Trong hơn nửathế kỷ sáng tác của mình, Nguyễn Công Hoan đã để lại một gia tài văn họckhá đồ sộ gồm hơn 200 truyện ngắn, trên 30 truyện dài và nhiều bài nghiêncứu, phê bình văn học nghệ t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 3sắc của khuynh hớng văn học hiện thực phê phán trớc Cách mạng tháng 8
-1945, và cũng là một trong những ngời đầu tiên góp phần xây dựng nền vănhọc của thời đại mới
1.2 Nói đến Nguyễn Công Hoan là nói đến "một sức sáng tạo mãnh
liệt", "một đời văn lực lỡng" Sự nghiệp văn học của ông bắt đầu từ rất sớm
khi ông mới 17 tuổi (từ những năm hai mơi của thế kỷ XX) Trong hơn nửathế kỷ sáng tác của mình, Nguyễn Công Hoan đã để lại một gia tài văn họckhá đồ sộ gồm hơn 200 truyện ngắn, trên 30 truyện dài và nhiều bài nghiêncứu, phê bình văn học nghệ thuật, cùng với những tập hồi ức tự sự mangdấu ấn lịch sử, thời đại mà ông đã trải qua Dù sáng tác ở nhiều thể loạikhác nhau, song thể loại thành công nhất, mang lại vinh danh cho NguyễnCông Hoan trong nền văn học dân tộc đó chính là truyện ngắn Ngay từ khimới xuất hiện trên văn đàn, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan luôn đợc
sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu phê bình cùng nhiều thế hệ bạn đọc.1.3 Sáng tác của Nguyễn Công Hoan bao gồm nhiều thể loại nhngtruyện ngắn trào phúng là lĩnh vực thành công hơn cả Chất trào phúng thểhiện rõ nét ở tiếng cời Tiếng cời trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoankhông chua chát nh trong các sáng tác của Vũ Trọng Phụng, cũng khôngcay đắng, xót xa nh trong các tác phẩm của Nam Cao, mà tiếng cời trongtruyện ngắn Nguyễn Công Hoan là tiếng cời giòn giã, đợc bật lên từ sânkhấu cuộc đời với nhiều cung bậc, sắc thái khác nhau Truyện ngắn của ôngkhông chỉ bộc lộ chất hài trí tuệ, mà còn bộc lộ tính kịch đậm nét nhằmphơi bày bản chất xã hội Bởi vậy khi nghiên cứu về truyện ngắn NguyễnCông Hoan không thể không đề cập tới “tính kịch”, một thành công nghệthuật độc đáo trong sáng tác truyện ngắn của ông
2 Lịch sử vấn đề
Tính kịch trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, gây đợc sự chú
ý của d luận ngay từ những truyện ngắn đầu tiên của ông Sau khi tập
truyện Kép T Bền (1935) đợc xuất bản, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
càng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, Suốt thời gian đó đã có rấtnhiều bài báo, trang viết đề cập đến nhà văn, cũng nh các tác phẩm của ông.Mỗi ý kiến xuất hiện là một lời khen, chê khác nhau, nhng với NguyễnCông Hoan thì thời gian và độc giả mới chính là thớc đo chuẩn mực nhất.Nhìn chung các tài liệu nghiên cứu đợc chia làm hai chặng: trớc 1945 vàsau 1945
2.1 Giai đoạn trớc 1945
Trang 4Trớc Cách mạng tháng Tám, khi truyện ngắn Nguyễn Công Hoanmới ra mắt bạn đọc, đã có nhiều ý kiến khen ngợi nội dung hiện thực và giátrị nghệ thuật viết truyện ngắn của nhà văn
Năm 1932, Trúc Hà trong bài Một ngọn bút mới - Ông Nguyễn Công
Hoan đã tỏ ra khá tinh tế khi nhận ra giọng văn mới mẻ pha chất hài hớc
của Nguyễn Công Hoan, tác giả nhận xét: "Văn ông có cái hay, rõ ràng,sáng sủa, thiết thực, hơi văn nhanh và gọn, lời văn hàm một giọng tràophúng, lại thờng hay đệm một vài câu hoặc một vài chữ có ý khôi hài, bônglơn thú vị" [18]
Đến khi tập truyện ngắn Kép T Bền ra đời vào năm 1935, đã tạo một
tiếng vang lớn gây xôn xao, chú ý trong đời sống văn học lúc bấy giờ Từ
đây, bắt đầu xuất hiện nhiều ý kiến khen, chê trái ngợc nhau Hải Triều vàphái nghệ thuật vị nhân sinh đánh giá cao nội dung hiện thực và giá trị nghệthuật của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan: "Cái chủ trơng "Nghệ thuật vịnhân sinh" của tôi ngày nay đã biểu hiện bằng những bức tranh rất linh hoạtdới ngọn bút tài tình của nhà văn sĩ Nguyễn Công Hoan", "Về phơng diệntả thực, có thể nói tác giả đã đạt đến mục đích phần lớn rồi vậy Nhng vềphơng diện xã hội thì thật cha hoàn toàn" [61]
Phái nghệ thuật vị nghệ thuật, đại diện là Hoài Thanh cũng khentruyện ngắn của Nguyễn Công Hoan: "Văn Nguyễn Công Hoan xem mệt
mà có ích Văn nh thế xem khôn ngời ra Tình chua, cay, mặn, lạt nh vẽ radới ngòi bút của Nguyễn Công Hoan" [57]
Cùng với Hoài Thanh, Thiếu Sơn cũng đánh giá cao nghệ thuật viếttruyện của Nguyễn Công Hoan: "Văn ông Hoan vừa vui vừa hoạt, bao giờcũng có giọng khôi hài dễ dãi với cái cách trào phúng sâu cay Cái đặc sắccủa ông Hoan là ở chỗ ông biết quan sát những cái chung quanh mình, biếtkiểm tra những chuyện tức cời, biết vẽ ngời bằng những nét ngộ nghĩnhthần tình, biết vấn đáp bằng những giọng hoạt kê lý thú và biết kết cấuthành những tấn bi hài kịch" [54]
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những ý kiến chê Nguyễn CôngHoan về nội dung truyện ngắn và coi nghệ thuật viết truyện của ông chẳng
ra gì Chẳng hạn:
Năm 1936, Lê Tràng Kiều đa ra ý kiến: "Ai có đọc hết tác phẩm củaNguyễn Công Hoan thì thấy ông không đáng là nhà văn xã hội" và "NguyễnCông Hoan theo chúng tôi chỉ là một anh Kép hát đợc vài câu bông lơn códuyên thế thôi" [21, 36]
Trang 5Năm 1939, Trơng Chính trong bài Dới mắt tôi cho rằng: “Nếu coi
Nguyễn Công Hoan là "nhà văn xã hội", là "nâng ông lên một vị trí quá caotrong văn học Việt Nam", rằng "Nguyễn Công Hoan chỉ là một anh pha trò,tàn nhẫn, tinh quái, thô lỗ" [9]
Nh vậy, nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trớc Cáchmạng có nhiều ý kiến khen chê khác nhau Nhng khen ngợi vẫn chiếm đa
số Những ngời ở cả hai phái vị nghệ thuật và vị nhân sinh, hay cả các nhànghiên cứu không nằm trong hai phái này nh Hạc Đình, Thúc Nhuận,…
đều thừa nhận nghệ thuật viết truyện tài tình của Nguyễn Công Hoan
Chẳng hạn, trong bài Phê bình Kép T Bền, tác giả Trần Hạc Đình viết: "Ông
a tả, a vẽ cái xấu xa, hèn mạt đê tiện của một hạng ngời xa nay vẫn đeo cáimặt nạ giả dối" và "trong khi viết văn, ông tỏ ra là một ngời rất có tự chủ.Trớc những cảnh nực cời, chua xót, thê thảm, thơng tâm, ông vẫn lạnh lùng
điềm tĩnh", tác giả bài phê bình này đặc biệt ca ngợi tiếng cời trong truyệnngắn của Nguyễn Công Hoan Đó là tiếng cời "mỉa mai, lạnh lùng, trong đó
ẩn cả một tấm lòng cảm động, đau đớn ê chề vì những điều trông thấy…Tiếng cời ấy giống nh tiếng cời của Molie" [15]
Còn Thúc Nhuận thì cho rằng: tiếng cời của Nguyễn Công Hoan "nócay chua, nó sâu sắc, nó nghĩa lý bằng mời cái khóc Cái "cời vàng" ấy nóthờng có mấy giọt nớc mắt lặng lẽ chảy theo sau" [44]
Sau khi tập truyện Kép T Bền ra đời, truyện ngắn của Nguyễn Công
Hoan nhìn chung đợc đánh giá cao Nhiều ngời cho là tập truyện mang nộidung hiện thực phong phú và nghệ thuật đặc sắc, độc đáo nhất là nghệ thuậttrào phúng
Năm 1944, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, đã đánh giá cao
về cách viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan: "Nguyễn Công Hoan sởtrờng về truyện ngắn hơn là truyện dài, ở truyện ngắn, ông tỏ ra là một ngời
kể chuyện rất có duyên Phần nhiều truyện ngắn của ông linh động lại cónhiều bất ngờ, làm ngời đọc khoái trá vô cùng" [46, 979]
Nh vậy, trớc cách mạng, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đợcgiới nghiên cứu, phê bình quan tâm và đã có nhiều đánh giá khác nhau Nh-
ng sự thành công và đóng góp to lớn của ông đã đợc khẳng định một cách
rõ nét qua nội dung sâu sắc và nghệ thuật độc đáo trong lòng độc giả
Trang 62.2 Giai đoạn sau 1945
Sau Cách mạng tháng Tám, sự nghiệp văn học của Nguyên CôngHoan đợc đánh giá cao hơn, xác đáng hơn Các chuyên luận, các giáo trình
đại học, các bài báo, tạp chí, các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ ngày càngkhai thác nhiều mặt, nhiều khía cạnh, nhiều yếu tố trong sáng tác của ông
Đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn, trên nhiều phơng diện: tiếng cời tràophúng, ngôn ngữ, nhân vật và gần đây nhất là vấn đề “tính kịch” đang đợcquan tâm tìm hiểu Tuy vậy, vẫn còn một vài ý kiến đánh giá cha đúng vềcác truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Năm 1957, khi đánh giá về nghệ thuật trào phúng của Nguyễn CôngHoan, tác giả Trơng Chính nhận xét “ Kể cũng buồn cời, Nguyễn CôngHoan là một nhà mô phạm lâu năm nh thế, nhng trong văn chơng ôngkhông nghiêm túc tí nào cả Âu đó cũng là hai mặt của một con ngời”, vàtrong nhiều truyện của ông “ Tiếng cời làm dịu mất nỗi chua xót, đánh tanmất lòng căm phẫn” [10, 349]
Tuy nhiên đa số các nhà nghiên cứu, phê bình đều đa ra những nhậnxét, đánh giá xác thực, tinh tế ở nhiều góc độ về các tác phẩm của NguyễnCông Hoan
Năm 1968, tác giả Nguyễn Đức Đàn nhận định: "Về nghệ thuật viếttruyện ngắn phải nói rằng Nguyễn Công Hoan là ngời có nhiều khả năng vàkinh nghiệm Truyện của ông thờng rất ngắn Lời văn khúc chiết, giản dị.Cốt truyện đợc dẫn dắt có nghệ thuật để hấp dẫn ngời đọc Thờng kết cụcbao giờ cũng đột ngột Mỗi truyện thờng nh một màn kịch ngắn có giớithiệu, thắt nút và mở nút Cố nhiên không phải tất cả mọi truyện đều đạt cả.Nhng thờng những truyện không đạt chủ yếu là do nội dung t tởng" [11, 77-81]
Năm 1973, khi viết về thế giới nhân vật trong truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan, tác giả Nguyễn Trác cho rằng: "thế giới của những kẻkhốn khổ, đáng thơng", còn về cách viết, ông lại cho rằng: "Văn ông giản
dị tự nhiên, và đậm đà màu sắc dân tộc Ông biết sử dụng ngôn ngữ hợp vớitâm lý các nhân vật thuộc nhiều hạng khác nhau trong xã hội" [60, 208]
Nhà phê bình Vũ Ngọc Khánh năm 1974 trong cuốn Thơ văn trào
phúng Việt Nam nhận xét: "Thủ pháp quen thuộc và độc đáo của Nguyễn
Trang 7Công Hoan là hay làm cho bộ mặt đối tợng trở nên méo mó hơn, lố bịchhơn để bản chất ti tiện của nó đợc nổi rõ hơn" [ 28, 375].
Phong Lê trong cuốn Văn và Ngời viết năm 1976 nhận định về tiếng
cời Nguyễn Công Hoan: "Một thứ vũ khí Ông đứng trên tất cả mà cời Cờivới mọi cung bậc: hả hê, khoái trá, chua chát, chế giễu, khinh bỉ, đau xót,căm giận, Có cái cời ra nớc mắt của một tấm lòng nhân hậu Nhng lại cócái cời để mà cời, của một ngời vô tình hay vô tâm, thậm chí có khi lạc
điệu Cho nên cần thấy nét đặc sắc trong cái cời của Nguyễn Công Hoan,nhng cũng phải thấy không phải cái cời nào của ông cũng đúng chỗ và có ýnghĩa" [33, 87]
Năm 1978, trong Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: "Đọc truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thấytài hoa của ông chủ yếu dồn vào cốt truyện và cách kể chuyện Ông có cáiduyên kể truyện hết sức hấp dẫn Phơng thức kể chuyện biến hóa, tài vẽhình, vẽ cảnh sinh động, khả năng dựng đối thoại có kịch tính, giọng kểhoạt bát, lối ví von so sánh độc đáo Nhng về đại thể bí quyết chủ yếu vẫn
là nghệ thuật dẫn dắt tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng, tình thế hài
h-ớc bật ra ở cuối tác phẩm một cách đột ngột bất ngờ" [ 37, 07]
Năm 1983, tác giả Phan Cự Đệ trong Bộ sách phê bình và bình luận
văn học cũng có nhận xét về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan: "bộc lộ
những mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tợng, giữa nội dung và hình thức đểlàm bật lên tiếng cời đả kích" [13, 2]
Năm 1988, Nguyễn Hoành Khung trong Từ điển văn học, nhận định:
"Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Công Hoan tỏ ra khá già dặn, độc đáo trongthể loại truyện ngắn trào phúng Ông giỏi phát hiện ra những tình huốngmâu thuẫn đáng cời và có cách kể chuyện thật tự nhiên, có duyên, hấp dẫnvới một ngôn ngữ sinh động, rất gần với khẩu ngữ hàng ngày không có gìsách vở" [31, 1114]
Theo dòng thời gian, các công trình nghiên cứu truyện ngắn NguyễnCông Hoan dần đợc khai phá sâu hơn về vấn đề “tính kịch” Trong sốnhững nhà nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan, Lê Thị Đức Hạnh đã dànhnhiều thời gian và tâm huyết cho truyện ngắn của ông Tiêu biểu là công
trình Kỹ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, tác giả nhận xét:
"Nguyễn Công Hoan tiếp nhận phần lớn những hình ảnh hay, tốt, gạn lọclấy những phần tinh túy, nhuần nhuyễn vào ngòi bút, tạo thành một phầnmáu thịt trong câu văn của ông" [ 21, 394]
Trang 8Với nhiều hớng tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, thì tiếp cậntruyện ngắn của ông từ phơng diện kịch đã đợc đặt ra, đây không còn là vấn
đề hoàn toàn mới mẻ, mà đã có một số công trình, bài viết đã đề cập đến.Hầu hết các bài viết của các tác giả đều thừa nhận truyện ngắn của NguyễnCông Hoan giàu tính kịch, có nhiều điểm gần gũi, tơng đồng với kịch ngắn.Thừa nhận vấn đề này có các tác giả sau:
Tác giả Nguyễn Văn Đấu trong bài viết Chất kịch trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan, có viết "Kịch hóa trở thành cảm hứng, thành phơng
thức xây dựng tác phẩm, chi phối trực tiếp đến các cấu trúc cùng các thành
tố cơ bản của sáng tác Nguyễn Công Hoan, mỗi truyện ngắn của ông là mộttình huống, một xung đột giàu tính kịch nhất" [12]
Tác giả Nguyễn Minh Châu trong cuốn Trang giấy trớc đèn, có nhận
xét: "Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan hiện ra trớc mắt chúng ta vớinhững lớp lang và đối thoại nh trong một màn kịch" [ 8, 186]
Những ý kiến trên đây tuy có đề cập đến vấn đề kịch nhng chỉ là sự
đề cập chung chung, chứ cha đi vào phân tích cụ thể những biểu hiện củatính kịch trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Nếu đề cập đến thì chỉ mớidừng lại ở việc xây dựng xung đột Trong đó có các tác giả nh Lê Thị ĐứcHạnh, Trần Văn Hiếu,…
Trần Văn Hiếu trong bài viết Chất trí tuệ của tiếng cời và óc châm
chọc tinh quái của Nguyễn Công Hoan, đã chỉ ra trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan có các loại xung đột: Xung đột nội dung - hình thức, xung độtphúc - họa, xung đột nguyên nhân - kết quả Và có cách kết thúc truyệnngắn bất ngờ nh ở kịch.[ 23]
Tuy nhiên, đó chỉ là những cách nhìn riêng lẻ, tác giả cha khái quát
đợc nó là một thành tố cấu thành tính kịch trong truyện ngắn Nguyễn CôngHoan
Gần đây, Trần Đình Sử và Nguyễn Thanh Tú trong cuốn Thi pháp
truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan, Nxb Đại học quốc gia, 2001
có xem xét tính kịch ở các khía cạnh sau:
- Nguyên tắc tổ chức sân khấu hóa không gian - thời gian: "Nhà văn
tổ chức xây dựng không gian và thời gian theo yêu cầu của thể loại kịch.Không gian trong truyện của ông thờng hẹp, chật chội mang tính sân khấu,
… Thời gian bị bị dồn nén, căng thẳng rất phù hợp với kịch,… thời gian,không gian nhằm tạo khung cho sự phát triển của côt truyện, vì vậy chúngmang tính chất sân khấu" [53,92 - 93]
Trang 9- Nguyên tắc kịch hóa trần thuật: "Trần thuật đợc kịch hóa tức trầnthuật phải theo những quy tắc nhất định của nghệ thuật kịch" [53, 94]
- Kịch hóa nhân vật: Tác giả có đề cập đến những phơng diện kịchhóa hành động, kịch hóa ngôn ngữ, tâm lý nhân vật, nhân vật đã đợc xâydựng theo nguyên tắc kịch,…
Trên đây, có thể đợc xem là công trình từ trớc đến nay chú ý nhiềunhất đến tính kịch trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, tuy vậy nóvẫn chỉ dừng lại ở một số vấn đề, khía cạnh nhỏ thuộc phơng diện thi pháptruyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Điểm qua những ý kiến trên có thể thấy, truyện ngắn của NguyễnCông Hoa đã thu hút đợc đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình trong vàngoài nớc Chúng tôi nhận thấy một số phơng diện “tính kịch” trong truyệnngắn Nguyễn Công Hoan đã đợc đề cập Nhng cha có công trình nào xemvấn đề này là đối tợng nghiên cứu chính và tập trung một cách toàn diện,sâu sắc, có hệ thống Với việc kế thừa kết quả của ngời đi trớc, chúng tôi có
đợc những gợi mở, nhận xét, đánh giá tin cậy để triển khai nghiên cứu đềtài thú vị này một cách toàn diện hơn, có hệ thống hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đi vào khám phá một phơng diện thuộc giá trị t tởng vàphong cách nhà văn Tính kịch trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, đểthấy rõ cá tính sáng tạo của nhà văn, từ đó góp phần khẳng định vị trí một
đại biểu cho cả khuynh hớng, một thể loại, một phong cách có ý nghĩa lớnlao trên phơng diện mỹ học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ khảo sát, nghiên cứu “tính kịch” trong truyệnngắn Nguyễn Công Hoan trớc cách mạng tháng 8 – 1945, nhằm góp phầnsoi sáng những phơng diện trong sự nghiệp văn học của Nguyễn CôngHoan, để tìm ra nét đặc trng trong nghệ thuật viết truyện ngắn của nhà văn
Từ đó mong muốn có những đóng góp nhỏ nhng bổ ích và thiết thực choviệc nghiên cứu và giảng dạy các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn CôngHoan trong nhà trờng
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng mà luận văn đề cập đến là Tính kịch trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan trớc Cách mạng tháng 8 - 1945.
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các truyện ngắn của Nguyễn Công
Hoan Chúng tôi chọn Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, do Lê
Minh su tầm biên soạn, Nxb Văn học, 2004 làm đối tợng khảo sát chính đểviết luận văn này
định vị trí của nhà văn trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, và
đánh giá thỏa đáng những đóng góp của ông cho nền văn học dân tộc
6.2 Nghiên cứu tính kịch trong truyện ngắn thông qua mối liên hệmật thiết với t tởng và phong cách nghệ thuật của nhà văn, luận văn mongphát hiện và làm sáng tỏ mối liên quan có tính quy luật, giữa các phơngdiện khác nhau của sự nghiệp Nguyễn Công Hoan trớc Cách mạng thángTám năm 1945
6.3 Luận văn sẽ cung cấp thêm một tài liệu nghiên cứu, học tậpthiết thực về văn chơng Nguyễn Công Hoan, giúp học sinh, sinh viên, cóthêm điều kiện tiếp nhận một cách khoa học và trân trọng những sáng táccủa nhà văn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chơng:
Chơng 1 Cơ sở hình thành tính kịch của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.
Chơng 2 Tình huống và xung đột kịch.
Sau cùng là Tài liệu tham khảo.
Trang 11
Chơng 1 Cơ sở hình thành tính kịch của truyện ngắn nguyễn công hoan
Trong số những nhà văn hiện thực phê phán tiêu biểu của nền văn họcViệt Nam hiện đại, Nguyễn Công Hoan là ngời có vinh dự mở đờng ở thời
kỳ văn xuôi quốc ngữ còn non trẻ, Nguyễn Công Hoan đã tự xác định mộtlối đi riêng Chính vì vậy, bên cạnh những cây bút xuất sắc nh Vũ TrọngPhụng, Nam Cao,… tên tuổi của ông vẫn không bị phai mờ theo thời gian,ngòi bút của Nguyễn Công Hoan ngày càng cho ra đời những tác phẩm hấpdẫn bạn đọc Trong cách nhìn nhận đánh giá của các thế hệ độc giả,Nguyễn Công Hoan không chỉ đơn thuần có cá tính sáng tạo mà còn là một
đại biểu cho cả một khuynh hớng, một thể loại, một phong cách có ý nghĩalớn lao trên phơng diện mỹ học
Nguyễn Công Hoan sáng tác khá sớm, từ năm 16 - 17 tuổi Với đờivăn trải dài trên nửa thế kỷ, ông đã để lại cho đời một di sản văn học đồ sộ
ở nhiều thể loại khác nhau từ tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn,… Trong đó,truyện ngắn là lĩnh vực thành công hơn cả, thể hiện rõ nhất phong cách độc
đáo của Nguyễn Công Hoan Trong truyện ngắn của ông tính kịch trở thànhmột đặc điểm bao trùm Tính kịch là sản phẩm của một quan niệm nghệthuật về cuộc đời của một tính cách con ngời
1.1 Khái niệm kịch
Về khái niệm kịch đã có khá nhiều các nhà nghiên cứu đề cập đến vớinhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau nhng nhìn chung đều cho rằng kịchthờng tạo nên những mâu thuẫn, xung đột đầy kịch tính
Theo Từ điển thuật ngữ văn học nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần
Đình Sử - Nguyên Khắc Phi giới thuyết kịch trên hai cấp độ:
1 ở cấp độ loại hình, “kịch là một trong ba phơng thức cơ bản của vănhọc (kịch, tự sự, trữ tình) Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học Nóvừa để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phơng diện vănbản của kịch… Kịch đợc xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn của lịch sử,xã hội hoặc những xung đột muôn thủa mang tính toàn nhân loại (nh giữathiện và ác, cao cả và thấp hèn, ớc mơ và hiện thực,…) Những xung đột ấy
đợc thể hiện bằng một cốt truyện có cấu trúc chặt chẽ qua hành động của
Trang 12các nhân vật,… Trong kịch thờng chứa đựng nhiều kịch tính, tức là những
sự căng thẳng do tình huống tạo ra đối với nhân vật…
2 ở cấp độ thể loại, thuật ngữ “kịch (đram) đợc dùng để chỉ một thểloại văn học - sân khấu có vị trí tơng đơng với bi kịch và hài kịch…."[19, 167]
Trong 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân định nghĩa về
kịch: "Nhìn chung kịch đợc hình thành trên cơ sở sự tiến triển của diễn ớng mang tính sân khấu, việc đẩy lên tiền cảnh những diễn viên, kết hợptrình diễn làm xuất hiện kịch Nội dung chủ yếu của kịch là những mâuthuẫn xã hội, lịch sử hoặc những xung đột muôn thủa của con ngời nóichung Còn nét chủ đạo nhất của kịch là tính kịch, đây là một thuộc tínhtinh thần của con ngời do các tình huống gây nên, khi những điều thiêngliêng, cốt thiết không đợc thực hiện hoặc bị đe dọa" [2, 171]
x-ở luận văn này, chúng tôi đi vào tìm hiểu một số đặc điểm của loạihình kịch để làm cơ sở lý luận soi sáng tính kịch trong truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan Chúng tôi sẽ tìm hiểu cả hai phơng diện của kịch: ph-
ơng diện kịch bản văn học và phơng diện nghệ thuật sân khấu Thể loại kịchngắn sẽ đợc quan tâm nhiều hơn Bởi vì nó gần với đặc trng của truyện ngắnNguyễn Công Hoan
Trang 13vật đợc bộc lộ sắc nét, t tởng cốt truyện đợc hiện hình đầy đủ Nó đóng vaitrò tổ chức toàn bộ cốt truyện” [8, 178].
1.2.2 Kết cấu
1.2.2.1 Khái niệm kết cấu
“Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm…Kết cấu là phơng tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật, đảmnhiệm các chức năng rất đa dạng: Bộc lộ tốt chủ đề và t tởng của tác phẩm,triển khai, trình bày hấp dẫn cốt truyện; cấu trúc hợp lý hệ thống tính cách;
tổ chức điểm nhìn của tác giả: tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm nh là mộthiện tợng thẩm mỹ” [19, 156]
Nh vậy, hiểu một cách ngắn gọn thì kết cấu là hình thức tổ chức tácphẩm, hay chính xác hơn là hình thức tổ chức sự kiện, nhân vật, ngônngữ, sao cho biểu đạt đợc giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật cao nhất.Vì thế, khi đánh giá kết cấu của một tác phẩm văn học, tiêu chí quan trọngnhất phải xem xét yêu cầu thể hiện nội dung t tởng của tác phẩm đó, hiệuquả tác động mà tác phẩm để lại trong lòng ngời đọc
Đối với mỗi nhà văn, việc lựa chọn và xây dựng một kết cấu nh thếnào cho tác phẩm của mình phụ thuộc vào năng lực, trình độ nhận thức, lýgiải cuộc sống của từng nhà văn Hay nói cách khác, tính nghệ thuật của kếtcấu tác phẩm cao hay thấp nó đánh giá đợc tài năng và phơng pháp t tởngcủa tác giả trong việc phản ánh hiện thực
Khi tìm hiểu kết cấu một tác phẩm, chúng ta cần chú ý đến mối quan
hệ bên trong giữa các yếu tố của tác phẩm, nghĩa là mối quan hệ giữa kếtcấu và chân lý cuộc sống
ở đây, chúng tôi cần phân biệt kết cấu và bố cục Bố cục đợc quanniệm là: “sự sắp xếp các phần trong tác phẩm, là một bộ phận của kết cấu”[51, 91] Từ kết cấu, nhà văn tổ chức thành bố cục tác phẩm, kết cấu hòalẫn trong từng yếu tố của tác phẩm rất khó nhìn thấy, còn bố cục là bề mặtcủa tác phẩm nên dễ thấy hơn
Nh vậy, trên đây là những lý thuyết cơ bản xung quanh khái niệm kết
cấu Trên cơ sở những lý luận chung đó, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu một số
bình diện của kết cấu loại hình kịch Kết cấu loại hình kịch ở đây sẽ đợcchúng tôi xem xét trên cả hai phơng diện: kịch bản văn học và biểu diễn sânkhấu
1.2.2.2 Kết cấu của kịch
Trang 14Mỗi kịch bản văn học hay mỗi vở kịch công diễn đều có một kết cấuriêng tùy theo mục đích, dụng ý nghệ thuật của tác giả Tuy nhiên, cơ sởchung cho kết cấu của kịch là việc phân chia các hồi cảnh Bằng cách đó,mỗi thời điểm (đợc miêu tả ở mỗi hồi) nối tiếp với các thời điểm khác Còn
về mặt thời gian thì thời gian đợc miêu tả (thời gian thực tại) phản ứng vớithời gian cảm thụ (thời gian nghệ thuật)
* Vấn đề phân chia hồi, cảnh trong kịch
Thông thờng ở kịch mỗi hồi 1 cảnh Tuy nhiên, ở kịch hát phơng
đông hoặc kịch hát Breacht (kịch tự sự) Thời gian và địa điểm đợc miêu tả
có thể chuyển đổi trong phạm vi một hồi, có nghĩa là một hồi có thể cónhiều cảnh Việc phân chia mỗi hồi - một cảnh trong kịch làm cho kịch đỡrối và tạo màu sắc xác thực đời sống cho vỡ diễn
Đối với kịch ngắn thì thông thờng mỗi vở chỉ có một hồi, 1 cảnh,nhiều nhất là 2 cảnh Nhng sự phân chia ấy chỉ đơn thuần nhằm nhấn mạnhmột vấn đề nào đấy nh nhấn mạnh sự đối lập, tơng phản, vì tính chất củakịch ngắn là mỗi vở chỉ nhằm nêu bật một tình huống, một mâu thuẫn,xung đột nào đấy giữa các nhân vật tham gia cốt truyện
* Vấn đề tổ chức hình tợng nhân vật
So với tiểu thuyết, truyện dài, thì kịch co số lợng nhân vật tham giacốt truyện ít hơn, đặc biệt là kịch ngắn lại càng ít Bởi vì kịch không phảiviết ra để đọc mà để diễn trên sân khấu, cho nên nó chịu sự chế định khắtkhe của không gian, thời gian sân khấu và chịu sự chi phối kết cấu hồi,cảnh,… không thể cùng một lúc tung lên sân khấu nhiều diễn viên đợc (trừnhững trờng hợp đám đông xuất hiện với vai trò nh một nhân vật) Chính sốlợng nhân vật trong kịch ít nên việc tổ chức mạng lới các mối quan hệ cũngkhông quá phức tạp nh ở thể loại tiểu thuyết, ở kịch ít có kết cấu đa thuyết,nhất là kịch ngắn Các nhân vật trong kịch thờng đợc phân thành hai tuyến
đối lập nhau gay gắt, điều này cũng thể hiện tính phù hợp với đặc trng cơbản của kịch là xung đột
* Vấn đề tổ chức hệ thống sự kiện
Theo giáo s Phơng Lựu thì: “Sự kiện là những biến đổi, tác động, sự
cố có ý nghĩa quan trọng đối với nhân vật, làm cho nhân vật và quan hệ củachúng không giữ nguyên hiện trạng mà phải biến đổi theo” [51, 100] Cách
tổ chức hệ thống sự kiện cơ bản nhất của văn học là liên kết các sự kiện lạithành truyện (tiêu biểu là tự sự và kịch) “Truyện ở đây có nghĩa là chuỗi sựkiện xẩy ra liên tiếp trong không gian và thời gian cho nhân vật và có ý
Trang 15nghĩa đối với tác giả, có mở đầu, có phát triển và có kết thúc, thể hiệnnhững quan hệ mâu thuẫn và quá trình nhất định của cuộc sống” [51, 101].Mỗi thể loại văn học có một hình thức tổ chức hệ thống sự kiện khác nhau,nhng bất kỳ tổ chức theo hình thức nào thì việc tổ chức hệ thống sự kiệncũng phải gắn liền với sự tổ hợp hệ thống nhân vật.
Nh trên đã nói, ở kịch do chịu sự chế định của tính chất sân khấu nên
hệ thống sự kiện cũng ít hơn so với tiểu thuyết, kịch gia khi đa mỗi một sựkiện nào vào vở kịch đều phải chọn lựa kỹ càng Nhất là đối với thể loạikịch ngắn thì sự kiện phải sàng lọc nghiệt ngã hơn nữa, vì mỗi sự kiện trongkịch ngắn đều phải thực sự làm nổi bật đợc tính cách, bản chất của nhânvật- mà nhân vật lại chỉ xuất hiện trong chốc lát ngắn ngủi nhng phải để lại
ấn tợng sâu đậm cho ngời xem Nói thế không có nghĩa là phải đơn giảnhóa cốt truyện, họăc nh thế cốt truyện kịch sẽ không còn sinh động bằngcác thể loại khác, nói nh thế để thấy những sự kiện, tình tiết trong kịch phảithật sự tiêu biểu và cần thiết, có ý nghĩa tơng đơng, khái quát cao, chúngphải cô đúc, gãy gọn và phải liên đới nhau một cách chặt chẽ, lôgic, tựnhiên và tất yếu Sự kiện trớc là cơ sở để xuất hiện sự kiện sau, sự kiện sau
là sự phát triển khách quan của sự kiện trớc Mặt khác, kịch yêu cầu với sốlợng chi tiết, sự kiện ít nhng các kịch gia nhất thiết phải tổ chức sự kiện saocho có chỗ ngoặt, có chỗ đột biến, nhảy vọt, tạo đợc sự ngạc nhiên và hứngthú cho ngời xem
* Về hình thức tổ chức thời gian, không gian nghệ thụât
Không gian và thời gian góp phần tổ chức kết cấu tác phẩm ở kịch,không gian và thời gian đợc tổ chức chặt chẽ theo một kiểu riêng, so với cácthể loại khác thì không gian và thời gian trong kịch có một độ nén chặt tối
đa Xét về không gian ở kịch, chúng tôi chủ yếu đi vào tìm hiểu không giansân khấu ở phơng diện nghệ thuật biểu diễn sân khấu Bởi vì không giankịch là không gian sân khấu nên chúng thờng rất hẹp, chật chội, nó thờngchỉ ở một địa điểm và thờng có ít cảnh vật Đặc điểm này của kịch chịu sựquy định của việc thởng thức trực tiếp của khán giả Còn về thời gian nghệthuật trong kịch chúng tôi thấy ở kịch rất ít xuất hiện thời gian tơng lai vàthời gian quá khứ, quá khứ nếu có xuất hiện thì cũng hớng đến mục đích làlàm sáng tỏ thời gian hiện tại, đặc biệt là ở kịch ngắn bao giờ cũng phản
ánh mâu thuẫn, xung đột ở hiện tại; hay ghi lại, tái hiện lại một mảnh đời,
đoạn đờng đáng nhớ của nhân vật trong hiện tại
Trang 16Tuy vậy, phải thấy rằng kết cấu của kịch rất đa dạng, tùy vào nộidung, chủ đề và dụng ý nghệ thuật mà các kịch gia có thể linh họat tổ chứccho kịch nhiều hình thức kết cấu khác nhau dựa trên hệ thống lý luận nêutrên Bởi vì tổ chức kết cấu luôn là một họat động mang tính sáng tạo, mangnét phong cách của mỗi nhà văn, nhng đối với kịch dù tổ chức kết cấu kịch
nh thế nào chăng nữa thì cũng phải tạo đợc tính kịch, độ gay cấn quyết liệt
và những ngạc nhiên, bất ngờ cho ngời thởng thức
định, và diễn cho khán giả thởng thức trực tiếp, nên nó chỉ có thể phản ánh
đợc những mâu thuẫn đã phát triển thành xung đột, đòi hỏi phải đợc giảiquyết bằng cách này hay cách khác Hêghen cho rằng: “tình thế giàu xung
đột là đối tợng u tiên của kịch” Nói cách khác, xung đột trở thành đặc điểm
về đề tài và chủ đề của kịch Nó là cơ sở, là lực thúc đẩy của hành động,quy định các giai đoạn chính của sự phát triển cốt truyện:
- Sự nảy sinh xung đột (trình bày, giai đoạn, thắt nút)
- Sự gay gắt cao độ của xung đột (đỉnh điểm, cao trào)
- Sự giải quyết xung đột (kết thúc, mở nút)
Trong kịch, có nhiều loại xung đột khác nhau, nhng chung quy lại thì
nó thờng đợc hiện diện dới dạng những va chạm, những đụng độ và chống
đối trực tiếp giữa các thế lực họat động trong tác phẩm Đó có thể là tínhcách - hoàn cảnh; tính cách - tính cách; hình thức - nội dung, nhng tậptrung nhất vẫn là xung đột giữa các tính cách mang quan niệm sống và đạidiện cho những lực lợng khác nhau trong cuộc sống
Tuy vậy, đôi khi xung đột hoàn toàn nằm ngoài cốt truyện: ví dụ nh
sự tơng phản của kết cấu; sự đối lập giữa các tình huống, các chi tiết, vậtthể, Xung đột còn có thể bộc lộ ở những va chạm về sự kiện, ở thế đối lập
về hàm nghĩa, hình ảnh đối lập nhau,
Trang 17Bản thân xung đột có thể chuyển dạng trong tiến trình nó đợc triểnkhai khi thì dịu đi, khi thì gay cấn, Và “đặc trng thẫm mỹ của xung độttrong kịch cùng với cảm hứng chủ đạo của nó phụ thuộc vào tính chất cácthế lực tác động lẫn nhau: Xung đột giữa cái cao cả - cái cao cả làm nàysinh cảm hứng bi kịch; xung đột giữa cái thấp kém làm nảy sinh cảm hứng
bi kịch: Xung đột giữa cái cao cả - cái thấp kém nảy sinh cảm hứng tràophúng [2, 415]
Tóm lại, xung đột là nòng cốt chính yếu của kịch, “xung đột làmthành hạt nhân của đề tài nghệ thụât; cách thức và hớng giải quyết xung độtlàm thành hạt nhân t tởng nghệ thuật” [2, 415] Xung đột trong kịch là nhân
tố tổ chức nên tác phẩm kịch (và cả kịch đợc công diễn trên sân khấu) từgóc độ đề tài, chủ đề đến cấp độ quan niệm, do chỗ nó khiến cho từng hìnhtợng (nhân vật, chi tiết ) có tính xác định về chất của nó trong thế đối lậpcủa tất cả hình tợng khác Cách giải quyết xung đột phải tơng ứng với kiểuphản xạ với công chúng đối với xung đột
1.2.4 Nhân vật
Kịch muốn tồn tại thì phải có nhân vật và có duy nhất nhân vật.Trong kịch có ít nhân vật dẫn chuyện, kể chuyện, kịch chỉ có nhân vật trìnhdiễn, đóng kịch, mà cụ thể đó là hệ thống diễn biến
Nhân vật kịch không thể đợc khắc họa với nhiều khía cạnh tỷ mỷ hayquá phức tạp nh trong tiểu thuyết, vì nó sẽ không phù hợp với việc thởngthức trực tiếp của một tập thể khán giả trong một thời gian ngắn ngủi nhất
định Do đó, tính cách của nhân vật kịch phải thật nổi bật, thật ấn tợng.Timôfiép đã giải thích: “Hình tợng kịch phản ánh những mâu thuẫn củacuộc sống đã chín mùi gay gắt nhất và đã đợc xác định, chính vì vậy nó đợcxây dựng trên cơ sở nhấn mạnh trong tính cách con ngời sự cảm xúc phiếndiện do các mâu thuẫn trên quy định” [59] Tuy nhiên, tính cách của nhânvật kịch nổi bật đó còn là những nét tính cách khác vừa liên đới vừa biếnthái làm cho gơng mặt sinh động và đa dạng hơn
Nhân vật kịch do trực tiếp xuất hiện trớc đông đảo khán giả, nên hìnhdáng, ngoại hình nhân vật không thể có điều kiện để miêu tả tỉ mỉ, mà chủyếu nó đợc chú ý khắc họa ở lĩnh vực biểu diễn sân khấu ở lĩnh vực nghệthuật biểu diễn, loại hình nhân vật thờng đợc hóa trang phù hợp với tínhcách nhân vật, nó ít nhiều mang tính ớc lệ
Ví dụ: trong tuồng, chèo, cổ cách hóa trang thống nhất với tính cách:ngời trung: mặt đỏ, ngời gian: mặt trắng, ngời sắm vai hề: mặt màu, đầubuộc khăn,
Trang 18Nh vậy, cùng xây dựng hình tợng nhân vật nhng ở mỗi thể loại vănhọc có nguyên tắc xây dựng riêng phù hợp với đặc trng thể loại, nó thể hiện
sự khác biệt với các thể loại văn học khác
1.2.5 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là thành tố quan trọng của mỗi một tác phẩm nghệ thuật,tìm hiểu những đặc điểm của kịch không giống với ngôn ngữ thơ, ngôn ngữtiểu thuyết,… nó có những đặc tính riêng do đặc trng thể loại quy định
Ngôn ngữ kịch thông thờng có 3 loại: đối thoại, độc thoại và bàngthoại Tùy theo mục đích sử dụng mà từng loại xuất hiện ít nhiều trong từng
vở kịch
* Ngôn ngữ đối thoại Đối thoại là thể chất và linh hồn của kịch, cóngời coi kịch là văn bản đối thoại, là bản viết nói thành lời hoặc nói viếtthành văn bản Đối thọai có nghĩa là nói với nhau, tuy nhiên không phải hễ
cứ nói với nhau là đối thoại trong kịch, theo Bêlinxki thì: “Tính kịch khôngphải là do có nói qua nói lại mà có đợc, nó phải do hành động giao lu sinh
động giữa hai ngời mà tạo thành Nếu cả hai bên tranh luận đều muốn đè ép
đối phơng, đều muốn cải tiến một phơng diện nào đó trong tâm t đối phơng,nếu thông qua tranh luận đó đa hai ngời tới một quan niệm mới, thì lúc đómới là kịch” [51, 258]
Ngời phê bình kịch bản khai thác những đối thoại của nhân vật, với ýthức rằng rằng: Đối thoại kịch có khả năng kể chuyện, thông báo sự kiện ,tác giả có thể kể bằng lời nói của một hay nhiều nhân vật: có khả năng bộc
lộ tính cách, nội tâm sâu kín; có khả năng thể hiện t tởng của tác giả, ýnghĩa của kịch bản về vấn đề cuôc sống, lịch sử xã hội đối thoại kịch còn
có khả năng tạo ra bớc ngoặt cho hành động kịch
Ngôn ngữ đối thoại trong kịch phải luôn gắn liền với một tình thếtâm lý của nhân vật: tấn công - phản công; đe dọa - van xin; cầu xin - từchối; chất vấn - chối cãi; thăm dò - lảng tránh; thuyết phục - từ chối,
* Ngôn ngữ độc thoại
Ngôn ngữ xuất hiện ít hơn, tuy vậy vẫn giữ đợc vai trò rất quantrọng Đối thoại là lời tự nói với chính mình Trong kịch thờng dùng phơngthức độc thoại để bộc lộ nội tâm nhân vật Trong những trờng hợp nội tâmdằn vặt, phức tạp thì độc thoại chính là cuộc đối thoại giữa con tim và khối
óc của bản thân Trên sân khấu, nhân vật độc thoại có thể nói to một mình
để mình nghe và để khán giả hiểu Độc thoại thờng đợc kết hợp với cả hình
Trang 19dáng, cử chỉ, hành động Để bộc lộ nội tâm tốt hơn Độc thoại xuất hiệnnhiều trong bi kịch và hài kịch.
* Ngôn ngữ bàng thoại
Bàng thoại là lời nói riêng của nhân vật với khán giả Trong kịch, cókhi nhân vật đang diễn, bỗng nhiên tiến về phía trớc nói to với khán giả vàicâu để giải thích một cảnh ngộ, tình huống, tâm trạng, nào đó Loại ngônngữ này mang đặc tính riêng của kịch, rất ít thể loại văn học sử dụng
Trên đây là những loại ngôn ngữ thờng xuất hiện trong kịch, mỗi loại
có một ý nghĩa, phơng thức thể hiện khác nhau, nhng chúng đều có nhữngtính chất chung: Tính hành động, tính khẩu ngữ, tính cá thể, tính hàm súc,tính tổng hợp,
Xét về tính hành động của ngôn ngữ kịch, chúng tôi nhận thấy: Ngônngữ kịch là ngôn ngữ - hành động, nhất là ngôn ngữ đối thoại Tôi nói là tôilàm, mỗi lời nói là một động tác trên sân khấu, “Làm là do lời nói, cái nói
và cái làm trong kịch là một” [24, 315] Mỗi lời nói là một phơng tiện đểtác động và nó có khả năng thúc đẩy diễn biến câu chuyện, của hành động,
nó gắn liền với một biến động kịch Hay nói cách khác mỗi lời nói trongkịch đều phải hàm chứa trong đó một lực tác động, ngấm ngầm một hành
động, lời nói của nhân vật này là nguyên nhân hành động của nhân vậtkhác, Sở dĩ ngôn ngữ kịch lại giàu tính hành động là bởi tính biểu diễnsân khấu của nó quy định: Diễn viên lên sân khấu là để diễn, mỗi lời nóiphải gắn liền với hành động hình thể, hành động tâm lý, hành động biểucảm,
Ngôn ngữ kịch ngoài tính hành động còn có tính khẩu ngữ, không ởthể loại văn học nào mà ngôn ngữ lại giàu tính khẩu ngữ nh ở kịch Bởi vìkịch viết ra để diễn trên sân khấu, trớc công chúng Mặt khác, ngôn ngữkịch khác tiểu thuyết, thơ, Vì nó có phối hợp chặt chẽ với các hành động,tác động trực tiếp đến ngời nghe, trực tiếp nhận sự phản ứng ngay tức khắccủa khán giả về từng ý, từng lời, đó là điều kiện khó tồn tại ở văn viết Vìthế, có thể coi tính khẩu ngữ cũng là một đặc tính nổi bật của kịch
Ngôn ngữ kịch còn có tính cá thể, nó phải đợc cá thể hóa, phải thậtnổi bật và rõ nét Sở dĩ nó phải đợc tính cách hóa vì đây là phơng tiện quantrọng để bộc lộ tính chất nhân vật, ngôn ngữ phải phù hợp với tính cách(chứ không phải nội tâm), mỗi nhân vật phải có một ngôn ngữ riêng
Ngoài ra ngôn ngữ kịch còn có tính hàm súc, nhất là kịch ngắn Dokịch có mang xung đột căng thẳng, tình huống gay cấn, cốt truyện tập
Trang 20trung, dồn nén, hành động kịch tiến triển nhanh nên ngôn ngữ kịch đặc biệtcô đọng, ngắn gọn, không đợc dài dòng.
1.2.6 Hành động
Kịch diễn trên sân khấu là phải thông qua hành động, hành độngtrong kịch có thể hiểu là bao gồm cả ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ và quan hệcủa diễn viên Hành động là vấn đề thuộc nghệ thuật biểu diễn dới sự chỉ
đạo của đạo diễn nhng cũng phải dựa vào cơ sở của kịch bản
“Mỗi nhân vật (diễn viên) lên sân khấu đều thực hiện một hệ thốngchính còn gọi là hành động xuyên, nhằm thể hiện sứ mạng t tởng của nhânvật mà mình sánh vai Toàn bộ của buổi biểu diễn sẽ có một hệ thống tậphợp tất cả những hành động xuyên của nhân vật thành hành động quánxuyến thể hiện t tởng chủ đề chung của toàn vở Từng hành động của diễnviên bắt nguồn ở những tình tiết trong kịch bản, thì hành động quán xuyếnchính là phải dựa vào cốt truyện của kịch bản” [51, 247]
Bàn về vấn đề này, Arixtốt cho rằng: “Kịch là sự bắt chớc một hành
động quan trọng và hoàn chỉnh, Sự bắt chớc hành động là nhờ vào cốttruyện” [1] Nhng do thời gian - không gian sân khấu hạn chế về quy mô vàquá trình biểu diễn cũng nh do sự thởng thức của một tập thể khán giả phứctạp, phải cùng lúc theo dõi toàn vở kịch nên hành động kịch phải thật thốngnhất, tập trung, không thể quá phong phú và phức tạp Nó phải phù hợp vớicốt truyện cô đúc, gãy gọn ở kịch Hành động và cốt truyện có sự thốngnhất hữu cơ, bất kỳ một hành động nào cũng là nguyên nhân và kết quả trựctiếp của cái liền trớc và cái liền sau đó
Chung quy lại, những đặc điểm trên đây của kịch (cả kịch bản vănhọc và nghệ thuật biểu diễn) giúp chúng ta nhìn rõ hơn sự khu biệt giữakịch và các thể loại văn học khác Mặt khác, tìm hiểu những đặc điểm củakịch sẽ là cơ sở để giúp chúng ta soi chiếu, tìm ra sự ảnh hởng, liên đới lẫnnhau trong quá trình phát triển giữa kịch và các thể loại văn học khác, màtruyện ngắn của Nguyễn Công Hoan là minh chứng rõ ràng nhất của tínhkịch ảnh hởng trong truyện ngắn
đạo Vì nhà nghèo lại đông anh em năm lên bốn tuổi, Nguyễn Công Hoan
Trang 21đợc ngời bác là Nguyễn Đạo Quán (đỗ phó bảng, đợc bổ tri huyện, sauthắng tri phủ) nuôi cho ăn học Năm lên sáu Nguyễn Công Hoan học chữNho, rồi chuyển sang học chữ Pháp Bà nội ông hay dạy truyền khẩu nhiềuthơ phú, truyện cổ dân gian cho các cháu, vì thế sự say mê văn học đã thấmdần vào ông ngay từ thời thơ ấu.
Sinh trởng trong một gia đình nh vậy, Nguyễn Công Hoan đã cónhững ảnh hởng rất rõ nét từ những ngời thân Từ xa tới nay, vào thời nàogia đình ông cũng có ngời đỗ đại khoa, và làm quan to, nhng làm quan màvẫn giữ đúng chất thuần tuý của nhà nho Ngay từ nhỏ Nguyễn Công Hoan
đã đợc bác họ yêu chiều Sống trong gia đình bác họ (nhà quan), ông có
điều kiện tiếp cận và thấm thía một cách sâu sắc cuộc sống của tầng lớp
quan lại, cũng nh nhìn rõ bộ mặt phong kiến đơng thời Trong Đời viết
văn của tôi, ông đã ghi lại rất rõ hoàn cảnh xuất thân của mình: “Tôi sinh
trởng trong một gia đình phong kiến suy tàn vì chế độ đổi thay, nên bịlép vế Do đó, tôi đã chịu sự giáo dục hằn học với bọn quan lại ôm chân
đế quốc, để mu phú quý trên lng những ngời dân nghèo” [27, 18] Sự nhậnthức ấy đã chi phối toàn bộ quá trình sáng tác của Nguyễn Công Hoan
1.3.1.2 Đặc điểm con ngời
Nguyễn Công Hoan ngay từ nhỏ đã thích quan sát, thích khám phá,tìm hiểu Ông thờng đứng trên công đờng hàng giờ để xem xử kiện Chính
điều này khiến ông am hiểu luật lệ và cách thức ở chốn quan trờng Vì vậy,sau này khi nhìn sự giả dối ở các ông quan khác, nhà văn đã có cách sosánh để làm bật lên tiếng cời hài hớc trớc bộ mặt xấu xa giả trá của đámquan lại Mặt khác, ngay từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan vốn có tính hài hớc, a
đùa nghịch, bỡn cợt, chế giễu, nhìn vào đâu ông cũng thấy những trò lốbịch, kệch cỡm đáng cời Trong mắt Nguyễn Công Hoan việc gì đối với ôngcũng trở thành khôi hài Ngay đến cả việc làm giấy khai sinh là một việchành chính nghiêm chỉnh, ông cũng không bỏ đợc tính tinh nghịch Nhàvăn từng kể lại: “Muốn ngày sinh tháng đẻ của tôi có ý nghĩa dối trá, tôilấy ngày 1- 4 là ngày mà phong tục nớc Pháp cả nớc đợc nói dối để đùa
nhau” [27, 19] Khi đọc sách, ông chỉ nghe ngời anh đọc kịch Molie là
ông có thể bắt chớc ngay để sáng tác ra những hoạt cảnh chế giễu thói htật xấu của những ngời xung quanh Bạn bè nhận xét về Nguyễn CôngHoan là ngời “biết lắm chuyện cời” và “hay nói chuyện buồn cời”
Vốn là một ngời tinh nghịch, a hài hớc, từ nhỏ trong những buổi tốicùng gia đình, Nguyễn Công Hoan đợc nghe kể bao nhiêu chuyện đáng
Trang 22khinh, đáng cời, đáng chửi về tầng lớp quan lai Những truyện này đã tạonên trong lòng nhà văn sự căm ghét sâu cay bọn có tiền và có quyền thế.
Ông đã nhiều lần chứng kiến cảnh xu nịnh ton hót của chúng đối với quanTây cai trị, những thủ đoạn ăn hối lộ trắng trợn, tàn nhẫn, gian ác, cảnh sinhhoạt xa hoa, dâm loạn ngay trong gia đình giữa anh, em, bố, con, trái luânthờng đạo lý Không chỉ đợc nghe kể, mà ông còn đợc tân mục sở thị hàngngày “từ cổng chòi đến sân công đờng” quan lại đáng sợ, đáng kinh tởm
nh giống vắt, giống đỉa, động thấy hơi ngời là bâu lại xoay sở đủ kiểu đủcách để hút sạch máu ngời dân đen vô phúc có việc phải đến của quan,…Hiện thực ấy đã khiến Nguyễn Công Hoan tập trung ngòi bút của mìnhphản ánh loại đối tợng này một cách đậm nét, sinh động
Tất cả những điều Nguyễn Công Hoan đã nghe, đã thấy mang lại cho
ông một vốn sống phong phú, vô cùng quý giá để phơi bày những sự thực
đen tối, tàn khốc của xã hội thực dân phong kiến Khảo sát toàn bộ truyệnngắn của Nguyễn Công Hoan ta thấy, để có một trang văn phê phán mạnh
mẽ, sâu cay nh vậy nhà văn phải có một lập trờng “Chia ranh giới giữa cáigì là đáng trọng với cái gì là đáng khinh, giữa ai đáng thơng với ai đángghét”[ 27]
ở đây, Nguyễn Công Hoan đã đánh thẳng vào bọn quan lại, đa ra ánhsáng những hình thù xấu xa, đê tiện của chúng Nhng cái hạn chế của ông,
là đả kích vào từng cá nhân cụ thể mà cha có sự khái quát lên cả một tầnglớp và bản chất của chúng Nhà văn dờng nh còn có sự phân biệt trong quantrờng, có kẻ tốt, ngời xấu, gian ác và thanh liêm Tuy vậy, thế giới củanhững ông quan thanh liêm lúc bấy giờ không đủ làm thay đổi bản chất bỉ
ổi, tàn ác của quan lại Với tầng lớp địa chủ và t sản, Nguyễn Công Hoancũng đả kích khá sâu cay song mới chỉ dừng lại ở những biểu hiện bề ngoàivới những thói xấu nh tham quan, keo kiệt, tàn nhẫn, lừa lọc với sự toantính bất nhân và thói học đòi dởm Nguyễn Công Hoan cha phơi bày ra đợcbản chất giai cấp, cha chỉ ra đợc thủ đoạn và phơng thức bóc lột của chúng Với tầng lớp dân nghèo, ông thờng bày tỏ sự thơng cảm, xót xa Tuynhiên khi miêu tả về họ, ngòi bút Nguyễn Công Hoan lại tô đậm sự xấu xí,
u mê, ngờ nghệch của những ngời dân nghèo một cách cay độc Đôi khi
ông còn cắt nghĩa sự nghèo khổ, ngu dốt là do sự xa đoạ, h hỏng, thèm khátcủa dục vọng,…
Dù còn những hạn chế, nhng nhìn chung, truyện ngắn của NguyễnCông Hoan đã xây dựng và tái hiện một cách sâu sắc hiện thực xã hội đơng
Trang 23thời qua một con mắt tinh nghịch, sắc sảo và ngòi bút tinh tế, Nguyễn CôngHoan đã dựng nên đợc cả một sân khấu hài kịch giữa đời với nhiều mặt,nhiều hiện tợng xã hội xấu xa, thối nát.
Có thể nói cùng đứng trớc một hiện thực xã hội, song ở mỗi nhà văn lại
có cái nhìn, đánh giá cảm nhận riêng, quan niệm nghệ thuật riêng để phêphán theo những cách khác nhau Trong trào lu văn học hiện thực phê phánViệt Nam giai đoạn 1930 - 1945, ba nhà văn hiện thực tiêu biểu nh VũTrọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao đều mang một t tởng chung và
có những chủ đề chung trong sáng tác Họ đều phản ánh hiện thực thối nátcủa xã hội thực dân phong kiến đơng thời, cùng với những đau khổ nhếchnhác của những ngời dân đói khát, nghèo khó, cơ cực,… Đồng thời phêphán đả kích, vạch trần bản chất xã hội của những hạng ngời tàn ác vô liêm
sỉ, vô lơng tâm mà tiêu biểu là tầng lớp quan lại, t sản
Tuy nhiên, tuỳ vào quan niệm, điểm nhìn mà mỗi nhà văn có con mắtquan sát riêng, một hớng cảm nhận và phản ánh riêng (phong cách nghệthuật riêng) Với Vũ Trọng Phụng ngời đợc mệnh danh là “bậc thầy củatruyện trào phúng” “Ông vua phóng sự Bắc Kỳ” thì nhân vật thờng đợc xâydựng theo kiểu “may mắn” nhờ số phận Từ đó, tạo lên tính hài hớc trongtác phẩm, đồng thời phơi bày bộ mặt giả trá, bịp bợm, hợm hĩnh của cái xãhội trởng giả, thợng lu Tiêu biểu cho kiểu nhân vật này là Xuân Tóc Đỏ
trong tiểu thuyết Số đỏ Còn trong những sáng tác của Nam Cao thì phê
phán hiện thực và giá trị nhân đạo đã in dấu ấn đậm nét trên từng trang
sách, cuộc đời của những Chí Phèo trong tác phẩm Chí Phèo, của Hộ trong tác phẩm Đời thừa,… mang đậm chất bi kịch Bi kịch chính là chiều sâu
tâm lí trong sáng tác của Nam Cao Nhìn chung các tác giả đều lên án đảkích, căm ghét sâu cay cái xã hội thực dân phong kiến, đồng thời cảm thôngsâu sắc với những ngời dân nghèo hiền lành lơng thiện - là nạn nhân của xãhội đơng thời Nhng sự khác biệt trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan vớicác nhà văn kể trên là ở cách xây dựng nhân vật Nếu Vũ Trọng Phụng xâydựng nhân vật theo dẫn dắt của ngẫu nhiên, Nam Cao thiên về phân tíchtâm lý nhân vật,… thì Nguyễn Công Hoan lại thiên về xây dựng nhân vậttheo bút pháp phóng đại, cờng điệu Ông không đi sâu vào phân tích tâm lý
nh Nam Cao mà chủ yếu xây dựng nhân vật dựa trên hành động và ngônngữ Bởi vậy, nhân vật của Nguyễn Công Hoan xuất hiện trên trang giấy đôilúc nh tự “diễn trò”
Trang 24Cái sân khấu cuộc đời mà Nguyễn Công Hoan dụng tâm dựng lênxuất hiện nhiều loại nhân vật “diễn trò” Nhân vật thành công hơn cả là tầnglớp quan lại và t sản Có thể nói họ là diễn viên xuất sắc cho những vở kịchtiêu biểu trong xã hội trởng giả.
Trong truyện ngắn Đồng hào có ma, nhân vật huyện Hinh một ông
quan phụ mẫu đầy uy quyền và không thiếu của cải, vậy mà lại trở thànhmột tên ăn cắp vặt rất đê tiện, vô lơng, bẩn thỉu, “ăn bẩn” đến mức ăn cắpcả của kẻ đang lâm vào bớc khốn cùng không lối thoát Hành động ấy là sựphỉ nhổ vào bản chất của chốn quan trờng, rút cục bọn chúng chỉ là kẻ ăn
cắp vặt không hơn Còn ở hai tác phẩm Báo hiếu: trả nghĩa cha, Báo hiếu:
trả nghĩa mẹ, nhà văn ghi lại một cách chân thực, sâu sắc bộ mặt và bản
chất của bọn t sản coi trọng đồng tiền, xem nhẹ đạo lý luân thờng Lúc cha,
mẹ còn sống, chúng tìm mọi cách xua đuổi, ruồng bỏ vì sợ tốn tiền, sợ họtrở thành gánh nặng Nhng tới khi cha mẹ chết đi, chúng tổ chức ma chay,
đám giỗ linh đình, để cho mọi ngời thấy rằng chúng là những đứa con chíhiếu, chí tình Hành động và ngôn ngữ khóc mẹ của con trai và nàng dâu
trong Báo hiếu: trả nghĩa mẹ là sự phỉ báng vào bản chất vô lơng tâm, tàn
ác và khốn nạn, của những đứa con với ngời mẹ mà trong đêm trớc chúng
đã giết Đây chỉ là những màn kịch chúng dựng lên nhằm che đậy bản chất
và mu đồ sấu xa đen tối mà thằng bếp, con sen thì thào, bàn tán Đứa thìbảo cụ bị bóp cổ chết, đứa thì nói cụ chết bằng thuốc độc Các nhân vậttrong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan xuất hiện với những hành độngquay cuồng, điên đảo, luôn chuyển động trên sân khấu tạo nên tiếng cời cólúc giòn giã, có lúc đầy chua xót Nguyễn Công Hoan cũng đã tạo ra một hệthống ngôn ngữ bình dân, ngắn gọn, giàu hình tợng cho các nhân vật Điềunày khác biệt với những nhà văn khác Nếu những nhà văn nh Thạch Lam,Nam Cao,… thờng sử dụng các ngôn ngữ độc thoại, thì Nguyễn Công Hoanthờng hay sử dụng ngôn ngữ đối thoại khi xây dựng nhân vật nhằm thể hiệntính cách Nguyễn Công Hoan am hiểu sâu sắc các tầng lớp trong đời sốngxã hội, chính vì vậy, khi sử dụng ngôn ngữ ông luôn tìm thấy sự phù hợpcho từng nhân vật, từng vị trí Dới đây là một số dẫn chứng minh hoạ chongôn ngữ nhân vật của ông: chẳng hạn nh lời nói của Lý trởng trong truyện
ngắn Tinh thần thể dục: “Hễ đứa nào láo, cứ đánh sặc tiết chúng nó ra, tội
vạ đâu ông chịu Mẹ bố chúng nó! Việc quan thế này có chết ngời takhông! Chúng bay gô cổ cả, giải cho đợc ra đây cho ông!” Chỉ ngần ấy lời
Trang 25nói ta đã thấy đợc bản chất của Lý trởng là hách dịch và sự tài tình trongcách miêu tả của nhà văn.
Cũng lối miêu tả vị trí xã hội của nhân vật nhng ở Nam Cao thờng đivào khai thác sâu về mặt tâm lý Chẳng hạn nh tâm lý của Chí Phèo, LangRận, lão Hạc,… Nam Cao đã khai thác bi kịch của những ngời nông dântrong xã hội phong kiến Nhng với sự dằn vặt của ngời trí thức nh Điền
trong Giăng sáng, Hộ trong Đời Thừa, Nam Cao lại tô đậm hơn bị kịch của
trí thức tiểu t sản
Với lối viết ngắn gọn, truyện ngắn của ông mang đậm tính kịch khiphản ánh các nhân vật trong xã hội Cấu trúc truyện rõ ràng, súc tích, kếtthúc bất ngờ, tạo ra tiếng cời trào phúng Tính kịch còn thể hiện trong hành
động, kết cấu và ngôn ngữ của nhân vật đã làm lên sự khác biệt giữaNguyễn Công Hoan so với các nhà văn khác
Bằng vốn hiểu biết sâu rộng của mình, Nguyễn Công Hoan đã cho ra
đời các truyện ngắn nh những vở kịch hài hớc gây cời, giống nh tiếng cời
trong văn học dân gian Nhà văn Vũ Trọng Phụng đã từng nhận xét:
“Những truyện ngắn của ông tiêu biểu cho một thứ văn rất vui, thứ văn mà
có lẽ từ ngày nớc Việt Nam có tiểu thuyết viết theo lối mới, ngời ta chỉ thấy
ở ngòi bút của ông thôi” [45] Đây là một nhận xét xác đáng về chất văncủa Nguyễn Công Hoan
Tầm hiểu biết của Nguyễn Công Hoan không chỉ ở nội dung mà còn
đợc biểu hiện dới hình thức ngôn ngữ Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoanlinh hoạt và hay gây tiếng cời Có lúc ông sử dụng ngôn ngữ bình dân, cókhi là lối ví von, so sánh, đặc biệt là cách chơi chữ, bằng việc dùng từ mang
hai nghĩa Chẳng hạn: Thế là mợ nó đi tây, Hai thằng khốn nạn,… Cách so
sánh cũng thật độc đáo, thú vị bất ngờ lý thú ví nh tác giả ví cái áo hoa của
cô Kếu trong tác phẩm Cô Kếu gái tân thời, “Rắc rối nh thời cục nớc
Tàu…”
Nhìn chung qua nhiều cấp độ yếu tố ta thấy tính kịch đã trở thànhmột đặc điểm bao trùm trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Tínhkịch tạo ra tiếng cời phản ánh một xã hội đầy nhố nhăng, hài hớc Dới câybút trào phúng đầy tài năng ấy, hiếm có một nhà văn nào vợt qua đợc sự
đóng góp to lớn của Nguyễn Công Hoan Nguyễn Công Hoan không chỉ
đóng góp cho nền văn học hiện thực phê phán mà còn góp phần làm chovăn xuôi Việt Nam thêm phong phú và đa dạng Nhắc tới truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan, ta không thể quên đợc tính kịch - một dấu ấn độc đáo,
Trang 26tạo ấn tợng khó quên trong lòng độc giả và là nét thành công tiêu biểu củanhà văn
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan
1.3.2.1 Quan niệm của Nguyễn Công Hoan về xã hội - cuộc đời
Nguyễn Công Hoan coi cuộc đời là “Một sân khấu hài kịch”, là cảmột thế giới làm trò, cái gì cũng giả dối, lừa bịp, đáng khôi hài Cách nhìn
nh vậy đã tạo nên tính kịch đậm nét trong sáng tác của ông Tính kịch trởthành cảm hứng, thành phơng thức xây dựng tác phẩm chi phối trực tiếp cấutrúc cùng các thành tố cơ bản trong các sáng tác của ông “Truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan hiện ra trớc mắt chúng ta với những lớp lang và đốithoại nh một màn kịch” [8]
Đọc truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, trớc mắt ta hiện ra một thếgiới với tất cả những trò hài hớc, đó là những cảnh đời nhốn nháo đầy mâuthuẫn, xung đột với đầy đủ các cung bậc bi, hài của nó Dờng nh ta khôngchỉ nghe mà còn thấy hiển hiện ra trớc mắt một xã hội với những mối quan
hệ cực kỳ phức tạp và sinh động, “nh thực” của nó Truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan trở thành điển hình cho khuynh hớng “Truyện ngắn -kịch” - Một loại hình truyện ngắn rất nổi bật trong văn học Việt Nam giai
đoạn 1930 - 1945
Sân khấu hài kịch do Nguyễn Công Hoan dựng lên không chỉ tậptrung phản ánh một đối tợng, một vấn đề xã hội mà còn tập trung vào nhiềuvấn đề bức xúc của xã hội đơng thời, từ chuyện mua bán chức tớc, chuyệntrăng hoa, quan lại hà hiếp dân cùng,… cho đến những kẻ trởng giả tàn ácbất chấp luân thờng, đạo lý, thói a dua học đòi,… Tất cả đều đợc phản ánhqua ngòi bút sắc nét và chân thực
1.3.2.2 Quan niệm của Nguyễn Công Hoan về đối tợng, chức năng của văn chơng
Cùng với Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,… Nguyễn CôngHoan là một trong những nhà văn xuất hiện sớm nhất trong dòng văn họchiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, những sáng tác của
ông luôn mang một dấu ấn, phong cách riêng không lẫn vào đâu đợc Sở dĩ
có đợc điều đó chính là do bắt nguồn từ cái “tình” đối với cuộc sống củaNguyễn Công Hoan Trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX đầydẫy những biến động phức tạp, rất dễ gây mất phơng hớng cho con ngời,nhất là những ngời trẻ tuổi, thì Nguyễn Công Hoan lại chọn cho mình mộtquan niệm sống riêng - đúng đắn và lành mạnh Với ông sống là phải “làm
Trang 27một việc gì có ích” [27, 116] Chính vì vậy, khi viết văn Nguyễn CôngHoan quan niệm rất thiết thực và giản dị: “Văn chơng không nên chỉ là mộtthứ để giải trí Nó phải thêm nhiệm vụ là có ích” [27, 116] Từ quan niệmnày, ông đã định hình cho sáng tác của mình một cách cụ thế, rõ ràng:
“Truyện phải có nội dung bổ ích và trớc hết truyện phải thực” [27, 132] Vìvậy, đề tài và các vấn đề mà Nguyễn Công Hoan phản ánh trong tác phẩmcủa mình là rất đa dạng, nó nh những bức tranh đầy sức sống và giàu sứcsáng tạo, luôn đem lại cho độc giả cảm giác lý thú và bất ngờ Nhà nghiêncứu Thế Phong cho rằng: “Nguyễn Công Hoan là điển hình của lối tả chânphong kiến, chống bất công xã hội nhng là cải cách xét lại Ông là nhà văn
có giá trị tiêu biểu” [47].Nguyễn Công Hoan không sa đà vào những truyệnphù phiếm nhảm nhí Các tác phẩm của ông đều xuất phát từ cái hiện thực
đông đặc trớc mắt, từ những chuyện đáng cời, đáng khinh, đáng ghét và cả
đáng thơng,… Mục đích của nhà văn là phơi bầy hiện thực xấu xa, giả dối
và tàn ác ra ánh sáng Thái độ của ông bộc lộ rõ ràng, cụ thể “tôi rất thíchchú ý những cái thối tha nhơ nhuốc, những thủ đoạn, mu mô làm tội áctrong giới những ngời có thế lực, có địa vị” [27, 281] Theo quan niệm của
ông, hiện thực xã hội phải đợc phản ánh chính xác trên từng tác phẩm vănhọc Nguyễn Công Hoan đã dùng ngòi bút của mình mà vạch trần tất cả sựthực ấy Đó là sự thực của một chế độ xã hội tàn nhẫn và nhục nhã đến tậnxơng tuỷ Những sự thật ấy mà nhiều ngời có thể biết nhng lại cha nhậnthức hết tính chất vô đạo, bất nhân của nó Cái cời mỉa mai khinh bỉ có sứccông phá mãnh liệt đánh vào hai đối tợng chính, đó là bọn có quyền thế, cótiền phất lên nhờ vào chế độ thực dân và bọn thanh niên nam nữ “Âu hoá” Ông cũng “không thể nào yên tâm trớc những nỗi thống khổ củangời nghèo, bị bọn nhà giàu dùng thế lực, địa vị mà áp bức, bóc lột”[27, 281] Theo quan niệm của Nguyễn Công Hoan, ng ời nghèo là bất
cứ những ai không có tiền, bị lép vế trong xã hội Với cách nghĩ, cáchnhìn và bằng kinh nghiệm sống của bản thân Nguyễn Công Hoan đã xác
định đợc rõ ràng đối tợng văn chơng của mình là đứng về phía ngờinghèo lép vế và đả kích lên án những kẻ giàu, có quyền, có thế Nhờquan niệm này mà Nguyễn Công Hoan đã phanh phui đợc nhiều chuyệnthối nát, xấu xa, cũng nh những khổ nhục, đau thơng của kiếp ngờitrong xã hội cũ Bọn có tiền, có quyền thế phất lên nhờ chế độ thực dângắn liền với hàng loạt các hiện tợng nhố nhăng, bỉ ổi và đê tiện Địa chủ
và t sản thì làm giàu bằng cách bóc lột và lừa bịp nhân dân Biết bao
Trang 28nhiêu chuyện xấu xa thậm chí còn độc ác hèn hạ, thảm hại hơn nh vậyxảy ra hàng ngày, hàng giờ xung quanh chúng ta, đã đ ợc Nguyễn CôngHoan tái hiện Đó là những chuyện có thật không thể không xảy ra vìchúng nằm ngay trong bản chất, trong quy luật của chế độ thực dânphong kiến sống dựa vào sự cớp đoạt, áp bức, gian trá Nguyễn CôngHoan luôn xuất phát từ ý nghĩ chân thực của mình mà viết nên, mà nói
ra những điều giản dị, mộc mạc về quan niệm của mình, về chức năng,
đối tợng của văn chơng Con đờng lựa chọn chủ nghĩa hiện thực đã làmnổi danh tên tuổi của ông trên văn đàn văn học Việt Nam thế kỷ XX,nói cách khác khuynh hớng tả chân đã giúp Nguyễn Công Hoan phơibày bộ mặt thực dân phong kiến làm một thế giới “bị lộn trái” Tuynhiên, muốn đả kích, tố cáo một xã hội tàn bạo và mục nát, không phảichỉ có một con mắt tinh tờng và một vốn sống kinh nghiệm phong phú
là đủ, mà nhà văn hiện thực còn cần có một chỗ đứng, một cách nhìnchính xác, một lí tởng cao đẹp Nguyễn Công Hoan là một ngời nh thế
1.4 Cơ sở khách quan
1.4.1 Một xã hội quay cuồng, lố bịch
Xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là thời kỳ lịch sử đầy biến
động Sau khi thực dân Pháp đặt ách cai trị và tiến hành các cuộc khai thácthuộc địa thì cơ cấu xã hội đã thay đổi Một số giai tầng xã hội mới xuấthiện (công nhân, trí thức tiểu t sản, t sản,…) đã làm thay đổi kết cấu xã hội
Đặc biệt, để dễ dàng áp đặt chính sách cai trị, thực dân Pháp đã bày ra cácphong trào xã hội nhằm ru ngủ nhân dân, đánh lạc hớng tinh thần đấu tranhcủa quần chúng Sự ảnh hởng mạnh mẽ của văn hóa phơng Tây đặc biệt làvăn hóa Pháp đã tạo nên tính lai căng, tính chất “Âu hóa” làm xã hội trởnên xô bồ, gấp gáp Các phong trào “Âu hóa” vui vẻ trẻ trung, các hội mangtính chất cải lơng nh hội “ánh sáng”, “hớng đạo” đợc lập ra Các phong trào
đó không ngừng cổ súy cho quan điểm canh tân giả tạo mà chủ yếu là học
đòi bắt chớc văn hóa phơng Tây vào xã hội Việt Nam Tất nhiên, những yếu
tố ngoại lai đó khi du nhập vào xã hội Việt Nam sẽ gây ra những hiện tợngkệch cỡm, trái với thuần phong mĩ tục mấy ngàn năm phong kiến của ngờiViệt Lối sống “lai căng” đợc lớp trẻ hởng ứng học đòi nhiều lúc trở nênkhông thể chấp nhận đợc đối với những ai yêu văn hóa truyền thống Chẳnghạn, tầng lớp thanh niên mới, những cậu ấm cô chiêu đợc “mớm” cho một íttinh thần tự do hôn nhân, tự do tình ái liền lao vào thực hành ngay với thứtình yêu chỉ cần xác thịt bất chấp sự phản đối của đông đảo d luận trong xã
Trang 29hội Những hiện tợng suy đồi đạo đức ngày càng diễn ra công khai, trởthành những điều chớng tai gai mắt hàng ngày Tầng lớp quan lại mới làmtay sai cho chính phủ thực dân vốn rất thạo đời trong việc bòn rút, đụckhoét, nhũng nhiễu nhân dân nay lại đợc “bổ sung” thêm những t tởng mới:thực dụng, học đòi làm sang, khoe mẽ… cũng góp phần làm cho bức tranhxã hội thêm phần nhố nhăng, hủ bại Bọn t sản mới phất lên chạy theo đồngtiền mà bỏ quên mọi giá trị đạo đức Với chúng, tất cả đều đợc quy thànhgiá tiền Bên cạnh đó, một tầng lớp trí thức tiểu t sản đợc nhồi nhét thứ vănhóa phơng Tây đồi trụy cũng không ngừng hò hét cổ súy cho lối sống mới,làm cho xã hội càng trở nên hỗn loạn đảo điên Trớc sự thay đổi quay cuồng
đó, một số bộ phận thanh niên không còn khả năng nhận thức về chân giátrị của cuộc sống, ngày càng sa ngã vào thế giới tối tăm, trụy lạc
Trong xã hội thực dân phong kiến, các khái niệm mới nh “nhà thổ”,
“mọc sừng”, “bàn đèn”, “sòng bạc”… đã không còn xa lạ Chúng trởthành những hiện tợng, phổ biến, đặc biệt là ở các đô thị lớn Còn ở nôngthôn, ngời nông dân ngày càng bị bần cùng hóa, u mê dới sự cai trị và bóclột của thực dân phong kiến Khung cảnh làng quê trở nên tiêu điều, xơxác Tình cảnh “bán vợ đợ con” trong mùa su cao thuế nặng diễn ra phổbiến Bọn cờng hào, địa chủ dùng mọi thủ đoạn, ra sức bòn rút, bóc lột ng -
ời nông dân để làm giàu cho mình Thực tế ấy ngày càng trở nên phổ biến
và trầm trọng Xã hội Việt Nam biến thành một mớ hỗn độn, nhếch nhácbởi sự đảo lộn của các chuẩn mực cuộc sống Thực trạng này trở thành vấn
đề nhức nhối đối với những ai còn có lơng tri, danh dự và tinh thần dântộc
Từ hiện thực xã hội đó đã nảy sinh trong mỗi cá nhân sự tự do suyngẫm, buồn vui cùng cuộc đời Đó là tiền đề làm “bùng nổ” rất nhiều cáctrào lu văn học, trong đó văn học hiện thực phê phán là một trong nhữngtrào lu tiêu biểu
Bối cảnh lịch sử xã hội thực dân phong kiến hầu nh đã chi phối tất cảquan niệm, cách nhìn, cách cảm nhận, suy nghĩ của một thế hệ các nhà văntrớc cách mạng Trong thời kỳ này, văn học Việt Nam đã có những chuyểnbiến, tìm tòi bớc đầu tự điều chỉnh, đổi mới cho phù hợp với nhu cầu thực tế
về t tởng và tình cảm của xã hội Nhiều khuynh hớng văn học đã xuất hiện.Bên cạch đo là sự nở rộ của các tài năng văn học, bằng các sáng tác củamình đã kịp thời phản ánh những mâu thuẫn gai góc nhất trong đời sống xãhội Nguyễn Công Hoan với những truyện ngắn mang đâm tính kịch của
Trang 30mình là một minh chứng tiêu biểu cho sự phản ánh và tố cáo hiện thực xãhội xấu xa, suy đồi.
1.4.2 Những hạng ngời giả dối, kệch cỡm
Có thể nói tính kịch của bản thân cuộc sống hiện đại đã chi phối toàn
bộ quá trình xây dựng tác phẩm của Nguyễn Công Hoan Bên cạnh đó,truyền thống của một nền văn học dân tộc vốn thiên về truyện kể “hớngngoại” cũng liên quan mật thiết đến tính kịch trong sáng tác Vì thế, cácsáng tác mang đậm tính kịch thờng thiên về phản ánh trực diện các mâuthuẫn, xung đột trong đời sống xã hội, phản ánh các quan hệ xã hội nổi lêntrên bề mặt của cuộc sống với toàn vộ sự phong phú đa dạng và phức tạpcủa nó Gắn với mỗi hiện tợng đó là những nhân vật trong truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan Qua những truyện ngắn của ông, ta thấy nhân vật của
ông rất phong phú và đa dạng, có thể xét trên ba loại chính
1.4.2.1 Bọn nhà giàu
Nhìn chung, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan không từ một đối tợngnào trong xã hội Song sự phản ánh dới góc độ hài hớc mang đậm chất phêphán nhất là hàng ngũ quan lại - đại diện cho bọn nhà giàu trong xã hội.Tiêu biểu cho loại nhân vật này là hình ảnh quan ông và quan bà
Hình tợng nhân vật quan ông xuất hiện gắn liền với một loạt các hiện
tợng xã hội, với lí lịch hết sức xấu xa: “Nghề quan chỉ có hai việc chính:
đánh bạc và chơi gái” (Đồng hào có ma) Những ông quan này không phải
là nhân tài, mà do thời thế tạo nên cơ hội để họ “xuất chính” dới hình thức
“mua quan bán tớc” một cách dễ dàng Ngòi bút của Nguyễn Công Hoankhông trừ một hàng ngũ, tầng lớp nào, từ quan tuần phủ, quan huyện đếnchánh hội, lý trởng,… Quan lại dới ngòi bút và cái nhìn của Nguyễn CôngHoan trở thành một trò hài hớc Có kẻ làm quan thăng chức vì đút lót muachuộc, khom lng quỳ gối Có kẻ vì “danh lợi lỡng toàn” luôn bày ra nhữngtrò giả dối, bịp bợm Vì quyền lực và tiền bạc, chúng sẵn sàng đem cả vợ để
“dâng hiến” quan trên (Xuất giá tòng phu, Đàn bà là giống yếu),…
Tất cả “nỗ lực” của hàng ngũ quan lại nhằm đạt đợc quyền lực tốicao đều vì mục đích duy nhất, làm quan để dễ bề bóc lột tầng lớp dới mình.Vì mục đích đó chúng không từ một thủ đoạn nào để hà hiếp, bóc lột kẻ d-
ới, kể cả những hành vi “táng tận lơng tâm”
Truyện ngắn Gánh khoai lang ghi lại bộ mặt thật sự của quan phụ
mẫu và lý trởng Quan phụ mẫu thì dùng uy quyền để mà quát nạt đòi cho
đợc tiền cống lễ tết Lý trởng thì sợ sệt, khúm núm bằng mọi giá để “tuân
Trang 31chỉ”, mong giữ đợc chức và lấy lòng quan ở truyện Cụ chánh bá mất giầy Nguyễn Công Hoan lại xây dựng một trò thô bỉ khác của quan lại Đó là mu
mô tính toán rất xảo quyệt của giới chủ - cụ Chánh bá, kẻ hống hách, keobẩn, bần tiện Để cuối cùng, chủ nhà phải mua cho “cụ” một đôi giầy Gia
Định mới “đế cờ lếp” đúng nh lời tên đầy tớ của cụ tả lại
Các truyện ngắn Cấm chợ, Tôi tự tử đã ghi lại một cách chi tiết hiện
thực lừa lọc, bịp bợm của các ông quan đối với dân nghèo, mà vẫn giữ đ ợctiếng là nhân quan Đê tiện hơn, quan lại không từ bất cứ thủ đoạn nào để
hà hiếp, bóc lột dân cùng, kể cả việc “ăn cắp” mà truyện ngắn Đồng hào có
ma đã ghi lại sự vô sỉ của huyện Hinh một cách chi tiết Truyện ngắn Thịt
ngời chết Quan huyện t pháp đã nhân cơ hội, lợi dụng cái xác chết kia để “
chấn lột” một cách trắng trợn tiền của gia đình nạn nhân
Nói đến hàng ngũ quan lại thời bấy giờ thì không thể không nói đếnthói “dâm ô” Đó là một hiện tợng khá phổ biến trong thế giới của các
quan Vì mê gái mà Ông Huyện Văn Giang trong truyện ngắn Nạn râu, sẵn
sàng nhịn nhục và mò mẫm trong đêm tối, không quản đờng xa mệt nhọc,
sự già nua tuổi tác để tìm cô Khuê Vì mê gái, vì thói dâm ô mà trong Lập
giòong, thầy quản sẵn sàng đổi trắng thay đen Sau khi đã “khám kĩ”ngời
đàn bà mà thầy cho rằng trong ngời có đồ quốc cấm, thầy đã tha bổng chothị Bản chất của quan lại dới con mắt của Nguyễn Công Hoan là cả một
“hệ thống” dâm ô, xuất phát từ sự thực đó đã có biết bao kẻ lợi dụng nó vàoviệc thăng quan tiến chức của bản thân khi sẵn sàng bất chấp tất cả, lợidụng thân xác của vợ để đi “tết” quan trên, cuối cùng chính chúng lại trởthành nạn nhân bởi mục đích đê tiện của mình khi “há miệng mắc quai” nh
trong truyện Đàn bà là giống yếu.
Bên cạnh thế giới nhem nhuốc, thủ đoạn tàn ác và dâm ô của thếgiới quan ông thì “quan bà” cũng xuất hiện không kém phần phong phú
và đa dạng
Các truyện Một tấm gơng sáng, Đàn bà là giống yếu, chỉ hạng quan
bà xuất thân đầu tiên là “ bán nhân phẩm, mua danh lợi” Đây là hiện tợngkhá phổ biến trong xã hội bấy giờ Bên cạnh hiện tợng này, khi lợi dụng uyquyền của chồng, các bà quan cũng rất mu mô, xảo quyệt Nh cụ lớn Tuần
trong truyện ngắn Hé! Hé! Hé! là một minh chứng Quan bà hiện lên với
hình ảnh ngọt xớt trong giọng điệu, cử chỉ hành động nhằm thực hiện mu
đồ xảo trá, lừa gạt Đối với kẻ ăn ngời thì quan bà trở thành ác quỷ, chúngbóc lột đến kiệt cùng sức lực của những kẻ làm thuê, đầy tớ tội đồ Ví nh
Trang 32các tác phẩm Quyền chủ, Phành phạch, Mua bánh, Mua lợn,… là những
minh chứng tiêu biểu cho thủ đoạn bóc lột tàn tệ của các quan bà
Thế giới quan bà hiện lên trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoanvới tất cả những cái đáng ghét và đáng cời Đúng nh ông đã từng nhận xét:
“Không phải là ngời có dòng máu quan trờng đố ai làm đợc những việc nhvậy” [27] Tầng lớp quan lại trong con mắt của Nguyễn Công Hoan chỉ lànơi “tụ tập” của những cái xấu xa, bỉ ổi, kệch cỡm, nhố nhăng Là đại diệncho bộ mặt của chế độ thực dân phong kiến mà còn nh vậy, thì đơng nhiêncuộc đời trong xã hội ấy tất yếu là một “sân khấu hài kịch” với đầy rẫy sự
áp bức, bất công
Trong thế giới của bọn nhà giàu, có quyền, có thế không chỉ cónhững hàng ngũ quan lại mà còn xuất hiện tầng lớp t sản, đó là những hạngngời tôn thờ “chủ nghĩa” đồng tiền Tiền với chúng là trên hết, là tất cả,những thứ khác nh luân lí, đạo đức, lơng tâm, nhân phẩm, danh dự,… đềuchỉ là vô nghĩa lí, chỉ đồng tiền là đáng đợc trọng dụng
Sự tàn ác, cay độc đến mất hết tính ngời của hạng ngời này phải kể
đến hành động của ông chủ nhà trong tác phẩm: Răng con chó nhà t sản.
Chỉ vì ngời ăn mày đói bụng đã phải tranh ăn với con chó nhà ông Nhà tsản đau xót vì chú chó yêu bị gẫy răng, và “ngài” tức giận hơn bao giờ hết,sẵn sàng trừng trị kẻ đã gây hậu họa: “à, mày đánh gãy răng chó ông, ôngchỉ kẹp cho mày chết tơi, rồi ông đền mạng, bất quá ba chục bạc là cùng;nối đoạn, ông tắt đèn pha, phóng xe hết sức nhanh để đuổi theo,…”
Thế giới bọn nhà giàu có quyền thế hiện lên muôn hình muôn vẻ với
đầy đủ những hành động xấu xa bỉ ổi,… Vì tiền, bọn t sản không từ mộtthủ đoạn nào, đúng là “Đồng tiền đã lăn tròn trên lơng tâm” của chúng Sânkhấu mà chúng diễn trò có đầy đủ sự nhốn nháo, hài ớc nh những màn kịch
đặc sắc ẩn sâu với những nụ cời đầy chua xót và khinh bỉ
1.4.2.2 Những hạng học đòi
Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX là xã hội thực dân nửa phong kiến.Trong khi các giá trị đạo đức cũ dần mất đi, thì lối sống mới thực dụng ph-
ơng Tây lại tràn vào quá nhanh, ta gọi đây là cuộc sống buổi giao thời “ma
Âu gió Mỹ” Điều đó tạo nên tính chất lai căng, nhố nhăng, kệch cỡm trongxã hội Đó là nguyên nhân căn bản làm nảy sinh sự đua đòi của tầng lớpthanh niên nam nữ tự coi mình là cấp tiến trong xã hội Phong trào “Âuhóa” “vui vẻ, trẻ khỏe”,… đã trở thành “mốt”, biểu hiện cho lối sống buông
Trang 33thả của nam nữ thanh niên trong xã hội lúc bấy giờ Đặc biệt là hình ảnhnhững cô gái “mới”, gái tân thời với sự đua đòi, nhố nhăng, lố bịch, kệchcỡm Kiểu loại nhân vật “giai thanh, gái lịch” ăn chơi, đua đòi ta đã từnggặp rất nhiều trong các sáng tác của Vũ Trọng Phụng, nhất là trong tiểu
thuyết Số đỏ với các nhân vật nh cô Tuyết, cậu Tú Tân, vợ chồng Văn
Minh, bà phó Đoan,… Họ chính là hình ảnh tiêu biểu về sự suy đồi lốitrong sống của văn hóa truyền thống, cũng nh quan niệm đạo đức của mộtthời kì hỗn loạn Dới ngòi bút Nguyễn Công Hoan các hiện tợng xã hội ấytrở thành các trò hài hớc trên “sân khấu cuộc đời”
Trong truyện ngắn Oẳn tà rroằn xuất hiện hình ảnh nhân vật Nguyệt
- là đại diện tiêu biểu cho lối sống buông thả, sự trăng hoa, gian dối, lẳnglơ, đồi bại Bằng sự giả dối của mình, Nguyệt đã nhập vai một cách khéoléo khiến cho tất cả các chàng trai đều lầm tởng đứa con trong bụng Nguyệt
là con mình, chỉ khi đứa trẻ ra đời họ đợc tận mắt trông thấy, thì mới vỡ lẽ:
“Té ra thằng bé con chàng ma nớc da đen nh cái cột nhà cháy! Vậy nókhông phải Con Rồng Cháu Tiên Nó là giống “Oẳn tà rroằn” không biếtchống gậy” Nguyệt là sản phẩm, là kết quả tất yếu của một thứ văn hóa đồitrụy từ phơng Tây đã xâm nhập và làm biến đổi cả quan hệ đạo lý truyềnthống của dân tộc Cha đến mức h hỏng,dâm loạn nh cô Nguyệt, song hình
ảnh cô Kếu trong tác phẩm Cô Kếu, gái tân thời lại tiêu biểu cho sự kệch
cỡm, đua đòi trng diện của các tiểu th con nhà giàu Cả ngày, công việc củacô là lo chăm sửa móng tay, diện quần áo mới cho hợp mốt, soi gơng đểngắm dung nhan mà không cần biết đến việc gì khác Bằng tài quan sát củamình, Nguyễn Công Hoan đã khắc họa lại hình ảnh cô Kếu với những hành
động nhố nhăng, hài hớc: “Cô đi đi Cô lại lại Cô ngắm,…” Dới ngòi bútchâm biếm của tác giả ta tởng nh đang xem một màn trình diễn thời trang
lố bịch đáng buồn cời
1.4.2.3 Tầng lớp dân nghèo
Đối lập với thế giới của bọn nhà giàu có quyền thế là tầng lớp dânnghèo Nguyễn Công Hoan đã dành khá nhiều cho tầng lớp này Đây làtầng lớp chiếm đại đa số trong xã hội Lòng thơng xót của nhà văn đợc bộc
lộ và thể hiện một cách sâu sắc, rõ ràng ở mỗi tác phẩm của mình ông ờng vẽ lên những bức tranh tơng phản làm nổi bật sự đối lập giữa hai thếgiới giàu - nghèo Với tầng lớp dân nghèo, ngòi bút của Nguyễn Công Hoantập trung vào hai đối tợng chính: những ngời dân cằn cỗi, u mê và những kẻ
th-“tứ cố vô thân” không nơi lơng tựa là nạn nhân của sự bóc lột
Trang 34Đối với những ngời dân lao động, Nguyễn Công Hoan khắc họa rõcuộc sống cơ cực của họ trong thế đối lập với bọn nhà giàu Đồng thời nhàvăn cũng miêu tả sự ngờ nghệch và những nét xấu xí của họ.
Trong truyện ngắn Kép T Bền, Nguyễn Công Hoan khắc họa hình ảnh
của một nghệ sĩ tài ba nhng bất hạnh Vì món nợ vay của ông chủ sân khấu
để chữa bệnh cho cha, trong lúc cha anh đang trong cơn nguy kịch hấp hốithì anh phải diễn trò hề trên sân khấu Nỗi bất hạnh đấy xuất phát từ sựnghèo túng, cùng quẫn để anh phải cam chịu cúi đầu tuân lệnh ông chủ rạp
hát Còn tác phẩm Thật là phúc lại khắc họa hình ảnh ngờ nghệch, mê muội
của anh Tam Vợ mình thì bị ngời ta trêu ghẹo toan làm nhục, bản thân lại
bị đánh, vậy mà dới sự giám sát của quan Chú Quyền ván cách không bị sửtội, còn anh ta nghiễm nhiên thành có tội vì đã quấy nhiễu quan khi đêmkhuya trong lúc ngài đang dở ván bài tổ tôm Trớc lời phán xét của quananh Tam chỉ biết vái lạy và cảm ơn quan đã rộng lợng ban phúc không bỏ tù
mà ân xá cho anh
Tầng lớp nhân dân lao động dới ngòi bút của Nguyễn Công Hoanhiện lên với đầy đủ các góc cạnh Họ là những ngời dân nghèo khổ, là nạnnhân của tầng lớp quan lại và của sự ngu dốt, mê muội của chính mình Cái
u mê ấy đã trở thành hài hớc đáng cời Hẳn khi đọc Thật là phúc ta không
thể nào quên đợc lời nói của anh Tam: “May quá! xuýt nữa phải ngồi tù.Thật là Phúc! Lạy quan lớn ngàn năm!” Ta cũng không thể quên đợc anh
Pha trong tiểu thuyết Bớc đờng cùng, sau mỗi thủ đoạn của Nghị lại Chính
sự hạn chế trong nhận thức của ngời dân đã biến họ thành nạn nhân của xãhội, nạn nhân của giai cấp
Trong tầng lớp dân nghèo còn xuất hiện hình ảnh của các nhân vật
“tứ cố vô thân” lâm vào cảnh khốn cùng, không nơi nơng tựa
Các truyện ngắn Thằng Quýt (I và II), Quyền Chủ, Thanh! Dạ !,… đã
ghi lại một cách trung thực cuộc đời của kẻ đi ở, làm thuê Đau xót hơn cả
là hình ảnh của hai thằng bé trong truyện Thằng ăn cắp và Giá ai cho cháu
một hào Đây là những kẻ lang thang đầu đờng xó chợ, bơ vơ không nơi
n-ơng tựa, cuộc sống đã khiến chúng thành những kẻ tội lỗi, với những việclàm xấu xa Sự thờ ơ, vô cảm của ngời đời và sự tàn nhẫn của lòng ngời đãbiến những đứa trẻ đáng thơng ấy phải mang một tên gọi đầy tội lỗi “thằng
ăn cắp”
Xây dựng hình tợng nhân vật thuộc tầng lớp dân nghèo, NguyễnCông Hoan đã bày tỏ một tấm lòng thơng cảm sâu sắc đối với những kiếp
Trang 35ngời bất hạnh, nhỏ bé mà ở đó cuộc đời của họ dang diễn ra nh một màn bihài kịch - cời trong nớc mắt.
Nh vậy bối cảnh lịch sử và thế giới nhân vật đang diễn trò lố bịch,nhố nhăng đã tạo lên cơ sở khách quan trong tích kịch ở các sáng tác củaNguyễn Công Hoan Đây chỉ là một nhân tố có vai trò là chất xúc tác đểbiểu hiện bản chất của cuộc sống Điều quan trọng là phải có cái nhìn chủquan - căn nguyên và gốc rễ của nhà văn thì hiện thực khách quan này mới
đợc in dấu ấn trên từng trang sách
Trang 36Chơng 2 TìNH HuốNG Và XUNG Đột kịch
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Công Hoan khá đồ sộ Trong mấychục năm cầm bút ông để lại cho đời một khối lợng sáng tác to lớn, với trên
200 truyện ngắn, trên 30 truyện dài và nhiều sáng tác ở những thể loại khác
nh hồi ký, bút ký, … Song thành công hơn cả trong những sáng tác củaNguyễn Công Hoan, vẫn là ở thể loại truyện ngắn Đây là lĩnh vực mang
đậm dấu ấn phong cách của nhà văn, nâng nhà văn lên vị trí bậc thầy củatruyện ngắn trào phúng Việt Nam hiện đại Tiêu biểu là tâp truyên ngắn
Kép T Bền, xuất bản năm 1935 đã khẳng định tên tuổi xuất sắc của Nguyễn
Công Hoan trên văn đàn văn học giai đoạn 1930 - 1945 Đóng góp củaNguyễn Công Hoan không chỉ có giá trị về mặt số lợng mà còn có ý nghĩasâu sắc về mặt chất lợng Trên 200 truyện ngắn của ông giống nh nhữngquả bom với sức công phá mãnh liệt, tấn công trực diện vào nhiều vấn đề xãhội Có đợc điều này, một phần là do Nguyễn Công Hoan đã biết kế thừatruyền thống văn học dân tộc, đặc biệt là những tác giả xuất sắc, đó là kếthừa sự hóm hỉnh trong các sáng tác của Nguyễn Khuyến, cái gai góc, cay
độc của Tú Xơng, chất triết lí trong dòng văn học dân gian,…tất cả đã tạonên một tiếng cời đa thanh
Nhìn vào hiện thực xã hội, ở đâu ông cũng thấy những trò khôi hai,
d-ới con mắt và cái nhìn của Nguyễn Công Hoan bất cứ sự kiện, hiện tợng gìcũng trở thành hài hớc
Đứng trớc một thời kì lịch sử rối ren, đen tối của đất nớc, Nguyễn
Công Hoan đã đề ra cho mình một quan niệm sống thật đúng đắn: “Phải
làm một cái gì đó để khỏi tủi là con nhà gia giáo” [26, 96] Chính ý thức ấy
là cơ sở của những truyện ngắn trào phúng đặc sắc Mỗi tác phẩm củaNguyễn Công Hoan nh một màn kịch trào phúng dựa trên hai mặt cơ bản:Tình huống và xung đột
2.1 Tình huống kịch
2.1.1 Vai trò của tình huống trong truyện ngắn trớc Cách mạng tháng 8
- 1945 của Nguyễn Công Hoan
Trong trào lu văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930
-1945, việc xây dựng tình huống và xung đột mang tính kịch trong truyệnngắn là điều hết sức mới mẻ Điều này đã quyết định sự thành công của một
Trang 37tác phẩm trào phúng Bởi vì trong tác phẩm trào phúng nói chung thì mâuthuẫn trào phúng giữ vai trò hết sức quan trọng Không có mâu thuẫn thìkhông thể có tiếng cời Tiếng cời chỉ đợc bộc lộ khi mâu thuẫn đợc giảiquyết.
Tình huống thể hiện sự sáng tạo và tài nghệ của tác giả Tình huống
là cách thức tổ chức tình tiết làm nổi bật mâu thuẫn trào phúng
Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đều dựa trên những câu chuyện
có thực ở ngoài đời Đo là hiện thực nhốn nháo trong chốn quan trờng, sựbăng hoại suy đồi các giá trị đạo đức trong lối sống của nhà t sản, sự lốbịch, kệch cỡm học đòi theo lối sống Phơng Tây trong cái gọi là phong trào
“Âu hoá” làm mất đi nét đẹp cổ truyền văn hoá trong lối sống của dân tộc,
và cuộc sống lam lũ cơ cực, khốn khổ của tầng lớp nhân dân lao động trongxã hội thời bấy giờ Tất cả những hiện tợng xã hội ấy đều đợc Nguyễn CôngHoan tái hiện và phản ánh một cách sâu sắc, đậm nét qua những tác phẩmcủa mình
Mỗi câu chuyện mà Nguyễn Công Hoan kể thờng ngắn gọn nhng lại làmột sân khấu hài kịch mang đậm chất trào phúng Có thể coi ông là ngời đầutiên sáng tạo và vận dụng chất hài vào truyện ngắn Viêt Nam hiện đại, tạo ramột ấn tợng khó phai mờ trong lòng độc giả Truyện ngắn của Nguyễn CôngHoan giống nh một vở kịch mà ở đó có cái bi và cái hài tạo nên tiếng cời đathanh Có lúc tiếng cời mang ý nghĩa hài hớc, dí dỏm, có lúc châm biếm sâucay, có lúc ngậm ngùi chua xót, cời ra nớc mắt Đó chính là kết quả từ sự đúcrút trong chính tính cách hài hớc của nhà văn và hiện thực xã hội đợc nhìnnhận thông qua con mắt tinh tờng của tác giả
Tiếng cời trong các sáng tác cuả Nguyễn Công Hoan thể hiện ở nhiềucung bậc, có lúc giòn giã, thoải mái, lúc sâu cay, phũ phàng Qua bút phápcờng điệu, phóng đại, tình huống truyện trở nên trớ trêu, ly kỳ hấp dẫn ngời
đọc bởi kết thúc đột ngột, bất ngờ Điều này khác với nhà văn cùng thờiNgô Tất Tố Tiếng cời trong sáng tác của Ngô Tất Tố thờng dí dỏm, sâu sắcqua lối tỉ dụ Ông thờng dùng những điển tích xa để nói chuyện ngày nay,bởi xuất thân Hán học nên luôn thể hiện sự tế nhị, kín đáo Hay các sángtác của Vũ Trọng Phụng- một nhà văn trào phúng, thì tiếng cời lại thể hiệnmột sự chua chát, đắng cay nh phỉ nhổ vào cái xã hội mà ông cho rằng là
“khốn nạn và chó đểu” để bóc trần sự trắng trợn của hiện thực xã hội trongmối hoài nghi, bi quan đến gai góc Thì tiếng cời của Nguyễn Công Hoan
Trang 38lại đợc bật lên từ những tình huống khi mà mâu thuẫn lên đến cao tràonhằm vạch trần sự giả dối của bộ mặt xã hội ấy
Truyện ngắn Thịt ngời chết vừa khắc họa nỗi đau của ngời cha, ngời
mẹ mất con, lại vừa vẽ lại thủ đoạn, lơng tâm, nét mặt của quan huyện tpháp lạnh lùng tàn nhẫn Tình huống độc đáo nhất của câu chuyện là sựmặc cả của ngời cha với quan huyện ngay ở bên xác đứa con xấu số Cuốicùng ngời cha bằng lòng với giá 70 đồng để đợc đem con đi chôn khiến cho
“lũ ruồi, lũ nhặng, lũ cá, lũ quạ, tiếc ngẩn ngơ Chúng có biết đâu rằng quanhuyện t pháp tranh mất món mồi ngon của chúng” Trong truyện này, đỉnh
điểm của mâu thuẫn là sự đối lập giữa một bên là nỗi đau vô bờ của bậc cha
mẹ mất con, với một bên là sự lạnh lùng, tàn nhẫn của quan huyện t pháp.Mâu thuẫn đợc đẩy lên cao độ trong cuộc mặc cả của đôi bên và cuối cùng
đợc giải quyết trong sự thoả thuận với giá 70 đồng Ngời đọc bật lên tiếngcời khi kết thúc truyện, song đó là cái cời chua chát, mỉa mai khinh bỉ.Cùng nói về sự tàn ác, bất nhẫn của lòng ngời, tác giả Vũ Trọng Phụng
trong truyện ngắn Bộ răng vàng lại có cách tiếp cận vấn đề khá thú vị.
Không ai có thể tởng tợng đợc chỉ vì một bộ răng vàng mà con dám cậymồm bố để lấy đi khi bố vừa nằm xuống “Để một tay giữ trên đôi mắt ngời
đã qua đời, còn một tay nó bóp lấy hàm, cố vành cho đợc Thấy hơi răn rắn,
nó liền dùng hết sức, cố vành mồm kẻ chết móc ra đợc bộ răng vàng,… mộtcái mồm không răng sâu hoăm hoẳm mà tối om om Sau khi đã bị vành rathì thôi, nhất định không thèm ngậm lại” Rõ ràng hiện thc ở đây đã đợc
đẩy lên cao độ, đồng tiền đã làm cho con ngời mất hết nhân tính
Còn ở tác phẩm Xuất giá tòng phu, tình huống truyện độc đáo lại
chính là s phỉ nhổ vào đạo “tòng phu” Chồng dạy vợ đạo tòng phu bằngcách cỡng bức vợ đi “làm đĩ” (dâng vợ đi ngủ với quan trên để lấy lòngmong chóng đợc thăng chức), nghe lời chồng mà làm thì mới là gái ngoanlàm trọn bổn phận “tam tòng” Mâu thuẫn đợc đẩy lên đỉnh điểm giữa mộtbên là sự cơng quyết “dạy vợ” của ông chồng với một bên là sự ơng ngạnhcủa ngời vợ Cuối cùng, mâu thuẫn đợc giải quyết bằng một trận đòn và sựchấp nhận của ngời vợ “Việc gì cũng vậy, đánh đau thì phải chừa Cho nênchẳng mấy chốc, bà kêu cuống quýt: Vâng! Vâng! Tôi lạy cậu ! Tôi xin đi”.Xây dựng tình huống truyện ở đây Nguyễn Công Hoan không chỉ lên án sựbăng hoại, xuống cấp, suy đồi trong đạo lý vợ chồng của thế giới nhà quan
mà đồng thời ông còn bộc lộ sự chua xót, đắng cay trong quan niệm: “Xuấtgiá tòng phu” của một thời kì lịch sử
Trang 39Nhìn chung, sự thành công trong truyện ngắn của Nguyễn CôngHoan chính là ở nghệ thuật xây dựng tình huống truyện Trong nhiều tìnhhuống độc đáo, ta thấy có hai tình huống cơ bản xuất hiện nhiều trongtruyện ngắn của ông Đó là tình huống hài kịch và tình huống bi hài kịch.
2.1.2 Tình huống hài kịch
Theo quan niệm của nhà mỹ học Nga Tsecnsepxki, thì bản chất của
hài kịch là: “Sự trống rỗng , hèn kém bên trong đợc che đậy bằng một vẻ bề
ngoài có tham vọng làm thành cái có nội dung và ý nghĩa thực tế” [17] Quả có thế thật! Trong mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, cácvấn đề đạo đức xã hội đều đợc phản ánh rõ rệt dới nhiều hình thức, nhiều
góc độ khác nhau Trong truyện ngắn Đồng hào có ma, hình thức của
huyện Hinh là một ông quan đầy uy quyền, nhng bản chất lại là một thằng
ăn cắp vặt Hành động của huyện Hinh thật đáng khinh và đáng buồn cờikhi hắn cúi xuống “nhặt đồng hào đôi sáng loáng,… bỏ tọt vào túi” Đó làhành động hết sức đê tiện, lố bịch và bởi vì hắn ăn chặn cả của những kẻkhốn cùng có việc phải đến cửa quan Dới ngòi bút châm biếm của NguyễnCông Hoan, ngời đọc không khỏi bật lên một tiếng cời khinh bỉ
Trong các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan còn rất nhiều sự đốilập trong sân khấu hài kịch mà nhà văn dựng lên Hẳn chúng ta không thể
quên đợc trong truyện ngắn Đào kép mới, về hình thức quảng cáo thì mới,
nhng nội dung lại là cái đã cũ rồi Đây là một trò giả dối, bịp bợm đángkhinh trên sân khấu cuộc đời, truyện này khiến ta nhớ đến truyện ngắn
Bệnh lao chữa bằng mồm hay là,… Thầy lang bất hủ của Vũ Trọng Phụng,
câu truyện cũng xoay quanh vấn đề bịp bợm, giả dối của bọn lang băm lợidụng quảng cáo mà lừa tiền Nhng cái đáng tởm hơn, đáng bỉ hơn cả là sựgiả dối trong đạo đức, trong lối sống của những hạng ngời coi đồng tiền là
tất cả Trong hai truyện ngắn liên hoàn Báo hiếu: trả nghĩa cha, Báo hiếu:
trả nghĩa mẹ, Nguyễn Công Hoan đã ghi lại một cách chân thực, chi tiết sự
xuống cấp băng hoại, suy đồi đạo đức của những đứa con, bề ngoài là đạihiếu khi làm giỗ, làm ma cho cha mẹ thật to tát, nhng ẩn bên trong lại lànhững kẻ đại bất hiếu Chúng đã diễn rất thành công nh những vai hài xuấtsắc trên sân khấu cuộc đời
Nguyễn Công Hoan là nhà văn có sở trờng xây dựng những tìnhhuống rồi đẩy mâu thuẫn lên đến cao trào và có những kết thúc hết sức bấtngờ Ông tạo ra nhiều tình huống khác nhau, nhng có thể xét tình huống hàikịch trên hai phơng diện cơ bản là: Hài hớc và châm biếm đả kích
Trang 402.1.2.1 Tình huống hài hớc
Tình huống đầu tiên xuất hiện trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoanbao giờ cũng mang ý nghĩa hài hớc Trong đó, các nhân vật chính tự diễntrò và phơi bày bản chất xã hội ra ánh sáng Qua thủ pháp cờng điệu, phóng
đại của nhà văn, các nhân vật hiện lên thật lố bịch, kì quặc và hết sức buồncời
Chẳng hạn, hành động của cô Kếu trong truyện ngắn Cô Kếu, gái tân
thời rất hài hớc Chỉ vì sợ mẹ mà cô phải vụng trộm đến nhà bạn để thử các
“mốt thời trang” Cô khoác lên mình tất cả những đồ trang sức, quần áo và đilại trớc gơng ngắm nghiá mà không biết chán Hành động đó lặp đi, lặp lạikhông biết bao nhiêu lần và “Nhng những hôm trời ma lớt sớt cả ngày, thì cônóng ruột quá Mà cứ đến cái giờ ấy, quái lạ, cô nằm bẹp gí, chẳng thiết làmcái phải gió gì cả” Hình ảnh Cô Kếu trong tác phẩm giống nh vai hề trên sânkhấu, đang tự biểu diễn những trò nhố nhăng, hớ hênh nhất
Trong truyện ngắn Phành phạch, nhà văn lại khắc họa cái béo của bà
chủ quá mức bình thờng, điều đó đã trở thành khôi hài: “Vậy thì bà nằm đó.Nhng thoạt trông đố ai dám bảo là một ngời Nếu ngời ta cha nom rõ cáimặt phị, cái cổ rụt, cái thân nung núc, và bốn chân tay ngắn chùn chùn, thìphải bảo là một đống hai ba cái chăn bông cuộn lại với nhau, sắp đem cất
đi” Đó là một cái béo rất “khủng khiếp” Nhng nực cời hơn là, vì béo mà
bà ngại ra ngoài, vì sợ trời nắng nên bà chỉ ở nhà Đặc biệt vì muốn khoecái béo cho nên bà suốt ngày phải quạt Cái buồn cời ấy cũng xuất phát từ
sự mâu thuẫn giữa cái béo đến phát phì thể hiện một sự thừa thãi với cáinghèo khổ, thiếu thốn, xơ xác của ngời đời Cái đáng cời đậm tính kịch cònmang ý nghĩa đáng khinh, đáng mỉa mai Dới ngòi bút của Nguyễn CôngHoan, chân dung bà chủ nh một bức tranh biếm họa
Vẫn ở chủ đề khắc hoạ sự đối lập giữa giàu và nghèo, Nguyễn CôngHoan rất thành công khi miêu tả những hình ảnh đối nghịch trong tác phẩm
Hai cái bụng Một bên là thằng bé nghèo xác xơ, một bên là bà chủ giàu có
đến phát phì Sự đối lập còn thể hiện giữa cái bụng lép kẹp và cái bụng
“bình bịch” vì quá no Cái đáng cời là cái bụng “bình bịch” kia, vì ăn quánhiều nên không thể nào tiêu hoá hết đợc Bởi vậy, nó hành hạ bà chủ đếnkhổ sở và bà không biết tìm cách nào mà giải thoát khỏi nó, bởi bà “chỉthèm ăn” Sự phóng đại đã làm nổi bật tính tham ăn và hậu quả của nó tạocho ngời đọc một tiếng cời sảng khoái hả hê