng đến cái chung

- Đặc biệt hoá trường hợp chung thành trường hợp riêng

1.1.2.2 Dạy học theo phương pháp khám phá

a Khái niệm dạy học khám phá

Dạy học khám phá là GV tổ chức cho HS học theo nhóm nhằm phát huynăng lực giải quyết vấn đề và tự học cho HS từ đó HS có thể phát hiện ra cáimới hoặc có thể là các định luật, các định lý vật lý Trong dạy học khám pháđòi hỏi GV phải gia công rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận thức của HS.Hoạt động của người thầy giáo bao gồm: Định hướng phát triển tư duy cho HS,lựa chọn nội dung của vấn đề và đảm bảo tính vừa sức của HS; tổ chức HS traođổi theo nhóm trên lớp; các phương tiện trực quan hỗ trợ cần thiết… Hoạt độngchỉ đạo của GV như thế nào để cho mọi thành viên trong các nhóm đều trao đổi,tranh luận tích cực, đó là việc làm không dễ dàng chút nào, đòi hỏi người GVphải đầu tư công phu vào nội dung bài giảng

b Những đặc điểm cơ bản của PPDH khám phá

Thứ nhất: PPDH khám phá trong nhà trường không nhằm phát hiện những

điều loài người chưa biết, mà chỉ nhằm giúp HS chiếm lĩnh một số tri thức màloài người đã phát hiện được, nhưng là tri thức mới đối với HS

Thứ hai: PPDH khám phá thường được thực hiện qua hàng loạt hoạt động;

trong đó GV khéo léo đặt HS vào vị trí người phát hiện, khám phá lại một số trithức trong kho tàng kiến thức của nhân loại thông qua những câu hỏi hoặcnhững yêu cầu hành động, mà khi HS giải đáp hoặc thực hiện được thì sẽ dầnxuất hiện con đường dẫn đến tri thức

Thứ ba: Mục đích của dạy học khám phá không chỉ là làm cho HS lĩnh hội

được tri thức của môn học, mà còn trang bị cho họ những thủ pháp suy nghĩ;những cách thức phát hiện và giải quyết vấn đề mang tính độc lập, sáng tạo

c Những điều kiện để thực hiện PPDH khám phá

Trang 17

Thứ nhất: Đa số HS phải có kiến thức, kĩ năng cần thiết để thực hiện các

hoạt động khám phá do GV tổ chức

Thứ hai: Sự hướng dẫn của GV cho mỗi hoạt động phải ở mức cần thiết,

không quá ít, không quá nhiều, bảo đảm HS phải hiểu chính xác họ phải làm gìtrong mỗi hoạt động khám phá Muốn vậy GV phải hiểu rõ khả năng HS củamình

Thứ ba: Hoạt động khám phá phải được GV giám sát trong quá trình HS

thực hiện

Thứ tư: GV cần chuẩn bị một số câu hỏi gợi mở từng bước để giúp HS tự

lực đi tới mục tiêu của hoạt động Nếu hoạt động tương đối dài có thể từngchặng yêu cầu một vài nhóm HS cho biết kết quả tìm tòi của họ

d Những ưu điểm của dạy học khám phá

Thứ nhất: Phát huy được nội lực của HS, tư duy tích cực, độc lập sáng tạo

trong quá trình học tập

Thứ hai: Giải quyết khá thành công các vấn đề là động cơ trí tuệ kích thích

trực tiếp lòng ham mê học tập của HS Đó chính là động lực của QTDH

Thứ ba: Hợp tác với bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh

vốn tri thức của bản thân là cơ sở hình thành phương pháp tự học Đó chính làđộng lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân trong cuộc sống

Thứ tư: Giải quyết các vấn đề nhỏ vừa sức của HS được tổ chức thường

xuyên trong quá trình học tập, là phương thức để HS tiếp cận với kiểu dạy họchình thành và giải quyết các vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn

Thứ năm: Đối thoại giữa trò với trò, trò với thầy đã tạo ra bầu không khí

học tập sôi nổi, tích cực và góp phần hình thành mối quan hệ giao tiếp trongcộng đồng xã hội

e Tổ chức hướng dẫn HS khám phá

- Lựa chọn vấn đề, nội dung phù hợp để tổ chức cho HS khám phá: kiếnthức mới, tổng kết, hệ thống hoá, khái quát hoá những nội dung đã biết

Trang 18

- Thiết kế hoạt động cho HS thông qua các câu hỏi, đòi hỏi HS thực hiệnmột số thao tác - ghi chép, quan sát - phát hiện tìm ra những quy luật diễn đạtbằng ngôn ngữ, biểu thức.

- Thao tác đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ dễ đến khó Có thể sử dụngcác mẫu ghi chép khác nhau để giúp HS phát hiện ra vấn đề

1.1.3 Lợi thế của ứng dụng CNTT trong dạy học vật lý

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì quá trình nhận thứcphải đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng sau đó trở lại thực tiễn.Chính vì vậy, trong tiến trình dạy học cần phải tăng cường các yếu tố thực tiễn.Hay nói một cách khác là phải có sự tương quan hợp lý giữa các tác động bằnglời nói của GV với các phương tiện trực quan Chính các phương tiện trực quan

sẽ giúp hình thành những biểu tượng cụ thể trong ký ức của HS Các khái niệm,các định lý, định luật thường được hình thành trên cơ sở các biểu tượng và chínhcác biểu tượng là điều dễ gợi nhớ nhất khi cần huy động những kiến thức sẵn có

Với sự phát triển của CNTT hiện nay, MVT nói chung và Website nóiriêng đã trở thành một công cụ lưu trữ và xử lý thông tin tuyệt vời, với sự giúp

đỡ của nó chúng ta có thể làm được rất nhiều điều trong việc hỗ trợ dạy học.Tuy nhiên sự tác động vào tâm lý của HS ra sao còn phụ thuộc vào việc chúng ta

sử dụng MVT và Website như thế nào để phù hợp với các quá trình tâm lý củaHS

Trước hết, MVT và nhất là Website giúp tạo động cơ học tập tích cực đốivới HS Những mô hình sinh động về đường truyền của ánh sáng, về cấu tạo vàhoạt động của các quang cụ được phối hợp nhuần nhuyễn với âm thanh, hìnhảnh, màu sắc, văn bản, đồ hoạ sẽ có tác động tích cực vào các giác quan của

HS Nó góp phần nâng cao tính trực quan trong giờ học, làm cơ sở cho việc phát

triển các năng lực tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu

tượng hoá, tương tự hoá), đồng thời góp phần rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho

HS Hiệu ứng về các công cụ mới ngoài lời nói của GV sẽ giúp kích thích hứngthú học tập, gây sự chú ý cao độ vào đối tượng cần nghiên cứu, hình thành sự tò

mò khám phá tri thức, làm xuất hiện nhu cầu tiếp thu tri thức của HS, dẫn đến sựsẵn sàng nỗ lực khắc phục khó khăn trong học tập Các mô hình trực quan sẽ

Trang 19

góp phần phát triển khả năng lĩnh hội và ghi nhớ kiến thức một cách chắc chắn.

Để có được những ưu điểm này, các mô hình cần thiết kế gắn liền với nhữngkiến thức trọng tâm của bài học, làm cho HS vừa ghi nhớ chắc chắn nội dung lạivừa nắm rõ biểu tượng rất thuận tiện khi huy động kiến thức một cách tức thì.Khi học, HS bị giới hạn bởi khuôn khổ lớp học, HS không thấy được sựphản hồi của thực tiễn đối với các nhận định của các em Chính việc đưa máytính điện tử vào trình diễn là chúng ta đã đưa cả thế giới khách quan vào trướcmắt của HS Website sẽ hỗ trợ các em trong khoảng thời gian tự học ở khu tậpthể, thư viện điện tử của nhà trường Từ đó hình thành cho mình những vốn trithức hoàn toàn tin cậy chứ không theo sự áp đặt của thầy giáo như từ trước đếnnay chúng ta vẫn làm

Việc sử dụng Website dạy học và các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào hỗtrợ dạy học trong nhà trường sẽ làm nâng cao uy tín của nhà trường đối với giađình và xã hội Điều đó có tác động tích cực đến tâm lý của HS, phụ huynh vàtoàn xã hội Việc GV sử dụng tốt các PMDH trên máy tính điện tử sẽ được HSđánh giá cao, tạo niềm tin cho các em và từ đó gây dựng được ở các em lòng say

mê học tập, tình yêu đối với môn học và sự gắn bó với nhà trường Dạy học với

sự hỗ trợ của Website là chiếc cầu nối giúp nhà trường gắn liền với thực tiễn xãhội và trình độ phát triển của khoa học công nghệ thời đại Những yếu tố đó sẽlàm cho HS sớm được tiếp cận với khoa học hiện đại, khuyến khích các em tính

tò mò muốn tìm hiểu lợi ích của các phương tiện đó Từ đó hình thành cho các

em những ước mơ vươn tới những tầm cao tri thức Hơn nữa, việc dạy học với

sự hỗ trợ của Website sẽ giúp HS gạt bỏ tâm lý tự ti, ngại tiếp xúc với cácphương tiện kỹ thuật mới; tạo sơ sở để hình thành những nét nhân cách quantrọng của con người thời kỳ mới, người lao động trong xã hội với trình độ tựđộng hoá cao

Trang 20

Nhóm không phải là một cơ chế, hay một tổ chức mang tính hình thức, mộtthứ mốt nhất thời, một chương trình, mà là một cách làm việc, một sự thay đổithói quen bảo thủ trong suy nghĩ của con người Nhóm làm thay đổi mối quan hệgiữa người với người trong công việc.[12]

1.2.1.2 Chức năng của nhóm

a Tạo môi trường làm việc thân thiện

- Cải thiện hành vi giao tiếp: Nhóm giúp cải thiện sự giao tiếp thông quacác hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên, mọi người trở nên thân thiện, từ đógiúp bầu không khí học tập trở nên sôi động hơn Mọi người dần giảm bớt chủnghĩa cá nhân để hướng đến tập thể, để cùng giải quyết các vấn đề lớn mà mộtngười hoặc một nhóm người làm việc độc lập, riêng rẽ không thể hoàn thànhđược Bầu không khí làm việc của tổ chức thay đổi theo hướng tích cực, mọingười có thái độ thiện chí với nhau Chính vì vậy mà vấn đề hóc búa thườngđược giải quyết dễ dàng hơn

- Xây dựng tinh thần đồng đội và hỗ trợ nhau cùng phát triển: Tham gianhóm làm họ trở nên hưng phấn, họ chờ đón các hoạt động của nhóm và khitham gia nhóm, họ bị thu hút vào công việc hơn bao giờ hết, vì trong nhóm có

sự hỗ trợ của đồng đội, có điều kiện thể hiện cá nhân, được chia sẻ kinh nghiệm

và hướng dẫn những thành viên khác và mọi việc trước đây được xem là nhàmchán thì giờ đây, dưới cái nhìn từ một góc độ khác từ nhóm, vấn đề trở nên mới

và hấp dẫn hơn

- Mở rộng hợp tác và liên hệ giữa tất cả các cấp: Khi tham gia nhóm, cácthành viên có xu hướng mở rộng hợp tác với nhau để tạo sự thống nhất của tổchức, giúp xóa bỏ ngăn cách trong các mối quan hệ Nhóm là một trong nhữngcách kết nối tất cả mọi người không phân biệt chức vụ, cấp bậc

b Huy động nguồn nhân lực

- Thu hút mọi người vào công việc: Nội dung sinh hoạt luôn đa dạng, mốiquan hệ được củng cố giữa các thành viên, vấn đề mà nhóm thường giải quyết làcác vấn đề liên quan trực tiếp đến công việc của mỗi thành viên, vì vậy họ bịcuốn hút bởi sự hấp dẫn của công việc được tạo ra từ quá trình sinh hoạt nhóm

- Nâng cao tinh thần làm việc, phát triển ý thức về chất lượng và sự tiến bộ

Trang 21

- Tạo cơ hội thuận lợi cho các thành viên phát huy tài năng của mình.

c Nâng cao trình độ của thành viên

- Thảo luận nhóm, kích thích sáng tạo của mọi người, nhóm tạo ra môitrường kích thích sự sáng tạo của mọi người Người ta sẽ không mạnh dạn nêu

ra các ý tưởng hay ý kiến của riêng mình nếu bị cự tuyệt, hay bị chế nhạo.Thường các giải pháp khả thi nhất lại xuất phát từ những ý tưởng có vẻ lộn xộn,không tuân theo các qui phạm thường thấy

- Giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả học tập

Hiệu quả học tập bị ảnh hưởng nhiều bởi tâm lí của người thực hiện, khitham gia vào nhóm tâm lí của mỗi thành viên được cải thiện nhiều, do đó hiệuquả học tập cũng được cải thiện đáng kể Mặt khác, khi tham gia hoạt độngnhóm, các vấn đề khó khăn của mỗi thành viên được đưa ra và giải quyết bởi tậpthể, do đó áp lực công việc giảm bớt, đồng thời họ nhận thấy nhiều khía cạnhchưa tích cực trong lao động và học tập của chính mình để tự khắc phục và thayđổi cho phù hợp

1.2.1.3 Đặc điểm của nhóm

Thứ nhất: Nhóm sẽ tập hợp toàn bộ động cơ học tập của các thành viên ở

mức độ tối đa để tất cả cùng tham gia và cùng thành công, dựa vào khả năng củamỗi cá thể

Thứ hai: Các thành viên trong nhóm tự gắn bó với nhau, mỗi người chịu

trách nhiệm hoàn thành một công việc với chất lượng cao để hoàn thành mụctiêu chung

Thứ ba: Thành viên trong nhóm hoạt động trực tiếp với nhau để thực hiện

sản phẩm hợp tác Họ làm việc cùng nhau và khuyến khích, ủng hộ sự thànhcông của người khác thông qua việc chia sẻ, trợ giúp, giải thích và động viênnhau

Thứ tư: Thành viên của nhóm học được các kỹ năng xã hội và mong muốn

được sử dụng chúng trong việc phối hợp với nhau nhằm đạt tới mục tiêu chung

Thứ năm: Cả nhóm phân tích xem họ đã đạt được mục tiêu tốt đến đâu, và

các thành viên đã hợp tác với nhau như thế nào trong việc bảo đảm sự liên tục

Trang 22

và chất lượng học tập trong nhóm Kết quả là, thành tích của cả nhóm sẽ lớn hơnphép cộng thành tích của từng thành viên, và tất cả HS học tập hiệu quả hơn làkhi hoạt động một mình.

1.2.2 Các nguyên tắc trong việc triển khai nhóm học tập

Các hoạt động của nhóm nên bắt đầu cho các thành viên làm quen, và hiểu

rõ cách thức làm việc của cả nhóm Người hướng dẫn cũng có thể bắt đầu bằngviệc đưa ra các gợi ý cho thảo luận mà không cần phải áp đặt câu trả lời cho cảđội, đặc biệt với những đội gặp khó khăn khi làm việc cùng nhau Nhóm gồm 3đến 5 người, nếu nhóm có đông người hơn thì sẽ khó quản lý và giao công việchơn

Các thành viên có sự đa dạng trong kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm Mỗithành viên sẽ có khả năng đóng góp riêng cho toàn đội; Các thành viên khôngchỉ chịu trách nhiệm đóng góp trong sở trường của mình mà còn có thể giúp cácthành viên khác tìm hiểu thêm về lĩnh vực đó; Thành viên nào gặp khó khănhoặc còn chưa thoải mái khi làm việc trong nhóm nên được các thành viên khácđộng viên, giúp đỡ

Nhóm nên chia sẻ trách nhiệm, thống nhất trách nhiệm và nguyên tắc làmviệc Điều đó bao gồm: Nghĩa vụ phải tham gia, chuẩn bị trước các buổi họp, vàphải đến đúng giờ; Tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến, tập trung vào giảiquyết vấn đề và tránh việc chỉ trích cá nhân; Có trách nhiệm chia sẻ công việc

và hoàn thành công việc đúng thời hạn

1.2.3 Nhóm học tập với dạy học vật lý

1.2.3.1 Bản chất của của QTDH theo nhóm

Dạy học, xét đến cùng là cách thức đặc thù để tổ chức mối quan hệ giữa 3thành tố cơ bản của QTDH đó là: GV, HS và tri thức Ta có thể nhấn mạnh mộttrong ba thành tố ở các thời điểm khác nhau, nhưng tổng thể cả ba thành tố vàmối quan hệ tương tác giữa chúng mới là yếu tố quyết định sự thành công củaQTDH

Tổ chức dạy học theo nhóm là sự phát triển của PPDH phát huy tính tíchcực tự chủ của HS Do đó, trong quá trình tổ chức hoạt động nhóm thì ta lấy HSlàm trung tâm tiếp cận từ việc dạy cho đến việc học vì hiệu quả thực tế của

Trang 23

người học Sự tác động qua lại giữa ba thành tố đó được diễn ra trong môitrường hoạt động nhóm, trong đó:

- HS là chủ thể tích cực của hoạt động học, tự mình tìm ra tri thức bằnghoạt động của bản thân và sự hợp tác với bạn và thầy

- Nhóm là môi trường xã hội cơ sở, là nơi diễn ra quá trình hình thành giaolưu giữa các HS, giữa HS và GV làm cho tri thức cá nhân được xã hội hoá

- GV là người hướng dẫn, tổ chức, điều khiển hoạt động của nhóm HS ,giúp HS tự tìm ra tri thức

- Tri thức được HS tự tìm ra trong sự hoạt động hợp tác với bạn và vớithầy

Có thể nói, bản chất của QTDH theo nhóm là quá trình thực hiện nhữngbiện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức, điều khiển mối tương tác giữa các thànhtố: GV, nhóm HS và tri thức làm chúng vận động và phát triển theo một trật tựnhất định

1.2.3.2 Những ưu điểm và hạn chế của việc tổ chức học tập theo nhóm

a Ưu điểm:

- Hoạt động nhóm góp phần phát triển các quan hệ xã hội, các kỹ năng giaotiếp cá nhân như: nghe, nói, tranh luận, bảo vệ hoặc phản bác một ý kiến, rènluyện khả năng hợp tác, giúp HS tự tin hơn

- Tạo ra những thành công trong học tập

- Hoạt động nhóm rất có ích cho việc phát triển những kỹ năng trí tuệ bậccao như: suy luận, đề xuất và giải quyết vấn đề Qua thảo luận nhóm thì HS sẽthấy có nhiều phương án trả lời, nhiều giải pháp, nhiều ý kiến, nhiều quan điểmkhác nhau cho một vấn đề Từ đó góp phần phát triển tư duy độc lập, tự chủ,sáng tạo cho HS Ngoài ra hoạt động nhóm là hoạt động dựa trên nguyên tắc dânchủ và tương hỗ nên rất cả các HS khá giỏi đến trung bình hay yếu kém đềuđược tham gia trao đổi và thể hiện chính kiến của mình

b Hạn chế:

- Các nhóm có thể đi chệch hướng cần nghiên cứu

Trang 24

- Các thành viên trong nhóm không cùng tham gia hoạt động, có thể một cánhân chi phối hoạt động cả nhóm hoặc một số thành viên trong nhóm bị động đểcác thành viên khác dẫn dắt.

- Nếu khả năng tổ chức, năng lực chuyên môn của GV không đáp ứng đượcthì hiệu quả của hoạt động nhóm không đáp ứng được mục tiêu dạy học

- HS có thể lợi dụng thời gian khi GV không kiểm soát hết hoạt động củacác nhóm

- Hoạt động nhóm có thể làm hạn chế sự suy nghĩ sáng tạo của một số HS

có thói quen làm việc suy ngẫm cá nhân, của một số HS quen ỷ lại hoặc trôngchờ và ăn theo kết quả của nhóm

1.2.3.3 Một số hình thức tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học vật lý

Tổ chức dạy học theo nhóm trong môn Vật lý cho phép các thành viêntrong nhóm chia sẻ băn khoăn, suy nghĩ, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhauxây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người cóthể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy được mình cầnhọc hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ khôngphải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ GV Sau đây là một số hình thức để có thể tổchức hoạt động nhóm.[12]

a Thảo luận nhanh.

Yêu cầu các nhóm HS (thường từ 2 đến 3 HS) trao đổi để trả lời câu hỏi,giải quyết một vấn đề phác thảo ý tưởng thiết kế, xác định thái độ với một kịchbản cụ thể GV cần cung cấp đầy đủ các dữ liệu liên quan và có thể gợi ý cáclập luận chính, đảm bảo chủ đề rõ ràng, bố cục chặt chẽ Các câu hỏi cần đượctrình bày để HS dễ thấy trong suốt quá trình thảo luận Có thể giao cho cácnhóm các câu hỏi khác nhau nhưng phải có liên quan Thời gian hoạt dộng nênkéo dài không quá 5 phút Sau đó GV tổ chức thảo luận trước lớp GV xác nhậncác ý kiến đúng, thể chế hoá kiến thức

b Cấu trúc STAD (Student Teams Achievements Division)

- Mỗi nhóm HS giúp đỡ nhau hiểu thực sự kỹ lưỡng về nội dung được giao

- Phần kiểm tra sẽ là kiểm tra cá nhân

Trang 25

- Hình thức này có tính ưu việt thể hiện ở cơ chế chấm điểm dựa trên sự nỗlực của từng cá nhân chứ không phải sự hơn kém về khả năng Cơ chế đánh giánày được minh hoạ bởi bảng sau:

Thành viên Kiểm tra

lần đầu

Kiểm tra lần sau

Chỉ số cố gắng

Tổng chỉ số cố gắng

Bảng 1: Cách tính chỉ số cố gắng của từng thành viên trong nhóm

Theo cách đánh giá này thì một HS yếu kém có thể đem lại điểm cho cảnhóm dựa vào sự nỗ lực của cá nhân Cơ chế này có một số tác dụng như: Loạiđược phần lớn các hiện tượng ăn theo, chi phối và tách nhóm; Đề cao sự đónggóp của các thành viên yếu kém và nâng sự đóng góp này thành nhân tố quyếtđịnh; Lấy sự cố gắng và sự nỗ lực làm tiêu chỉ đánh giá thay vì khả năng, họclực

c Cấu trúc TGT (Team – Game – Tournament)

Đối với cấu trúc này, hoạt động nhóm cũng tương tự STAD nhưng cơ chếđánh giá có đổi khác GV chia nhóm theo khả năng của HS, trong đó các thànhviên cùng số thứ tự trong nhóm có sức học tương đương nhau Các nhóm tronglớp có cùng nhiệm vụ Hình thức hoạt động nhóm này có tác dụng tạo một sựphụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong nhóm Mỗi thành viên chịu tráchnhiệm cá nhân về nhiệm vụ của mình, thành tích của họ có ảnh hưởng trực tiếptới thành tích của nhóm Quá trình kiểm tra đánh giá được biến thành các cuộctranh tài của các thành viên cùng số thứ tự ở các nhóm Sự chênh lệch giữa hailần kiểm tra được sử dụng để tính điểm Có thể tiến hành theo các bước sau:

Trang 26

Bước 1: Chia nhóm theo khả năng học tập

Các thành viên trong nhóm thảo luận giúp đỡ nhau hiểu bài

Bước 3: Thi đấu

Các thành viên cùng số thi đấu với nhau

Bước 4: Kiểm tra đánh giá dựa trên chỉ số nỗ lực giữa hai lần kiểm tra(Kiểm tra và tính điểm như cấu trúc STAD)

d Thực hiện một chuỗi bài tập luân phiên

Mỗi nhóm sẽ thực hiện một chuỗi bài tập nhưng theo các thứ tự khác nhau,

do đó ở mỗi thời điểm các nhóm tiến hành các hoạt động khác nhau nhưng cuốicùng các nhóm đều hoàn thành một chuỗi bài tập được giao

Hình thức hoạt động này được tiến hành trong trường hợp đòi hỏi thiết bị,dụng cụ thí nghiệm nhưng không đủ cho cả lớp và các hoạt động tương đối độclập nhưng không đòi hỏi thứ tự

Ví dụ về ma trận hoạt động với 3 nhóm, thực hiện ba nhiệm vụ độc lập màcác nhiệm vụ đó được đánh giá có cùng thời lượng để hoàn thành và thực hiệntrong thời gian là 45 phút

Trang 27

Bảng 2: Ma trận về nhiệm vụ cùng thời lượng của Nhóm

Ví dụ về ma trận hoạt động với 3 nhóm, thực hiện các nhiệm vụ khác thờilượng và thực hiện trong thời gian là 60 phút

Trang 28

Bước1: Phân công nhiệm vụ cho các thành viên cùng số:

Điểm bài kiểm tra Điểm tiến bộ

Bằng hoặc hơn điểm nền từ 1 đến 2 điểm 2

Điểm tuyệt đối (Không tính đến điểm nền) 3

Bảng 4: Cách tính điểm tiến bộ cho từng cá nhân

Trang 29

Trung bình cộng điểm tiến bộ của các cá nhân sẽ là điểm tiến bộ của cảnhóm Điểm của cả nhóm sẽ là cơ sở để GV xếp loại nhóm hoạt động tốt haykhông trong buổi học, kỳ học hoặc năm học.

Như vậy, trong cấu trúc Jigaw đã đề cao sự tương tác bình đẳng và tầmquan trọng của từng thành viên trong nhóm, loại bỏ gần như triệt để sự ăn theo,

sự chi phối, và sự tách nhóm, đây là những vấn đề thường nảy sinh trong quátrình làm việc nhóm

1.2.3.4 Cách chia nhóm

Tuỳ theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chiangẫu nhiên hoặc có chủ định (nhóm theo phòng trọ, nhóm cùng trình độ, nhómgồm đủ trình độ, nhóm theo sở trường ) trong cả tiết học hay thay đổi trongtừng phần của tiết học Thế nhưng mỗi nhóm có bao nhiêu HS thì vừa? Có thểnói:

Nhóm càng đông thì: HS càng tự tin hơn những gì mình đã khám phá được;

GV tốn ít thời gian và dễ quản lý hoạt động của các nhóm, nhưng thời gian chocác nhóm thảo luận để đi đến thống nhất và sự đồng thuận thì nhiều hơn

Nhóm càng ít thì: Mỗi thành viên tiến hành được nhiều hoạt động; Ít thànhviên ăn theo; Đưa đến quyết định nhanh

Các cách chia nhóm có thể là:

a Chia nhóm ngẫu nhiên

- Gắn cho mỗi HS một số bằng cách cho HS đếm lần lượt từ 1 đến n (n là

số HS trong một nhóm dự định), sau đó đến lặp lại như vậy cho đến khi hết số

HS trong lớp (Có thể sử dụng danh sách lớp để đếm từ đầu đến cuối danh sách)

- Yêu cầu những HS có cùng số thì vào cùng một nhóm

b Chia nhóm theo bạn thân

- Đưa ra số lượng người trong một nhóm, yêu cầu HS tự chia nhóm

- Cách chia này có thể sẽ không phù hợp với mục tiêu giảng dạy, khó được

sự đồng đều về nam, nữ; trình độ hay dân tộc trong một nhóm, hiện tượng bècánh có thể xảy ra

Trang 30

c Chia nhóm theo vị trí ngồi trong lớp.

- Nên chia HS ở các dãy bàn gần nhau thành nhóm, cách này giúp cácthành viên trong nhóm nhìn thấy mặt nhau tiện cho việc thảo luận

- Sử dụng cách chia này phải tốn thời gian kê lại bàn ghế ở lớp học

d Chia nhóm theo lực học hay kinh nghiệm

- Có thể chia nhóm thuần tuý theo lực học: Nhóm giỏi; nhóm khá; nhómtrung bình; nhóm yếu kém Cách chia này hạn chế sự ăn theo và GV có thể cùngmột lúc giúp đỡ các HS có khó khăn giống nhau

- Cũng có thể chia trong một nhóm có đủ các đối tượng HS nói trên Cáchchia này tạo được cơ hội cho HS giúp đỡ, học hỏi lẫn nhau nhưng có thể xuấthiện sự ăn theo

Thông thường thì trong việc tổ chức học tập theo nhóm ở môn vật lý, sốlượng thành viên trong nhóm từ 3 đến 5 HS là vừa Đối với những nhóm đặc thùthì có thể chỉ là 2 nhưng cũng có thể 7 đến 8 nhưng không thể quá nhiều sẽ ảnhhưởng đến chất lượng hoạt động nhóm Cũng cần chú ý rằng trong hoạt độngnhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng củaphương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổchức lao động Bên cạnh đó, GV phải quan sát, kiểm tra đôn đốc để không một

HS nào không làm việc hoặc ỷ lại vào các thành viên khác của nhóm Mặt khác,cần tránh lạm dụng chia nhóm một cách miễn cưỡng, không cần thiết, mất thờigian vô ích Nếu HS chỉ biết phần việc của nhóm mình, của cá nhân được giao,thì cuối tiết học có thể kiến thức của bài học trở thành một vài chi tiết chắp vá

1.2.3.5 Vai trò của GV khi tổ chức HS học tập theo nhóm

- Thu thập thông tin về người học: Tìm hiểu khả năng và nhu cầu của ngườihọc, người học đã có những kiến thức và kỹ năng gì liên quan đến bài học Họ

có mong muốn gì khi học nội dung này?

- Lựa chọn mục tiêu kiến thức, kỹ năng cần đạt được khi hoạt động nhóm

- Quyết định số lượng HS trong mỗi nhóm, thành lập nhóm ngẫu nhiên haychủ định

- Chuẩn bị tài liệu, phương tiện cho HS thảo luận ở nhóm có hiệu quả

Trang 31

- Sắp xếp phòng học, bố trí địa điểm cho mỗi nhóm

- Giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi nhóm

- Giám sát, hỗ trợ các nhóm hoàn thành công việc

- Đánh giá kết quả hoạt động của các nhóm

1.2.3.6 Tổ chức thực hiện

- Giao việc đầy đủ, hạn định thời gian, kết quả cụ thể cho các nhóm

- Quan sát, động viên, hướng dẫn kịp thời các nhóm khi cần thiết

- Sau khi các nhóm trình bày, GV phải kết luận đầy đủ, đảm bảo học sinhnắm được và ghi được bài theo hệ thống, không chắp vá

- Đánh giá hoạt động nhóm: Trong hầu hết các môn học, điểm số cho bất

kỳ đề tài nào của nhóm thường chỉ là phần phụ cùng với điểm thi giữa kỳ và thicuối kỳ Nhưng thành tích cá nhân trong hoạt động nhóm có thể được đánh giá

để HS cảm thấy đóng góp của họ vào hoạt động nhóm được đánh giá tươngxứng Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, HS cũng có thể nhận được các câuhỏi thông tin chi tiết về những gì họ đã học được, họ cảm thấy đã đóng góp đượcnhững gì cho nhiệm vụ đó và sẽ cải tiến kết quả của nhóm như thế nào

Chính từng nhóm có thể tự đánh giá hiệu lực công trình của họ dựa trênsản phẩm cuối cùng và đóng góp của từng thành viên trong nhóm GV đưa ramẫu phiếu đánh giá, yêu cầu các thành viên của từng nhóm đánh giá bạn cùngnhóm về các mặt như phẩm chất chuyên môn (có mặt tại các buổi họp và thamgia đúng lúc), sáng kiến (đề xuất ý kiến, làm việc khoa học hướng theo mục đíchchung), tính độc lập (hoàn thành nhiệm vụ theo thời gian đã thống nhất, nghiêncứu các chủ đề và chia sẻ các nguồn tài liệu),

1.3 Website dạy học

1.3.1 Website dạy học là gì?

Trang Web (Web page) là trang thông tin trên mạng Internet Nội dungthông tin được diễn tả một cách sinh động bằng văn bản, đồ hoạ, ảnh tĩnh, ảnhđộng, phim, âm thanh, tiếng nói…Một Website (bảng Web) là tập hợp các trangWeb có liên hệ với nhau và các tập tin khác được liên kết lại với nhau Về hình

Trang 32

thức, có thể hình dung Website là một hệ thống các trang Web nối kết không cóđiểm khởi đầu và kết thúc Mỗi Website thông thường có mục đích riêng hoặc làliên quan đến cá nhân hoặc liên quan đến công việc Phong cách, nội dung, tổchức và mục đích của các Website khác nhau rất nhiều, nhưng ban đầu tất cả cácWebsite được thiết kế để đóng vai trò như nguồn thông tin, giống nhau ở một sốđiểm nào đó.

Từ đó ta có thể hiểu Website dạy học là một PTDH dưới dạng phần mềm

máy tính, được tạo ra bởi các siêu văn bản (là các tài liệu điện tử như: bài giảng,

giáo trình, kĩ năng làm việc nhóm, tài liêu tham khảo, ôn tập ) trên đó bao gồm

một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện (trình diễn các thông tin

Multimedia: văn bản, âm thanh, hình ảnh, thí nghiệm mô phỏng ) để hỗ trợ

việc dạy học và cung cấp cho những người sử dụng khác trên các mạng máy tính.[47]

1.3.2 Đặc trưng của Website dạy học

Website dạy học được cấu thành từ những Site riêng biệt khác nhau, mỗimột Site là một siêu văn bản sẽ thực hiện một chức năng hỗ trợ dạy học nào đó.Đặc trưng nổi bật của Website là có thể hỗ trợ nhiều mặt cho hoạt động dạy vàhọc Khi truy cập vào Website, tuỳ thuộc vào đối tượng truy cập, vào mức độđược phân quyền mà trình duyệt đưa ra quyết định, hoặc là có thể xem (như đốivới HS hay những người sử dụng khác), hoặc là có thể xem đồng thời vừa có thểcập nhật ở một mức độ nào đó (như đối với GV) hoặc có tất cả các quyền (đốivới những người trong ban chuyên môn - quản trị Website) Đối với nhữngngười có quan tâm đặc biệt đến các vấn đề dạy học bộ môn, thực hiện việc

"đăng nhập", hệ thống sẽ cấp quyền cập nhật nhưng ở một giới hạn nhất địnhthông qua việc cấp Password và Username Như vậy, đặc trưng thứ hai củaWebsite DH là không hạn chế năng lực sáng tạo và phong cách riêng của từng

cá nhân khi sử dụng

Website được thiết kế với giao diện thân thiện, không kiến thức Tin học và

kỹ năng thao tác cao siêu, là một phần mềm thân thuộc với nhiều người, có thểcài đặt để triển khai ứng dụng dưới nhiều hình thức khác nhau Đây cũng là đặctrưng, thể hiện tính vượt trội của Website so với các chương trình ứng dụngkhác đòi hỏi phải giao tiếp trên nhiều menu và các hộp thoại

Trang 33

Ngoài ra, Website là một môi trường siêu giao diện, siêu trình diễn cácthông tin Multimedia Đặc trưng này đã làm tăng hiệu quả tác dụng hỗ trợ nhiềumặt của Website, đặc biệt là đối với hoạt động dạy và học là một quá trìnhtruyền thông đa phương tiện.

1.3.3 Cấu trúc và nguyên tắc xây dựng của Website dạy học

1.3.3.1 Cấu trúc của website dạy học

- Công cụ cập nhật: Đây là một môđun cho phép người quản trị số hoá

các dữ liệu để đưa vào kho dữ liệu Dữ liệu nhập vào có thể ở nhiều dạng: vănbản, hình ảnh, âm thanh, phim và được lấy từ nhiều nguồn khác nhau Cập nhậtđược hiểu là sự tạo mới hay chỉnh sửa và bổ sung thông tin

- Thư viện dữ liệu (còn gọi là cơ sở dữ liệu): Thư viện dữ liệu được phân

làm ba khu vực: khu vực thứ nhất chủ yếu là khu vực dữ liệu có tính pháp quy(của tổ chức quản trị Website), còn gọi là khu vực dữ liệu gốc, được khởi tạođầu tiên từ người thiết kế (hội đồng chuyên môn, các nhà khoa học); tiếp đến làkhu vực dữ liệu dành riêng cho mỗi cá nhân (đã được cung cấp user vàPassword); cuối cùng là khu vực dữ liệu dành cho những người quan tâm tớinhững vấn đề trong dạy học bộ môn

- Các tài liệu điện tử trên Website: Trình duyệt Web là một chương trình

có tính thương mại do các hãng máy tính, các công ty hay các trung tâm nghiêncứu xây dựng phần mềm sản xuất Nó cho phép sản xuất các tài liệu điện tử vàtrình diễn thông tin Có nhiều trình duyệt khác nhau, nhưng ở nước ta phổ biếnvẫn là trình duyệt Internet Explore Số các tài liệu điện tử có được trên Websitecũng đồng thời nói lên khả năng hỗ trợ cho hoạt động dạy và học

1.3.3.2 Nguyên tắc xây dựng Website dạy học

Website đã trở thành phương tiện có tính chuẩn hoá quốc tế để tìm kiếm,trao đổi thông tin và giao lưu trên mạng Internet nhờ kỹ thuật biểu diễn thông tin

có tên gọi là "Siêu văn bản" (Hypertext) và được xây dựng bằng ngôn ngữHTML (Hypertext Markup Language) Về phương diện dạy học, để xây dựngđược Website đáp ứng những yêu cầu trên, cần tuân theo một số nguyên tắc cơbản sau:

Trang 34

dạy học, đó là phải hàm chứa những tri thức chuyên gia của hai lĩnh vực Giáodục và Tin học vì về bản chất nó là phần mềm được cài đặt trên máy tính để hỗtrợ hoạt động dạy học của GV và HS Đáp ứng được yêu cầu này là đề cao tínhhiệu quả của việc sử dụng nó trong điều kiện hiện nay.

- Thiết kế Website dạy học phải xuất phát từ những ý tưởng sư phạm đãđược xác định rõ từ đầu, phải lấy tính hiệu quả làm tiêu chí cho việc triển khaiứng dụng Website với tư cách là một phần mềm, cùng với máy tính phải hỗ trợđược nhiều mặt của QTDH, giải phóng người dạy khỏi những lao động chân tay

để có thời gian đầu tư cho việc tổ chức, điều khiển và giám sát hoạt động nhậnthức của người học Đồng thời phải tạo những điều kiện tốt để hoạt động nhậnthức của HS diễn ra tích cực, độc lập, chủ động và sáng tạo Do vậy, Websitedạy học vừa đáp ứng yêu cầu của dạy học hiện đại, vừa phát huy những thếmạnh riêng của việc sử dụng MVT và nâng cao hiệu quả sử dụng của thiết bịdạy học hiện đại

- Khi xây dựng một phần mềm nói chung và Website nói riêng thì việcxây dựng cơ sở dữ liệu là hết sức quan trọng Dữ liệu ấy phải được cập nhật dễdàng và thuận lợi, kích thước tối thiểu, dễ chia sẻ, dùng chung hay trao đổi giữanhiều người Đặc biệt đối với giáo dục, cấu trúc cơ sở dữ liệu phải hướng tớiviệc hình thành những thư viện điện tử trong tương lai Cùng với việc xây dựngWebsite, cần xây dựng công cụ nhập dữ liệu một cách thuận tiện, đơn giản đểmọi người đều có thể tham gia xây dựng kho dữ liệu, làm cho nó ngày càngphong phú

- Xu hướng xây dựng phần mềm dạy học hiện nay là chương trình phải

có giao diện thuận tiện (dễ tìm hiểu, dễ thao tác, dễ sử dụng ) Việc xây dựngWebsite dạy học không nằm ngoài yêu cầu đó Sử dụng quá nhiều phím chứcnăng, giao tiếp người máy quá nhiều menu, hộp thoại, trình bày thông tin ngượcvới tư duy thông thường, sử dụng màu sắc, độ tương phản không phù hợp vớitâm lý thị giác sẽ là cản trở lớn với người sử dụng

- Cuối cùng vấn đề bảo mật thông tin và phát triển Website cũng cần lưu

ý xác định loại thông tin, mức độ quan trọng để phân quyền truy cập, bảo vệ vàbảo mật

Trang 35

1.3.4 Ý tưởng sư phạm của việc sử dụng Website

GV có thể dẫn dắt HS vào hoạt động sáng tạo, tích cực chiếm lĩnh kiếnthức, tự lực giải quyết vấn đề bằng cách khai thác, tìm kiếm thông tin trênWebsite , tổ chức thảo luận nhóm với sự hướng dẫn của GV Hình thức học nàytạo điều kiện cho người học trao đổi, tìm kiếm thông tin, phát huy khả năng tựhọc Thông qua việc xây dựng Website dạy học một nội dung, một chương thậmchí cả chương trình học của môn học, HS có điều kiện hệ thống hoá kiến thức,xây dựng một kế hoạch học tập khoa học Trong luận văn này chúng tôi quantâm nhiều đến việc hỗ trợ học tập theo nhóm của Website

1.3.4.1 Sử dụng Website tạo môi trường tương tác để nhóm HS hoạt động và thích nghi với máy tính

Các công cụ đào tạo đa truyền thông và phương pháp mô phỏng tương táccủa hệ thống Hypermedia đã tạo ra cho Website những khả năng đáp ứng cácyêu cầu của người sử dụng, những phương pháp học tập thành nhóm trên mạnglàm cho các nhóm HS hoạt động linh hoạt hơn, tác động qua lại tích cực hơn

Vai trò của GV hướng dẫn là rất quan trọng, mỗi nhóm HS thực hành vàthực hiện các hoạt động của lớp học dưới sự hướng dẫn của GV nhưng với hìnhthức liên lạc, trao đổi thông tin với nhau một cách chủ động thông qua thảo luậntại lớp hoặc trao đổi trên diễn đàn thông qua Internet

1.3.4.2.Sử dụng Website như công cụ hỗ trợ giảng dạy

GV có thể sử dụng Website trình bày bài giảng với những tính năng đa

phương tiện (văn bản, âm thanh, hình ảnh…) làm cho bải giảng sinh động hơn.

Những hiện tượng khó quan sát, những thí nghiệm khó thực hiện do các lý do kỹ

thuật (như đường truyền của tia sáng ) và tài chính, GV có thể đưa các đoạn

băng hình vào Website để giúp HS tiếp cận với các phương tiện hiện đại mà vớiđiều kiện của một trường phổ thông , thậm chí các trường đại học trong nướckhó thể thực hiện được Thông qua Website GV cũng có thể kiểm soát việc họctập của HS qua những lần truy cập vào trang Website, hoặc các phần mềm kiểmtra trên Website Với dạy học theo nhóm thì Website là công cụ hỗ trợ rất đắclực trong việc cung cấp hệ thống thí nghiệm ảo và hệ thống phiếu học tập chocác nhóm thảo luận Trong đó phiếu học tập không chỉ dừng lại ở nội dung tĩnh

Trang 36

mà là phiếu học tập điện tử, học sinh có thể tương tác với phiếu để tìm đến kiếnthức có liên quan để giải quyết vấn đề.

1.3.4.3 Sử dụng Website như công cụ hỗ trợ học tập

Website có thể hỗ trợ việc học tập một nội dung, một chương thậm chí cảchương trình học một môn học HS tự học tập thông qua Website với các trình

tự giảng dạy đã được lập sẵn hoặc HS làm việc với máy tính có sự trợ giúp của

GV giúp cho HS có thói quen học tập tự chủ Ngoài ra HS còn học được cáchđiều khiển Website, đây cũng là một yếu tố quan trọng trong việc truy tìm thôngtin trên Internet của HS mà sẽ được sử dụng rộng rãi trong tương lai Mặt khácqua các trang kiểm tra HS có thể tự đánh giá khả năng của mình Sau đây là một

số hình thức hỗ trợ việc học cho HS

a Phổ biến kiến thức và nội dung các bài học.

Những kiến thức cơ bản về các lĩnh vực khoa học liên quan đến chươngtrình hay những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó đều được cập nhậttại Website để phục vụ việc học tập của nhóm cũng như của từng cá nhân Khi

đó, Website trở thành một cuốn sách điện tử mà người dùng có thể dễ dàng truytìm mọi nơi, mọi lúc để tìm kiếm cho mình những thông tin cần thiết GV cóthể sử dụng chức năng này của Website để ứng dụng trong các tiết dạy hìnhthành kiến thức mới giúp HS có thể khái quát vấn đề ở mức độ sâu rộng hơn chứkhông chỉ nội dung trong giáo trình Trong việc tổ chức dạy học theo nhóm thìWebsite hỗ trợ không chỉ cho từng cá nhân trong nghiên cứu kiến thức mới màcòn cho cả nhóm trong quá trình hình thành kiến thức mới

b Ôn tập, kiểm tra, đánh giá và tự đánh giá

Định hướng, kiểm tra kiến thức là một khâu rất quan trọng trong quá trìnhhọc tập Với sự giúp đỡ của máy tính và các site thích hợp, HS sẽ có nhiều cơhội để rà xét lại những lỗ hổng cũng như phát huy được những điểm mạnh trongkiến thức của mình Bên cạnh đó, GV cũng thu được nhanh và đủ thông tin phảnhồi từ HS để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và cập nhật thông tin trênWebsite

Với Site ôn tập và phân công nhiệm vụ cho các nhóm có thể tự kiểm trađánh giá kết quả học tập một cách chính xác Các câu hỏi trên Webstie giúp cho

Trang 37

từng HS và cả nhóm có thể bao quát một phạm vi rất rộng của nội dung chươngtrình và có thể phân biệt được rõ ràng các trình độ học tập của bản thân

Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm được soạn thảo công phu, theo các thời điểmkhác nhau của QTDH trên Website như: Bắt đầu học một chương, trong quátrình học một chương, kết thúc một chương, được coi như một công cụ, phươngtiện để định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức, đánh giá mục tiêu và PPDH.Trong các chương trình luyện tập hoặc ôn tập, HS sẽ được thao tác nhiều lần ởcác mức độ khó dễ khác nhau với cùng một nội dung kiến thức HS có thể dựavào máy tính để đánh giá kết quả học tập của mình trong một phần hay toàn bộchương trình học tập (ở mức độ này, máy tính sẽ đóng vai trò của người kiểm tra

và đánh giá) Ngoài ra, nếu thao tác nhiều lần trên cùng một nội dung kiến thức,

HS có thể củng cố được kiến thức đó và rèn luyện thêm về các thao tác tư duycũng như vận dụng các kiến thức đã học vào việc giải quyết các bài toán trongphạm vi nội dung học tập

c Mô phỏng, minh hoạ các hiện tượng Vật Lý một cách trực quan

Trong dạy học Vật lý, việc mô phỏng các hiện tượng diễn ra trong điềukiện không thể tiến hành được thí nghiệm thực: hoặc là thí nghiệm nguy hiểm,hoặc không thể thực hiện trong điều kiện thường (Không đồng chất, không rõnét ), hoặc dụng cụ thí nghiệm cần thiết cho thí nghiệm quá đắt, hoặc thínghiệm diễn ra quá lâu Mặc dù việc mô phỏng không thể thay thế hoàn toànviệc quan sát và tiến hành thí nghiệm thực, nhưng trong một chừng mực nào đóthì mô phỏng tỏ ra ưu thế hơn Do đó, việc sử dụng các Video clip quay các thínghiệm biểu diễn hoặc lập trình mô phỏng các thiết bị thí nghiệm (thí nghiệmảo), trong đó sự kết hợp cả hình ảnh và âm thanh để mô phỏng các hiện tượngVật Lý sẽ tạo nên sự trình diễn sinh động, hấp dẫn, tăng tính trực quan hoá trongdạy học Trong dạy học theo nhóm, có thể cho từng nhóm quan sát, thảo luận vàlàm việc với thí nghiệm ảo để đạt được nhiệm vụ của bài học một cách tốt nhất

Sử dụng các ứng dụng mô phỏng, HS có thể thao tác trên MVT với môitrường Website như đang thí nghiệm thật cũng góp phần rèn luyện phương phápthực nghiệm cho HS trong điều kiện không thể tiến hành thí nghiệm thật được.Thông qua đó góp phần hình thành kỹ năng làm thí nghiệm, rèn luyện tính trungthực, rèn luyện thói quen tiếp thu tri thức một cách tự lực, tích cực và có cơ sở

Trang 38

khoa học.

1.3.4.4 Sử dụng Website như công cụ quản lý học tập

Các chương trình ứng dụng, các cơ sớ dữ liệu có khả năng kiểm soát việc

sử dụng Website của HS, điển hình như việc thảo luận trên diễn đàn có sự đăngnhập là bằng chứng rõ nét nhất cho ta thấy được sự tích cực tham gia học tập vớiwebsite của HS Ngoài ra các ứng dụng trên Website có khả năng cung cấp cácthông tin chọn lọc, chính xác, khách quan để góp phần tạo nên những quyết địnhkịp thời, đúng đắn Điều này trở nên quan trọng khi lượng thông tin ngày cànglớn, phức tạp, vượt quá khả năng bao quát của GV

Bên cạnh mục đích hỗ trợ dạy học Vật Lý, việc giảng dạy và học tập vớiWebsite tạo điều kiện cho GV và HS tiếp cận với PTDH hiện đại, làm quen vớimôi trường học tập điện tử, là môi trường học tập chính trong tương lai không

xa Định hướng cho HS sử dụng MVT và Internet vào mục đích đúng đắn phục

vụ cho học tập, tránh sử dụng MVT vào các trò chơi vô bổ hoặc tìm kiếm nhữngthông tin văn hoá ngoài luồng có hại cho phát triển nhân cách của HS

1.4 Website và dạy học vật lý ở Trường DBĐH Dân tộc

Đối tượng HS trường DBĐH Dân tộc là HS: "Có cha hoặc mẹ là người

DTTS, có hộ khẩu thường trú từ 3 năm trở lên (tính đến ngày xét tuyển vào DBĐH Dân tộc) ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ở các

xã, thị trấn, huyện vùng cao VC), vùng sâu VS), miền núi MN), hải đảo đã dự thi vào các trường đại học nhưng không trúng tuyển vào đại học" (Mục 2, Điều 1, Quy chế 37), có đăng ký xét tuyển vào học DBĐH

(KV1-Dân tộc và đủ điểm xét tuyển.[19]

1.4.1 Đặc điểm dạy học ở trường DBĐH dân tộc

Trường DBĐH Dân tộc ngoài những nét chung như các cơ sở giáo dụckhác còn có đặc thù về đối tượng HS là người DTTS, có mục tiêu đào tạo là tạonguồn cho các trường Đại học và chuyên nghiệp để đào tạo cán bộ cho các dântộc và công tác tuyển sinh được thực hiện thông qua việc xét tuyển từ kết quảtuyển sinh Đại học, chất lượng văn hoá của HS không đồng đều và còn hạn chế.Trong tập thể HS có sự đa dạng và khác biệt về văn hoá dân tộc

Trang 39

Chương trình dạy học ở trường DBĐH Dân tộc vừa có tính chất THPTnhưng vừa có tính chất tiếp cận giáo dục Đại học, đồng thời mang tính đặc thùđáp ứng nhu cầu tạo nguồn đào tạo cán bộ và phát triển nguồn nhân lực địaphương, miền núi, dân tộc Đặc điểm của chương trình có tính cơ bản, hiện đại,

có hệ thống, sát thực tiễn đảm bảo tính đại trà và phân hoá theo đối tượng trong

đó chứa đựng một tỷ lệ nhất định phần nội dung bổ sung cho phù hợp đối tượng

HS DTTS Dạy học ở các trường DBĐH Dân tộc trên cơ sở kế thừa kết quảhọc tập của HS trong thời gian học ở THPT; tạo cơ hội cho HS củng cố lại hệthống kiến thức đã học; hình thành cơ sở học vấn chuẩn bị điều kiện cho HS vàohọc Đại học, Cao đẳng

Trong quá trình giảng dạy việc thảo luận nhóm cũng được các GV triểntriển khai thực hiện nhưng chưa đồng bộ, không được quan tâm nhiều Việc sửdụng website chỉ là việc tìm kiếm tài liệu cho GV phục vụ công tác chuyên môn

và cũng chưa hề được sử dụng như một công cụ để dạy học với tư cách là mộtPMDH

1.4.2 Đặc điểm tâm lý HS DBĐH dân tộc trong học tập

Học sinh DBĐH Dân tộc sống ở nhiều vùng khác nhau, điều kiện học tậpkhó khăn, chất lượng các môn học không đồng đều, kiến thức cơ bản chưa vững,thiếu hệ thống, thậm chí HS không được học một số môn như Ngoại ngữ, Tinhọc Vì vậy HS DBĐH Dân tộc có các đặc điểm như sau:

- Về tư duy: HS chủ yếu lĩnh hội các khái niệm bằng kinh nghiệm, tiếp thu

tri thức chậm, không hứng thú trong quá trình học tập, hay chán học, trốn học

Tư duy trừu tượng của HS phát triển chậm so với trình độ chung, việc sử dụngcác thao tác tư duy còn nhiều hạn chế, đặc biệt là tư duy khái quát hoá, trừutượng hoá, dẫn đến việc lĩnh hội tri thức mới gặp nhiều khó khăn

- Về ngôn ngữ: Vốn từ vựng còn nghèo, ngoài giờ lên lớp, HS thường

giao tiếp với nhau bằng tiếng dân tộc, ít nói tiếng phổ thông, vốn tiếng Việt hạnchế, kỹ năng đọc yếu, phát âm các thuật ngữ khoa học bằng tiếng Latinh khókhăn, khả năng viết kém, sai chính tả, sai ngữ pháp nhiều

- Về tình cảm: Chân thực, mộc mạc, yêu ghét rõ ràng, các em thường ít có

thái độ quanh co, sống nội tâm, tình yêu quê hương, bản làng sâu nặng

Trang 40

- Về tính cách: HS hồn nhiên, giản dị, chất phát, trung thực, đây là những

nét tiêu biểu trong tính cách của HS người DTTS Các em thường nghĩ sao nóivậy, ít khi xúc phạm người khác và cũng không muốn bị xúc phạm, HS thườngrụt rè, ít nói, ngại phát biểu, sợ nói sai, tự ti cho rằng mình yếu kém, ngại đấutranh với những biểu hiện sai trái Tính tự trọng cao, hay tự ái, nếu bị xúc phạm

dễ có phản ứng mạnh dẫn tới hậu quả khó lường, HS thích lối sống tự do, phóngkhoáng, không thích sự quản lý gò bó, ngại lao động trí óc, thích lao động chântay và các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, tính cộng đồng cao, gắn bó vớibạn cùng buôn làng, cùng dân tộc, thường xuyên quan tâm giúp đỡ nhau.[19]

HS lứa tuổi này là giai đoạn quan trọng trong sự phát triển trí tuệ Ở lứatuổi này, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức, trigiác có mục đích đã đạt được ở mức rất cao, quan sát trở nên có mục đích, có hệthống và toàn diện hơn; ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt độngtrí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày càngtăng rõ rệt Khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sángtạo được phát triển Tư duy của các em chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán hơn;tính phê phán của tư duy cũng được phát triển Trong học tập các em chú ý hơntới tính rõ ràng, tính cơ sở, tính có thể chứng minh được của các luận điểm Sựthay đổi về chất này tạo điều kiện để HS có các thao tác tư duy phức tạp, phântích được nội dung cơ bản của những khái niệm trừu tượng, hiểu được mối quan

hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội

Đặc điểm nổi bật trong tư duy của HS DTTS là thói quen lao động tri ócchưa bền, ngại suy nghĩ Trong học tập, HS có thói quen suy nghĩ một chiều, dễthừa nhận điều người khác nói Khi nêu kết luận hay hiện tượng, HS ít đi sâu tìmhiểu nguyên nhân, ý nghĩa hoặc những diễn biến và ý nghĩa của sự việc, hiệntượng đó Khả năng tư duy trực quan - hình ảnh của các em tốt hơn khả năng tưduy trừu tượng - logíc

Vì vậy HS DBĐH Dân tộc cần có môi trường dạy học thuận lợi để pháthuy tính tích cực nhận thức Tổ chức học tập theo nhóm là một trong nhữngcách thức dạy học thuận lợi trong môi trường đó

1.4.3 Về phương pháp học tập

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cách tính chỉ số cố gắng của từng thành viên trong nhóm - Tổ chức học tập theo nhóm cho học sinh dự bị đại học dân tộc với sự trợ giúp của website dạy học (thể hiện qua phần quang hình)
Bảng 1 Cách tính chỉ số cố gắng của từng thành viên trong nhóm (Trang 25)
Bảng 2: Ma trận về nhiệm vụ cùng thời lượng của Nhóm - Tổ chức học tập theo nhóm cho học sinh dự bị đại học dân tộc với sự trợ giúp của website dạy học (thể hiện qua phần quang hình)
Bảng 2 Ma trận về nhiệm vụ cùng thời lượng của Nhóm (Trang 27)
Bảng 3: Ma trận về nhiệm vụ khác thời lượng của Nhóm e. Cấu trúc Jigsaw (Ghép hình) - Tổ chức học tập theo nhóm cho học sinh dự bị đại học dân tộc với sự trợ giúp của website dạy học (thể hiện qua phần quang hình)
Bảng 3 Ma trận về nhiệm vụ khác thời lượng của Nhóm e. Cấu trúc Jigsaw (Ghép hình) (Trang 27)
Bảng 4: Cách tính điểm tiến bộ cho từng cá nhân - Tổ chức học tập theo nhóm cho học sinh dự bị đại học dân tộc với sự trợ giúp của website dạy học (thể hiện qua phần quang hình)
Bảng 4 Cách tính điểm tiến bộ cho từng cá nhân (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w