Cảm xúc rất khó điều khiển và nắm bắt, nếu sử dụng không đúng cách có thể gây nên những hậu quả khó lường trước. Cảm xúc thể hiện trong quảng cáo được cảm nhận trực tiếp bởi khách hàng, những con người với tâm sinh lý khác nhau và sẽ hình thành lên hình ảnh về chiến dịch, về sản phẩm thương hiệu trong tâm trí họ. Để có thể sử dụng hiệu quả những yếu tố cảm xúc trong quảng cáo cần có những cái nhìn khoa học và những bộ nguyên tắc nhất định.
Trang 1ĐỀ ÁN MÔN HỌC TRUYỀN
THÔNG MARKETING
Họ và tên : Trần Thị Phương Thảo
Lớp : Truyền thông Marketing 58
Chuyên ngành : Truyền thông marketing
Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Phạm Khánh Hòa
Đề tài : Tác động của yếu tố cảm xúc và tình cảm tới mức độ lan truyền của mộtsản phẩm truyền thông Liên hệ với các quảng cáo tại Việt Nam dịp Tết nguyên đán2019
LỜI MỞ ĐẦU
1.Bối cảnh và lý do lựa chọn đề tài
Trong thời đại bùng nổ của thông tin và sự phát triển công nghệ, các doanhnghiệp đều gặp phải thách thức nhất định trong việc tiếp cận khách hàng :làm sao để khách hàng thấy, khách hàng chú ý, khách hàng ủng hộ các sảnphẩm hay thương hiệu của mình Truyền thông hay các biện pháp marketing
đã trở thành tất yếu đối với các doanh nghiệp, thương hiệu Tuy nhiên truyềnthông thế nào để hiệu quả thì không phải doanh nghiệp nào cũng làm được.Khách hàng ngày nay nắm trong tay rất nhiều quyền lực, họ không chỉ đơnthuần là tiếp nhận thông tin thụ động nữa mà trở thành một mắt xích quantrọng trong việc tạo nên thông tin, và quyết định tầm ảnh hưởng của thông tin
đó Chia sẻ thông tin đã trở thành một phần trong cuộc sống hiện đại Mộtnghiên khảo sát của Allsop, Bassett, Hoskins vào năm 2007 chỉ ra rằng : có
đế 59% người nói rằng họ thường xuyên chia sẻ những nội dung online chobạn bè của mình Điều đó rất có giá trị với doanh nghiệp, nó giúp sản phẩm,thương hiệu của họ được lan truyền với cấp số nhân với một độ tin cậy vàchuyển đổi cao nhất ( trong trường hợp những chia sẻ là tích cực ) Vậy làmthế nào để khách hàng sẵn sàng chia sẻ ? Có rất nhiều yếu tố quyết định đếnhành vi của khách hàng, và cảm xúc được coi là một yếu tố quan trọng nhất,quyết định đến tính lan truyền của một sản phẩm truyền thông
Trang 2Cảm xúc rất khó điều khiển và nắm bắt, nếu sử dụng không đúng cách có thểgây nên những hậu quả khó lường trước Cảm xúc thể hiện trong quảng cáođược cảm nhận trực tiếp bởi khách hàng, những con người với tâm sinh lýkhác nhau và sẽ hình thành lên hình ảnh về chiến dịch, về sản phẩm thươnghiệu trong tâm trí họ Để có thể sử dụng hiệu quả những yếu tố cảm xúc trongquảng cáo cần có những cái nhìn khoa học và những bộ nguyên tắc nhấtđịnh.
2.Đối tượng nghiên cứu
Yếu tố cảm xúc trong sản phẩm truyền thông
3.Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu các yếu tố cảm xúc trong một sản phẩm truyền thông
- Tìm hiểu cách các yếu tố cảm xúc quyết định sức lan tỏa của một ấn phẩm truyềnthông
4.Câu hỏi nghiên cứu
- Sử dụng yếu tố cảm xúc như thế nào trong quảng cáo ?
- Dùng cảm xúc trong quảng cáo như thế nào để đạt hiệu quả lan truyền tốt nhất ?
- Xu hướng ứng dụng cảm xúc trong quảng cáo ?
5.Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng dữ liệu thứ cấp để xây dựng và phát triển nội dung
Phương pháp nghiên cứu : Desk Research
Để có thể áp dụng yếu tố cảm xúc vào quảng cáo cần nắm nó những lý thuyết cơ bản
về cảm xúc cũng như những cách thức đo lường các cung bậc cảm xúc khác nhau
1.1.1.Khái niệm
Trang 3“Cảm xúc là một hình thức trải nghiệm cơ bản của con người về thái độ của chínhmình với sự vật hiện tượng của hiện thực khách quan, với người khác và với bản thân”
- (wikipedia.org) Cảm xúc là điều kiện tất yếu trong quá trình phát triển, hình thànhnhân cách mỗi người và mang tính chủ quan
Theo các nhà tâm lý học (Arnold, 1960, 1970; Bindra, 1970; Buck, 1976; Coyne,1982; Izard, 1977; Kleinginna & Kleinginna, 1981; Lazarus, 1982; Lazarus, Kanner,
& Folkman, 1980; Mandler, 1975; Plutchik, 1980; Schachter, 1971; Tucker, 1981)cảm xúc là một quá trình liên quan đến nhận thức và sinh học Cách tiếp cận chungcủa họ nhấn mạnh rằng trải nghiệm cảm xúc hoàn chỉnh bao gồm các thành phần nhậnthức liên quan đến niềm tin, giá trị và đánh giá cũng như những thay đổi sinh lý tạo racảm giác và ham muốn dẫn đến hành vi biểu cảm
Theo Hockenbury & Hockenbury (2007)“Cảm xúc là một trạng thái tâm lý phức tạpbao gồm 3 thành tố riêng biệt: Một trải nghiệm chủ quan, một phản ứng sinh lý và mộtphản hồi hành vi rõ ràng.”
1.1.2.Phân loại cảm xúc
Trong năm 1972, nhà tâm lý học Paul Eckman cho rằng có tất cả 6 trạng thái cảm xúc
cơ bản tương tự nhau ở tất cả các nền văn hóa: Sợ hãi, ghê tởm, giận dữ, ngạc nhiên,hạnh phúc và buồn bã Năm 1990, danh sách này được mở rộng thêm với các cảmxúc: ngượng ngùng, phấn khích, hài lòng, nhục nhã, tự hào, thỏa mãn và thích thú.Năm 1980, Robert Plutchick đã giới thiệu một hệ thống phân loại cảm xúc khác có tên
“Bánh xe cảm xúc” Mô hình này thể hiện quá trình kết hợp và pha trộn các cảm xúckhác nhau, cũng giống như họa sĩ pha các màu cơ bản để tạo ra các màu khác TheoPlutchick, có 8 chiều hướng cảm xúc chính: Vui – Buồn, Giận dữ – Sợ hãi, Tin tưởng– Ghê tởm, Ngạc nhiên – Mong đợi
1.1.3.Đo lường cảm xúc
Việc đo lường cảm xúc có thể tập trung vào một bộ đầy đủ các dấu hiệu hoặc bằngchứng, bao gồm đánh giá đánh giá, cảm giác chủ quan, tư thế và cử chỉ cơ thể, nétmặt, phản ứng sinh lý, xu hướng hành động và hành động công khai Tất nhiên, bất cứphép đo nào người ta sử dụng đều phải gắn liền với một lý thuyết cơ bản về cảm xúc
1.2.Ứng dụng cảm xúc trong quảng cáo
Trong khuôn khổ môn học quản trị quảng cáo, cảm xúc được nhắc đến như một yếu tốthu hút với định nghĩa : “ Thu hút bằng cảm xúc là loại hình thu hút đánh vào cảm xúc(tình cảm) của công chúng nhận tin nhằm đạt được các mục đích thương mại haytruyền thông của mình.” Để có thể ứng dụng một cách hiệu quả yếu tố cảm xúc vàoquảng cáo đòi hỏi nhà quản trị cần có những hiểu biết nền tảng về phạm trù này trongquảng cáo
1.2.1.Tại sao cần đưa yếu tố cảm xúc trong quảng cáo
Trong một tính toán trên 1400 trường hợp thành công của những chiến dịch quảng cáo
Trang 4được thực hiện bởi IPA dataBANK (học viện quảng cáo có trụ sở tại Vương quốc
quả gấp đôi so với những chiến dịch chỉ bao gồm những nội dung có tính lý lẽ, lý trí(việc đan xen hai loại này cũng cho thấy hiệu quả tốt hơn)
Điều này hoàn toàn hợp lý khi xét về mặt khoa học – bởi bộ não con người cảm nhậncảm xúc trước, rồi sau đó mới bắt đầu suy nghĩ, tư duy Với cùng một lượng thông tin,não chúng ta xử lý những cảm xúc trong tiềm thức nhanh gấp 5 lần những thông tincần đến sự nhận thức Hơn thế, những cảm xúc cơ bản như hạnh phúc, sợ hãi hay lolắng đã trở nên quá bản năng đến nỗi chúng ta gần như không nhận thức được hoàntoàn sự chi phối của chúng nên những hành động hằng ngày
Có một ví dụ về sức mạnh của cảm xúc tới hiệu quả marketing, câu chuyện vềGenerac – một nhà sản xuất máy phát điện đã thuê tờ Harvard Business thức hiện mộtkhảo sát khách hàng, yêu cầu họ vẽ ra những trải nghiệm với máy phát điện của họ.Kết quả như sau : Những người đàn ông vẽ chiếc máy phát điện như một siêu anhhùng bảo vệ gia đình họ, và những người phụ nữ vẽ ra nỗi sợ khi không có chiếc máynhư sợ vụ chìm tàu Titanic Qua khảo sát này, Generac đã thay đổi chiến lượcmarketing của mình, từ việc nêu lên những thông số khô khan của chiếc máy, thaybằng cách mời khách hàng của mình kể về những câu chuyện có thật, trong đó chiếcmáy phát điện đã cứu sống họ và gia đình của họ như thế nào Nhờ chiến lược mớinày mà trong vòng 2 năm, Generac đã tăng gấp đôi doanh số lên đến $1.2 tỷ đô
“Nắm bắt được những cảm xúc là chìa khóa trong việc tạo ra những nội dung onlinenhư hình ảnh, video, v.v đáng xem và đáng được chia sẻ Bởi khi chúng ta chia sẻmột hình ảnh hay video, chúng ta không chỉ đang chia sẻ một tệp tin, mà là đang lantruyền những phản ứng cảm xúc mà nó mang lại.”- Abigail Posner – chiến lược giacủa Google
1.2.2.Phân biệt cảm xúc trong quảng cáo với các động lực và các công cụ khác trong quảng cáo
Trong quảng cáo, việc phân biệt cảm xúc với yếu tố động lực ( motivation) và các cơchế ảnh hưởng thuộc về tình cảm ( affective constructs) là cần thiết Bởi các yếu tốnày thường bị nhầm lẫn và chồng chéo lên nhau gây cản trở cho quá trình thảo luận vềcác yếu tố ảnh hưởng trong quảng cáo
Trước tiên, phân biệt cảm xúc ( emotion) với động lực ( motivation) Nhiều nhànghiên cứu (Averill, 1980; Buck, 1976; Dienstbier, 1979; Kleinginna & Kleinginna,1981)cho rằng, 2 khái niệm này có thể coi là giống nhau từ góc độ chúng đều nảy sinh
từ sự tương tác giữa môi trường, sinh vật, sự vật, sự việc để đưa ra mục tiêu cho hành
vi Tuy nhiên, theo luồng ý kiến khác, cảm xúc được kích hoạt từ bên ngoài, trong khiđộng lực được kích hoạt từ bên trong Theo Peter (1970), ông cho rằng ham muốnđộng lực và phản ứng cảm xúc là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau về mức độ hànhđộng và phản ứng Trong khi động lực hướng đến phát sinh thành hành động thì cảm
Trang 5xúc lại phản ánh phản ứng của sinh vật, con người với các tình huống xung quanh.Quảng cáo có thể tác động lên cảm xúc của đối tượng nhận tin chứ không thể trực tiếptác động tới động lực của họ, bởi động lực xuất phát từ nội sinh.
Sự phân biệt giữa cảm xúc và các ảnh hưởng tình cảm còn khó làm rõ hơn Hai phạmtrù này thậm chí còn được nhiều người nhất trí coi là đồng nghĩa (Arnold, 1960;Young, 1959) Nhiều nhà tâm lý học cho rằng, ngoài biểu hiện (tiêu cực / tích cực),cường độ (mạnh / yếu), thời lượng (long / short) thì cảm xúc (emotion) trong quảngcáo còn được đo lường mặc một số nội dung định tính khác nữa (theo Plutchik, 1980;Zajonc, 1980)
1.2.3.Phân loại các loại nội dung cảm xúc trong quảng cáo
Suy nghĩ có hệ thống về các nguyên tắc phân loại có thể giúp các nhà nghiên cứu tiếpthị hiểu rõ hơn về vai trò của nội dung cảm xúc trong quảng cáo và có thể giúp làm rõcác vấn đề quản lý chiến lược liên quan Có nhiều cách phân loại các loại hình nộidung cảm xúc, trong đó cách phổ biến nhất là phân theo sự tương phản : Cảm xúc tíchcực và cảm xúc tiêu cực Mô hình các loại hình nội dung cảm xúc của Holbrook, M.B., & O’Shaughnessy, J (1984) trong cuốn The role of emotion in advertising là một
mô hình dựa trên tính tương phản kết hợp với các khía cạnh khác:
Chậm chạp(Sluggishness)Quá mức (Overstimulation)
Những nội dung cảm xúc thuộc nhóm sự hài lòng ( pleasure) là những nội dung ứngdụng sự hấp dẫn về cảm xúc có liên kết một sản phẩm với trải nghiệm trực tiếp về sựhài lòng nhạy cảm, sự thoải mái về thể chất Nhằm gợi tạo cảm xúc thú vị và thânthiện về sản phẩm của khách hàng Khiến khách hàng có cảm giác khao khát muốn sởhữu Ví dụ trong các quảng cáo nước hoa, việc đưa những hình ảnh gợi cảm, sexy, nhẹ
Trang 6nhàng bay bổng là để tạo cảm xúc giả định cho khách hàng ( chiều hướng tích cực) vềsản phẩm (hình ảnh minh họa).
Những nội dung cảm xúc thuộc nhóm kích thích (Arousal) là những nội dung ứngdụng sự hấp dẫn về cảm xúc có thể liên kết sản phẩm với trạng thái sức sống và sựsống động mong muốn trong khi tránh các thái cực của sự chậm chạp theo một hướnghoặc kích thích quá mức theo hướng khác Ví dụ điển hình của nhóm nội dung này làquảng cáo của các hãng nước giải khát với hình ảnh những người trẻ trung, năng độngđang chơi đùa hoạt động hết mình trên bãi biển được cho là tràn đầy sức sống và nănglượng Một cơ chế giải thích đằng sau những quảng cáo như vậy có thể liên quan đếnhiện tượng mô hình hóa hoặc ảnh hưởng đám đông.( hình ảnh minh họa )
Nội dung cảm xúc thuộc nhóm quyền lực là những nội dung với mục đích thiết lậpcảm giác thống trị tích cực xuất hiện phù hợp chặt chẽ với bản chất thúc đẩy nội tạicủa hiệu ứng hoặc năng lực (White, 1959) Nội dung được tạo ra với mục đích gâycho đối tượng nhận tin cảm giác làm chủ hay tự thỏa mãn, nếu được làm không đúngmức có thể gây ra những cảm xúc tiêu cực về sự vô ích hay chán nản Mô hình hữudụng cho nhóm nội dung này có thể kể đến sự gián đoạn hay chặn ngang một kếhoạch Theo Mandler (1975) sự gián đoạn của bất kỳ chuỗi hành động được tổ chứctốt nào cũng gây ra cảm xúc Về các quảng cáo thuộc loại hình này có thể kể đếnthường là những quảng cáo với chủ thể có một sự gián đoạn khó chịu nào đó được giảiquyết bằng sự xuất hiện của sản phẩm.Vd quảng cáo Tiki với chi tiết Tiki sale 91%cắt ngang buổi lễ thành hôn của 2 nhân vật chính (hình ảnh minh họa)
Quảng cáo nước hoa Calvin Klein – Euphoria loại nước hoa mang tính khiêu khích
và gợi tình, ca ngợi vẻ đẹp làm say đắm lòng người (2015)
Trang 7Quảng cáo nước giải khát bổ sung năng lượng Pocari Sweet
Hình ảnh cắt trong Video quảng cáo TIKI “trời ơi tin được không”
1.3.Mối quan hệ giữa cảm xúc và tính lan truyền
Với sự phát triển của internet, sự ra đời của các mạng xã hội Facebook, Twitter,Youtube, Instagram,Tik Tok,… ngành công nghiệp truyền thông quảng cáo bước vào
Trang 8một kỉ nguyên hoàn toàn mới, nhiều điểm tiếp xúc với khách hàng hơn, có nhiềuphương thức hơn để lan tỏa thông điệp quảng cáo Một trong số những cách lan truyềnhiệu quả nhất và tốt ít chi phí nhất chính là hành động tự chia sẻ nội dung thương hiệucủa khách hàng với bạn bè người thân, nó khiến cho thông điệp của thương hiệu đượcViral (lan truyền).
Mặc dù rõ ràng là người tiêu dùng thường chia sẻ nội dung trực tuyến và truyền tải xãhội ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và bán sản phẩm, nhưng người ta ít biết về lý do tạisao người tiêu dùng chia sẻ nội dung hoặc tại sao một số nội dung nhất định trở nênlan truyền.Yếu tố cảm xúc trong quảng cáo đóng vai trò như thế nào trong sự lantruyền của thông điệp ? Vì sao có những quảng cáo lại được chia sẻ và hưởng ứng hơnnhững quảng cáo khác ? Giữa cảm xúc và chia sẻ có mối liên hệ như thế nào ?
Mỗi ngày, con người trải qua hàng trăm sắc thái cảm xúc khác nhau với những sắcthái và đặc thù riêng biệt Tuy nhiên về mặt khoa học, con người chỉ cảm nhận rõ nhấtđược 4 sắc thái cơ bản nhất vui, buồn, sợ hãi/ ngạc nhiên, và giận dữ/ khinh ghét Vìthế ở đây, bài viết sẽ chỉ tập trung vào khai thác cách các cảm xúc này hình thành,điều khiển và thúc đẩy hành động của con người
1.3.1.Hạnh phúc
Niềm vui không đơn giản chỉ làm con người… thấy vui, mà còn thúc đẩy chúng tahành động Nghiên cứu của Winnicott về “nụ cười xã hội” của một các em bé chochúng ta biết rằng, niềm vui sẽ tăng lên khi được chia sẻ Lẽ tất nhiên, niềm vui vàhạnh phúc trở thành công cụ chính để kích thích việc chia sẻ trên các mạng xã hội.Theo nghiên cứu của Fractl, những cảm xúc bao gồm và có liên quan đến hạnh phúcchiếm phần lớn trong danh sách những cảm xúc chủ đạo trong những nội dung đượclan truyền rộng rãi (viral) trên mạng xã hội Top 10 cảm xúc liên quan đến hạnh phúctrong danh sách bao gồm 1 Buồn cười, 2 Thú vị, 3 Ngạc nhiên, 4 Hạnh phúc, 5.Vui thích, 6 Hài lòng, 7 Vui mừng, 8 Hy vọng, 9 Yêu mến, 10 Phấn khích
Trang 9Những cảm xúc chủ yếu trong các nội dung lan truyền trên mạng xã hội
Jonah Berger, giáo sư môn Marketing tại Đại học Pennsylvania’s Wharton School, tácgiả cuốn sách Contagious: Why Things Catch On (tạm dịch: Hiệu ứng lan truyền: Xuhướng được hình thành như thế nào), đã nghiên cứu gần 7000 bài báo trên tờ The NewYork Times để xác định những điểm chung của các bài báo nhận được phản hồi tíchcực nhất Ông ta chỉ ra rằng, những bài báo có nội dung càng tích cực, thì càng dễđược lan truyền rộng rãi
1.3.2.Nỗi buồn
Nghiên cứu cho thấy, những cảm xúc đau buồn xót xa cũng kích hoạt những vùng nãotương tự như hạnh phúc Khi não bộ cảm nhận nỗi buồn, nó tiết ra những chất hóa họcđặc biệt trong hệ thần kinh Paul Zack – một nhà nghiên cứu não đã cho thực hiện cáccuộc thí nghiệm và cho ra kết quả rằng khi tiếp xúc với những câu chuyện buồn, nãotiết ra chất hóa học là cortisol – loại hormone tạo nên stress, và oxytocin – loạihormone làm gia tăng sự kết nối và đồng cảm Những người có tỷ lệ oxytocin được sản sinh ra nhiều hơn sẽ có khuynh hướng đồng cảm và sẻ chia với người khác hơn.Như vậy những quảng cáo với yếu tố cảm xúc buồn dễ giúp người xem vô thức cảm
Trang 10thấy tin tưởng hơn vào thương hiệu đó, dễ sẻ chia và hành động hơn.
1.3.3.Sợ hãi
Một nghiên cứu được công bố bởi The Journal of Consumer Research :The Fascinating Marketing Power of Fear(2014) đã chứng minh rằng, nếu khách hàngcảm thấy sợ hãi khi xem một đoạn film quảng cáo, họ sẽ cảm thấy một “mối liên kết”mạnh mẽ hơn với thương hiệu đó, so với những cảm xúc khác như hạnh phúc, buồn bãhay phấn khích Giả thuyết đặt ra rằng, khi chúng ta sợ hãi, chúng ta sẽ cảm thấy cầnphải chia sẻ cảm giác đó với mọi người xung quanh – và nếu không có ai ở bên, thìchính thương hiệu xuất hiện trong đoạn quảng cáo sẽ đóng vai trò chia sẻ đó Các báocáo đã chỉ ra rằng nỗi sợ hãi có thể thúc đẩy gia tăng sự gắn kết giữa khách hàng vớithương hiệu
1.3.4.Giận giữ
Cơn giận dữ có thể dẫn đến những cảm xúc khác như sự hung hăng, bên cạnh đó nócòn tạo ra một dạng “ngoan cố” kỳ lạ khi người ta đang online, theo một nghiên cứugần đây của Đại học Wisconsin Trong nghiên cứu này, những người tham gia đãcùng được đọc một bài blog về những tranh cãi giữa mặt lợi và hại của công nghệnano Phần nội dung bài blog mà tất cả mọi người đọc đều giống nhau, tuy nhiên ởdưới bài post, một nhóm sẽ được đọc những bình luận lịch sự và đúng mực, trong khinhóm còn lại sẽ được đọc những bình luận với lời lẽ cục cằn, thô lỗ và giận dữ Nhữngbình luận thô lỗ đã làm cho những người tham gia trở nên bảo thủ hơn về lập trườngcủa mình Những người nghĩ rằng công nghệ nano có một vài tác hại sẽ càng cảm thấychắc chắn hơn khi đọc những bình luận xấu này, và ngược lại Điều thú vị hơn nữa làphản ứng của những người có ý kiến trung lập Nhóm được đọc những bình luận lịch
sự hầu như không thay đổi ý kiến của mình Từ đó có thể thấy, những điều tiêu cựcthực sự có tác động sâu và rộng – và đó cũng là một yếu tố giúp cho nội dung trênmạng xã hội được chia sẻ, lan truyền Trong nghiên cứu về những nội dung viral của
tờ New York Times đề cập ở trên, một số cảm xúc tiêu cực sẽ thúc đẩy tính lan truyền– đặc biệt là sự giận dữ
Trang 11Thống kê của New York Time về ảnh hưởng của cảm xúc tới tính lan truyền của nội
dung.
Chương 2 : Thực trạng và xu hướng ứng dụng loại hình thu hút bằng cảm xúc trong các viral content tại Việt Nam.
Do thời gian có hạn, bài nghiên cứu này chỉ tập trung quan sát và phân tích các quảngcáo ra mắt trong giai đoạn Tết Nguyên Đán 2019 Đây là thời điểm nhu cầu mua sắmtăng cao, các thương hiệu và nhãn hàng đều đưa ra những sản phẩm mới, chương trìnhmới, hay chỉ đơn giản là muốn thương hiệu của mình tiếp xúc với khách hàng nhiềuhơn nhằm gây thiện cảm và tăng độ nhận diện Có thể nói, giai đoạn Tết là giai đoạnmọi nhãn hàng dồn nhiều tâm huyết nhất cho marketing, cho truyền thông, quảng cáo.Giữa hàng trăm nội dung được các thương hiệu phát đi, ta có thể quan sát rõ ràng hơnthái độ của khách hàng với các quảng cáo, thông điệp đó
Bài viết sẽ đi sâu phân tích những quảng cáo nổi bật nhất dịp Tết nguyên đán 2019 đểđưa ra những xu hướng ứng dụng cảm xúc trong các quảng cáo được ưa chuộng nhấttại Việt Nam và phân tích cách các thương hiệu lồng ghép yếu tố cảm xúc vào các sảnphẩm truyền thông của mình Theo YouNet Media - Agency về Social Insight vàSolution hàng đầu tại Việt Nam, thuộc tập đoàn YouNet Group, cùng với các phântích thống kê từ các Agency nổi tiếng khác như Admicro Marketing AI, AdvertisingVietNam,… có thể kể ra những quảng cáo nổi bật nhất trong dịp Tết Nguyên Đán
2019 (tính từ 01/12/2018 đến 15/02/2019)
- Comfort - Tết này em không có gì để mặc
- Tiki - Tết hiện đại không ngại làm dâu
Trang 12- Omo - Đừng chỉ ăn Tết, Hãy trải nghiệm Tết
- Biti's - Đi để trở về 3
- Mirinda- Chuyện cũ bỏ qua
- Sam Sung- Bao giờ hết bận
- Cocacola - Mở lòng đón Tết
- Neptune - Đón xuân đại lộc
- Viettel pay - Hết mana và cần bơm
- Sunhouse - Đừng về nhà ăn Tết, hãy về nhà ăn cơm
- Nestle - Vui Tết như ý
- Pushmax - Pushmax cam phúc tươi tràn
- Momo - Lắc xì cùng momo
Dịp Tết nên các ngành hàng tiêu dùng, giải khát, thực phẩm, công nghệ, và mới nhất
là ngành hàng thương mại điện tử cũng được quan tâm nhiều hơn
2.1 Phân tích yếu tố cảm xúc trong các quảng cáo
2.1.1 Phân loại các quảng cáo
Dựa trên phần lý thuyết đã nêu ở trên về cảm xúc cũng như về cảm xúc trong quảngcáo, có thể chia các quảng cáo nổi bật trên vào các loại như sau :
+ Nestle - Vui Tết như ý+ Cocacola - Mở lòng đón Tết