Riêng nghiên cứu thơ anh từ góc độ ngôn ngữ đến nay vẫn cha có nhiều.Trong thời gian gần đây đã có một số bài viết luận văn, luận án tìm hiểu vềngôn ngữ thơ Trần Đăng Khoa nh : Thái Thị
Trang 1Mục lục
Phần Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Nhiệm vụ, đối tợng nghiên cứu
4 Mục đích nghiên cứu
5 Phơng pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
7 Bố cục của luận văn
Chơng 1 : Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
1.1 Vài nét về tác giả và tác phẩm của Trần Đăng Khoa
1.1.1 Về tác giả Trần Đăng Khoa
1.1.2 Tác phẩm của Trần Đăng Khoa và tập thơ Góc sân và khoảng trời
1.2 Từ loại tính từ và tính từ mô phỏng trong Tiếng Việt
1.2.1 Từ loại tính từ trong tiếng Việt
1.2.2 Tính từ mô phỏng trong tiếng Việt
Chơng 2 : Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của tính từ mô phỏng
trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa
2.1 Kết quả khảo sát thống kê
2.2 Đặc điểm ngữ pháp của tính từ mô phỏng trong tập Góc sân và
khoảng trời của Trần Đăng Khoa
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của tính từ mô phỏng
2.4 Tiểu kết
Chơng 3 : Vai trò của tính từ mô phỏng trong tập thơ Góc sân và
khoảng trời của Trần Đăng Khoa
3.1 Tính từ mô phỏng với vai trò là phơng tiện thể hiện cảm xúc, sự quan
sát tinh tế, trí tởng tợng phong phú của tuổi thơ
3.2 Tính từ mô phỏng với vai trò là phơng tiện thể hiện tình cảm sâu sắc và
sự gắn bó của tác giả đối với gia đình, quê hơng
3.3 Tiểu kết
Kết luận
112344445556881215
1516
24434545
556162
Trang 2Phần Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ là tinh hoa của chữ nghĩa, ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ khônggiống nh ngôn ngữ bình thờng, nó là sự thăng hoa của tâm hồn ngời nghệ sĩ.Mỗi từ ngữ, mỗi hình ảnh, mỗi khuôn vần của thơ đều thể hiện những cungbậc tình cảm, cảm xúc khác nhau So với văn xuôi dung lợng của bài thơ ngắnhơn rất nhiều, chính vì thế để nói lên đợc những cung bậc của cảm xúc, tìnhcảm của mình thì nhà thơ dồn nén lại qua từng câu chữ Từ ngữ trong thơ giữmột vai trò vô cùng quan trọng, nó không chỉ là chất liệu để sáng tác mà còn
là phơng thiện để giải bày cảm xúc của nhà thơ
1.2 Trần Đăng Khoa đã đợc biết đến với danh hiệu cao quý – Thần đồng
thơ ca- với tập thơ đầu tay Góc sân và khoảng trời Tập thơ này đã in đậm dấu
ấn tuổi thơ của anh, đó là một tuổi thơ gắn liền với xóm làng, với những ngờithân thiết trong gia đình ở đây hồn thơ, tuổi thơ xôn xao trong từng câu chữ.Hồn thơ ấy gắn liền với những gì thân thiết nhất, đó là quê hơng và gia đình
Sự hấp dẫn của Góc sân và khoảng trời đợc thể hiện qua từ ngữ, qua những biện pháp nghệ thuật Ngôn ngữ trong Góc sân và khoảng trời mang đậm màu
sắc tuổi thơ, rất trong sáng, hồn nhiên nhng cũng đầy tinh tế, độc đáo, thú vị.Những âm thanh, hình ảnh của cuộc sống xung quanh đã bớc vào thơ Trần
Đăng Khoa một cách tự nhiên và chân thực Tính từ mô phỏng đã trở thànhmột phơng tiện đắc dụng để Khoa bộc lộ cảm xúc của mình Chính vì vậy, việc
tìm hiểu “ Tính từ mô phỏng trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần
Đăng Khoa” sẽ là cơ sở chắc chắn để chúng ta khẳng định tài năng quan sát,cách cảm nhận thế giới xung quanh của một nhà thơ thiếu nhi có một khônghai ở Việt Nam
1.3 Hiện nay nhiều bài thơ trong tập Góc sân và khoảng trời của Trần
Đăng Khoa đợc đa vào giảng dạy ở bậc tiểu học và Phổ thông cơ sở Do đó,tìm hiểu “tính từ mô phỏng” trong tập thơ này sẽ là những đóng góp bổ ích choviệc giảng dạy thơ Trần Đăng Khoa
2 Lịch sử vấn đề
Trang 3Thuở nhỏ, Trần Đăng Khoa nổi lên nh một hiện tợng thần đồng thơ ca,
đặc biệt lúc tròn mời tuổi, tập thơ của anh ra đời với tên gọi Góc sân và khoảng trời đã làm xôn xao d luận và giới văn đàn Đến nay, với những gì
Trần Đăng Khoa cho ra đời đã có không ít ý kiến của giới nghiên cứu, phêbình và bình luận Đã có trên dới hai mơi bài viết bàn về thơ Trần Đăng Khoa,trong đó có một số bài đáng chú ý nh : Xuân Diệu với bài viết : “Thơ em
Khoa- Tập thơ Góc sân và khoảng trời, NXB Kim Đồng, 1973; N.Niculin với Nhà thơ non trẻ của Việt Nam, Hào Minh dịch, Văn nghệ Hải Hng số 6, 1979; Vân Thanh với Thơ Trần Đăng Khoa- nhà thơ Việt Nam hiện đại, NXB Khoa học xã hội; Phạm Hổ Đọc lại thơ Trần Đăng Khoa (lời giới thiệu cho cuốn Góc sân và khoảng trời), NXB GD 1995; Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử với Trần Đăng Khoa trớc con đờng hình thành cá tính thơ- Sống với văn học cùng thời, NXB Văn học, 1997; Tố Hữu với Nói về thơ Trần Đăng Khoa, báo An ninh thế giới, số 116, ngày 11/3/99; Vũ Nho với Thơ Trần Đăng Khoa- Trần
Đăng Khoa thần đồng thơ ca, NXB Văn hoá thông tin, 2000 Đúng thế trên thế
giới cha có hiện tợng em bé làm thơ nh Khoa, có chăng cũng chỉ là có em làm
đợc một vài bài thơ, còn có làm cả tập thơ có vị trí thì cha có Chính vì điều đó
mà nữ đồng chí Mơđơlen- Ri phô đã viết bài : Khoa em bé thi sĩ của Việt Nam, một khúc hát nhỏ mạnh hơn bom đạn đăng trên tuần báo Nhân đạo chủ nhật (ở Pháp) Nhìn chung, tất cả các bài viết trên đều nói về cái hay, cái đẹp,
cái hấp dẫn trong thơ Trần Đăng Khoa viết ở lứa tuổi thiếu nhi Nhà thơ Tố
Hữu viết: Tập thơ Góc sân và khoảng trời có rất nhiều thơ hay, tập thơ này“ ”
có vị trí xứng đáng trong thơ Việt Nam và tôi cha thấy trên thế giới có em nào lại có những bài thơ nh vậy cả Tinh hoa văn hoá dân tộc đã dồn đúc vô một
số ít ngời, trong đó có Khoa Vũ Nho nhận định : Thơ của Trần Đăng Khoa hay cái hay đặc biệt của trẻ thơ Chỉ có những trẻ thơ có những phẩm chất tâm lý, có năng khiếu đặc biệt nh Trần Đăng Khoa mới viết đợc Qua đây ta
thấy đợc hiện tợng Trần Đăng Khoa không chỉ gây ấn tợng cho bạn đọc trongnớc mà đã gây chú ý cho cả nớc ngoài, họ đã nói về thơ anh với một niềm trântrọng đầy khâm phục Rõ ràng thơ Trần Đăng Khoa đã đợc bàn từ phơng diện
lí luận phê bình văn học
Trang 4Riêng nghiên cứu thơ anh từ góc độ ngôn ngữ đến nay vẫn cha có nhiều.Trong thời gian gần đây đã có một số bài viết luận văn, luận án tìm hiểu vềngôn ngữ thơ Trần Đăng Khoa nh : Thái Thị Thuỷ Vân với “Đặc điểm ngôn
ngữ thơ Trần Đăng Khoa trong tập Góc sân và khoảng trời,” (2001), Phan Thị Thanh Tâm với Bức tranh làng quê qua từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa, và Phạm Thị Linh với Đặc điểm từ ngữ chỉ thế giới loài vật trong thơ Trần Đăng Khoa (2009) Tác giả Thái Thị Thuỷ Vân đi sâu vào tìm hiểu ph-
ơng diện thể loại, đặc điểm ngôn ngữ thơ: vần, nhịp, cấu trúc… tác giả PhanThị Thanh Tâm đã tiếp cận nét độc đáo của thơ Trần Đăng Khoa qua lớp từ chỉmàu sắc, còn Phạm Thị Linh lại đi vào khám phá thơ Trần Đăng Khoa qua lớp
từ chỉ loài vật
Nh vậy, điểm lại những công trình nghiên cứu về thơ Trần Đăng Khoa nói
chung và tập thơ Góc sân và khoảng trời nói riêng, chúng tôi thấy cha có công
trình nào tìm hiểu tính từ mô phỏng Do đó chúng tôi chọn đề tài “Tính từ mô
phỏng trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần đăng Khoa” làm đối tợng
nghiên cứu,
3 Đối tợng, mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiờn cứu
Đối tượng nhiờn cứu của đề tài là cỏc tớnh từ mụ phỏng trong tập Gúc sõn
và khoảng trời của Trần Đăng Khoa Tớnh từ mụ phỏng được nghiờn cứu ở cả
cỏc đặc điểm (ngữ nghĩa và ngữ phỏp) và vai trũ của nú
3.2 Mục đích nghiờn cứu
Nghiờn cứu đề tài này nhằm mục đớch tỡm hiểu cỏc đặc điểm (ngữ phỏp
và ngữ nghĩa) và vai trũ của tớnh từ mụ phỏng trong tập Gúc sõn và khoảng trời của Trần Đăng Khoa Qua đó để rút ra những đặc trưng ngôn ngữ thơ Trần Đăng Khoa trong tập Gúc sõn và khoảng trời trờn phương diện ngụn ngữ
và khám phá những nét riờng của một nhà thơ thiếu nhi đú là sự quan sỏt, cảmnhận thế giới khỏch quan qua con mắt của trẻ thơ được thể hiện ở cỏch sửdụng từ ngữ hỡnh ảnh
4 Nhiệm vụ nghiờn cứu
Trang 5- Thống kờ, phõn loại cỏc tớnh từ mụ phỏng trong tập thơ Gúc sõn và khoảng trời của Trần Đăng Khoa
- Phõn tớch, miờu tả đặc điểm ngữ phỏp, đặc điểm ngữ nghĩa của tớnh từ
mụ phỏng trong Gúc sõn và khoảng trời của Trần Đăng Khoa
- Tỡm hiểu vai trũ mụ phỏng của lớp tớnh từ mụ phỏng trong tập thơ Gúc sõn và khoảng trời của Trần Đăng Khoa
- So sánh Trần Đăng Khoa với một số nhà thơ khác viết về thiếu nhi đểthấy đợc cái riêng của Trần Đăng Khoa
5 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện khoỏ luận này chỳng tụi đó sử dụng cỏc phương phỏp:
- Phương phỏp thống kờ, phõn loại
- Phương phỏp phõn tớch, miờu tả, tổng hợp
- Phương phỏp so sỏnh đối chiếu
6 Đóng góp của luận văn
Đề tài của chỳng tụi là công trình đầu tiờn đi sõu khỏm phỏ một nột đặc
sắc của ngụn ngữ thơ Trần Đăng Khoa trong tập Gúc sõn và khoảng trời đú là
tớnh từ mụ phỏng Do đú đề tài cú những đúng gúp nhật định cho việc phõntớch ngụn ngữ thơ núi chung và ngụn ngữ thơ Trần Đăng Khoa núi riờng ínghĩa thiết thực của đề tài ở chỗ gúp phần vào việc phõn tớch cú hiệu quả cỏc
bài thơ của Trần đăng Khoa trong tập Gúc sõn và khoảng trời được giảng dạy
ở bậc tiểu học và phổ thụng để học sinh thấy được cỏi hay cỏi đẹp, cỏi tài củathần đồng thơ ca này
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết kuận, luận văn gồm có ba chơng:
Chơng 1: Những vấn đề liên quan đến đề tài
Chơng 2 : Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của tính từ mô phỏng trong tập
thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa.
Chơng 3: Vai trò của tính từ mô phỏng trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa.
Trang 6Chơng 1 những vấn đề chung liên quan đến đề tài
1.1 Vài nét về tác giả và tác phẩm
1.1.1 Vài nét về tác giả Trần Đăng Khoa
Trần Đăng Khoa (26/4/1958), quê ở làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyệnNam Sách, tỉnh Hải Dơng Nh biết bao nhà thơ khác, quê hơng của Trần ĐăngKhoa cũng là đồng bằng chiêm trũng Sinh ra và lớn lên trong một gia đìnhnông dân nghèo, giữa một vùng quê nghèo nhng truyền thống gia đình, bảnsắc của quê hơng, bản quán đã ảnh hởng rất lớn đến hồn thơ Trần Đăn Khoa.Một ngời mẹ hiền hậu, tần tảo lao động, thơng yêu con với những câu Kiều m-
ợt mà hàng ngày vẫn đa Khoa vào giấc ngủ khi còn bé thơ Ngời anh cả làTrần Nhuận Minh vốn yêu thích văn thơ từ nhỏ, ham sách vở nên Khoa có
điều kiện tiếp xúc với sách vở, quen với những vần thơ từ rất sớm Một làngquê với những cảnh vật, những âm thanh quen thuộc, gần gũi nhất đối vớiKhoa đã đi vào thơ anh một cách nhẹ nhàng và tự nhiên Những âm thanh,hình ảnh ấy đi vào lòng ngời đọc với tất cả sự sinh động, háo hức nh nó vốntồn tại Dới con mắt của cậu bé với tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc và tinh tếnhững hiện tợng xảy ra xung quanh và đặc biệt là những âm thanh, hình ảnhgắn liền với làng quê nghèo mà chan chứa yêu thơng, gắn bó thì tất cả đều hấpdẫn, cuốn hút cậu Đọc thơ Khoa chúng ta thấy những hình ảnh, âm thanhquen thuộc ở làng quê hiện lên thật sinh động qua những từ thuộc nhóm tính từmô phỏng
Hoà mình với nỗi đau chung của dân tộc, không cam chịu khi nhìn quêhơng đang rỉ máu dới ma bom, bão đạn Trần Đăng Khoa đã cùng với nhữngngời con anh hùng của dân tộc đã băng vào chiến trờng, chung một chiến hàovới đồng chí, đồng bào để đánh đuổi giặc Mĩ xâm lợc và bè lũ tay sai để giànhlại độc lập tự do cho dân tộc Năm 1975, khi đang học cuối cấp III Khoa đãxung phong đi bộ đội, Khoa tham gia làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia,sống cuộc đời ngời lính quần đảo Trờng Sa Dù đi đâu và làm gì thì Khoa vẫnmang bên mình cây bút và tập giấy để tiếp tục theo đuổi đam mê và ớc vọngcủa mình
Sau khi giải ngũ, Trần Đăng Khoa đợc nhà nớc cử đi học ở trờng viếtvăn Nguyễn Du rồi lại đợc cử sang Liên Xô học Trờng viết văn Goorky Hiệnnay Trần Đăng Khoa đang công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội và anh vẫntiếp tục thử nghiệm ngòi bút của mình ở các lĩnh vực khác nhau, chúng ta đang
Trang 7đón đợi những thành công mới của Trần Đăng Khoa trên bớc đờng nghệ thuậtcủa mình.
1.1.2 Tác phẩm của Trần Đăng Khoa v à tập thơ Gúc sõn và khoảng trời
1.1.2.1 Tỏc phẩm của Trần Đăng Khoa
So với thực tiễn sáng tác của các văn nghệ sĩ khác, Trần Đăng Khoakhông có số lợng tác phẩm trải đều qua các thời kì Nhắc đến Trần ĐăngKhoa ngời ta không thể không nhắc đến những bài thơ hồn nhiên dành cho độcgiả nhí Và cho đến ngày nay, nhà thơ vẫn cha thoát xác khỏi sự ảnh hởngnày
Tháng 9/1968 tác giả giáo dục tỉnh Hải Dơng xuất bản tập thơ Góc sân
và khoảng trời gồm 52 bài thơ do Lê Thờng giới thiệu – qua 36 lần tái bản,
tập thơ đã lên tới 108 bài
Sau tập thơ đầu tay Trần Đăng Khoa tiếp tục cho ra đời các tập thơ khác
nh : Thơ Trần Đăng Khoa (Tập 1-1970), Bờn cửa sổ mỏy bay (1980), Thơ Trần Đăng Khoa (Tập 2-1983)… và rất nhiều tập thơ của anh đ và rất nhiều tập thơ của anh đợc xuất bản ra
nớc ngoài và cú bài như bài Thơ tỡnh người lớnh biển đó được nhạc sĩ Hoàng
Hiệp phổ nhạc thành một bài hỏt rất nổi tiếng
Bên cạnh sáng tác thơ, Trần đăng Khoa đã và đang thử nghiệm ngòi bútcủa mình qua những thể loại khác nhau, tuy cha có nhiều thành công nhngnhững tác phẩm mang dấu ấn cá nhân, chẳng hạn nh thể trờng ca, tác giả đã cónhững tác phẩm có quy mô lớn nh :
- Trờng ca Trừng phạt
- Trờng ca Khúc hát ngời anh hùng
- Trờng ca Giông bão
Hoặc ở thể loại phê bình, gần đây nhất xuất hiện cuốn Chân dung và đối thoại (1988).
Đảo chỡm - tập truyện - ký, đến đầu năm 2009 đó được tỏi bản lần thứ 25.
Có thể nói sáng tác nhiều nhất và cũng là mảng sáng tác đặc sắc nhất lànhững bài thơ viết cho thiếu nhi ở những bài thơ đó với một tâm hồn bay bổng,hồn nhiên Trần Đăng Khoa đã sử dụng những từ ngữ có sức gợi lên hình ảnh,
âm thanh rất sinh động Tính từ mô phỏng là phơng tiện hữu hiệu để Trần
Đăng Khoa ghi lại những gì mình đã nghe đợc, mình quan sát đợc
Năm 2000, anh đó được nhà nước trao tặng Giải thưởng Nhà nước đợt I
cho ba tập thơ Gúc sõn và khoảng trời, Bờn cửa sổ mỏy bay và Tuyển thơ Trần Đăng Khoa (1966- 2000)
Trang 81.1.2.2 Tập thơ Gúc sõn và khoảng trời
Ngay từ khi cũn đi học lớp một, mới lờn tỏm tuổi, thơ Khoa đó được đăngbỏo và những bài thơ của anh thời kỡ ấy đó được tập hợp để in thành một tập
thơ dày dặn cũng đó rất nổi tiếng, tập thơ cú tờn Gúc sõn và khoảng trời Tập
thơ đã thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế đối với những diễn biễn của đờisống của những cảnh vật, âm thanh hàng ngày đang tác động trực tiếp đến cácgiác quan của Khoa Tên tuổi Trần Đăng Khoa ngày nay còn gắn chặt với
những bài thơ trong tập Góc sân và khoảng trời nh bài Hạt gạo làng ta, Mẹ
ốm, Khi mẹ vắng nhà, Đêm Côn Sơn.
Năm 1968, khi Trần Đăng Khoa trũn mười tuổi, Gúc sõn và khoảng trời được in lần đầu gồm 52 bài với số lượng 10.000 cuốn, năm 1973, Gúc sõn và khoảng trời được bổ sung thành 66 bài, in với số lượng 50.000 cuốn Thế là từ
đấy, tập thơ này mỗi năm được đều được bổ sung thờm và in lại nhiều lần ởnhững nhà xuất bản khỏc nhau, Cho đến lần in năm 2002 là lần thứ 50 với sốlượng bài thơ trong tập thơ là 108 bài, đõy là con số kỉ lục cho những cuốnsỏch đợc tỏi bản nhiều lần ở nước ta
Đọc Gúc sõn và khoảng trời chỳng ta sẽ thấy hiện lờn cả một thế giới con
người và sự vật mà trong đú con người nào cũng để lại một dấu ấn tốt đẹptrong con mắt của thi sĩ tớ hon trần Đăng Khoa, cũn sự vật thỡ hầu như tất cảđều đó được nhõn cỏch hoỏ, trở thành những người bạn bố thõn thiết, khụngthể xa rời, và điều đặc biệt là tất cả đều nằm trong tầm nhỡn của tỏc giả, tầmnhỡn của đụi mắt trẻ thơ Đú là con bướm vàng, cỏi sõn, dũng sụng Kinh Thầy,
con chim, con gà, vườn cải, cõy đa, con trõu, cõy trầu… Thơ trong Gúc sõn và khoảng trời là thơ của tuổi thơ viết về tuổi thơ, nhưng đú là tuổi thơ của một
thời mà đất nước ta đang trong chiến tranh chống xõm lăng, lửa đạn nổ ngỳttrời Đú là thời mà từ những anh trai làng đến cỏc sinh viờn đại học và cả
những người thầy của Khoa đều phải lờn đường ra trận Đọc lại Gúc sõn và khoảng trời chỳng ta thấy thơ Trần Đăng Khoa thuở tuổi lờn mười thật là trẻ
con nhưng cũng thật là người lớn Nếu lấy con mắt của người đọc là trẻ emhụm nay để núi thỡ đấy là tập thơ của của một chỳ bộ già trước tuổi Hay núicỏch khỏc là Trần đăng Khoa đó thành người lớn từ khi cũn là trẻ con, Nhưng
Trang 9vấn đề là chúng ta phải đặt tập thơ khi nó ra đời và hoàn cảnh lịch sử xã hộilúc bấy giờ của một đất nước đang chiến tranh, người người đi ra trận, đến cảchú chó Vàng thân yêu của tác giả cũng bị chết vì bom Mĩ thì sự ra đời củanhững bài thơ như vậy là điều tất yếu Chính những bài thơ được tập hợp lại
trong Góc sân và khoảng trời đã làm nên một thần đồng thơ Trần Đăng Khoa
ngày nào
Đã từ lâu nhiều bài thơ rút trong tập Góc sân và khoảng trời của Trần
Đăng Khoa được đưa vào chương trình học ở bậc tiểu học và trung học như :
Mẹ vắng nhà, Mẹ ốm, Hạt gạo làng ta, Đêm Côn Sơn, Nghe thầy đọc thơ…
Đó là biểu hiện sự thành công trong sự nghiệp sáng tác văn học của nhà thơthiếu nhi Trần Đăng Khoa
Năm 2000, Góc sân và khoảng trời là một trong ba tập thơ của Trần
Đăng Khoa được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật
1.2 Về tõ lo¹i tÝnh tõ và tính từ mô phỏng trong tiếng Việt
1.2.1 Về từ loại tính từ trong tiếng Việt
Tính từ là một trong ba từ loại cơ bản của tiếng Việt, nó đã được các nhàngữ pháp nghiên cứu từ lâu cùng với danh từ, động từ Có thể kể tên một sốtác giả tiêu biểu như : Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban,Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Phan Thiều, Đinh Văn Đức, Hoàng Tuệ, Lê Biên,Hoàng Văn Thung, Lê A, Đỗ Thị Kim Liên, Chu BÝch Thu…
1.2.1.2 Phân loại tính từ
Khi phân loại tính từ c¸c nhà nghiên cứu dựa trên những tiêu chí kh¸cnhau nªn ph©n lo¹i cã kh¸c
Trang 10Tỏc giả Diệp Quang Ban trong cuốn giỏo trỡnh Ngữ phỏp tiếng Việt (tập 1)
đó phõn chia tớnh từ thành hai lớp: lớp từ chỉ đặc trưng xỏc định thang độ vàlớp từ chỉ đặc trưng khụng xỏc định
- Lớp từ chỉ đặc trưng khụng xỏc định thang độ là những tớnh từ chỉ đặc
trưng khụng biểu thị ý nghĩa thang độ tự thõn, kết hợp với phụ từ: rất, hơi khớ, quỏ… gồm cú bảy loại nhỏ :
1 Tớnh từ chỉ phẩm chất: tốt, đẹp, xấu, hốn…
2 Tớnh từ chỉ đặc trưng cường độ: mạnh, yếu, lạnh…
3 Tớnh từ chỉ dặc trưng hỡnh thể: vuụng, trũn, thẳng…
4 Tớnh từ chỉ đặc trưng màu sắc: xanh, đỏ, tớm, vàng…
5 Tớnh từ chỉ đặc trưng về lượng: nhiều, ớt, rậm, thưa…
6 Tớnh từ chỉ đặc trưng õm thanh: ồn, im, vắng…
7 Tớnh từ chỉ đặc trưng mựi vị: thơm, thối, cay, đắng…
- Lớp từ chỉ đặc trưng có xác định thang độ: lớp tớnh từ này chỉ đặc trưngđồng thời biểu thị thang độ của đặc trưng trong ý nghĩa tự thõn, thường là ở
mức độ tuyệt đối Do đú, chỳng khụng kết hợp với phụ từ mức độ như: rất, hơi, quỏ, khớ, lắm… và cũng khụng đũi hỏi thực từ đi kốm để bổ nghĩa Trong
lớp từ này cú cỏc nhúm :
+ Chỉ đặc trưng tuyệt đối : số lượng từ trong nhúm rất hạn chế: riờng, chung, cụng, tư, chớnh, phụ… chỳng thường dựng kốm với danh từ hoặc với
động từ để bổ nghĩa cho danh từ, động từ
+ Chỉ đặc trưng tuyệt đối khụng làm thành cặp đối lập Cỏc từ trong
nhúm này thường là từ lỏy hoặc từ ghộp: đỏ lũm, trắng phau, đen sỡ…
í nghĩa đặc trưng tự thõn ở thang độ tuyệt đối khụng được đặt vào thếđối lập so sỏnh nhúm từ này khụng kết hợp với phụ từ chỉ trỡnh độ
+ Chỉ đặc trưng mụ phỏng : cỏc từ trong nhúm cú cấu tạo theo lối mụphỏng trực tiếp đặc trưng õm thanh theo lối biểu trưng õm – nghĩa, mụ phỏng
giỏn tiếp đặc trưng hỡnh thể của sự vật, hành động hoặc tớnh chất : ào ào, đựng đựng, lố tố, lờnh khờnh… Tỡnh từ chỉ đặc trưng mụ phỏng cú thể kết hợp hạn chế với phụ từ: hơi.
Trang 11Cũng theo cách phân loại này có các tác giả nh Lê Biên, Hoàng Văn
Thung, Lê A Tác giả Lê Biên gọi hai tiểu loại tính từ này là tính từ chỉ đặc
ng tính chất tuyệt đối (không đợc đánh giá theo thang độ) và tính từ chỉ đặc
tr-ng thuộc về phẩm chất (đợc đánh giá theo thatr-ng độ) Theo ôtr-ng tính từ khôtr-ng
đợc đánh giá theo thang độ gồm các tính từ:
- Công, chung, riêng, t…
- Trống, mái, đực, cái…
- Trắng toát, đỏ au, xanh lè…
Tính từ đợc đánh giá theo thang độ gồm các lớp:
- Chỉ đặc trng màu sắc
- Chỉ đặc trng thuộc tính vật lý
- Chỉ đặc trng thuộc về trạng thái tâm lý, tình cảm
- Chỉ trạng thái của sự vật
Hai tỏc giả Hoàng Văn Thung, Lờ A trong cuốn Ngữ phỏp tiếng Việt
cũng chia tớnh từ thành hai nhúm: tớnh từ chỉ tớnh chất khụng cú mức độ vàtớnh từ chỉ tớnh chất cú mức độ
- Tớnh từ chỉ tớnh chất khụng cú mức độ (trong ý nghĩa tự thõn): tốt, xấu, thụng minh… những tớnh từ này chiếm số lượng lớn và cú thể kết hợp với từ chỉ mức độ (rất) tốt, (hơi) xấu… Tớnh từ chỉ tớnh chất khụng cú mức độ gồm
hai nhúm:
+ Nhúm chỉ tớnh từ được định tớnh bằng cỏch kết hợp với danh từ (biểu
thị phương tiện - sự vật mang tớnh chất nờu trong tớnh từ): xấu (người) đẹp (nết), cao (tuổi)…
+ Nhúm chỉ tớnh chất được định lượng bằng cỏch kết hợp với từ chỉ sốlượng và danh từ chỉ đơn vị (biểu thị lượng tớnh toỏn, do lượng tớnh chất nờu
trong tớnh từ): cao (2m), nặng (vài kg)…
- Tớnh từ chỉ tớnh chất cú mức độ (tăng hay giảm so với tớnh chất khụng
cú mức độ trong ý nghĩa tự thõn của tớnh từ) những tớnh từ này khụng kết hợpvới từ đi kèm chỉ mức độ Tớnh từ chỉ tớnh chất mức độ bao gồm:
+ Nhúm chỉ tớnh chất ở mức độ tuyệt đối: cụng, tư, riờng… cỏc tớnh chất trong nhúm làm thành từng cặp trỏi nghĩa: cụng/tư, riờng/chung…
Trang 12+ Nhóm chỉ tính chất ở mức độ tuyệt đối (so với tính chất không có mức
độ tăng hoặc giảm nghĩa): đỏ lòm, xanh lè, ngang phè…
+ Nhóm chỉ tính chất mô phỏng: ào ào, lênh láng, nhoang nhoáng…
Các tính từ trong nhóm cấu tạo theo kiểu láy mô phỏng âm thanh hoặchình tượng để biểu trưng tính chất
* Phân loại tính từ theo “loại” tính chất biểu thị trong ý nghĩa của từ:
+ Nhóm chỉ phẩm chất: tốt, xấu, tầm thường…
+ Nhóm chỉ tính chất về cường độ, nhiệt độ: mạnh, yếu, nóng, lạnh… + Nhóm chỉ tính chất về hình thể: vuông, tròn, thẳng, cong…
+ Nhóm chỉ tính chất về màu sắc: xanh, đỏ, đậm…
+ Nhóm chỉ tính chất về âm thanh: ồn, im, vắng…
Cßn tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt
đã ph©n tÝnh tõ thµnh c¸c tiÓu nhãm:
- Nhóm tính từ chỉ tính chất - phẩm chất: thường đánh giá phẩm chất sự
vật: tốt, xấu, đẹp, giàu, sang…
- Nhóm tính từ chỉ trạng thái thường chỉ trạng thái, nhất định của sự vậtkhi hành động
- Nhóm tính từ chỉ kích thước, số lượng của sự vật: to, nhỏ, nặng, nhẹ, ít, nhiều…
- Nhóm tính từ chỉ màu sắc thường chỉ màu sắc sự vật: đỏ, xanh, trắng…
* Tính từ song tiết thường là từ láy: chon von, chênh vênh, gập ghềnh, gồ ghề, thơ thẩn… Đây là nhóm từ chiếm số lượng lớn mang ý nghĩa phức tạp
trong các kết hợp cụ thể, vì vậy cần có sự nghiên cứu sâu về khả năng kết hợpcủa lớp từ này Trong văn bản nghệ thuật, lớp từ này được sử dụng với tấn sốcao và có vai trò, chức năng biểu cảm lớn
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên không phân chia tính từ thành hai nhóm nhưDiệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, Lê A, Lª Biªn mà tác giả phân chia tính
từ thành bốn tiÓu nhóm khác nhau Tuy nhiên, điều đáng lưu ý trong cáchphân chia của tác giả đó là tuy không trực tiếp đề cập đến lớp từ mô phỏng
Trang 13thuộc một tiểu loại của tớnh từ nhưng đó đưa thành một mục riờng và gọi làtớnh từ song tiết
Riêng tỏc giả Đinh Văn Đức khi nghiờn cứu về từ loại tớnh từ đó khụngđưa ra mục phõn chia tiểu loại cụ thể cho tớnh từ nhưng chỳng tụi nhận thấytỏc giả cũng đó đề cập đến tiểu loại lớp từ mụ phỏng thuộc từ loại tớnh từ và cútờn gọi là tớnh từ mụ phỏng
Như vậy, chỳng tụi nhận thấy hiện nay cú nhiều cỏch phõn loại tớnh từkhỏc nhau, mỗi cỏch phõn loại đều dựa trờn một tiờu chớ nhất định Riờngchỳng tụi khi chọn đề tài này là cũng đó thừa nhận một tiểu loại tớnh từ cú tờn
tiếp Trong từ mô phỏng có một số từ có đặc trng danh từ nh : cốc, mèo, quạ, bìm bịp, cót két… và rất nhiều tập thơ của anh đ một số có đặc trng của động từ nh: gù, hí…còn phần lớn từ
mô phỏng có đặc trng của tính từ
Theo các tác giả Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban và Đinh Văn Đứcbản chất ngữ pháp của từ mô phỏng không thuần khiết và khó định loại nhngnhìn chung có thể xếp đại bộ phận từ mô phỏng vào tính từ
Tên gọi tính từ mô phỏng đợc chúng tôi dùng theo cách gọi trong phân
loại của các tác giả: Nguyễn Kim Thản trong cuốn Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban trong cuốn giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt (Tập 1)
và tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại).
Tác giả Diệp Quang Ban viết: tính từ mô phỏng có ý nghĩa khái quát là ýnghĩa đặc trng ý nghĩa đặc trng của tính từ mô phỏng có tính chất tuyệt đối
[2, tr 105 ] Tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại) cho rằng: Tính từ mô phỏng là những từ mô phỏng mang ý nghĩa đặc trng đã
có đầy đủ đặc điểm ngữ pháp của từ loại tính từ - trong khả năng kết hợp cũng
Trang 14Tác giả Diệp Quang Ban khẳng định : Căn cứ vào cấu tạo, các từ mô phỏng thờng có cơ chế láy âm, ranh giới giữa từ mô phỏng với từ láy đích thực khó xác định Tuy nhiên, trong từ láy mô phỏng không thể xác định đợc tiếng gốc và tiếng láy nh trong các từ láy đích thực Các tiếng trong từ láy mô phỏng không có nghĩa, chúng vốn là những âm thanh hiện thực đợc cải tạo phù hợp với cơ chế láy để tạo ra sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trng [2, tr 105].
Tác giả cho rằng tính từ mô phỏng có cơ chế láy ngữ âm và có điểm khác biệt
với từ láy đích thực Tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại) cũng cho rằng tính từ mô phỏng cũng có cơ chế láy âm Tính từ mô phỏng
đều chỉ đặc trng của những khái niệm đợc biểu đạt bằng danh từ và động từ trong tiếng Việt, chúng tồn tại dới dạng láy [7, tr 158] Trong cuốn Từ láy tiếng Việt tác giả Hoàng Văn Hành khi nhận xét về cấu tạo của từ tợng thanh đã phát biểu : Phần lớn các từ tợng thanh đều là từ song tiết, có hình thức láy, gần gũi với cơ chế tạo từ láy và có thể xem là lớp từ láy biểu trng hóa ngữ âm
Chức năng cú pháp của tính từ mô phỏng cũng giống chức năng của từ
loại tính từ Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: Tính từ mô phỏng dùng làm từ kèm bổ nghĩa cho danh từ hoặc động từ và làm vị ngữ trong câu.
Tác giả Đinh Văn Đức cũng có quan điểm chung với tác giả Diệp Quang
Ban, ông cho rằng : Tính từ mô phỏng làm vị ngữ trong câu và làm định ngữ cho danh từ và động từ
1.2.2.3 Phân loại tính từ mô phỏng
Nhìn chung khi phân loại tính từ mô phỏng các tác giả đều thống nhất chorằng tính từ mô phỏng gồm hai tiểu loại đó là tính từ mô phỏng âm thanh (từ tợngthanh) và tính từ mô phỏng hình ảnh (từ tợng hình) Tác giả Đinh Văn Đức nói :
Tính từ mô phỏng đều chỉ những đặc trng của những khái niệm đợc biểu đạt bằng danh từ và động từ trong tiếng Việt, chúng tồn tại dới dạng láy, đợc gọi là từ tợng thanh và từ tợng hình [7, tr 158] Tác giả Diệp Quang Ban cũng đề cập đến tiểu loại của tính từ mô phỏng Lớp từ mô phỏng- từ tợng thanh hay từ tợng hình- là một lớp từ có tính chất đặc biệt cả về cấu tạo, về ý nghĩa khái quát từ vựng – ngữ pháp và về giá trị phong cách sử dụng trong ngôn ngữ Đây là một lớp từ có
Trang 15vá ng÷ ©m m« pháng theo lèi trùc tiÕp (tîng thanh) hoÆc m« pháng theo lèi gi¸n tiÕp (tîng h×nh) [2, tr 104].
Trang 16Chơng 2
Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của tính từ
mô phỏng trong tập thơ Góc sân và khoảng trời
của Trần Đăng Khoa 2.1 Kết quả khảo sát
Tỷ lệ số lần từ môphỏng/ 1 bài
84 378 4,5
Bảng 3:
Tổng số lần xuấthiện từ mô phỏng
Tính mô phỏng
âm thanh
Tính từ môphỏng hình ảnh
Nhận xét:
Tính từ mô phỏng chiếm một số lợng lớn trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa Tập thơ Góc sân và khoảng trời gồm 108
bài, trong đó 84 bài có sự xuất hiện của tính từ mô phỏng, chiếm 78% Đây làmột con số đáng lu ý vì sự xuất hiện của lớp tính từ mô phỏng ở hầu khắp các
bài thơ trong Góc sân và khoảng trời Số lần tính từ mô phỏng có trong Góc sân và khoảng trời là 378 lần trong đó 164 lần là tính từ mô phỏng âm thanh,
chiếm 43%, 214 lần là sự xuất hiện của tính từ mô phỏng hình ảnh, chiếm57% Qua sự thống kê, chúng ta có thể nhận thấy tính từ mô phỏng xuất hiện
với tần số rất cao trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa.
Tính từ mô phỏng hình ảnh chiếm số lợng nhiều hơn so với tính từ mô phỏng
âm thanh Chính vì sự xuất hiện nhiều của tính từ mô phỏng trong thơ trần ĐăngKhoa nên chúng tôi nhận thấy đây là một trong những đặc điểm ngôn ngữ đángchú ý của thơ anh Tính từ mô phỏng đợc Trần Đăng Khoa sử dụng một cáchhiệu quả, nó thể hiện đợc một hồn thơ trong sáng, hồn nhiên nhng cũng thật sâusắc Có nhiều bài tính từ mô phỏng xuất hiện một cách dày đặc mang lại cho bài
thơ sức hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc Bài thơ Tiếng nói là một điển hình:
Trang 17à uôm, ếch nói ao chuôm Rào rào, gió nói cái vờn rộng rênh
Âu âu, chó nói đêm thanh
Tẻ … te te … gà nói sáng banh ra rồi
Vi vu, gió nói mây trôi Thào thào, trời nói xa vời mặt trăng
Hay trong bài Đập cửa Diêm Vơng tác giả cũng sử dụng rất nhiều tính từ
mô phỏng :
Tiếng bèn bẹt, những bàn tay già Tiếng sầm sập, những bàn tay mang chửa Tiếng cộc cộc, những con ngựa gỗ
Tiếng rào rào, những cành cây Tiếng ầm ầm, đất bắn, ngói bay
Thành một âm thanh chát choang, nhức nhối
Mỗi câu thơ trong bài đều có một tính từ mô phỏng
2.2 Đặc điểm ngữ pháp của tính từ mô phỏng trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa
2.2.1 Tính từ mô phỏng đứng trớc và sau danh từ làm định ngữ cho danh từ
a.Tính từ mô phỏng đứng trớc làm định ngữ cho danh từ
Tiếng chim vách núi nhỏ dần
Rầm rầm tiếng suối khi gần khi xa
Ngổn ngang đất đá công trờng
(Nhận th anh)
Trang 18Tính từ mô phỏng “ngổn ngang” làm định ngữ cho danh từ đất đá“ ” và
đứng trớc danh từ này
Tính từ mô phỏng đứng trớc danh từ nhằm mục đích nhấn mạnh những âm
thanh hay hình ảnh, tính chất, đặc trng của danh từ đó Cái đặc trng ngổn ngang của
đất đá công trờng đã đợc ngời đọc chú ý và dờng nh đó cũng là dụng ý của tác giả
Sự khó khăn, vất vả mà anh trai Khoa phải chịu đựng đợc thể hiện một phần cách
dùng từ ngữ của Khoa Đọc câu thơ Ngổn ngang đất đá công trờng chắc chắn ngời
đọc sẽ chú ý ngay đến cái ngổn ngang, cái địa hình phức tạp ở nơi anh trai Khoa làm việc Không phải là Tiếng suối rầm rầm khi gần khi xa mà là Rầm rầm tiếng suối khi gần khi xa bởi cái chủ đích của tác giả là làm nổi bật đợc âm thanh của tiếng
suối trong một không gian tĩnh lặng - Côn Sơn
Đủng đỉnh đàn bò về
Lông hồng nh đốm lửa
(Cây đa)Khoa đã cảm nhận đợc sự thảnh thơi, an nhàn của đàn bò trong những
ngày mùa đã hoàn tất qua cái dáng diệu đủng đỉnh của chúng trên con đờng làng trở về nhà Ngời đọc không chỉ chú ý đến đàn bò trở về với bộ Lông hồng
nh đốm lửa mà còn chú ý đến cả dáng điệu, bớc đi của chúng Do tính từ mô phỏng “đủng đỉnh” đứng trớc danh từ đàn bò mà ta có thể cảm nhận đợc đầy
đủ hơn, trọn vẹn hơn cái thảnh thơi rất đỗi vô t ấy của đàn bò Nếu nh Khoa
viết Đàn bò đủng đỉnh về hay Đàn bò về đủng đỉnh thì câu thơ sẽ không mất
đi ý nghĩa nhng cái hấp dẫn của câu thơ sẽ mất đi Đủng đỉnh đứng trớc danh
từ nhằm tạo ấn tợng sâu đậm hơn trong lòng ngời đọc về một đàn bò với tất cả
sự thong thả, không hề vội vàng để thấy đợc cảnh thanh bình ở làng quê
Trong tập Góc sân và khoảng trời chúng ta có thể nhận thấy sự xuất hiện
của mô hình kết hợp tính từ mô phỏng đứng trớc danh từ và làm định ngữ chodanh từ rất nhiều Với cách kết hợp này Trần Đăng Khoa nhằm hớng đến miêutả những đối tợng là con ngời, là cảnh vật xung quanh mình với mục đích nhấnmạnh đặc trng của các đối tợng đó Lê Anh Xuân là nhà thơ có tên tuổi, nhà
thơ có những bài thơ còn in đậm trong lòng ngời đọc Bài thơ Dừa ơi của Lê
Anh Xuân là một trong những bài ghi lại dấu ấn, tên tuổi của tác giả với bạn
Trang 19Khi sáng tác Góc sân và khoảng trời Trần đăng Khoa chỉ là một cậu bé
nhng cậu đã làm đợc những điều nh nhà thơ ngời lớn có tên tuổi đã làm
có đỏng đảnh làm định ngữ cho dáng đi, rào rào làm định ngữ cho gió
đều nhằm mục đích nhấn mạnh
b Tính từ mô phỏng đứng sau danh từ làm định ngữ cho danh từ
Tính từ mô phỏng không chỉ làm định ngữ cho danh từ khi nó đứng
tr-ớc danh từ mà khi nó đứng sau danh từ thì nó vẫn đảm nhận đợc chức năngnày
Tính từ mô phỏng không chỉ làm định ngữ cho danh từ khi nó đứng trớcdanh từ mà đứng sau danh từ nó cũng đạm nhận đợc nhiệm vụ này
Nắng bập bình cửa sổ Mây bồng bềnh về đâu
(Đi tàu hoả)
Bồng bềnh đi sau làm định ngữ cho mây Kết cấu định ngữ đứng sau
danh từ là kết cấu quen thuộc với cách sử dụng của ngời Việt: nói đến đối tợngrồi mới đến đặc điểm, thuộc tính của đối tợng
Trong bài Bến đò tác giả Trần Đăng Khoa cũng sử dụng kết cấu này:
Bến đò xa đây rồi
Cây đa già buông rễ loi thoi
Lá biếc xoà mặt nớc
Đá lởm chởm, bờ sông trắng bọt
Trang 20(Bến đò)
Hình ảnh những hòn đá lởm chởm ở bến đò xa năm nào giờ đây vẫn nh
xa, vẫn còn nguyên trong ký ức của ngời con yêu quê hơng tha thiết, suốt cuộc
đời gắn bó với những hình ảnh thân thuộc, giản dị mà thiêng liêng đã bồi đắptâm hồn tuổi thơ của mỗi ngời
Những câu thơ nh:
Vòm đa rì rào xanh
Ve kêu, muôn lá quạt
(Cây đa)
Cau xoè tay hứng giọt ma
ếch nhái uôm uôm mở hội
(Con cò trắng muốt)
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh nh là đứng chơi
(Cây dừa)
Tính từ mô phỏng rì rào, uôm uôm, rì rào, đủng đỉnh đứng sau làm định ngữ cho các danh từ vòm đa, ếch nhái, tiếng, dừa
Tính từ mô phỏng đứng sau danh từ trong Góc sân và khoảng trời của
Trần Đăng Khoa cũng chiếm một số lợng khá nhiều Trần Đăng Khoa sử dụngmô hình này chủ yếu là để mô phỏng âm thanh hay hình ảnh của những loàivật và thế giới tự nhiên xung quanh mình Với cách kết hợp này Khoa đã làmcho thế giới cảnh vật xung quanh mình trở nên hấp dẫn hơn, ấn tợng hơn Nếu
Góc sân và khoảng trời khẳng định tài năng thơ ca của Trần Đăng Khoa thì tính từ mô phỏng trong Góc sân và khoảng trời đã khẳng định tài năng của
Khoa trong cách sử dụng ngôn ngữ Cũng là cách kết hợp giữa tính từ môphỏng với danh từ nhng Khoa không hề làm cho nó đơn điệu trong cách diễn
đạt mà cậu bé luôn biết tạo ra sự mới mẻ, linh hoạt Khi muốn nhấn mạnh đếnmột đặc trng âm thanh, hình ảnh nào đó cậu bé Khoa đã sử dụng cách kết hợptính từ mô phỏng đứng trớc danh từ và làm định ngữ cho danh từ đó Muốn chỉ
ra một đặc trng âm thanh hay một đặc trng hình ảnh nào đó của một sự vật vàhiện tợng xung quanh mình Chỉ là một cậu bé làm thơ thôi nhng Khoa đã chongời đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác về cách linh hoạt, thông minhtrong cách sử dụng ngôn ngữ Dờng nh trong Khoa hình thành sẵn một tàinăng làm thơ, một kĩ năng sử dụng từ ngôn từ
Trang 212.2.2 Tính từ mô phỏng kết hợp với động từ để làm bổ ngữ trạng thái cho động từ
Tính từ mô phỏng có khả năng kết hợp giống nh tính từ nên nó cũng cókhả năng làm bổ ngữ trạng thái cho động từ khi nó kết hợp với động từ
Phi lao mới nói rì rầm
Rằng anh bộ đội mai kia lại về
( Con chim hay hót)
Dới bóng đa con trâu
Thong thả nhai hơng lúa
(Cây đa)
Rì rầm là bổ ngữ trạng thái cho động từ nói và thong thả làm bổ ngữ trạng thái cho động từ nhai Tính từ mô phỏng khi làm bổ ngữ trạng thái cho
động từ cũng có thể đứng ở hai vị trí : trớc và sau động từ Khi đứng trớc động
từ thì nó cũng nhằm mục đích nhấn mạnh Hình ảnh con trâu thong thả nhai
h-ơng lúa làm ngời đọc phải chú ý
Cháu về rồi cháu lại đi
Ngoài kia bom nổ ầm ì suốt đêm
Chú nào có chút nào yên
Đêm nằm thấp thỏm nghe rền tiếng bom
(Cháu đi)
âm thanh ầm ì, trạng thái thấp thỏm là bổ ngữ trạng thái cho động từ nó
đi kèm Động từ nổ đợc cụ thể hơn khi nó đi kèm với tính từ mô phỏng âm thanh ầm ì, động từ nằm đợc cụ thể hơn với tính từ mô phỏng thấp thỏm.Tiếng bom nổ trong đêm thâu Khoa nghe nh tiếng ầm ì - đó là âm thanh phát ra dai
dẳng, ta cảm nhận đợc từng loạt bom rơi nh âm ỉ suốt ngày Bom rơi xuống
bao nhiêu, dai dẳng ầm ì bao nhiêu thì tội ác của quân xâm lợc càng tăng lên
bấy nhiêu và sự mất mát của ngời dân Việt Nam càng lớn bấy nhiêu Trong
đêm nghe tiếng bom rơi đã làm cho giấc ngủ của chú không thể nào yên đợc
Chú nằm lắng nghe và chú thấp thỏm về một tơng lai của dân tộc mình Nếu là một nhà thơ lớn tuổi thì chắc hẳn sẽ không có đợc âm thanh ầm ì đó.
Tính từ mô phỏng kết hợp với động từ để làm bổ ngữ trạng thái cho động
từ đợc Trần Đăng Khoa sử dụng trong Góc sân và khoảng trời rất nhiều và có
đợc hiệu quả, thành công lớn Khoa không dùng mình động từ nói, nhai, nằm… mà cậu bé ấy thích đa vào trong thơ mình những tính từ mô phỏng để
cụ thể các hành động, nh vậy câu thơ sẽ trở nên gợi hình, gợi tả và giàu hình
ảnh hơn Việc đa vào những tính từ mô phỏng kèm với động từ đã giúp cho
ng-ời đọc Góc sân và khoảng trng-ời thêm hiểu rõ hơn về cảm xúc của tuổi thơ cũng
Trang 22nh hiểu đợc tâm hồn trong sáng nhng cũng có lúc đầy suy t của cậu bé Trần
đăng Khoa Đặc điểm này đã làm nên những nét khác nhau của thơ Trần ĐăngKhoa với những sáng tác của những nhà thơ lớn tuổi
2.2.3 Tính từ mô phỏng có khả năng trực tiếp làm vị ngữ
Cũng giống nh chức năng của tính từ, tính từ mô phỏng cũng có khảnăng trực tiếp làm vị ngữ - làm thành phần chính của câu
Con trâu đen lông mợt
Bác nồi đồng hát bùng boong
Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà
Tác giả đã sử dụng đến ba tính từ mô phỏng bùng boong, loẹt quẹt, lom khom và đặc biệt là ở câu thơ thứ hai, hai tính từ mô phỏng liên tục thể hiện
một ý nghĩa vô cùng đặc sắc Đối với Khoa, chiếc nồi đồng, cái chổi khôngphải là những đồ vật, dụng cụ vô tri vô giác mà nó nh có linh hồn, nh là một cá
thể sống động Cách gọi Bác nồi đồng, Bà chổi đã thể hiện sự tôn trọng của Khoa đối với những đồ vật dụng cụ đó Tiếng hát bùng boong của bác nồi
đồng, tiếng loẹt quẹt của bà chổi đang lom khom trong nhà đã tạo ra một
khung cảnh vừa sinh động vừa hấp dẫn trong một buổi sáng sớm ở nhà cậu bé
Khoa Trong hai câu thơ này tính từ mô phòng bùng boong, loẹt quẹt, lom khom trực tiếp làm vị ngữ trong câu – là thành phần chính của câu – nên nó
đóng một vai trò quan trọng, là tâm điểm chú ý của ngời đọc
Trong tập thơ Góc sân và khoảng trời chúng ta nhận thấy khi một danh
từ, động từ nào đó xuất hiện thì thờng kèm theo đó là một tính từ mô phỏng
âm thanh hay mô phỏng hình ảnh, đó dờng nh là một nét tạo nên sức hấp dẫn,
Trang 23độc đáo trong thơ Trần Đăng Khoa Với môt đứa trẻ sự cụ thể về một sự vậthiên tợng nào đó là rất cần thiết cho việc tiếp nhận Trong con mắt trẻ thơ thếgiới xung quanh nó không hề đơn điệu, đơn giản mà đó là cái gì đó rất phứctạp, quan trọng, là cái gì đó luôn luôn có sức hấp dẫn lạ kì cần đợc khám phá,
tìm hiểu Đọc Góc sân và khoảng trời chúng ta nh bắt gặp một Trần Đăng
Khoa vừa trẻ thơ vừa ngời lớn, vừa là một cậu học trò cấp một vừa là một nhàthơ, là một thi sĩ thực sự Những gì Khoa đã làm, Khoa suy nghĩ, cảm nhận vàthể hiện trên trang giấy đã cho ta một Trần Đăng Khoa toàn diện cả về tâmhồn lẫn tài năng nghệ thuật Một thế giới làng quê với những con ngời và cảnhvật xung quanh vừa chân chất, mộc mạc, vừa thấm đẫm tình ngời đã hiện lênthật chân thực qua việc Khoa sử dụng lớp tính từ mô phỏng
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của tính từ mô phỏng trong tập thơ
Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa
Khoa làm thơ để bộc bạch cảm xúc, để thể hiện sự quan sát, cảm nhậnthế giới xung quanh mình Tất cả thế giới rất đáng yêu, rất ngộ nghĩnh đợc thểhiện qua lớp từ mô phỏng trong thơ anh
2.3.1 Tính từ mô phỏng âm thanh 2.3.1.1 Mô phỏng âm thanh tiếng kêu của động vật
Thế giới động vật trong thơ Trần Đăng Khoa rất phong phú, đa dạng,
nó không hề xa lạ với những đứa trẻ đợc sinh ra ở nông thôn Không nh những
đứa trẻ bình thờng khác chỉ nghe những âm thanh đó không thôi rồi có thểquên ngay trong chốc lát Khoa nghe rồi ghi lại thật sâu trong trí nhớ của mình.Không chỉ thế Trần Đăng Khoa còn thể hiện nó trên những trang thơ đầy hấpdẫn, ý nghĩa sâu sắc Có những âm thanh hằng ngày chúng ta không hề để ý
đến bởi nó đã quá quen thuộc nhng Khoa lại dành sự chú ý đặc biệt Đó làtiếng gáy của chú gà trống vào mỗi buổi sáng mai :
(ò ó o… và rất nhiều tập thơ của anh đ)
Chú gà trống nh chiếc đồng hồ chăm chỉ với nhiệm vụ của mình cứ mỗibuổi sáng dậy đánh thức mọi ngời dậy sớm để khởi động một ngày mới hiệuquả Chú gà trống đối với Khoa là một ngời bạn gần gũi, thân thiết
Trang 24Là một cậu bé làm thơ, Khoa dành đợc sự quan tâm, yêu mến của nhiềunhà thơ nổi tiếng nh Xuân Diệu, Tố Hữu, Tô Hoài Họ đã động viên Khoa,giúp đỡ Khoa rất nhiều để cậu bé có thể hoàn thành tốt những đứa con tinhthần của mình Ngợc lại, Khoa cũng không thể nào quên đợc những ngời dànhcho mình tình cảm yêu mến đó, trong tâm hồn cậu bé còn là những ngời chú,ngời cha đi trớc đầy kinh nghiệm và cũng đầy tình yêu thơng dành cho cậu.Tình cảm mà khoa dành cho những nhà thơ ấy đợc thể hiện qua những trang
th anh viết đề tặng Đề tặng chú Xuân Diệu, Khoa có bài ở nhà chú Xuân Diệu, khi đến chơi nhà chú, Khoa không chỉ để ý đến căn phòng bề bộn những thơ, chùm sấu nhỏ nhấp nhô cửa ngoài mà Khoa còn chú ý lắng nghe những âm thanh líu lo trong ngần của chú chim ngoài vờn râm :
Chim không hót động vừơn râm
Mà nghe tiếng bạc trong ngần líu lo
Xuân Diệu là một nhà thơ lớn, với một tâm hồn trãi rộng với đời, khátkhao đợc sống, đợc yêu, đợc tận hởng mọi niềm vui hạnh phúc của đất trời củatuổi xuân, nên dờng nh quang cảnh xung quanh ngôi nhà của Xuân Diệu mang
đậm sức sống căng tràn và cũng đầy chất thơ Tiếng chim hót trong vờn râm
không râm ran, náo nhiệt mà tiếng chim hót ấy nghe thật líu lo Ta nghe nh đó
là một bản nhạc vừa nhẹ nhàng vừa có sức sống, có lúc thăng lúc trầm, lúc lênlúc xuống Với một cậu bé chỉ ở độ tuổi lên mời nhng khi đọc lên những vầnthơ ấy ta tởng nh đó là kết quả lao động của một nhà lớn tuổi dày dặn kinhnghiệm
Là một cậu bé hay quan sát, hay chú ý Khoa còn nghe đợc những âmthanh khác của thế giới động vật xung quanh mình :
à uôm, ếch nói ao chuôm
Rào rào, gió nói cái vờn rộng rênh
Âu âu, chó nói đêm thanh
Tẻ … te , gà nói sáng banh ra rồi te
Trang 25Cùng là âm thanh của một loài vật nhng không phải khi nào Khoa cũng
miêu tả giống nhau mà mỗi lúc một khác : Tiếng gà khi thì gáy ò … … khi ó o thì tẻ … , tiếng ếch kêu khi là à uôm khi là uôm uôm (ếch nhái uôm uôm mở te hội – Con cò trắng muốt) Điều này chứng tỏ vốn từ của Khoa vô cùng phong
phú Một cậu bé với tuổi đời còn rất ít nhng tài năng của cậu thì mọi ngời phảikhâm phục, công nhận
Nghe đợc âm thanh của những loài vật nh chó, ếch nhái, gà… và rất nhiều tập thơ của anh đ làchuyện thờng tình nhng để đợc mọi ngời gọi là thần đồng thơ ca thì Trần ĐăngKhoa còn nghe đợc những tiếng kêu mà nếu không tinh tế, không có trí tởng t-ợng phong phú sẽ không nghe đợc Đó là những âm thanh của côn trùng :
Dế co càng đạp cỏ xanh
Cất cao giọng gáy một mình ri ri
(Trận địa bỏ không)
Một không gian tĩnh lặng vô cùng khi những tên giặc cuối cùng đã phải
bỏ chạy, trận địa giờ đây chỉ còn lại tiếng côn trùng cất cao giọng gáy
Nghe ri rỉ tiếng sâu
Nó đang thở cuối tờng
(Nửa đêm tỉnh giấc)
Phải có sự quan sát, sự lắng nghe thật tài tình, tinh tế Khoa mới nghe đợc
những âm thanh nh tiếng ri ri của dế, tiếng thở ri rỉ của sâu nơi cuối tờng Sự
quan tâm của Trần Đăng Khoa không chỉ dành cho những loài động vật gắn
bó, gần gũi với cuộc sống của con ngời mà Khoa còn dành cả sự quan tâm ấycho những loài côn trùng thận chí là những loài côn trùng có hại cho mùamàng của ngời nông dân nh chú sâu đang thở cuối tờng Nếu đặt vào địa vị làmột nhà thơ lớn tuổi thì chắc hẳn sẽ khó có đợc sự phát hiện, sự lắng nghe đợcnhững âm thanh ấy Bởi cậu bé khi sáng tác nên những câu thơ này không chỉ
có một tài năng đặc biệt mà cậu còn có cả một tâm hồn tuổi thơ đầy sự nhạy
cảm, tinh tế Ri ri và ri rỉ là những âm thanh nghe rất nhỏ, dờng nh những ngời
nào không quan tâm để ý thì sẽ không thể nào phát hiện đợc Nghe đợc tiếng
dế cất cao giọng gáy nơi cỏ xanh chú bé Khoa đã tạo ra đợc một không giantĩnh lặng vô cùng khi mà những ngày giặc Pháp đi khỏi quê hơng Khoa Tiếngsâu thở cuối tờng đã đợc Khoa nghe thấy, đó là một sự lắng nghe tài tình vàtinh tế Khoa cảm nhận đợc giấc ngủ rất sâu, rất ngon lành của chú sâu nơicuối tờng Từng nhịp thở đều đặn, nhịp nhàng của sâu nơi cuối tờng tởng nhkhông ai có thể phát hiện ra đợc nhng bằng một sự nhạy bén cậu bé Khoa đãnghe đợc và ghi lại bằng những vần thơ đầy sức hấp dẫn, ấn tợng
Trang 26Thế giới động vật trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng
Khoa rất phong phú và đa dạng Đó là những con vật gần gũi, quen thuộc vớinhững đứa trẻ nông thôn hàng ngày gắn với đồng ruộng Những loài vật đó đivào thơ Khoa một cách tự nhiên, sinh động và đầy hấp dẫn bằng những âmthanh vừa chân thực vừa tinh tế Tất cả những âm thanh của những tiếng kêu,tiếng hót mà động vật phát ra đó đã tạo nên cho trang thơ của cậu bé Khoangày nào thêm sức lôi cuốn Khi làm những bài thơ này Trần Đăng Khoa mớichỉ là cậu bé đang theo học cấp một trờng làng nhng qua những âm thanh màKhoa phát hiện đợc của thế giới loài vật, và thể hiện nó trên ngôn từ đã chứngminh đợc rằng đây là một con ngời đặc biệt, một tài năng thơ ca thực thụ Các
từ mô phỏng âm thanh tiếng kêu động vật, côn trùng của Trần Đăng Khoamang nét đặc trng riêng tạo nên dấu ấn ở Trần Đăng Khoa khác với nhiều nhàthơ lớn tuổi khác Khoa có thể phát hiện ra đợc những âm thanh rất tinh tế nh
tiếng dế gáy ri ri, tiếng sâu thở ri rỉ của sâu Viết thơ cho thiếu nhi dờng nh
Trần Đăng Khoa có đợc lợi thé hơn những nhà thơ khác đó là cậu bé luôn chứachất trong mình những cảm xúc của tuổi thơ Thế giới loài vật gần gũi, quenthuộc và sinh động sẽ là điểm chú ý của những đứa trẻ với một tâm hồn ngâythơ, trong trẻo Càng gây đợc sự chú ý bao nhiêu thì càng tạo đợc sự hứng thúcho độc giả đặc biệt là độc giả nhí bấy nhiêu Qua lớp tính từ mô phỏng khimiêu tả thế giới động vật thì tài năng, tên tuổi của Trần Đăng Khoa đợc biết
đến rộng rãi hơn
2.3.1.2Mô phỏng âm thanh của thế giới tự nhiên
a Mô phỏng âm thanh của tiếng ma rơi, tiếng nớc chảy
Với trí thông minh, óc quan sát đầy tài tình cộng với một sự nghe tinh tếTrần Đăng Khoa còn nghe đợc âm thanh của thế giới tự nhiên Đó là tiếng marơi, nớc chảy, tiếng gió bão hãi hùng
Ma là hiện tợng tự nhiên của đất trời, nhng khi ma rơi xuống lại khiếncon ngời thêm buồn nhất là đối với những ngời hay suy nghĩ, mang nhiều tâmtrạng Khoa là cậu bé tuy ít tuổi nhng có những lúc cậu suy nghĩ thật già dặn,chín chắn Nhìn những hạt ma đổ xuống cậu lắng nghe âm thanh rồi nghĩ vềngời cha của mình đang lam lũ ngoài đồng :
Trang 27Xay lúa thờng phát ra âm thanh ù ù, âm thanh đó làm ngời nghe luôn có
cảm giác mệt mỏi và khó chịu Trong cơn ma âm thanh ấy xuất hiện làm tăngthêm cảm giác sợ hãi của những ngời chứng kiến nó Đó là một sự phát hiện
độc đáo và khá mới mẻ ở Trần Đăng Khoa, bởi chúng ta thờng chỉ đợc nghe
đến những âm thanh của tiếng ma rơi là ào ào, ầm ầm, rả rích, róc rách… chứ
ít khi gặp âm thanh ù ù nh Khoa đã sử dụng Cái làm nên sự độc đáo của thơ
Khoa đó không chỉ là việc Khoa chú ý lắng nghe những hạt ma mà còn là tìnhcảm mến yêu, cảm phục cậu bé dành cho ngời cha kính yêu của mình Trong
cơn ma ù ù nh xay lúa ấy hình bóng ngời cha ngày đêm vất vả luôn luôn xuất
hiện trong tâm trí của ngời con hiếu thảo- Trần Đăng Khoa :
Đăng Khoa không hề đơn điệu mà thật đa dạng Ngoài việc lắng nghe đợc tiếng
ma đó trong một đêm trăng Khoa cũng nghe đợc tiếng ma :
Nghe trăng thở động tàu dừa
Rào rào nghe chuyển cơn ma giữa trời
(Nghe thầy đọc thơ)
Cơn gió nhẹ đã làm lay động ánh trăng trong đêm thanh và trăng bỗng
thở động tàu dừa Một động tác ấy – thở của trăng thôi cũng là dấu hiệu báo một cơn ma sắp đến Và tiếng rào rào của cơn ma giữa trời cũng làm nỗi nhớ
về thầy trong Khoa thêm dâng trào Càng nghĩ về thầy bao nhiêu thì những ký
ức đẹp về thầy càng hiện về rõ bấy nhiêu Những trang thơ thầy đọc năm nàovẫn còn mãi trong Khoa, Khoa vẫn mong một ngày đó hết bóng quân thù thầy
sẽ về đọc lại cho cậu nghe Cơn ma rào rào năm nào đã gắn vào ký ức của
Trang 28Khoa với thầy nên giờ đây nó đã làm cho nỗi nhớ trong Khoa càng cồn cào, dadiết hơn.
Ngang trời kêu một tiếng chuông
Rừng xa nổi gió, suối tuôn ào ào
(Đêm Côn Sơn)
Tiếng suối tuôn ào ào trong đêm Côn Sơn đã phá tan không khí tĩnh
lặng, chen vào đó là tiếng chuông vang ngang trời, là tiếng gió nổi lên, tiếng
suối tuôn ào ào Dòng nớc suối tuôn chảy xiết, mạnh mẽ tạo ra âm thanh rào rào, đó là âm thanh mạnh nhất, lớn nhất để xóa tan đi không gian tĩnh mịch
của đêm Côn Sơn
b Âm thanh của tiếng gió, bão
Không chỉ là tiếng ma rơi, tiếng nớc chảy Khoa còn nghe đợc tiếng gióthổi, tiếng bão bùng
của bão, và hậu quả của nó để lại là vô cùng nặng nề Khi bão đến thì ầm ầm
nh đoàn tàu hoả, kết hợp biện pháp so sánh và dùng tính từ mô phỏng ầm ầm
Khoa đã hiện thực hoá rõ hơn sự khủng khiếp, sự lớn mạnh của cơn bão Một
sự so sánh khá thú vị trong câu thơ trên, Khoa ví sự khủng khiếp, dữ dội củabão nh đoàn tàu hỏa đến Khoa nghĩ đến đoàn tàu hỏa khi nó chạy qua tạo ra
âm thanh ầm ầm và khi cơn bão đến đã làm Khoa liên tởng đến âm thanh ấy.
Ngời lớn cũng cảm nhận đợc sự khốc liệt của mỗi cơn bão đi qua thế nhngchấc hẳn không ai có thẻ nghĩ và so sánh giống nh cậu bé Khoa ngày nào Sự
so sánh này rất đúng với tâm lí trẻ thơ, các em có thể so sánh cái mình đangchứng kiến với những gì mình đã trải qua, những gì mình đã chứng kiến VớiKhoa gió ma của bão cũng ầm ầm nh tiếng chạy của đoàn tàu hỏa Đọc nhữngcâu thơ này lên chúng ta nh cảm nh đợc sống lại với tuổi thơ của mình ngàynào, đó là sự ngây thơ, trong trắng của tâm hồn
Đọc những bài thơ Trần Đăng Khoa viết nếu nh không tìm hiểu nămsinh của tác giả thì chắc hẳn nhiều ngời nhầm tởng rằng đó phải là một ngời cónhiều kinh nghiệm và đã có tuổi đời lớn Tuy nhiên ngợc lại tác giả của nhữngsáng tác ấy lại là một cậu bé mới lên chín mời, thấy đợc điều này để một lầnnữa chúng ta khẳng định Trần Đăng Khoa là một thần đồng thơ ca Khoa nghe
đợc tiếng ma rơi, tiếng nớc chảy, tiếng gió hoà với tiếng ma dữ dội để tạo ra