GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nếu trong quá trình dạy học môn Khoa học lớp 5 giáo viên biết tổchức các hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác phù hợp vớiđặc điểm nhận thức của học sin
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2LờI CảM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, bản thân nhận đợc sự giúp đỡ của của rất nhiều ngời Đó là các thầy giáo, cô giáo, các anh chị học viên, các bạn bè đồng nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, khoa Giáo dục Tiểu học - Trờng Đại học Vinh và các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học 17 - Giáo dục Tiểu học, đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hờng là ngời trực tiếp hớng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục và đào tạo Quỳnh Lu, Ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên các trờng tiểu học ở Quỳnh Lu, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nhng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp.
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tỏc giả
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC MÔN KH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM SPTT 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Một số vấn đề về dạy học theo quan điểm SPTT 6
1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học 6
1.2.2 Khái niệm sư phạm tương tác 8
1.2.3 Bản chất, đặc điểm của quan điểm sư phạm tương tác 12
1.2.4 Ưu điểm của dạy học theo QĐSPTT 13
1.2.5 Hạn chế của dạy học theo QĐSPTT 15
1.3 Một số đặc điểm tâm sinh lý của HSTH và việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác 15
1.3.1 Về mặt giải phẫu sinh lý 15
1.3.2 Về mặt nhận thức 16
1.3.3 Tình cảm 17
1.4 Khái quát về môn Khoa học lớp 5 18
1.4.1 Mục tiêu, đặc điểm của môn Khoa học lớp 5 18
1.4.2 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5 19
1.4.3 Bản chất của việc DH môn Khoa học lớp 5 theo QĐSPTT 20
1.5 Thực trạng DH môn Khoa học ở tiểu học theo QĐSPTT 21
1.5.1 Thực trạng sử dụng các PP dạy học môn Khoa học hiện nay 22
1.5.2 Sự hiểu biết về QĐSPTT của cán bộ, GV ở một số trường TH 24
1.5.3 Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học môn KH của GVTH 24
1.5.4 Các hình thức tổ chức tổ chức dạy học mà giáo viên thường sử dụng khi dạy học môn Khoa học 25
1.5.5 Chất lượng học tập môn Khoa học của học sinh tiểu học 26
1.5.6 Đánh giá chung về thực trạng 27
Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC 29
2.1 Yêu cầu đối với việc DH môn KH theo QĐSPTT 29
Trang 42.1.1 Đảm bảo tính khoa học 29
2.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 30
2.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 31
2.2 Cách thức tổ chức dạy học môn Khoa học theo QĐSPTT 31
2.3 Điều kiện để tổ chức dạy học theo quan điểm SPTT có hiệu quả 45
Kết luận chương 2 47
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 48
3.1 Mục đích thực nghiệm 48
3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 48
3.3 Nội dung thực nghiệm 48
3.4 Phương pháp thực nghiệm 48
3.5 Tổ chức thực nghiệm 48
3.5.1 Xác định thời gian thực nghiệm 48
3.5.2 Chọn cơ sở và đối tượng thực nghiệm 48
3.5.3 Chọn bài thực nghiệm 49
3.5.4 Soạn giáo án thực nghiệm : 49
3.5.5 Bồi dưỡng giáo viên dạy thực nghiệm : 49
3.5.6 Tiến hành thực nghiệm : 50
3.5.7 Kiểm tra, đáng giá kết quả thực nghiệm : 50
3.5.8 Xử lý kết quả thực nghiệm 51
3.6 Kết quả thực nghiệm 53
3.6.1 Kết quả lĩnh hội tri thức của học sinh 53
3.6.2.Mức độ hoạt động và sự tương tác của học sinh trong giờ học 62
3.6.3 Hứng thú của học sinh trong giờ học 63
3.6.4 Rèn luyện kĩ năng tổ chức hoạt động nhóm 64
3.7 Ý kiến của cán bộ chỉ đạo chuyên môn và GV dạy thực nghiệm 65
3.8 Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm 66
Kết luận chương 3 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 72
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
QĐSPTT Quan điểm sư phạm tương tác
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Dạy học là con đường quan trọng để nâng cao trình độ hiểu biết và pháttriển nhân cách của mỗi cá nhân Mặc dù người thầy giữ vai trò hết sức quantrọng trong định hướng dạy học và chuyển giao tri thức, kỹ năng cho ngườihọc nhưng phải làm sao trong mỗi tiết học học sinh được suy nghĩ nhiều hơn,thảo luận nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn Vì vậy, việc đổi mới phương phápdạy học để đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện đại nay là nhiệm vụ cần thiết.Trong khi đó, ở nước ta việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huytính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của người học vẫn đang được quantâm và đầu tư, nhưng nói chung hiệu quả còn chưa rõ nét Việc đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng này đòi hỏi phải có sự xác lập cơ sở lý luậntheo hướng khoa học sư phạm hiện đại Quan điểm sư phạm tương tác là mộttrong những hướng đáp ứng được những yêu cầu này Đó là một hướng dạyhọc đề cao vai trò tương tác giữa người học với người dạy, người học vớingười học, người học với môi trường Bộ ba người học, người dạy và môitrường tập hợp các tác nhân chính tham gia vào quá trình học tập Các nétchính của phương pháp này đã được nhóm tác giả Jean-Marc Denommé vàMadelenie Roy dùng làm chủ đề cho năm học khóa học tăng cường về đào tạo
sư phạm thực hiện ở Châu Phi, đặc biệt là Ruanda Vấn đề vận dụng quanđiểm sư phạm tương tác vào dạy học ở nước ta vẫn còn ít được quan tâm nênkhá còn mới mẻ đối với đa số giáo viên, đặc biệt là cơ sở lý luận của nó vẫncòn ít tài liệu đề cập đến
Môn Khoa học là một môn có vị trí quan trọng ở tiểu học Mục tiêu cơbản của môn học là cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản ban đầu vàthiết thực về sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thểngười Cách phòng tránh một số bệnh thông thường, bệnh truyền nhiễm Sựtrao đổi chất, sự sinh sản của động vật và thực vật Đặc điểm và ứng dụng củamột số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống vàsản xuất Trên cơ sở hệ thống tri thức đó hình thành và phát triển ở học sinh
Trang 7những kỹ năng như: Ứng xử thích hợp với các tình huống có liên quan đếnvấn đề sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng Quan sát và làm một sốthí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống, sản xuất …Qua
đó hình thành và phát triển những thái độ và thói quen như: Tự giác thực hiệncác quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng Yêu conngười, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp có ý thức hành động và bảo vệ môitrường xung quanh
Trong dạy học môn Khoa học hiện nay, có rất nhiều bài, khi dạy giáoviên gặp phải khó khăn, do chưa xác định được phương pháp dạy học phùhợp Việc tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác sẽ khắc phụcđược những khó khăn đó và đáp ứng được mục tiêu dạy học
Trên cở sở lý luận và thực tiễn đã nêu, chúng tôi chọn đề tài là:
“Dạy học môn Khoa học lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác” làm đềtài nghiên cứu
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học lớp 5
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
a KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.
Phương pháp dạy học môn Khoa học ở tiểu học
b ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Tổ chức dạy học môn Khoa học lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu trong quá trình dạy học môn Khoa học lớp 5 giáo viên biết tổchức các hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác phù hợp vớiđặc điểm nhận thức của học sinh và đặc điểm môn học thì sẽ nâng cao chấtlượng dạy học
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
a Tìm cở sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học môn Khoahọc theo quan điểm sư phạm tương tác
b Đề xuất và thực nghiệm cách thức tổ chức dạy học môn Khoa học ở lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác
c Thực nghiệm sư phạm chứng minh hiệu quả của việc áp dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Khoa học lớp 5
Trang 86.CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu về tâm lý giáo dục, tâm lý trẻ em,những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, nhằm xác lập cơ sở thực tiễn của đề tài
- Nhằm phân tích cơ sở lý luận về QĐSPTT
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát:
- Quan sát quá trình dạy học thực nghiệm của giáo viên và học sinh vềthái độ, hành vi, hứng thú…
6.2.2 Phương pháp điều tra:
- Nhằm thu thập thông tin về thực trạng của vấn đề nghiên cứu
6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Nhằm đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Khoa học lớp 5
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lí các số liệu thu được từ điều tra và thực nghiệm sư phạm
8 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chươngChương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học môn Khoa học ơlớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác
Chương 2: Tổ chức dạy học môn Khoa học ở lớp 5 theo quan điểm sưphạm tương tác
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
Trang 9MÔN KH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM SPTT
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Nghiên cứu về quan hệ tương tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy vàhọc đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại Khổng Tử(551 - 479 TCN) hay Socrate (469 - TCN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đốivới người thầy giáo và đề cao vai trò tích cực, chủ động trong học tập củangười học khi mô tả hoạt động dạy học
Trong cuốn “Giáo dục của cải nội sinh” của Uỷ ban giáo dục vào thế kỷ
21 của Unesco do ông Giác Đơ Lô làm tổng chủ biên cũng đưa ra nhận định:
Đi vào thế kỷ mới quan hệ thầy trò (phương pháp tương tác thầy - trò) giữ vaitrò trung tâm trong nhà trường
Hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy trong tác phẩm
“Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác ” [Pour une pédagogieinteractive] đã đề cập tới một trường phái sư phạm tương tác cùng vớinền tảng lý luận của nó
Trong nghiên cứu của mình, những nhà lý luận dạy học đã khẳng định yếu
tố môi trường trong cấu trúc quá trình dạy học, theo đó, hệ thống dạy học tốithiểu là sự tương tác của: thầy giáo - học trò - môi trường đối với tri thức Nhưvậy, trong quá trình dạy học giáo viên không tác động trực tiếp đến HS màthông qua một yếu tố trung gian đó là tri thức Trong quá trình dạy học, HS làchủ thể hoạt động, còn kiến thức là đối tượng Yếu tố môi trường, theo nhómtác giả này không phải là một yếu tố tĩnh, bất động mà là một thành tố thuộccấu trúc hoạt động dạy học; môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người học
mà quan trọng hơn là người học phải thích nghi được với môi trường Phươngpháp này đưa ra được các phương tiện, công cụ để kích thích hứng thú - tìnhhuống dạy học được lựa chọn kỹ lưỡng, đặc biệt là cách thức gia tăng sự tươngtác, hợp tác giữa dạy và học trong môi trường dạy học để người học thànhcông Do vậy, cấu trúc hoạt động dạy học gồm bốn thành tố theo sơ đồ sau : Môi trường
Trang 10Hình 1 Các thành tố cơ bản của quá trình dạy học.
Những phân tích này cho thấy các tác giả đã xác nhận các yếu tố cơ bản(hạt nhân) của QĐSPTT là người dạy – người học - môi trường, chức năngcủa từng yếu tố và làm rõ các yếu tố trong quá trình dạy học Hai tác giảJean-Marc Denommé và Madelenie Roy đã thành công trong việc mô tả bayếu tố: người học, người dạy và môi trường Bộ ba này tập hợp các nhân tốchính tham gia vào quá trình học tập
Còn ở Việt Nam, cũng đã có một số bài báo đề cập đến vấn đề này Như:
TS Nguyễn Thị Thanh Bình - Viện KHGD đã đề cập đến vấn đề “Tiến tới tổchức hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác” với những đặc tính:
+ Tương tác giữa các cá nhân khác nhau về khả năng
+ Mang tính chất phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực
+ Tạo ra sự phối hợp hành động trực tiếp
+ Kích thích tính tích cực, nguyện vọng tự thể hiện trách nhiệm cá nhân,
tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh
+ Bình đẳng tôn trọng sáng tạo
+ Giúp đỡ chia sẽ, hỗ trợ bổ sung cho nhau, thừa nhận và học hỏi lẫn nhau.+ Hướng đến sự thực hiện nhiệm vụ và bảo đảm sự phối hợp hành động cóhiệu quả
+ Luân phiên quản lý phối hợp thống nhất hành động và trách nhiệm củatừng cá nhân trong nhóm
TS Vũ Lệ Hoa với bài viết “Sử dụng phương pháp sư phạm tương tácmột biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của học sinh” Bà cho rằng pháthuy tính tích cực nhận thức của học sinh trong học tập là mục tiêu của nhà
Giáo viênHọc sinh
Tri thức
Trang 11trường hiện đại Từ mục tiờu này cỏc nhà khoa học, cỏc nhà giỏo dục tõmhuyết đó khụng ngừng tỡm kiếm cỏc phương phỏp dạy học mới “Phương phỏp
sư phạm tương tỏc” là một trong những phương phỏp cú triển vọng đỏp ứngyờu cầu trờn – Tạp chớ giao dục số 24
TS.Nguyễn Thị Bớch Hạnh, đại học sư phạm thành phố Hồ Chớ Minh[13], đó phõn tớch, đỏnh giỏ làm rừ nhõn tố mụi trường trong phương phỏp sưphạm tương tỏc
Tuy nhiờn việc nghiờn cứu của cỏc tỏc giả ngoài nước cũng như trongnước mới chỉ dừng lại ở việc nghiờn cứu lý luận hoặc thử nghiệm ở phươngphỏp dạy học núi chung, chứ chưa đưa ra cỏc cỏch thức cụ thể cho việc dạyhọc mụn Khoa học lớp 5
1.2 Một số vấn đề về dạy học theo quan điểm SPTT.
1.2.1 Khỏi niệm phương phỏp dạy học.
Theo định nghĩa chung nhất, phương phỏp là con đường, là cỏch thức mà chủthể sử dụng để tỏc động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đớch
đó định Phương phỏp là một phạm trự của lớ thuyết hoạt động cú liờn quan mậtthiết với cỏc phạm trự chủ thể, đối tượng, mục đớch, nội dung hoạt động
Theo quan điểm triết học, chỳng ta cú thể nờu lờn một số khỏi niệm vềphương phỏp như sau:
- Phương phỏp là cỏch thức, con đường, phương tiện là tổ hợp cỏc bước
mà trớ tuệ phải đi theo để tỡm ra và chứng minh chõn lớ Chẳng hạn phươngphỏp biện chứng, phương phỏp phõn tớch hệ thống[4]
- Phơng pháp đồng nghĩa với biện pháp kĩ thuật, biện pháp khoa học
- Phơng pháp còn là tổ hợp những quy tắc, nguyên tắc qui phạm dùng đểchỉ đạo hành động Tuy nhiờn chỉ cú định nghĩa do Hờ ghen đưa ra là chứađựng một nội hàm sõu sắc và bản chất được V.I Lờ Nin nờu lờn trong tỏcphẩm “Bỳt kớ triết học” của mỡnh: Phương phỏp là “ý thức về hỡnh thức của
sự tự vận động bờn trong của nội dung” [4]
Phơng pháp dạy học là một trong những vấn đề cơ bản của lớ luận dạyhọc Đồng thời là vấn đề tồn tại nhiều ý kiến khỏc nhau, cú thể nờu nhiều định
Trang 12nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Sau đây chúng tôi xin nêu một vàiđịnh nghĩa về phương pháp dạy học:
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trònhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sửdụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật lô gic, các hoạt động độc lập của họcsinh và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo[14]
- Phương pháp dạy học là một hệ thống hành động có mục đích của giáoviên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảocho học sinh lĩnh hội nội dung học vấn[17]
- Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằmgiải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trìnhdạy học[15]
Theo Phạm Viết Vượng phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thứchoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh, trong đó phương pháp dạy chỉđạo phương pháp học, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thứcKhoa học và hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo thực hành sáng tạo [10].Mặc dù chưa có ý kiến thống nhất về định nghĩa phương pháp dạy học song các tácgiả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạtđược mục đích đặt ra
- Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường qui định
- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
- Phản ánh cách thức giao tiếp giữa thầy và trò
- Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giákết quả hoạt động
Qua sự phân tích các tác giả trên thế giới và trong nước chúng ta có thểkhẳng định rằng: Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của
cả thầy và trò trong quá trình dạy học, dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thựchiện tốt nhiệm vụ dạy học
1.2.2 Khái niệm sư phạm tương tác.
Trang 13Theo hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy thì từ “sư phạm”(pédagogie) có nguồn gốc xuất phát từ một danh từ và một động từ tiếng HyLạp, có nghĩa là hướng dẫn một đứa trẻ (guider un enfant) Nguồn gốc của từnày chỉ ra rằng có sự tham gia của hai nhân vật: người hướng dẫn và ngườiđược hướng dẫn Ngày nay, người ta đồng hoá chúng một cách hoàn toànngẫu nhiên vào người dạy và người học, đó chính là giáo viên và học sinh.Quan điểm sư phạm tương tác là quá trình dựa hoạt động dựa trên sự tácđộng tương hỗ tối đa giữa ba nhân tố: giáo viên, học sinh vầ môi trường Batác nhân này luôn luôn quan hệ với nhau sao cho mỗi một tác nhân hoạt động
và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tác nhân kia
Quan điểm sư phạm tương tác xem giáo viên là người giữ vai trò tổchức hướng dẫn và điều khiển học sinh Giáo viên là người xác định mục tiêu,sắp xếp nội dụng, lựa chọn phương pháp dạy học và xây dựng môi trường cởi
mở, tạo ra hứng thú cho học sinh Giáo viên là chuyên gia về lĩnh vực chuyênmôn đồng thời là chuyên gia của việc học, biết can thiệp đúng lúc trên bướcđường nhân thức của học sinh
Học sinh là chủ thể của hoạt động học, người chịu trách nhiệm chínhcủa việc học Nếu được chuẩn bị tốt về động cơ, thái độ học tập, tinh thầntrách nhiệm cao và điều kiện thuận lợi thì sẽ lĩnh hội tri thức hình thành kỹnăng một cách hứng thú và hiệu quả Trong quá trình dạy học bằng quan điểm
sư phạm tương tác, học sinh dựa trên tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm và bằngphương pháp học tập của mình là chính
Yếu tố môi trường được coi là tác nhân có ảnh hưởng lớn, tác độngtương hỗ tới hoạt động dạy và hoạt động học Bầu không khí tâm lý của lớphọc, sự cởi mở thân thiện của giáo viên, học sinh và tập thể, chế độ làm việchợp lý, sẽ cuốn hút hứng thú tập trung vào nội dung học
Với quan điểm sư phạm tương tác, mối quan hệ của ba yếu tố này luôntác động lẫn nhau, tạo nên một tập hợp liên kết chặt chẽ quy định sự thànhcông của hoạt động dạy học Nếu xác định được vai trò đích thực của từngyếu tố và tìm ra những tác động qua lại giữa chúng sẽ đặt cơ sở vững chắc
Trang 14cho những can thiệp sư phạm có hiệu quả Trong quan điểm sư phạm tươngtác thực chất vai trò của ba yếu tố đó là:
Giáo viên - người hướng dẫn
Giáo viên là người hướng dẫn của học sinh Sau khi đã cân nhắc giaocho học sinh vai trò là một người thợ chính trong phương pháp học, quanđiểm sư phạm tương tác quan tâm đến việc làm rõ chức năng của giáo viên
Nó coi giáo viên trước hết là người hướng dẫn của học sinh Và giống như bất
cứ người hướng dẫn giỏi nào, giáo viên đi cùng học sinh trong phương pháphọc của học sinh và chỉ cho học sinh con đường phải theo suốt cả quá trình
Giáo viên với vai trò là người đi cùng này, phối hợp với học sinh: họlàm bạn đồng hành với nhau người nọ giúp đỡ người kia trong phương pháphọc của học sinh Việc dạy vì vậy không phải là một bài độc tấu mà là một vởkịch có học sinh cùng tham gia trên con đường hài hoà đi đến tri thức mới.Trong viễn cảnh này giáo viên hợp tác với học sinh, làm việc với các em giáoviên tham gia góp phần vào một công trình chung Học sinh và giáo viên trởthành những người cộng tác thực sự trong một công việc, cả hai cùng đi trêncon đường học theo phương pháp riêng của mỗi người
Giáo viên hoàn toàn là người đi cùng, mặt khác đảm nhiệm thêm vaitrò hướng dẫn, vai trò của người tạo thuận lợi Vì vậy giáo viên trở thànhngười giúp đỡ học sinh tham gia tích cực, kiên định hướng đi và kiên trì đếncùng Giáo viên gần giống như người thuyền trưởng đã trao tay lái của contàu cho một thành viên của đội lái Ta hình dung một cách dễ dàng tất cả sựchú ý mà người thuyền trưởng dành cho người học Anh ta lo lắng theo dõingười học của mình, khuyên khi cần thiết, và giúp đỡ người học bằng nhữnglời động viên và định hướng khi cần Cách ứng xử của giáo viên cũng phảinhư vậy, giáo viên trước hết phải cố gắng giúp đỡ học sinh, tạo điều kiện dễdàng cho phương pháp học của các em
Giáo viên gia tăng cơ hội bày tỏ rự chú ý của mình với học sinh Giáoviên thậm chí phải ra sức tìm mọi cách để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu cầnđược giúp đỡ khi học sinh cảm thấy khó khăn Hơn thế nữa cần có một trực
Trang 15giác sáng suốt để giảm đi những e sợ, những khó khăn luôn rình rập học sinhtrong quá trình thực hiện phương pháp học Một sự thiện cảm như vậy thườngtrở thành nguồn hứng thú ở học sinh và học sinh cảm thấy tìm được ở giáoviên sự giúp đỡ
Học sinh - người thợ
Học sinh là người thợ chính của quá trình đào tạo, chính học sinh là tácnhân đầu tiên thực hiện phương pháp học từ đầu cho đến khi kết thúc quátrình học, phương pháp học phải dựa trên chính tiềm năng của học sinh.Phương pháp học cũng góp phần vào sáng kiến của học sinh Nhờ vào sựhứng thú, học sinh tham gia tích cực và biết tiếp tục qúa trình học bằng cáchtạo cho nó một hình thức độc đáo liên quan đến tính cách của mình Các em
có thể tỏ ra tự chủ và theo con đường ngày càng phù hợp với khả năng, xuhướng, nhịp độ của mình
Ngoài tiềm năng và sáng kiến của học sinh, phương pháp học phải dựatrên ý thức trách nhiệm của học sinh Thật vậy các em phải đảm nhiệm tráchnhiệm đầy đủ trách nhiệm người thợ chính của mình bằng cách tham gia tíchcực và thoải mái vào quá trình học “của mình” Thậm chí các em phải có ýthức và những trách nhiệm tham gia, nó khơi dậy ở học sinh tính năng động
và những cố gắng cần thiết để đi tới kết thúc công việc, và học sinh có rấtnhiều khả năng làm được điều nay
Bằng cách gắn cho học sinh vai trò tác nhân chính, quan điểm sư phạmtương tác giả thiết rằng đối với việc học, giáo viên chọn một phương pháp coitrọng tính ưu tiên dành cho học sinh và khả năng của các em Theo cách nhìnnhận này, việc dạy rõ ràng đã trở nên tập trung vào học sinh Làm như vậy,giáo viên tạo nên một hỗ trợ có giá trị đối với học sinh cũng như giúp các emtrở thành người thợ chính trong quá trình đào tạo
Môi trường xung quanh và ảnh hưởng của nó
Môi trường ảnh hưởng đến phương pháp học và quan điểm sư phạm vàgiữa chúng có sự tác động tương hỗ Quan điểm sư phạm tương tác coi môitrường có một vị trí trong những nguyên lý cơ bản, rõ ràng là có ý nghĩa định
Trang 16nhấn mạnh tầm quan trọng của tác nhân này trên phương diện sư phạm.Thông thường, người ta có xu hướng giảm mối quan hệ giáo viên và học sinhthành các quan hệ thuần tuý hoặc đơn giản là bó hẹp ở nhiệm vụ của ngườinày hoặc người kia, có nghĩa là học sinh thì học còn giáo viên thì dạy Đồngthời người ta dễ bày tỏ qua việc học sinh và giáo viên cũng như là những cánhân được chú ý bởi những người xung quanh, bởi những sự kiện trong cuộcsống của họ, bởi các phong tục tập quán của đất nước họ Mỗi học sinh, mỗigiáo viên có tính cách riêng đặc trưng bởi khí chất, bởi di truyền và bởi giáodục Sẽ là thỏa đáng hơn khi hội nhập họ vào trong một môi trường rộng hơn,môi trường này tác động vào tất cả các hoạt động của họ Đặc biệt trong hoạtđộng sư phạm của họ, học sinh và giáo viên đương nhiên bị ảnh hưởng bởimột tập hợp các yếu tố môi trường Làm sao mà lại không nghi ngờ, thídụ: ở một học sinh bi mệt không chú ý học khi em này bị đau hoặc đêmqua ít ngủ, rằng có thể em này chứng kiến một cuộc cãi lộn giữa bố mẹhoặc em tin rằng môn được dạy là vô ích? Làm sao lại không gắn sự căngthẳng lo lắng của giáo viên với những sự kiện không đúng lúc, ví dụ nhưlúc con họ bị bệnh chẳng hạn, hoặc có những lời trách mắng của ông hiệutrưởng về tính thiếu kỷ luật, hoặc là cản trở sự thăng tiến? Có những tìnhhuống ảnh hưởng đến hiệu suất của học sinh và tập tính của giáo viên,nhiều một cách ngạc nhiên Chúng có nguồn gốc hoặc từ bên trong họcsinh và giáo viên giống như cảm xúc, giá trị, vốn sống của mỗi người,hoặc từ bên ngoài như gia đình, nhà trường và xã hội.
Nếu như môi trường có thể ảnh hưởng tới hoạt động sư phạm thì giáoviên và học sinh cũng có thể thay đổi môi trường Chính vì vậy mà học sinhsau khi thu lượm kiến thức mới sẽ khám phá những chân trời mới, khôngchấp nhận những định kiến của mình và chỉnh lại những tập tính của mình Ví
dụ sau cuộc gặp gỡ bổ ích với cha mẹ của một học sinh, có thể có cái nhìnthiện cảm hơn về người học sinh này, vì vậy anh có thể chiếm được lòng tin
vì sự ủng hộ của bố mẹ, qua đó cải thiện được quan hệ với học sinh
Trang 17Các ví dụ nêu trên minh hoạ tính tương hỗ có thể nằm trong các tácđộng giữa một bên là học sinh - giáo viên và một bên là môi trường Đó là đặctrưng ảnh hưởng của môi trường được làm sáng tỏ bởi quan điểm sư phạmtương tác
1.2.3 Bản chất, đặc điểm của quan điểm sư phạm tương tác
- Quan điểm sư phạm tương tác xem giáo viên là người giữ vai trò tổchức hướng dẫn và điều khiển học sinh Giáo viên là người xác định mục tiêu,sắp xếp nội dụng, lựa chọn phương pháp dạy học và xây dựng môi trường cởi
mở, tạo ra hứng thú cho học sinh Giáo viên là chuyên gia về lĩnh vực chuyênmôn, biết can thiệp đúng lúc trên bước đường nhận thức của học sinh
- Học sinh là chủ thể của hoạt động học, người chịu trách nhiệm chínhcủa việc học Nếu được chuẩn bị tốt về động cơ, thái độ học tập, tinh thầntrách nhiệm cao và điều kiện thuận lợi thì sẽ lĩnh hội tri thức hình thành kỹnăng một cách hứng thú và hiệu quả Trong quá trình dạy học bằng quan điểm
sư phạm tương tác, học sinh dựa trên tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm và bằngphương pháp học tập của mình là chính
- Yếu tố môi trường được coi là tác nhân có ảnh hưởng lớn, tác độngtương hỗ tới hoạt động dạy và hoạt động học Bầu không khí của lớp học vui
vẻ, sự cởi mở thân thiện của giáo viên, học sinh, chế độ làm việc hợp lý, trangthiết bị giáo dục đầy đủ, phù hợp đảm bảo khoa học sẽ cuốn hút hứng thú tậptrung vào nội dung học
- Phương pháp sư phạm tương tác là quá trình dựa hoạt động dựa trên sựtác động tương hỗ tối đa giữa ba nhân tố: giáo viên, học sinh và môi trường
Ba tác nhân này luôn luồn quan hệ với nhau sao cho mỗi một tác nhân hoạtđộng và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tác nhân kia Mối quan hệ của bayếu tố này luôn tác động lẫn nhau, tạo nên một tập hợp liên kết chặt chẽ quyđịnh sự thành công của hoạt động dạy học
- Trong quan điểm sư phạm tương tác, học sinh được thoải mái bàn bạcthảo luận để đưa ra các ý kiến, quan điểm của mình về sự vật, hiện tượng rồithống nhất ý kiến Đó là kết quả hoạt động của nhóm Kết quả này có thể
Trang 18đúng, chưa đầy đủ, hoặc có thể sai, đôi khi là ngây thơ, ngờ nghệch nhưngvẫn được tôn trọng, động viên và khích lệ
1.2.4 Ưu điểm của dạy học theo QĐSPTT
Quan điểm sư phạm tương tác là một phương pháp dạy học có nhiều ưuđiểm, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cáchcủa học sinh Mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp nếu thực hiện lâu dài và có hệthống Cụ thể :
- Nâng cao tính tương tác giữa các thành viên trong nhóm: Đây là yếu
tố cơ bản của hoạt động nhóm, thường ở dạng “face to face” (mặt đối mặt).
Nó có những tác động tích cực đối với người học như:
+ Tăng cường động cơ học tập, làm nảy sinh những hứng thú mới.+ Kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng, nguồn lực và cách giảiquyết vấn đề
+ Tăng cường các kĩ năng biểu đạt, phản hồi bằng các hình thức biểuđạt như lời nói, ánh mắt cử chỉ…
+ Khích lệ mọi thành viên tham gia học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, pháttriển mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau
+ Điểm đặc trưng này của dạy học theo nhóm đòi hỏi giáo viên phảithiết kế nhiệm vụ cho nhóm, nhằm tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thànhviên trong nhóm
- Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên Các thành viên của nhóm
cần nhận thức rằng họ cùng trong một nhóm và họ có sự phụ thuộc lẫn nhau
Cả nhóm phải cùng hoàn thành một nhiệm vụ chung, chính vì vậy, mỗi thànhviên cần phải cố gắng hết sức mình, không phải chỉ vì thành tích cá nhân, màcòn vì thành công của cả nhóm, cái được tạo nên từ sự cố gắng của từng họcsinh và trở thành niềm vui chung của cả nhóm Họ gắn kết với nhau theophương thức mỗi người cũng như toàn nhóm không thể thành công nếu mỗithành viên không cố gắng hoàn thành trách nhiệm của mình Làm thế nào đểcác thành viên trong nhóm phải phụ thuộc tích cực vào nhau là vấn đề màgiáo viên cần phải chuẩn bị trước khi thiết kế nhiệm vụ giao cho nhóm
Trang 19- Tính trách nhiệm cao: Điều này đòi hỏi mỗi học sinh trong nhóm phải
được phân công thực hiện một vai trò nhất định, một công việc và tráchnhiệm cụ thể Các thành viên cần hiểu rằng họ không thể trốn tránh tráchnhiệm hay dựa vào công việc của những người khác Trách nhiệm cá nhân làthen chốt đảm bảo cho cho tất cả các thành viên trong nhóm thực sự mạnh lêntrong học tập theo nhóm Nói cách khác, tổ chức dạy học theo nhóm khôngphải là để thay thế học tập cá nhân mà là để giúp cá nhân thực hiện nhiệm vụhọc tập của mình qua tương tác với các bạn cùng học Do đó, phân côngnhiệm vụ như thế nào, thực hiện ra sao, kiếm tra đánh giá dưới hình thức nào
để từng thành viên trong nhóm thấy rõ trách nhiệm cá nhân của mình lànhững vấn đề đặt ra cho giáo viên khi tiến hành dạy học theo nhóm
- Sử dụng hợp lí những kỹ năng giao tiếp Đó là các kĩ năng giao tiếp
như: biết chờ đợi đến lượt; tóm tắt và xử lí thông tin; biết xây dựng niềm tinnhư bày tỏ sự ủng hộ qua ánh mắt nụ cười, yêu cầu giải thích, giúp đỡ và sẵnsàng giúp đỡ; khả năng giải quyết bất đồng như kiềm chế bực tức, không làmxúc phạm người khác khi bất đồng ý kiến… Đây là những kĩ năng không thểthiếu được và giúp học sinh thành công khi làm việc theo nhóm Nếu không
sẽ dễ xảy ra tình trạng người học chỉ đơn giản là ngồi cạnh nhau, làm việc cánhân chứ không cùng nhau học và làm việc hợp tác Do đó, để nhóm thực sự
là môi trường làm việc hợp tác giữa người học với nhau đòi hỏi phải có sựchuẩn bị cẩn thận và trải qua một quá trình rèn luyện
Như vậy, qua phân tích trên, chúng ta thấy quan điểm sư phạm tươngtác là một phương pháp dạy học có nhiều ưu điểm, là một trong những conđường nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Trong thời đạingày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc theonhóm là cần thiết hơn bao giờ hết Đơn giản là vì không ai hoàn hảo, làm việctheo nhóm có thể tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung, hoànthiện cho nhau những điểm yếu
1.2.5 Hạn chế của dạy học theo QĐSPTT
Trang 20Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, quan điểm sư phạm tương táccũng có hạn chế nhất định:
- Mới bước đầu thực hiện sẽ kéo dài thời gian của tiết học vì học sinhchưa quen với việc học tập theo phương pháp này
- Bàn ghế học sinh ở đa số các trường tiểu học của Việt Nam khôngphải là bàn nghế cá nhân, dễ xoay để lập thành các nhóm một cách nhanhchóng trong các hoạt động của nhóm lớn hay nhóm nhỏ Nên mất nhiều thờigian cho việc tạo nhóm, và các nhóm khi được xây dựng nên rồi nhưng sẽkhông tạo ra môi trường tích cực trong học tập
- Đồ dùng học tập phục vụ cho môn học nói chung còn mang tính chất
“cho có”, chứ sử dụng không hiệu quả nên không tạo ra được môi trường tíchcực trong dạy học
- Nơi để đồ dủng hàng ngày để dạy học chưa hợp lí, nên mỗi khi dạytìm đồ dùng rất mất thời gian vì vậy mà giáo viên ngại sử dụng đồ dùng trongquá trình lên lớp
1.3 Một số đặc điểm tâm sinh lý của HSTH và việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác.
Học sinh tiểu học là một giai đoạn phát triển của đời người Đó là lứatuổi từ 6 đến 12 tuổi (một bộ phận nhỏ 13 -14 tuổi), có hoạt động học tập làhoạt động chủ đạo Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, tiềm tàng khảnăng phát triển, là nhân cách đang hình thành Sau đây chúng tôi phân tíchmột số đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học theo những khía cạnh mà quanđiểm sư phạm tương tác quan tâm
1.3.1 Về mặt giải phẫu sinh lý
Thể lực của trẻ ở lứa tuổi này phát triển tương đối đồng đều, trọnglượng não của trẻ gần bằng trọng lượng não của người trưởng thành (gần 90%trọng lượng não người lớn) Chức năng của não dần dần hoàn thiện, chứcnăng phân tích tổng hợp của vỏ não đang được phát triển, các mối quan hệgiữa hai quá trình hưng phấn và ức chế được thay đổi dần, quá trình ức chế sẽtrở nên mạnh hơn
Trang 211.3.2 Về mặt nhận thức
Đối với học sinh tiểu hoc nhận thức cảm tính chiếm ưu thế Điều nàythể hiện rất rõ trong quá trình nhận thức của học sinh như tri giác, trí nhớ, tưduy, tưởng tượng
+ Tri giác của học sinh tiểu học có đặc điểm là tươi sáng, sắc bén, tò mòham hiểu biết và có tính trực quan Ở những năm đầu của bậc tiểu học tri giácthường gắn với hoạt động thực tiễn như cầm nắm, sờ mó, tri giác của trẻcòn chung chung, mang tính chất đại thể Đến lớp 4, 5 các em mới biết đi sâuvào bản chất của sự vật hiện tượng, biết phân tích suy luận mỗi khi tri giác,biết trình bày kết quả một cách gọn gàng, rõ ràng và có khả năng tổng hợp cácchi tiết sau khi tri giác
Những đặc điểm tri giác trên cho thấy trong quá trình dạy học KH, cầnphải tổ chức tốt cho các em được trao đổi, thảo luận qua đó các em có thểtiếp nhận kiến thức của bài học một cách chủ động, sáng tạo
+ Ở lứa tuổi tiểu học chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế Trẻ dễ dichuyển chú ý từ đối tượng không hấp dẫn sang đối tượng có sức hấp dẫn hơn.Sức tập trung và độ bền vững về chú ý của các em cũng phụ thuộc vào đốitượng quan sát, mức độ hoạt động với sự vật Nhiều công trình nghiên cứu về
độ chú ý đã khẳng định: sự tập trung chú ý của học sinh tiểu học chỉ kéo dàitrong một thời gian nhất định Đối với học sinh ở đầu cấp các em chỉ tập trungchú ý tốt khoảng 20 - 25 phút, còn học sinh lớp 4, 5 khoảng 30 -35 phút Vìvậy trong các tiết học môn Khoa học giáo viên cần tránh giảng giải quá nhiều,cần phải đa dạng hoá các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, nhằmduy trì sự chú ý và hứng thú học tập cho các em
+ Ở lứa tuổi này trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển, các em nhớchính xác các hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, haylời giải thích dài dòng Ở những lớp đầu của bậc tiểu học, việc ghi nhớ khôngchủ định vẫn còn chiếm ưu thế, các em chỉ ghi nhớ nhanh những gì mìnhthích, những gì gây được ấn tượng Trí nhớ chủ định dần dần được phát triển
ở các lớp trên, năng lực ghi nhớ cũng dần được tăng lên Vì vậy trong dạy học
Trang 22môn Khoa học cần tăng cường tổ chức cho học sinh hoạt động để các em nắmkiến thức một cách chủ động, vững chắc, vì khi nghe thì dễ quên, khi nhìn thì
dễ nhớ và khi làm thì dễ hiểu
+ Tư duy của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan cụ thể Hoạt độngphân tích - tổng hợp ở lứa tuổi này còn rất sơ đẳng Trong hoạt động khái quáthoá, học sinh ở đầu cấp thường quan tâm đến những dấu hiệu có tác độngmạnh đến các giác quan như các màu sắc, hình dáng, kích thước, nghĩa làtrẻ chỉ mới biết dựa vào những dấu hiệu ở bên ngoài để phân loại và kháiquát Đối với học sinh ở lớp 4, 5 tư duy trừu tượng đã phát triển hơn, trẻ cóthể phân loại và khái quát đối tượng mà không cần đến những dấu hiệu bênngoài của chúng Từ những đặc điểm trên ta thấy đối với học sinh tiểu họcviệc dạy học môn Khoa học cần dựa trên các yếu tố trực quan, tăng cường tổchức cho học sinh quan sát, thảo luận nhóm, đặc biệt là việc sử dụng quanđiểm sư phạm tương tác để các em có thể chiếm lĩnh tri thức bằng chính hoạtđộng của mình
1.3.3 Tình cảm
Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có một vị trí đặc biệt vì nó là khâutrọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của các em Đối tượng gây xúccảm thường là những sự vật hiện tượng cụ thể sinh động Do đó những bàigiảng khô khan, khó hiểu, nặng về lý luận không gây cho học sinh những cảmxúc tích cực, thậm chí còn làm cho các em mệt mỏi, chán chường Nói chung,hoạt động trí tuệ của các em đượm màu sắc xúc cảm, các em suy nghĩ bằng
“hình thức”, “xúc cảm”, “âm thanh”, các quá trình nhận thức hoạt động củacác em dần chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc, đều đượm màu cảm xúc.Tình cảm của các em chưa bền vững, chưa sâu sắc, các em đang ưa thích đốitượng này nhưng có đối tượng khác thích hơn, đặc biệt hơn thì dễ dàng bị lôicuốn vào đó mà quên mất đối tượng cũ Vì vậy trong quá trình dạy học mônmôn Khoa học có thể khơi dậy ở trẻ xúc cảm học tập qua việc tổ chức cáchoạt động học tập, qua việc sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, đặc
Trang 23biệt là quan điểm sư phạm tương tác và đồ dùng dạy học để phát huy tính tíchcực nhận thức của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học.
Từ việc phân tích những đặc diểm tâm sinh lý của học sinh tiểu họcchúng tôi rút ra kết luận rằng: Việc tổ chức cho học sinh học tập theo quanđiểm sư phạm tương tác trong môn Khoa học là hợp lý, phù hợp với địnhhướng đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học hiện nay Đó là hướng vào sựtích cực hoá hoạt động của học sinh, nhằm chuyển biến vị trí của các em từđối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức
1.4 Khái quát về môn Khoa học lớp 5.
1.4.1 Mục tiêu, đặc điểm của môn Khoa học lớp 5
Sau khi học xong môn Khoa học lớp 5, học sinh cần đạt được:
- Kiến thức: Có kiến thức cơ bản ban đầu về:
+ Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự sinh sản, sự lớn lên của cơthể người Cách phòng tránh một số bệnh thông thường, bệnh truyền nhiễm.+ Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật, động vật
+ Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và nguồn nănglượng thường gặp trong đời sống và sản xuất
- Hành vi thái độ
+ Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh an toàn cho bản thân, gia đình vàcộng đồng
Trang 24+ Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã họcvào đời sống.
+ Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp, có ý thức và hànhđộng bảo vệ môi trường xung quanh
1.4.2 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5
Môn Khoa học lớp 5 gồm có 70 bài tương ứng với 70 tiết của 35 tuầnhọc Trong đó có 61 bài học mới, 9 bài ôn tập và kiểm tra Nội dung mônKhoa học lớp 5 gồm 4 chủ đề:
+ Con người và sức khoẻ;
+ Vật chất và năng lượng;
+ Thực vật và động vật;
+ Môi trường và tài nguyên thiên nhiên
- Chủ đề: Con người và sức khoẻ
+ Sự sinh sản, sự lớn lên và phát triển của cơ thể người, vệ sinh ở tuổidậy thì
+ An toàn, phòng chống bệnh tật và tai nạn; không sử dụng các chất gâynghiện; Sử dụng thuốc an toàn; Phòng chống một số bệnh (sốt rét, sốt xuấthuyết, viêm não, viêm gan A, HIV/AIDS); Phòng tránh bị xâm hại, phòngtránh tai nạn giao thông
- Chủ đề: Vật chất và năng lượng
+ Đặc điểm và công dụng của một số vật liệu thường dùng: tre, kim loại
(sắt, đồng, nhôm) và hợp kim (gang, thép), đá vôi, gốm (gạch, ngói), xi măng,thuỷ tinh, cao su, chất dẻo, tơ sợi
+ Sự biến đổi của chất
+ Sử dụng một số nguồn năng lượng: than đá, dầu mỏ, khí đốt, mặt trời,gió, nước, năng lượng điện (thắp sáng, đốt nóng, chạy động cơ)
Trang 25+ Một số ví dụ về tài nguyên thiên nhiên, vai trò của môi trường đối vớicon người.
+ Tác động của con người đối với môi trường tự nhiên Một số biện phápbảo vệ môi trường
1.4.3 Bản chất của việc DH môn Khoa học lớp 5 theo QĐSPTT.
Dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác là cách thức giáo viên tổ chứchướng dẫn các hoạt động học tập cho học sinh thông qua việc chuyển nộidung kiến thức của bài học thành các nhiệm vụ học tập Học sinh với vai trò
là người thợ chính, tham gia tích cực và thoải mái vào quá trình học của mình(vào hoạt động: nhóm, cả lớp, trò chơi, ) để rút ra kiến thức của bài học
Dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác, không chỉ dừng lại ở việcxác định đúng các yếu tố tham gia hoạt động dạy học, chức năng riêng biệtcủa từng yếu tố và quan hệ giữa chúng, mà chủ yếu là làm rõ sự tác độngtương hỗ giữa các yếu tố tạo thành một tập hợp liên kết chặt chẽ
Từ cách tiếp cận như trên, theo chúng tôi dạy học theo quan điểm sưphạm tương tác trong dạy học môn Khoa học có thể được hiểu là hệ thốngnhững tác động qua lại lẫn nhau giữa nhiều yếu tố giữa học sinh với học sinh,giữa học sinh với giáo viên, giữa học sinh với đồ dùng trang thiết bị học tậptrong lớp học nhằm mục đích hình thành tri thức, kĩ năng, kỹ xảo Từ cáchhiểu này, chúng ta nhận thấy dạy học là một hệ thống gồm nhiều yếu tố cóquan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Theo quan điểm sư phạm tương tác, các
yếu tố tạo thành cấu trúc hoạt động dạy học gồm: Giáo viên, học sinh và môi
trường Mỗi yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học đảm nhận chức năngriêng biệt Các yếu tố không tồn tại rời rạc bên cạnh nhau mà chúng có quan
hệ chặt chẽ với nhau và luôn tác động qua lại lẫn nhau
Dạy và học là hai yếu tố chính của hệ dạy học Sự thay đổi của haiyếu tố này sẽ kéo theo sự thay đổi các yếu tố khác, đặc biệt thay đổi sự tácđộng qua lại giữa hai yếu tố dạy và học sẽ tạo nên chất lượng mới cho cả
hệ dạy học
Trang 26Môi trường trong phương pháp sư phạm tương tác là các tình huốngdạy học do giáo viên tạo ra cho học sinh, cho các nhóm học sinh hoạt động,
và những điều kiện về vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ cho công tác
dạy và học, nhằm đạt được các mục tiêu dạy học.
1.5 Thực trạng DH môn Khoa học ở tiểu học theo QĐSPTT.
Để xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã tiếnhành khảo sát thực trạng việc dạy và học của giáo viên và học sinh ở một sốtrường tiểu học tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An
- Đối tượng khảo sát: cán bộ Phòng giáo dục phụ trách tiểu học (10người), học sinh lớp 5 của một số trường tiểu học (120 em), giáo viên tiểuhọc (97 người)
- Nội dung khảo sát :
+ Sự hiểu biết của cán bộ chuyên môn, giáo viên tiểu học về QĐSPTT.+ Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên tiểu họctrong dạy học môn Khoa học
+ Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trong môn Khoa học của giáoviên tiểu học
+ Chất lượng học tập môn Khoa học của học sinh tiểu học
Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hành điều tra, khảo sát về điều kiện cơ sởvật chất, năng lực của giáo viên để xem có đủ điều kiện để vận dụng quanđiểm sư phạm tương tác vào thực tiễn dạy học môn Khoa học hay không
- Các phương pháp điều tra khảo sát :
+ Phỏng vấn một số đồng chí làm công tác chuyên môn bậc tiểu họccủa Phòng giáo dục huyện, Ban giám hiệu một số trường tiểu học về vấn đềcần khảo sát
+ Điều tra bằng Anket nhằm thu thập ý kiến của giáo viên và học sinh
về các vấn đề cần khảo sát
+ Dự giờ môn Khoa học của giáo viên tiểu học
+ Chọn mẫu khảo sát: Chúng tôi tiến hành chọn mẫu khảo sát theo cáchngẫu nhiên đại diện cho cả hai khu vực thị trấn và nông thôn
Trang 27+ Địa bàn và thời gian khảo sát: Tiến hành điều tra, khảo sát ở cáctrường tiểu học trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An vào các năm học
2010 – 2011, 2011 – 2012
Kết quả khảo sát chúng tôi phân tích ở các mặt sau:
1.5.1 Thực trạng sử dụng các PP dạy học môn Khoa học hiện nay.
Chúng ta biết rằng, môn Khoa học đưa vào dạy học ở các lớp 4,5 vớimột dung lượng kiến thức lớn Đội ngũ giáo viên có nhiều cố gắng trong việc
tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng dạy học Vềphía học sinh, các em biết làm việc tập thể, hợp tác, trao đổi, thảo luận đểkhám phá những kiến thức về khoa học
Bên cạnh những ưu điểm nói trên, việc dạy học môn Khoa học còn cónhững hạn chế nhất định làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy họcmôn học này Khó khăn lớn nhất của giáo viên trong dạy học môn Khoa học
đó là việc vận dụng các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học sao chophù hợp với từng nội dung bài học trong môn học để đạt được mục tiêu bàidạy Có những bài, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc sử dụng cácphương pháp dạy học, các hoạt động dạy học Qua điều tra khảo sát giáo viênchúng tôi có kết quả sau:
Bảng 1: Các PP mà GVTH thường sử dụng trong dạy học môn Khoa học
TT Các phương pháp dạy học Số ý kiến Tỷ lệ (%)
Trang 28Nhìn vào bảng 1 ta thấy, phần lớn giáo viên lên lớp sử dụng chủ yếu làphương pháp giảng giải (96,9%), hỏi đáp (100%) Thực chất của nhữngphương pháp này là dựa vào các hình ảnh trong sách giáo khoa giáo viên nêucâu hỏi, học sinh trả lời, giáo viên giảng giải - học sinh thụ động tiếp thu.Một số giáo viên tiểu học tâm sự rằng : “Chúng tôi ngại sử dụng vì phảichuẩn bị nhiều thứ và mất nhiều thời gian Có khi chúng tôi còn cố gắng dạynhanh để dành thời gian cho việc ôn luyện môn Toán và Tiếng Việt” và cũng
có người cho rằng “những chân lý, kiến thức khoa học ấy đã được các nhàkhoa học dày công nghiên cứu và đưa ra nên chúng ta không cần phải tổ chứccho học sinh khám phá tìm tòi, làm như vậy mất nhiều thời gian” Một số giáoviên có tâm huyết với môn học đã vận dụng những phương pháp dạy học mới
để tổ chức cho các em hoạt động (quan sát, thảo luận nhóm) nhưng những giờhọc vẫn còn lộn xộn, nói chuyện riêng chưa lôi cuốn học sinh vào bài học
Như vậy, qua sự phân tích trên chúng ta thấy: Việc thực hiện đổi mớiphương pháp dạy học đang là một vấn đề chúng ta cần phải xem lại ở nhiềugóc độ khác nhau Đặc biệt cần phải xúc tiến sử dụng các phương pháp dạyhọc mới vào giảng dạy trong môn Khoa học, tránh những ảnh hưởng tiêu cực
và thiệt thòi đối với bản thân học sinh
Trang 291.5.2 Sự hiểu biết về QĐSPTT của cán bộ, GV ở một số trường TH
Qua điều tra chúng tôi có bảng sau :
Bảng 2: Sự hiểu biết về QĐSPTT của cán bộ, giáo viên ở một số trường TH.
Như vậy kết quả trên cho thấy quan điểm sư phạm tương tác là mộtphương pháp dạy học hoàn toàn mới mẻ
1.5.3 Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học môn KH của GVTH
Bảng 3: Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học môn Khoa học
TT Các đồ dùng dạy học Số giáo viên sử dụng Tỷ lệ (%)
em sinh sống có sẵn những vật thật Tình trạng dạy chay, học chay vẫn cònkhá phổ biến, nhiều giáo viên chưa biết sử dụng đồ dùng dạy học, chưa biết
Trang 30cách tổ chức cho học sinh khai thác tri thức từ nguồn này Qua thực tế nàycho chúng ta thấy: Việc bỏ qua hoặc sử dụng không hiệu quả các đồ dùng dạyhọc đã nói lên rằng, tình hình đổi mới phương pháp dạy học trong môn Khoahọc hiện nay vẫn đang còn hạn chế, chưa áp dụng một cách có hiệu quả cácphương pháp dạy học mới để học sinh làm việc với đồ dùng học tập từ đóphát hiện ra tri thức.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát về điều kiện cơ sởvật chất ở một số trường tiểu học để xem việc vận dụng quan điểm sư phạmhọc tương tác có phù hợp với vấn đề này hay không Nhìn chung, ở cáctrường tiểu học có đủ điều kiện để đưa phương pháp này vào dạy học Hơnnữa quan điểm sư phạm học tương tác không đòi hỏi phải sử dụng những thiết
bị dạy học hiện đại, đắt tiền mà thường sử dụng những vật liệu dễ kiếm, dễtìm nên giáo viên và học sinh có thể tự sưu tầm được
1.5.4 Các hình thức tổ chức tổ chức dạy học mà giáo viên thường sử dụng khi dạy học môn Khoa học
Bảng 4 : Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học.
TT Các hình thức tổ chức dạy học
Mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không sử dụng
Trang 31tượng tự nhiên nên không lôi cuốn được các em vào quá trình tự học, tựnghiên cứu.
Từ sự phân tích trên chúng ta có thể kết luận: Ở trường tiểu học hiệnnay vẫn chưa nhiều giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học mới Bởi ởcác phương pháp dạy học mới có quan hệ gắn bó mật thiết với việc sử dụng
đồ dùng dạy học và các hình thức tổ chức dạy học trong mỗi tiết dạy
1.5.5 Chất lượng học tập môn Khoa học của học sinh tiểu học.
Qua điều tra, khảo sát cùng với sự thăm lớp dự giờ chúng tôi thấy : Họcsinh bước đầu biết làm việc tập thể, hợp tác, trao đổi, đề xuất, trình bày ý kiến
cá nhân, biết hợp tác với mọi người xung quanh để tìm kiếm tri thức Tuynhiên bên cạnh những ưu điểm nhất định thì chất lượng dạy học môn Khoahọc cũng bộc lộ những hạn chế Phần lớn các em không nắm vững được kiếnthức sau mỗi bài dạy Chúng tôi có bảng sau :
Bảng 5: Kiến thức học sinh nắm được sau khi học xong một số bài học
Kết quả kiểm tra
Giỏi (%)
Khá (%)
T.bình (%)
Yếu (%)
2 Sự chuyển thể của chất 5,55 22,22 55,55 16,66
3 Cơ quan sinh sản của thực vật có hoa 5,55 25 55,55 13,88
Nhìn vào bảng 5 chúng ta thấy : Kết quả học tập của học sinh chưa cao
Tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi rất ít, chủ yếu là khá và trung bình Trong đó, họcsinh đạt điểm trung bình, học sinh yếu chiếm tỷ lệ lớn
Qua dự giờ chúng tôi thấy: Giờ học thiếu sự sinh động, không khí giờhọc còn nặng nề Các em không được tự chủ trong việc tìm kiếm tri thức nênkhông gây được hứng thú trong học tập, thờ ơ với bài học, không thật sự chútâm Trẻ ít tò mò, ít đặt ra những câu hỏi thắc mắc và hầu như mơ hồ về biểutượng của những sự vật, hiện tượng mà các em được tìm hiểu Lập luận cònyếu, các kỹ năng, kỹ xảo thực hành còn vụng về, lúng túng, sự vận dụng
Trang 32những kiến thức mà các em thu thập được vào thực tiễn là một khoảng cáchkhá xa, bởi vì các em thiếu hẳn kỹ năng thực hành Trẻ chưa có thói quen ghilại những gì mà các em quan sát được Việc xác lập mục đích quan sát và mụcđích của thí nghiệm còn kém…
1.5.6 Đánh giá chung về thực trạng
Từ việc phân tích thực trạng trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau :
- Các phương pháp dạy học mới giáo viên đã từng bước đưa vào sửdụng trong thực tiễn dạy học môn Khoa học Phần lớn giáo viên ý thức đượcvấn đề đổi mới phương pháp dạy học, có khả năng sử dụng các phương phápdạy học mới vào thực tiễn dạy học môn Khoa học Nhưng nhìn chung họ vẫnlúng túng trong việc tổ chức các hoạt động, sử dụng những phương pháp dạyhọc mới, nên vẫn sa vào lối giảng giải, thuyết trình
- Mỗi phương pháp dạy học thì nó có những ưu điểm riêng và cũng cónhững hạn chế nhất định, không một phương pháp nào là “vạn năng” Mỗi bàihọc trong môn Khoa học nó có thể chỉ phù hợp với phương pháp dạy học này
mà kém hiệu quả đối với phương pháp kia Vì vậy quan điểm sư phạm tươngtác được sử dụng để dạy một số bài trong môn Khoa học 5 nhằm hạn chế tối
đa những phương pháp không thể phù hợp với một số hoạt động, một số bàihọc trong môn học này Qua đó phát huy tốt mức độ hứng thú học tập của họcsinh để đạt mục tiêu dạy học
-Từ việc sử dụng một số phương phương pháp dạy học không phùhợp với một số bài học nên đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng học tậpcủa học sinh
Vì vậy việc vận dụng những phương pháp dạy học mới mà trong đóhọc sinh được độc lập tự chủ, mạnh dạn nói lên những hiểu biết của mình vàđược tập thể tôn trọng, đồng thời được bảo vệ quan điểm của mình trước tậpthể mà không còn cảm thấy e ngại, rụt rè Qua đó để phát triển những kỹ năngcần thiết và khơi nguồn sáng tạo trong học tập của học sinh Khoa học chứađựng nhiều điều thú vị kèm theo sự say mê chinh phục, những thắc mắcnhững câu hỏi được đặt ra rồi lại đi tìm câu trả lời, làm cho hoạt động khám
Trang 33phá diễn ra không ngừng nơi đứa trẻ, dần dần hình thành ở các em phươngpháp học, phương pháp tiếp cận với tri thức khoa học để đáp ứng được xu thếthời đại Có như vậy mới phù hợp với bậc học tiểu học là “bậc học phươngpháp”, mặt khác phù hợp với xu thế dạy học ngày nay.
- Muốn việc vận dụng QĐSPTT đạt hiêu quả cao, trong quá trình dạyhọc phải tạo ra các tương tác phù hợp giữa người dạy, người học, môi trường
và nội dung kiến thức để các tương tác không chỉ diễn ra giữa người dạy vàngười học, người học và người học, người dạy và môi trường mà ngược lạicòn diễn ra giữa người học và người dạy, người học và môi trường, người dạytác động đến môi trường môi trường tác động đến người học - người học tácđộng đến người dạy và ngược lại
Trang 34CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 THEO
QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC
Từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học, từ đặc điểm chươngtrình và sách giáo khoa môn Khoa học và những điều kiện cụ thể của nhàtrường tiểu học Việt Nam, chúng tôi tiến hành xây dựng cách thức tổ chứccho học sinh học tập theo quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học mônKhoa học ở trường tiểu học
2.1 Yêu cầu đối với việc DH môn KH theo QĐSPTT.
Việc tổ chức dạy học môn Khoa học lớp 5 theo quan điểm sư phạmtương tác cần quán triệt các yêu cầu cơ bản sau:
2.1.1 Đảm bảo tính khoa học.
Vận dụng nguyên lý về tính Khoa học của triết học duy vật biện chứngMác – Lênin, chúng tôi xem xét hoạt động học tập của học sinh theo quanđiểm sư phạm tương tác với tư cách là một bộ phận trong hệ thống hoạt độngcủa con người, là một bộ phận của hoạt động dạy học nhưng đồng thời nó tồntại và vận động với tư cách là một hệ thống độc lập Nó chứa đựng một tậphợp các yếu tố cấu thành nó trong mối quan hệ biện chứng gắn bó lẫn nhau
Với quan điểm khoa học, việc tổ chức cho học sinh học tập theo quanđiểm sư phạm tương tác cần được xem xét trên hai phương diện: Về phươngdiện tâm lý học, nó được xem xét như là một hệ thống cấu trúc hoạt động Vềphương diện lý luận dạy học, trên cơ sở thừa nhận hệ thống cấu trúc hoạtđộng, nó được xem xét như là một hệ thống cấu trúc quá trình Vì vậy việc tổchức cho học sinh học tập theo quan điểm sư phạm tương tác có thể phân chiathành các yếu tố và xác lập nên cách thức Tổ chức dạy học môn Khoa họctheo quan điểm sư phạm tương tác phải trở thành một chỉnh thể gồm cácbước, các hoạt động khác nhau và chúng được liên kết, gắn bó, thống nhất vớinhau và phải được sắp xếp theo một trật tự nhất định
Trang 35Bên cạnh đảm bảo tính khoa học, cách thức này cần phải đảm bảo tính
cụ thể Thể hiện ở các yếu tố của cách thức (các bước, các hoạt động) phảiđược phân chia sao cho :
- Phù hợp với sự vận động nội tại của kiến thức truyền thụ và của nhậnthức học sinh
- Số lượng các bước, các thao tác vừa đủ để thực hiện hoạt động cóhiệu quả
- Nội dung các bước không quá phức tạp và cũng không quá đơn giản
để đảm bảo cho giáo viên và học sinh tiểu học thực hiện trong dạy học mônkhoa học
- Các bước phải được sắp xếp theo một cấu trúc lôgíc sao cho chúng kếtục nhau, không chồng chéo, không lặp lại
- Các thành tố trong cách thức cần được phân chia và sắp xếp sao chochúng có thể kiểm soát một cách dễ dàng, từng bước, từng thao tác cho đếnsản phẩm cuối cùng
Đảm bảo tính khoa học và tính cụ thể được coi là nguyên tắc quantrọng trong việc xác lập cách thức tổ chức dạy học môn Khoa học theo quanđiểm sư phạm tương tác
2.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn.
Cách thức đề xuất phù hợp với thực tiễn dạy học môn Khoa học và cóthể áp dụng để vào dạy học môn học này ở nhiều nhà trường tiểu học để nângcao hiệu quả dạy học
Để đạt được mục đích đó, cách thức sử dụng quan điểm sư phạm tươngtác mà chúng tôi xây dựng cần phải :
- Phù hợp với đặc điểm nội dung, chương trình môn Khoa học
- Phù hợp với đặc điểm, trình độ nhận thức của học sinh tiểu học, đảmbảo tính vừa sức đối với các em
- Phù hợp với trình độ năng lực chuyên môn với đông đảo giáo viêntiểu học, có khả năng triển khai, ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy họcmôn Khoa học ở trường tiểu học
Trang 36- Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
- Có nhiều khả năng tạo ra hiệu quả dạy học cao
Tóm lại, việc tổ chức cho học sinh học tập theo quan điểm sư phạmtương tác phải phù hợp với thực tiễn dạy học môn Khoa học và có khả năngứng dụng rộng rãi trong dạy học môn học này
2.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả
Cách thức sử dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học mônKhoa học phải đảm bảo tính hiệu quả Nó không chỉ có thể ứng dụng rộng rãi
mà còn góp phần tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học và tíchcực hóa hoạt động nhận thức của học sinh bằng các hoạt động nhóm, bằng cáctrò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy học Bên cạnh giúp học sinh lĩnhhội tri thức một cách hiệu quả, cách thức góp phần còn hình thành cho các em
kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng thực hành, kỹ năng nói viết và lập luậnKhoa học để tranh luận, phát triển năng lực quan sát, trí tưởng tượng, tư duyđặc biệt có được phương pháp học tập đúng đắn, mang lại hiệu quả cao
Tóm lại, sử dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học mônKhoa học tạo ra được hiệu quả một cách toàn diện Vừa giúp học sinh nắmvững tri thức, các khái niệm khoa học, vừa rèn luyện kỹ năng hoạt động trongcác nhóm, năng lực trình bày ý kiến của mình trước mọi người để thuyết phụcđối phương bằng những lí luận khoa học
2.2 Cách thức tổ chức dạy học môn Khoa học theo QĐSPTT.
Trên cơ sở lý luận của quan điểm sư phạm tương tác đã phân tích, kếthừa những phương pháp dạy học thông dụng, trong đề tài này, chúng tôi đềxuất cách thức tổ chức thực hiện kế hoạch bài học theo quan điểm sư phạmtương tác nhằm vận dụng vào dạy học môn Khoa học lớp 5 như sau :
Bước1 Chuẩn bị
Mục đích của bước này là định hướng cho giờ lên lớp theo quan điểm
sư phạm tương tác Do đó, giáo viên phải tiến hành các hoạt động từ việc xácđịnh mục tiêu, nội dung bài học đến việc chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết cho
Trang 37bài dạy và lựa chọn các hoạt động, dự kiến những vấn đề nảy sinh và nhữngkhó khăn trong tiết dạy để có những phương án xử lý khịp thời.
Bước này có ý nghĩa định hướng vì vậy, việc tổ chức cho học sinh họctheo quan điểm sư phạm tương tác phụ thuộc nhiều vào giai đoạn này
+ Về phía giáo viên
- Tìm hiểu những kiến thức của học sinh về vấn đề sắp học
- Lựa chọn nội dung để dạy cho phù hợp với đặc điểm nhận thức của họcsinh cũng như điều kiện cơ sở vật chất của địa phương, của nhà trường màvẫn đảm bảo được mục tiêu bài dạy
- Xác định được mục tiêu bài dạy Những kiến thức, kỹ năng, thái độ
mà học sinh cần phải đạt được sau bài học Việc xác định đúng trọng tâm bàihọc thì việc tổ chức cho học sinh học tập theo phương pháp này mới tiến hànhđúng hướng và đạt kết quả tốt
-Từ mục tiêu bài học, giáo viên lựa chọn các vật liệu, đồ dùng dạy họcnhư: đoạn dây thép, sợi dây đồng, tấm gang, quả bóng các tài liệu hợp vớitrình độ nhận thức của học sinh, điều kiện của nhà trường và của địa phương.Đây là điều kiện thuận lợi để học sinh trực tiếp thực hành trên đối tượng thật,tạo điều kiện cho các em phát huy tối đa các giác quan khác nhau tiếp xúc vớiđối tượng như: tay cầm, mắt quan sát, tai nghe Từ đó các em tranh luậnthống nhất ý kiến mà hình thành biểu tượng đầy đủ về sự vật, hiện tượngtrong tự nhiên Đồ dùng dạy học được lựa chọn phải đảm bảo tính Khoa học
và tính sư phạm
+ Về phía học sinh
- Tìm hiểu về nội dung của bài học
- Chuẩn bị về đồ dùng học tập như một số loại cây như: khúc mía, đoạndây khoai, ươm hạt đậu vào các cốc nhựa hay một số đồ vật như: hòn đávôi, viên đá cuội, bình dấm chua, quả bóng chun, dây cao su, viên ngói, tấmkính, sợi dây điện, mảnh chum sành, cái bát gốm tất cả đây là những đồdùng tốt mà dễ dàng tìm kiếm
Trang 38Bước2 Lập kế hoạch dạy học.
- Kế hoạch cần được thể hiện một cách chi tiết qua việc soạn giáo án.Trong giáo án cần chỉ rõ tiến trình của bài học bằng những hoạt động của giáoviên và học sinh, phân bố thời lượng hợp lý cho từng hoạt động, mỗi hoạtđộng thì cần chuẩn bị những thiết bị đồ dùng loại nào cho phù hợp Trong mỗihoạt động cũng phải xác định mục đích đạt được, và cũng cần lựa chọn tìnhhuống khởi động
- Cấu trúc của giáo án có thể như sau:
1 Chuẩn bị của giáo viên
2 Chuẩn bị của học sinh
III HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC:
KHỞI ĐỘNG
* Kiểm tra bài cũ
* Bài mới
Hoạt động 1 : (Mục tiêu và cách thức tiến hành, lượng thời gian)
- Công việc của giáo viên - Công việc của học sinh
Hoạt động 2: (Mục tiêu và cách thức tiến hành, lượng thời gian)
- Công việc của giáo viên - Công việc của học sinh
Hoạt động 3: (Mục tiêu và cách thức tiến hành, lượng thời gian)
- Công việc của giáo viên - Công việc của học sinh
KẾT THÚC
* Củng cố, luyện tập
* Đánh giá
Bước 3 Tổ chức các hoạt động DH trên lớp theo QĐSPTT.
Đây là giai đoạn quan trọng nhất Giáo viên phải nghiên cứu bài dạy đểlựa chọn các hoạt động dạy học cho phù hợp với từng nội dung bài học nhằm
Trang 39phát huy tối đa được hiệu quả của phương pháp dạy học mới này Cũng giốngnhư những phương pháp dạy học khác, trong quan điểm sư phạm tương tác nó
có rất nhiều các hoạt động dạy học Nhưng có thể nêu ra một số hoạt động đặctrưng như sau:
Dạy học tương tác theo nhóm đôi:
Ưu điểm:
Đây là hoạt động quan trọng của phương pháp sư phạm tương tác làbước đầu để học sinh làm quen với công việc chung, từ đó mà tổ chức cáchoạt động nhóm lớn hơn Hoạt động này nó bắt buộc bắt buộc học sinh phảisuy nghĩ, phải làm việc từ đó tạo ra sự tương tác giữa cá nhân với cá nhân đểcác em học hỏi những kiến thức của nhau và bổ sung những hạn chế, nhữngđiểm yếu của nhau Qua kết quả báo cáo của các nhóm nó sẽ tạo ra sự tranhluận tích cực giữa nhóm này với nhóm kia để hoàn thành mục tiêu bài học
Đó cũng là môi trường tương tác tốt để học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập
Cách tiến hành:
Giáo viên: Hai học sinh trong một bàn thành một cặp, và mỗi cặp phải
đảm bảo đủ dồ dùng học tập như phiếu học tập, bảng nhóm, bút, phấn Yêucầu các cặp về vị trí thảo luận Hướng dẫn các cặp thảo luận, quy định thờigian thảo luận, cuối cùng là phát lệnh để các nhóm tiến hành làm việc Trongthời gian học sinh thảo luận giáo viên quan sát các nhóm làm việc, giúp đỡkhi cần thiết
Học sinh:
+ Các cặp quay mặt vào nhau sẵn sàng nhận nhiệm vụ học tập
+ Suy nghĩ, đưa ra ý kiến của mình về vấn đề mà giáo viên nêu
+ Tranh luận để thống nhất ý kiến hoàn thành nhiệm vụ của nhóm
+ Báo cáo kết của của nhóm
+ Các nhóm nhận xét bổ sung để hoàn thành nhiệm vụ mà giáo viên nêu
Một số điểm lưu ý:
Trang 40- Giáo viên phải chọn những bài, những hoạt động, những câu hỏi trongbài học có độ khó vừa phải, có hướng mở, để đa số học sinh suy nghĩ đưa ra ýkiến của mình để tranh luận với bạn hoàn thành nhiệm vụ học tập.
- Chia nhóm thảo luận theo nhóm bàn học
- Sau mỗi tháng, giáo viên cần thay đổi chỗ ngồi cho học sinh để các
em được thường xuyên thay đổi cặp làm việc của mình để tạo ra sự tương tácmới nhằm kích thích hưng phấn hoạt động tối đa của học sinh để đạt hiệu quảdạy học cao nhất
Ví dụ 1: Bài 13 Phòng bệnh sốt xuất huyết.
Để giúp học sinh nhận biết được tác nhân gây bệnh và con đường lâytruyền bệnh sốt xuất huyết ta tổ chức hoạt động nhóm cặp như sau:
(Trích giáo án)
- Mời học sinh đọc các thông tin(lời
mẹ cháu bé, lời bác sĩ, thông tin về
bệnh)
- Yêu cầu 2HS ngồi cùng bàn thảo
luận để chọn câu trả lời đúng cho
phiếu bài tập
- Mời HS báo cáo kết quả thực hành
- GV nhận xét kết quả làm việc của