1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VẤN đề ý THỨC và ý NGHĨA của nó đối với CUỘC SỐNG và học tập của SINH VIÊN

15 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 159,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỉ tế bào thần kinh, các tế bào này nhận vô số các mối quan hệ nhằm thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể trong quan

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

ĐỀ TÀI :

VẤN ĐỀ Ý THỨC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ

ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG VÀ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN

Dương Phước Thảo – 20H4030133 - 010400510509

Giảng viên hướng dẫn: GS/TS Vũ Văn Lanh

Thành phố Hồ Chí Minh – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VẬT CHẤT 3

1.1 Nguồn gốc của ý thức 3

1.1.1 Nguồn gốc tự nhiên 3

1.1.2 Nguồn gốc xã hội 4

1.2 Bản chất của ý thức 4

1.2.1 Bản tính phản ánh và sáng tạo 4

1.2.2 Bản tính xã hội 5

1.3 Kết cấu của ý thức 6

1.3.1 Các lớp cấu trúc của ý thức 6

1.3.2 Các cấp độ của ý thức 7

1.4 Sự tác động trở lại vật chất của ý thức 7

1.5 Ý nghĩa phương pháp luận của ý thức 8

CHƯƠNG II Ý NGHĨA CỦA Ý THỨC ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG VÀ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 9

KẾT LUẬN 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò của ý thức luôn là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Trên cơ sở những thành tựu của triết học duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác- Lênin góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên

1 Lý do chọn đề tài

Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học Nó

là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà con là động lực thực tiễn Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học

văn hoá và tư tưỏng Trong bài tiểu luận này em chọn đề tài: "Vấn đề ý thức

và ý nghĩa của nó đối với cuộc sống và học tập của sinh viên " Vì em nghĩ

ý thức rất quan trọng, nó giúp cho chúng em có thể định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc và xử lý thông tin để có một cái nhìn đúng đắn về những vấn đề đang xảy ra xung quanh chúng ta

Đó cũng chính là lý do em chọn đề tài này

2 Mục đích nghiên cứu

Biết được tầm quan trọng về bản chất của ý thức theo quan điểm của Mác- Lênin

Biết được việc tìm hiểu vấn đề trong quá trình phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức trong việc học tập của mình, rèn luyện cho chúng ta để hình thành, tự giác tu dưỡng

Trang 4

Phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, dó là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lượt, sách lượt,…

3 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào tài liệu “ Triết học Mác- Lênin”

Qua các sách báo, tài liệu, mạng internet

4 Kết cấu đề tài

Gồm các chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về ý thức

Chương II: Ý nghĩa của ý thức đối với cuộc sống và học tập của sinh viên hiện nay

Trang 5

Trang 3

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ Ý THỨC

1.1 Nguồn gốc của ý thức

1.1.1 Nguồn gốc tự nhiên

Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ

óc con người Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói chung đã tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động tâm lý của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của não bộ con người Bộ não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỉ tế bào thần kinh, các

tế bào này nhận vô số các mối quan hệ nhằm thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện

Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất Phản ánh được thực hiện bởi

sự tác động qua lại của hệ thống vật chất Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, chặt chẽ với nhau Phản ánh tâm lý là hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh trung ương, đưa lại cho con vật thông tin về các thuộc tính, quan hệ của sự vật bên ngoài và về cả ý nghĩ của chúng đối với đời sống của con vật

Phản ánh có ý thức là sự phản ánh cao nhất của sự phản ánh nó chỉ có khi xuất hiện con người và xã hội loài người Sự phản ánh này không thể hiện

ở cấp độ cảm tính như cảm gíac, tri giác, biểu tượng nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn thể hiện ở cấp độ lý tính: khái niệm, phán đoán, suy lý nhờ tín hiệu thứ hai Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh có mục đích, có kế hoạch,

tự giác, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng buộc sự vật bộc lộ ra những

Trang 6

đặc điểm của chúng.

1.1.2 Nguồn gốc xã hội

Ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con người là sự khác biệt

về chất so với động vật Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý

thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội

Lao động là hoạt động vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên, thỏa mãn nhu cầu phục vụ mục đích cho bản thân con người Nhờ nó mà con người và xã hội loài người mới hình thành, phát triển Thêm vào đó, lao động

là sự tác động chủ động của con người vào thế giới khách quan để phản ánh thế giới đó, buộc thế giới xung quanh phải bộc lộ các thuộc tính của nó, từ đó làm cho con người hiểu biết thêm về thế giới xung quanh Từ đó sáng tạo ra các sự vật khác chưa từng có trong tự nhiên, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một tự nhiên mới Tóm lại, lao động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý thức Qua lao động bộ óc con người được hình thành và hoàn thiện

Xét đến vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành nên ý thức Với sự xuất hiện của ngôn ngữ, tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành "hiện thực trực tiếp", trở thành tín hiệu vật chất tác động vào giác quan của con người, gây ra cảm giác Do vậy, qua ngôn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm cho nhau, từ đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lại ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân Nhờ khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa mà con người có thể đi sâu vào hơn vào thế giới vật chất, sự vật hiện tượng đồng thời tổng kết đúc rút kinh nghiệm trong toàn bộ hoạt động của mình Vậy ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý tư duy và văn hóa con người và xã hội loài người

1.2 Bản chất của ý thức

Trang 7

1.2.1 Bản tính phản ánh và sáng tạo.

Trang 8

Trang 5

Phản ánh là năng lực của một hệ thống vật chất tái hiện, ghi lại những đặc điểm của một hệ thống vật chất khác trong quá trình tương tác

Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, ý thức không phải là sự vật,

mà chỉ là "hình ảnh" của sự vật ở trong óc người Ý thức tồn tại phi cảm tính,

đối lập với các đối tượng vật chất mà nó phản ánh luôn tồn tại cảm tính Thế giới khách quan là nguyên bản, là tính thứ nhất Còn ý thức chỉ là bản sao, là

"hình ảnh" về thế giới đó, là tính thứ hai

Ý thức có đặc tính tích cực, sáng tạo gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội Đây là một đặc tính căn bản để phân biệt trình độ phản ánh ý thức người

với trình độ phản ánh tâm lý động vật Ý thức là kết quả của quá trình phản ánh có định hướng, có mục đích rõ rệt Là hiện tượng xã hội, ý thức hình thành, phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn xã hội Thông qua thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới và qua đó chủ động khám phá không ngừng

cả bề rộng và chiều sâu của các đối tượng phản ánh

Như vậy, sáng tạo là đặc trưng bản chất nhất của ý thức Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người, song đây là sự phản ánh đặc biệt, gắn liền với thực tiễn sinh động cải tạo thế giới khách quan theo nhu cầu của con người

1.2.2 Bản tính xã hội

Trong quá trình đó con người nhận ra rằng cần có nhu cầu liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác Do đó mà khái niệm hoạt động xã hội ra đời Ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội, ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội, về thế giới khách quan đang diễn ra xung quanh, về mối liên hệ giữa người với người trong xã hội Do đó

ý thức xã hội được hình thành cùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội không thể tách rời ý thức cá nhân, ý thức cá nhân vừa có cái chung của giai cấp của dân tộc và các mặt khác của xã hội vừa có những nét độc đáo riêng do những điều

Trang 9

kiện, hoàn cảnh riêng của cá nhân đó quy định Tự tách ra khỏi môi trường

xã hội con người không thể có ý thức, tình cảm người thực sự Mỗi cá nhân phải tự nhận rõ vai trò của mình đối với bản thân và xã hội Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng tạo Sự thống nhất

đó thể hiện ở tính năng đọng chủ quan của ý thức, ở quan hệ giữa vật chất và

ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của con người Như vậy, con người suy nghĩ và hành động không chỉ bằng bàn tay khối óc của mình mà còn bị chi phối bởi khối óc bàn tay của người khác, của xã hội của nhân loại nói chung

1.3 Kết cấu của ý thức

Để nhận thức được sâu sắc về ý thức, cần xem xét nắm vững tổ chức kết cấu của nó; tiếp cận từ các góc độ khác nhau sẽ đem lại những tri thức nhiều mặt về cấu trúc, hoặc cấp độ của ý thức

1.3.1 Các lớp cấu trúc của ý thức (theo chiều ngang)

Khi xem xét ý thức với các yếu tố hợp thành các quá trình tâm lý tích cực đem lại sự hiểu biết của con người về thế giới khách quan, ta có: tri thức,

tình cảm, niềm tin, ý chí; trong đó tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất.

Muốn cải tạo được sự vật, trước hết con người phải có sự hiểu biết sâu sắc về

sự vật đó Do đó, nội dung và phương thức tồn tại cơ bản của ý thức phải là tri thức

Tình cảm là sự rung động của con người với xung quanh gây cho con

người có cảm giác vui buồn, yêu thương, căm giận… Vì vậy, một khi tri thức được gắn với tình cảm thì hoạt động của con người sẽ được tăng thêm gấp bội lần Sự hoà quyện giữa tri thức với tình cảm và trải nghiệm thực tiễn đã tạo

nên tính bền vững của niềm tin thôi thúc con người hoạt động vươn lên trong

mọi hoàn cảnh

Nhận thức không phải là một quá trình dễ dàng mà là một quá trình phản ánh với những khó khăn, gian khổ Muốn vượt qua khó khăn để đạt tới mục

đích, chủ thể nhận thức phải có ý chí Nhận rõ vị trí, vai trò của các nhân tố

Trang 6

Trang 10

Trang 7

cấu thành ý thức và mối quan hệ giữa các yếu tố đó, đòi hỏi mỗi chủ thể phải luôn tích cực học tập, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí trong nhận thức và cải tạo thế giới

1.3.2 Các cấp độ của ý thức (theo chiều dọc)

Khi xem xét ý thức theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người, cần

nhận thức được các yếu tố: tự ý thức, tiềm thức, vô thức

Tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình trong mối quan hệ

với ý thức về thế giới bên ngoài Đây là một thành tố rất quan trọng của ý thức, đánh dấu trình độ phát triển của ý thức Trong quá trình phản ánh thế giới khách quan, con người cũng tự phân biệt, tách mình, đối lập mình với thế giới đó để đánh giá mình thông qua các mối quan hệ

Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã có được từ trước nhưng đó

gần như trở thành bản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sau của ý thức chủ

thể, là ý thức dưới dạng tiềm tàng Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều

sâu, sự suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử của con người xảy ra mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự kiểm tra của lý trí được biểu hiện thành nhiều hiện tượng khác nhau và chỉ là mắt khâu trong cuộc sống có ý thức của con người

1.4 Sự tác động trở lại vật chất của ý thức:

Vật chất quyết định nội dung của ý thức bởi vì ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan bên ngoài vào trong bộ óc của con người Cùng với sự phát triển của hoạt động biến đổi thế giới ý thức con người phát triển song song với quá trình đó và có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với vật chất

Sự tác động trở lại vật chất của ý thức có thể là thúc dẩy hoặc ở một điều kiện nào đó trong một phạm vi nào đó kìm hãm sự phát triển của các quá trình hiện thực

Trang 11

Khi con người có những kiến thức khoa học thì sự tác động trở lại vật chất là tích cực Con người sẽ dựa vào những tri thức và những kiến thức khoa học để lập ra những mực tiêu,những kế hoạch hoạt động đúng đắn để cải tạo thế giớ vật chất, thúc đẩy xã hội ngày một phát triển hơn Những tri thức sai lầm phản khoa học hoặc lỗi thời lạc hậu có thể kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất Do những tư tưởng ,đường lối sai lầm dẫn đến chiến, đến những chiến lược phát triển kinh tế không hiệu quả Nó kéo lùi sự phát triển của xã hôị ở một khía cạnh nào đó ta thấy những truyền thống, những tâm tư tình cảm của con người không phụ thuộc vào vật chẩt Dựa vào đặc tính này của vật chất con người có thể cố phấn đấu đi lên bằng lao động và học tập, xây dựng đất nước và xã hội giàu mạnh hơn, công bằng hơn

1.5 Ý nghĩa phương pháp luận của ý thức:

- Xuất phát từ thế giới khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Do ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc người, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta phải bắt đầu từ thế giới khách quan Tức là, trước hết ta phải nghiên cứu, tìm tòi từ các đối tượng vật chất bên ngoài bộ óc để phục vụ nhu cầu tìm kiếm tri thức và cải tạo các đối tượng vật chất đó Ta cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí Tức là chống lại thói quen dùng quan điểm, suy nghĩ thiếu cơ sở của mình để gán cho các đối

tượng vật chất Cần xóa bỏ thói quan liêu, dùng mong muốn chủ quan của cá nhân mình để áp đặt thành chỉ tiêu cho cơ quan, tổ chức, dù với động cơ trong sáng

- Phát huy tính tự giác, chủ động của con người

Do ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới khách quan, ta

Trang 12

cần phát huy hết sức tính tự giác, chủ động của con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Cần kiên quyết chống lại tư duy giáo điều, cứng nhắc, lý thuyết suông… về sự vật, hiện tượng.Ta cần phát huy hết sức trí tuệ, sự nhạy bén của con người trong học tập, lao động Luôn nỗ lực bài trừ thói quen thụ động, ỷ lại, bình quân chủ nghĩa

CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA Ý THỨC ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG

VÀ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN

Đối với cá nhân là một sinh viên, bản thân em tự nhận thấy rằng ý thức mang ý nghĩa thực sự quan trọng đối với cuộc sống và học tập của chúng em:

Một là: Ý thức giúp cho sinh viên khi đứng trước những mâu thuẫn,

bằng sự thông minh, sức sáng tạo và nghị lực, nhiều sinh viên biết tận dụng mọi cơ hội, mọi khả năng để vượt qua những thử thách của cuộc sống sinh viên và đi từ thành công trong học tập đến những thành công trong nghiên cứu khoa học, trong hoạt động đoàn thể, do đó họ có thể tự tin bước vào đời

Hai là: Ý thức trang bị cho con người những tri thức cơ bản về

quy luật khách quan của đối tượng, trên cơ sở đó, con người xác định đúng đắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động phù hợp Đối với sinh viên, việc rời bỏ lý thuyết suông, việc “học phải đi đôi với hành” là rất quan trọng Bởi lẽ, đại học chỉ cung cấp cho bạn lí thuyết để sau này ra trường áp dụng vào công việc của mình Với ngành nghề nào cũng vậy, chỉ khi học và trải nghiệm thì mới biết thế mạnh của mình ở phần nào và từ đó có thể chọn được ngành nghề phù hợp cho bản thân sau này

Ba là: Việc phát huy tính năng động, sáng tạo, chủ động trong quá trình

học tập và cả trong cuộc sống công việc sau này đối với sinh viên là rất quan trọng Việc học, hướng dẫn của giáo viên trên lớp là một việc Còn cốt lõi là

sau khi về nhà, tự học mới thực sự quan trọng và chiếm đa số thời gian: xem

Ngày đăng: 25/08/2021, 05:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w