Để bù vào những thua thiệt nói trên, sau khi chiến tranh kết thúc, bọn tbản độc quyền Pháp vừa tăng cờng bóc lột nhân dân lao động trong nớc, vừavạch ra "Chơng trình khai thác lần thứ II
Trang 1trờng đại học vinh khoa lịch sử
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành: lịch sử việt nam
Trang 2- -tình hình kinh tế - xã hội nghệ an trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ ii của thực dân
pháp (1919 - 1929)
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành: lịch sử việt nam
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo
TS Trần Văn Thức đã trực tiếp tận tình hớng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình lựa chọn và hoàn thành khoá luận này.
Để hoàn thành khoá luận, tôi còn nhận đợc sự động viên, khích lệ của quý thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh, Th viện trờng Đại học Vinh, Th viện tỉnh Nghệ An, gia đình và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài này.
Do hạn chế về mặt thời gian cũng nh tài liệu tham khảo và năng lực trong nghiên cứu của bản thân, nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè để khoá luận đợc hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiền
Trang 3mục lục
Trang
Dẫn luận 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục của đề tài 6
nội dung 7
Chơng 1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trớc năm 1919 7
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Nghệ An 7
1.2 Quá trình xâm lợc Nghệ An của thực dân Pháp 10
1.3 Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trớc năm 1919 15
1.3.1 Kinh tế 16
1.3.2 Xã hội 24
Chơng 2 tình hình kinh tế nghệ an trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân pháp (1919 - 1929) 30
2.1 Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp ở Nghệ An (1919 - 1929) 30
2.2 Kinh tế Nghệ An trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919-1929) 34
2.2.1 Nông nghiệp 34
2.2.2 Công nghiệp 40
2.2.3 Giao thông vận tải 46
2.2.4 Thơng nghiệp – Dịch vụ 53
Chơng 3 tình hình xã hội nghệ an trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của Thực dân pháp (1919 - 1929) 58
3.1 Văn hóa - Giáo dục 58
3.2 Các chính sách xã hội khác 64
3.3 Đời sống của các tầng lớp nhân dân 69
3.3.1 Nông dân 69
3.3.2 Công nhân 72
3.3.3 Tiểu t sản 77
3.3.4 T sản 78
Trang 4KÕt luËn 81
Phô lôc
Trang 5Để bù vào những thua thiệt nói trên, sau khi chiến tranh kết thúc, bọn tbản độc quyền Pháp vừa tăng cờng bóc lột nhân dân lao động trong nớc, vừavạch ra "Chơng trình khai thác lần thứ II" để ráo riết bóc lột nhân dân cácthuộc địa, trớc hết là các nớc Đông Dơng mà trong đó Việt Nam là chủ yếu.Tìm hiểu, nghiên cứu về cuộc khai thác thuộc địa cũng nh những ảnhhởng của nó đối với nớc ta nói riêng và Đông Dơng nói chung đã có nhiềuhọc giả trong và ngoài nớc nghiên cứu Tuy nhiên đi sâu vào tìm hiểu nhữngchính sách khai thác của thực dân Pháp đối với một tỉnh và tình hình kinh tế
- xã hội của tỉnh đó thì cha đợc nghiên cứu một cách chuyên sâu và Nghệ
An cũng nằm trong tình hình nh vậy
ở Việt Nam, Nghệ An là một trong những vùng thực dân Pháp rất chú
ý, vì ở đây có nhiều tiềm năng về kinh tế, có vùng đất đỏ phì nhiêu, có nhiềunông lâm hải sản quý, lại có trung tâm công nghiệp quan trọng Vinh - BếnThủy cộng với nguồn nhân lực dồi dào, cho nên bọn thực dân Pháp đã tậptrung vào khai thác và bóc lột
Nghiên cứu về Nghệ An trong giai đoạn 1919 - 1929, qua đó ta có thểthấy đợc vị trí then chốt quan trọng của Nghệ An, thấy đợc những chính sáchcơ bản mà t bản Pháp đã áp dụng vào khai thác, đồng thời cũng thấy đợcnhững chuyển biến quan trọng về kinh tế - xã hội của vùng đất này
Tìm hiểu về tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácthuộc địa lần thứ II, ta có thể hình dung đợc bộ mặt Nghệ An trong nhữngnăm đầu thế kỷ XX, nhng mặt khác cũng thấy đợc những nét đặc trng riêngcủa Nghệ An so với các tỉnh khác trong tổng thể nớc ta từ khi t bản Pháp tiếnhành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II
Trang 6Để có thể hiểu rõ hơn, có cái nhìn cụ thể hơn về cuộc khai thác thuộc
địa ở nớc ta thì không thể không tìm hiểu tiến trình và những thay đổi cănbản của một địa bàn chiến lợc quan trọng nh Nghệ An
1.2 Xuất phát từ thực tế hiện nay việc giảng dạy và học tập môn lịch sử
địa phơng ở Trờng Trung học phổ thông, Trung học cơ sở, … còn nhiều hạn còn nhiều hạnchế, và thậm chí có nơi còn cha đợc đề cập đến
Tìm hiểu tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919 -1929) nhằm giải quyết một phần hạnchế trên, đồng thời cũng tạo điều kiện để nghiên cứu kỷ hơn về lịch sử NghệAn
1.3 Hơn nữa, những năm gần đây việc su tầm và biên soạn lịch sửNghệ An đang đợc chú trọng và tiến hành một cách có kế hoạch, là một sinhviên ngành lịch sử và hiện đang học tập tại trờng Đại học Vinh trên mảnh
đất Nghệ An, tôi thấy mình cần phải có trách nhiệm trong việc tìm hiểu vềlịch sử Nghệ An, đồng thời góp phần làm phong phú hơn nữa lịch sử ViệtNam
Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: Tình hình kinh tế - xã hội‘‘
Nghệ An trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919 1929) ”
-2 Lịch sử vấn đề
Cho đến nay Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thác“Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919 -1929)” vẫn cha có một công
trình chuyên khảo nào Tuy nhiên, nó đã đề cập tới ở những mức độ khác nhauvới những ý đồ khác nhau trong các công trình khoa học Chẳng hạn nh:
2.1 Tác giả Nguyễn Quang Hồng trong "Kinh tế Nghệ An từ năm 1885
- 1945'' của Nhà xuất bản lý luận Quốc gia năm 2008 đã trình bày những nộidung cơ bản sau:
+ Bối cảnh lịch sử thế giới, trong nớc ảnh hởng đến kinh tế Nghệ An.+ Tình hình kinh tế Nghệ An từ 1885 - 1945
Trong tác phẩm này tác giả đã đề cập đến kinh tế Nghệ An trong cảgiai đoạn từ 1885 - 1945, chứ cha nhấn mạnh cụ thể về kinh tế Nghệ Antrong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919 - 1929).2.2 Năm 1998, Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnhNghệ An biên soạn cuốn lịch sử Đảng bộ Nghệ An tập 1( 1930 - 1945) Quatác phẩm cho ta thấy đợc thiên nhiên con ngời Nghệ An, đồng thời cho ta cái
Trang 7nhìn tổng thể về kinh tế - xã hội Nghệ An từ khi Pháp tiến đánh thành Nghệ
An (20/7/1885) đến trớc khi thành lập Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Namtỉnh Nghệ An Tuy nhiên đó chỉ mới chỉ là những phác thảo, những nét kháiquát chứ cha đi sâu, cụ thể về kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácthuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919 - 1929)
2.3 Năm 1987, Liên hiệp công đoàn Nghệ Tĩnh biên soạn cuốn "Lịch
sử phong trào công nhân và công đoàn Nghệ Tĩnh" trong đó nêu lên khá đầy
đủ những sự kiện diễn ra thời Pháp thuộc Qua tác phẩm này có thể hìnhdung lại toàn cảnh Nghệ An trong 2 cuộc khai thác thuộc địa Tuy nhiên, tácphẩm chỉ dựng lại ở mức độ thống kê sự kiện của toàn tỉnh mà cha rút ra đợcnhững đặc điểm của Nghệ An trong cuộc khai thác
2.4 Ngoài ra, đã có một số tài liệu khác ít nhiều quan tâm đến vấn đềnày, hay là đã đề cập một khía cạnh của vấn đề nh:
- "Lịch sử Nghệ Tĩnh" tập 1 của Ban nghiên cứu lịch sử Nghệ Tĩnh
- "Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh" sơ thảotập I (1925 - 1954" của ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh
- "Lịch sử công nghiệp Nghệ An" của sở công nghiệp Nghệ An
- "Cảng Nghệ Tĩnh qua từng chặng đờng lịch sử" của Hoàng Anh Tài
- "Lịch sử Thành phố Vinh" tập 1 của UBND Thành phố Vinh
- "Thành phố Vinh quá trình hình thành và phát triển (1804 - 1945)"của tác giả Nguyễn Quang Hồng
Phần lớn các tác phẩm này đều đề cập đến cuộc khai thác của thực dânPháp nh hoàn cảnh lịch sử, các chính sách khai thác mà thực dân Pháp tiếnhành ở Nghệ An Còn tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khaithác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919 - 1929) thì cha đợc nghiêncứu cụ thể, đầy đủ
Tóm lại, trên cơ sở kế thừa những công trình đã nghiên cứu trớc đâycùng với nguồn tài liệu thu thập đợc, chúng tôi cố gắng bổ sung những phầncòn thiếu và cha đợc nghiên cứu để hoàn chỉnh cơ bản lịch sử tỉnh Nghệ An
từ những năm 1919 - 1929 khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địalần thứ II
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Từ lịch sử vấn đề nh trên, chúng tôi xác định đối tợng nghiên cứu củaluận văn là: Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919 - 1929)
Trang 8Về thời gian: Luận văn giới hạn từ năm 1919 đến 1929 tức là trongcuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp Cuộc khai thác nàydiễn ra trong thời gian giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới (1929-1939) nhngthực chất chỉ đến năm 1929 tức là bắt đầu khủng hoảng kinh tế 1929 - 1939thì tạm thời dừng lại
Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hộiNghệ An Cụ thể là:
+ Tình hình kinh tế Nghệ An trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ IIcủa thực dân pháp (về giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, thơngnghiệp - dịch vụ)
+ Tình hình xã hội Nghệ An trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ IIcủa thực dân Pháp về các mặt: Văn hóa giáo dục, chính sách xã hội, đời sốngcủa các tầng lớp nhân dân… còn nhiều hạn
Những vấn đề nằm ngoài khung thời gian và nội dung trên không thuộcphạm vi và đối tợng nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài thuộc về lịch sử địa phơng do đó nguồn tài liệu cóphần hạn chế Ngoài các tài liệu giáo trình, chúng tôi chủ yếu khai thác vàdựa vào nguồn tài liệu từ kho địa chí th viện Nghệ An, kho lu trữ bảo tàngXô Viết Nghệ Tĩnh… còn nhiều hạn
Để giải quyết đề tài này chúng tôi đã sử dụng phơng pháp lô gích vàphơng pháp lịch sử để có đợc bức tranh toàn cảnh về Nghệ An trong giai
đoạn 1919-1929 Đồng thời sử dụng một số phơng pháp khác để hỗ trợ nh:Phơng pháp so sánh, phơng pháp đối chiếu, phơng pháp thống kê… còn nhiều hạn
Về cơ bản đề tài đã đợc nghiên cứu khách quan, chân thực, đảm bảo
đ-ợc tính khoa học của một công trình nghiên cứu
5 Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở các nguồn tài liệu đã đợc thu thập và xử lý, chúng tôi:
- Có cái nhìn tổng quát, khách quan về quá trình đầu t t bản của thựcdân Pháp vào Nghệ An
- Đa ra đợc những nhận xét, đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội Nghệ
An trong những năm 1919 - 1929 Qua đó thấy đợc những đổi thay về kinh
tế - xã hội của Nghệ An so với giai đoạn trớc
Trang 9- Đồng thời tiến hành sắp xếp, bổ sung các tài liệu còn thiếu, góp mộtphần nhỏ vào việc biên soạn lịch sử tỉnh Nghệ An đang đợc chú trọng trongnhững năm gần đây
- Cũng từ luận văn này chúng tôi mong muốn - phần lịch sử địa phơng
sẽ đợc quan tâm hơn trong các khóa trình lịch sử của các cấp học Học sinh
và sinh viên có thể tìm hiểu về Nghệ An qua tham khảo luận văn này Hơnnữa, qua đây giáo dục tinh thần hứng thú say mê của học sinh sinh viên khitìm hiểu về cuội nguồn về quê hơng
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần dẫn luận và kết luận, nội dung của khoá luận đợc chiathành 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trớc năm 1919 Chơng 2: Tình hình kinh tế Nghệ An trong cuộc khai thác thuộc địa
lần thứ II của thực dân Pháp (1919 - 1929)
Chơng 3: Tình hình xã hội Nghệ An trong cuộc khai thác thuộc địa lần
thứ II của thực dân Pháp (1919 - 1929)
Trang 10nội dung Chơng 1
Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An
trớc năm 1919
1.1 Vài nét về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh lớn thuộc vùng Bắc Trung Bộ Lãnh thổ của Nghệ
An (đất liền) nằm trong tọa độ từ 18032'20" đến 19059'58" vĩ độ Bắc và từ
ớc, sau Lai Châu và Đắc Lắc)
Địa hình Nghệ An rất đa dạng, tính đa dạng này là kết quả của một quátrình lịch sử kiến tạo lâu dài và phức tạp ở đây vừa có núi cao, núi trungbình và có đồng bằng, vùng ven biển Với đặc điểm địa hình dốc, nhiều đồinúi nh vậy đã tạo nên sự phân hóa phức tạp của yếu tố tự nhiên cũng nh kinh
tế xã hội của Nghệ An Nhng với vị trí địa lý quan trọng, tiếp giáp với nhiềutỉnh trong nớc cũng nh nớc ngoài, Nghệ An đợc xem là tỉnh có vị trí chiến l-
ợc về quân sự và kinh tế hết sức quan trọng Nghệ An có điều kiện để giao lu
và tiếp xúc về văn hóa, chính trị, kinh tế, có điều kiện hội nhập với thị trờngtrong nớc và quốc tế, để rồi trên cơ sở khai thác các thế mạnh và tiềm năngvốn có của mình mà phát triển kinh tế - xã hội
Cũng nh nhiều vùng đất khác trên đất nớc ta, Nghệ An nằm trong vùngnhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh hởng của nhiều hệ thống thời tiết Với đặc
điểm địa hình dốc, nhiều đồi núi, cấu tạo tự nhiên phức tạp cũng đã tạo nênnhững đặc điểm riêng về khí hậu của tỉnh Nghệ An
Từ tháng 10 đến giữa tháng 4 năm sau có gió mùa Đông Bắc rét buốt, ít
ma Từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 10 có gió Tây Nam (gió Lào) Khi vợtdãy Trờng Sơn, gió Tây Nam trở nên khô nóng, thổi mạnh từng cơn, có đợtkéo dài một vài tuần Từ tháng 7 đến tháng 10 thờng có bão và ma lớn, gây
ra lụt úng Mùa ma bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung nhiều nhất vàocác tháng 7, 8, 9, 10 Còn muà khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 11Riêng ở đồng bằng và trung du từ tháng 1 đến tháng 3 có ma phùn, lợng matuy ít nhng nhờ có nhiều ngày ma, độ ẩm cao nên cũng giảm đợc hạn hán.
Có thể nói, khí hậu Nghệ An khắc nghiệt hơn nhiều vùng khác trong cảnớc, với gió Lào, hạn hán gay gắt, giông bão, lũ lụt Tuy nhiên, nhờ có lợngnhiệt và lợng ma dồi dào nên thời gian sinh trởng của cây trái có thể kéo dàitrong cả năm
Nghệ An có nhiều sông ngòi và con sông lớn nhất là sông Lam (tứcsông Cả), bắt nguồn từ thợng Lào, chảy về biển theo hớng Tây Bắc - ĐôngNam, dài 523km (trong địa bàn Nghệ An có 373km) Hệ thống sông Lam cótới 151 nhánh lớn nhỏ Các phụ lu chính trong đất Nghệ An có sông NậmMô, sông Giang, sông Con… còn nhiều hạn
Các sông khác đều ngắn, bắt nguồn trong tỉnh, chảy trực tiếp ra biển,tạo ra các cửa lạch, phần lớn là sông nớc lợ: sông Hoàng Mai, sông Dâu,sông Thoi, sông Bùng Ngoài sông tự nhiên, còn có các kênh đào nối cácsông với nhau, lớn nhất là "Kênh nhà Lê" là kênh đào chạy suốt từ Bắc đếnNam của tỉnh
Cảng Bến Thủy nằm trong địa phận của thành phố Vinh - Nghệ An(ngày nay) Đó là một Cảng sông, có tên gọi theo một đơn vị thủy quân là
Đồn thủy đóng trên sông Lam thời Lê Sau khi thực dân Pháp xâm lợc thìBến Thủy trở thành một thơng cảng khá sầm uất của Nghệ An
Hơn nữa, một điều đáng chú ý là vua Quang Trung từng đã có ý chọnVinh (Nghệ An) làm kinh đô của nớc Đại Việt thống nhất Trong th gửi LaSơn phu tử Nguyễn Thiếp ngày 03/9 năm Thái Đức thứ 11 (1788) ông đãviết: "Nhớ buổi hồi loan kỳ trớc, lúc qua Hoành Sơn quả cung đã từng nóixem địa đồ thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trờng (tên gọi của Nghệ An xa)hình thế rộng rãi, khí tợng tiềm sáng có thể chọn để xây dựng kinh đô mới,thật là chỗ đẹp để đóng đô vậy" [26, 8]
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nh vậy, từ rất sớm con ngời đã cómặt và bắt đầu định c ở nơi đây Cũng với sự tiến triển của lịch sử, c dânNghệ An cũng ngày cùng một đông với hàng trăm họ tộc, có nguồn gốc bản
địa hoặc từ nơi khác thiên di tới Tuy có khác nhau về nguồn gốc, về ngônngữ, về phong tục tập quán Nhng với điều kiện tự nhiên nơi đây có phầnkhắc nghiệt hơn nhiều nơi khác, con ngời phải thờng xuyên vật lộn với thiêntai, hơn nữa con ngời luôn phải lo chống trả để tự vệ và đánh đuổi giặc giãnên họ đã đoàn kết, hợp tác với nhau để cùng sẵn sàng bảo vệ quê hơng của
Trang 12mình Những nhân tố đó đã hun đúc con ngời Nghệ An với những đức tínhnổi bật nh cơng trực, khảng khái, cần kiệm, giản dị, trung thực, hiếu học,giàu nghị lực, ý chí, can đảm, dám xả thân, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn Dovậy, mà không phải ngẫu nhiên mà ngời xa đã nói:
"Nghệ An núi cao, sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tợng tơi sánggọi là đất có danh tiếng lớn hơn cả ở Nam Châu Ngời thì thuận hòa màchăm học, sản vật thì nhiều thứ quý của lạ … còn nhiều hạn ợc khí tốt của sông núi nên đsinh ra nhiều bậc thánh hiền, thực là nơi hiểm yếu nh thành đồng, ao nóngcủa nớc và là then khóa của các triều đại" [1, 24]
Với vị trị địa lý, điều kiện tự nhiên và con ngời nơi đầy thì rõ ràng ta cóthể thấy đợc địa thế quan trọng của Nghệ An Do đó khi mà đi tìm hiểu, nhìnnhận về lịch sử của Nghệ An thì chúng ta không thể không chú ý đến vị trí
địa lý và điều kiện tự nhiên nơi đây
1.2 Quá trình xâm lợc Nghệ An của thực dân Pháp
Âm mu xâm lợc của t bản Pháp đối với Việt Nam lâu dài và liên tục,bắt nguồn từ những năm đầu thế kỷ XVII và ngày càng đợc xúc tiến mộtcách mạnh mẽ, đặc biệt là giữa thế kỷ XIX
Mờ sáng ngày 01/9/1858, tiếng súng vang lên tại bán đảo Sơn Trà - ĐàNẵng, đã chính thức mở đầu quá trình xâm lợc nớc ta của thực dân Pháp.Chúng lăm le nổ súng xâm lợc đúng vào lúc chế độ phong kiến Việt Nam
đang đi sâu vào giai đoạn khủng hoàng trầm trọng Trong bối cảnh ấy, đểduy trì xã hội nhằm bảo vệ vơng quyền của mình, phong kiến nhà Nguyễn
1883 (Harmand) đợc ký kết gồm 27 điều khoản thì Việt Nam đã chính thứctrở thành thuộc địa Pháp, triều đình Huế vẫn tồn tại nhng đó là sự tồn tại rấtyếu ớt, bị thu hẹp từ Quảng Bình đến Khánh Hòa cho nên thực chất vẫn làtrên danh nghĩa
Trang 13Và tiếp đó là hiệp ớc Patơnốt 1884 (Pathenơtre) đợc ký kết, đây là bản
"khai tử" mọi quyền hành của nhà Nguyễn đối với nớc ta, đó cũng là văn bảncuối cùng hoàn thiện quá trình nhân nhợng của triều đình Huế đối với thựcdân Pháp Với văn bản này triều đình Huế đã tự kết thúc vai trò của một v-
ơng quyền độc lập chuyển sang làm tay sai bù nhìn
Tuy nhiên, trong triều đình Huế vẫn còn một số ngời yêu nớc, do tìnhthế trớc mắt buộc phải ngồi im, nhng bên trong vẫn nuôi chí hoạt động khi
có thời cơ Sau khi vua Tự Đức mất, Tôn Thất Thuyết là một trong ba phụchánh đại thần, đồng thời giữ chức Thợng th bộ binh nắm trong tay mọi binhquyền, đang ráo riết liên kết xây dựng lực lợng chờ ngày sống mái với quânthù
Đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5/7/1885, hai đạo quân của triều đìnhcùng lúc nổ súng vào các căn cứ Pháp tại Huế Bị đánh bất ngờ, lúc đầu quân
địch hoảng loạn, nhng sau đó chúng đã điều chỉnh lực lợng đến sáng mởcuộc phản công chiếm kinh thành Huế
Trớc tình hình đó, sáng hôm 5/7 Tôn Thất Thuyết đã đa vua Hàm Nghicùng đoàn tùy tùng rời Kinh đô Huế chạy ra Sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị).Tại đây, ngày 13/7/1885 Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, đãhạ chiếu Cần Vơng lần thứ nhất Hởng ứng lời kêu gọi, nhân dân khắp nơi đãsôi nổi đứng lên chống Pháp, nhất là ở Nghệ An - Hà Tĩnh
ở Quảng Trị một thời gian để tránh sự truy lùng gắt gao của quân Pháp,Tôn Thất Thuyết lại đa Hàm Nghi vợt qua đất Lào đến Sơn phòng ấu Sơn(Hơng Khê - Hà tĩnh) Tại đây Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vơng lần hai(20/9/1885)
Ngay sau khi chiếm đợc kinh thành Huế, thực dân Pháp đem quân đổ
bộ chiếm đánh thành Quảng Trị và ngày 20/7/1885, Chaumond (Sô Mông)cùng 188 sĩ quan và binh lính Pháp đổ bộ lấn chiếm thành Nghệ An Thơngbiện tỉnh vụ Nghệ An là Vũ Trọng Bình, cùng toàn bộ quan lại binh línhtrong thành Nghệ An mở cổng thành, giao nộp giấy tờ, sổ sách, chấp nhận
đầu hàng nhanh chóng Vào thành Nghệ An nh đi vào chỗ không ngời, nhngChaumond (Sô Mông) và quân đội Pháp cùng nam triều phong kiến tay sailại phải lập tức đối mặt với cuộc kháng chiến dới danh nghĩa Cần Vơng docác văn thân, sĩ phu yêu nớc và đông đảo nhân dân làng xã hởng ứng từ hạ lu
đến thợng nguồn sông Lam và rộng hơn là cả phần đất Trung Kỳ và mộtphần đất Bắc Kỳ Từ 1885 đến năm 1896, cuộc đấu tranh vũ trang quyết liệt
Trang 14giữa một bên là quân đội Pháp - Nam triều tay sai với vũ khí thiết bị hiện đại
và một bên là văn thân sĩ phu và c dân làng xã Nghệ An chỉ có cung tên,giáo mác, súng tự chế… còn nhiều hạn Nổi bật là các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân
ôn, Lê Doãn Nhã tại vùng Bắc Nghệ An Đồng thời nhân dân khắp tỉnhNghệ An đã hởng ứng sôi nổi cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, CaoThắng từ Hơng Khê - Hà Tĩnh phát triển ra Mặc dù các cuộc khởi nghĩadiễn ra sôi nổi, kiên cờng nhng nghĩa quân vẫn không chống chọi nổi với kẻthù Ngay sau khi cớp đợc thành Nghệ An, thực dân Pháp chia quân thànhtừng cánh, chiếm toàn bộ vùng đất Nghệ - Tĩnh
Đến năm 1896, khi tiếng súng Cần Vơng trên núi rừng Vụ Quang -
H-ơng Khê (Hà Tĩnh) tắt lịm thì cũng là lúc sự thống trị đợc coi là lâu dài củatriều đình phong kiến đối với vùng đất An Tĩnh kết thức Thực dân Pháphoàn thành công cuộc xâm lợc và bình định nớc ta nói riêng và toàn xứ ĐôngDơng nói chung
Khi phong trào Cần Vơng bị dập tắt cũng là lúc chính quyền thuộc địa
và chính phủ Pháp gấp rút triển khai chơng trình khai thác thuộc địa lần thứ
I (1897 - 1918) trên toàn bán đảo Đông Dơng, để nắm đợc vùng Trung Kỳnói chung và Nghệ An nói riêng thì thực dân Pháp đã tiến hành nhiều biệnpháp khác nhau
Song song với quá trình bình định nớc ta bằng quân sự, thực dân Pháptừng bớc thiết lập bộ máy thống trị của chúng Nớc ta từ chỗ một nớc phongkiến thuần thục bị biến thành một nớc thuộc địa nữa phong kiến Toàn ĐôngDơng đợc chia thành 5 xứ, trong đó Nghệ An thuộc về xứ bảo hộ ở Trung
Kỳ, nghĩa là thuộc dới quyền cai trị của Chính phủ Nam Triều và Chính phủbảo hộ Pháp Tại đây bộ máy thống trị của thực dân Pháp đợc tổ chức giống
nh mọi tỉnh khác thuộc xứ bảo hộ Trung Kỳ
Tháng 7/1885, thực dân Pháp cho đặt Công sứ, ngời đứng đầu các tỉnhTrung Kỳ trực thuộc tổng trú sứ Trung - Bắc Kỳ Về sau chức Tổng trú sứ đ-
ợc bãi bỏ, Công sứ thuộc quyền của Khâm sứ Trung Kỳ Tháng 2/1886,Tổng thống Pháp ký sắc lệnh cho phép Công sứ, Phó công sứ thực hiện cácchức năng của một lãnh sự quán các tỉnh Năm 1897 tòa công sứ Nghệ An đ-
ợc xây dựng Ngày 21/8/1894 Pháp lập hội đồng bảo hộ Trung - Bắc Kỳ.Năm 1899, Pháp cho thành lập tại Cửa Rào (Tơng Dơng) một đại lýhành chính nhằm mở đờng cho quá trình quản lý toàn bộ đất đai các huyệnmiền núi phía Tây Năm 1902 công sứ Nghệ An cho đặt tại Diễn Châu một
Trang 15đại lý hành chính nhng đến năm 1907 lại bãi bỏ Cùng với việc bãi bỏ đại lýhành chính ở Diễn Châu, năm 1907 Pháp chia Phủ Quỳ Châu thành 2 đơn vịhành chính: huyện Nghĩa Đàn và Phủ Quỳ Châu.
Riêng ở Vinh, với bộ máy cai trị "mẫu quốc" từ 1885 thực dân Pháp đặtviên công sứ và phó công sứ cùng với tòa giám binh, nhà mật thám … còn nhiều hạn lênđè
bộ máy cai trị của Nam Triều Tại đây chúng cho thành lập các đô thị mới.Ngày 20/10/1898 vua Thành Thái ra đạo dụ thành lập thị xã Vinh có ngânsách riêng và đợc toàn quyền Đông Dơng chuẩn y ngày 30/8/1899 Đây làtrung tâm đô thị đầu tiên xuất hiện trên vùng đất này và là lỵ sở của tỉnhNghệ An Năm 1914, Pháp cho thành lập trung tâm đô thị Bến Thủy, nganghàng với trung tâm đô thị Vinh Năm 1917 trung tâm đô thị Trờng Thi đợcthành lập với nguồn ngân sách riêng Từ đó, ba trung tâm đô thị: Vinh - BếnThủy - Trờng Thi phát triển và biến vùng đất này thành một trong nhữngtrung tâm công - thơng nghiệp - giao thông vận tải lớn nhất ở Bắc Trung Kỳ
Để thắt chặt hơn sự thống trị, thực dân tiến hành cấu kết với phong kiến
để củng cố bộ máy chính quyền từ tỉnh đến tận thôn xã ở Nghệ An có Tổng
Đốc, ở Hà Tĩnh có Tri Phủ, xuống phủ có Tri phủ, xuống huyện có Trihuyện, ở tổng có Chánh phó tổng, cuối cùng là hệ thống Hơng lý ở thôn xã.Ngày 27/9/1897, vua Thành Thái hạ dụ chính thức thừa nhận quyền sởhữu của thực dân Pháp đối với những gì mà chúng cớp đợc dù dới hình thứcnào ở Trung Kỳ Sau 1 ngày, toàn quyền Đông Dơng ra nghị định chuẩn y
Nh vậy, vùng đất Nghệ An đã hoàn toàn thuộc về thực dân Pháp Chúng tíchcực và gấp rút hoàn thiện bộ máy cai trị ở khu vực này Đến những năm đầuthế kỷ XX "về cơ bản mô hình, cơ cấu tổ chức, phơng thức chỉ đạo hoạt độngcủa chính quyền thuộc địa đã đợc xác định và từng bớc đợc củng cố Mốiquan hệ giữa 2 yếu tố cấu thành chính quyền này là thực dân và phong kiếntay sai đợc xác lập" [19, 60] Cũng nh các phần đất khác ở Trung Kỳ, Nghệ
An lúc này đợc đặt dới sự cai trị trực tiếp của chính quyền thực dân Pháp.Dẫu phải mất một thời gian khá dài mới hình thành nhng cuối cùng chúngcũng đã đặt đợc bộ máy cai trị tại đây
Sau khi đã căn bản hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam về mặtquân sự và trong bối cảnh đó đã có thể bắt tay vào khai thác thuộc địa ViệtNam nói riêng cũng nh Đông Dơng nói chung một cách quy mô Ngày22/3/1897, toàn quyền Đông Dơng Pôn Đume (Paul Doumer) gửi cho Bộ tr-ởng Bộ thuộc địa Pháp dự án chơng trình hoạt động với mục đích tối thợng là
Trang 16biến gấp Đông Dơng thành một thuộc địa khai khẩn bậc nhất, đảm bảo siêulợi nhuận cao nhất cho đế quốc Pháp Với chơng trình khai thác này đợc coi
nh một chính sách khá toàn diện của thực dân Pháp để độc chiếm thị trờng
Đông Dơng Từ đó Đông Dơng trở thành một trong những xứ thuộc địa giàu
có trong hệ thống thuộc địa mênh mông trải dài từ Châu Phi sang Châu ácủa thực dân Pháp
Nghệ An nhanh chóng trở thành tâm điểm đầu t của t bản Pháp Chúngbắt tay vào khai thác vùng đất có tài nguyên tự nhiên phong phú, nhân lựcdồi dào, đờng giao thông thủy bộ tơng đối thuận tiện Đầu tiên có chế độ suthuế, có hàng trăm thứ thuế, điển hình là thuế điền thổ và thuế đinh
Ngoài thuế, thực dân Pháp còn bày trò "lạc quyên", "quốc trái" để vơvét đến kiệt quệ của cải trong dân chúng Cha hết, chúng còn cớp đoạt ruộng
đất để lập đồn điền trồng cà phê, cao su… còn nhiều hạn theo tài liệu của Sở công chínhTrung Kỳ "Đến năm 1923, riêng Nghĩa Đàn đã có tới 10 đồn điền, rộngnhất là các đồn điền Lapicơ: 750ha, Oante: 600 ha, Xanta: 500ha … còn nhiều hạn bọnchúng kiếm đợc lợi nhuận tối đa bằng bóc lột nguồn lao động tại chỗ rất rẻmạt’’ [13, 127]
ấy là cha kể bọn chúng còn độc quyền kinh doanh rợu, muối, thuốcphiện, thuốc lào Tại Nghệ An chúng lập ra 17 đồn thơng chính để kiểm soátnhững ai làm các thứ đó mà chúng cho là "lậu" Riêng rợu, chúng bắt ngờidân phải tiêu thụ rợu phông - ten (Fontaine) do chúng sản xuất ra
Ngời dân còn phải đi phu đắp đờng, nạo vét các dòng sông để bọn thựcdân chuyên chở những tài nguyên cớp đợc tới các thơng cảng để xuất khẩuhoặc tới các thành phố khác để buôn bán trao đổi từ năm 1893 đến 1895chúng gấp rút làm con đờng quốc lộ số 7 từ Diễn Châu qua Lào Sau đó là đ-ờng xe lửa Hà Nội - Vinh, rồi đờng bộ Vinh - Cửa Lò, Vinh - Cửa Hội Năm
1917, chúng làm đờng xe lửa Vinh - Đông Hà, rồi nạo vét kênh nhà Lê, nạovét lòng Sông Lam… còn nhiều hạn
Bên cạnh đó, một số công sở đợc xây dựng, một số trờng học, một sốcơ sở y tế đợc mở ra để phục vụ cho sự cai trị của chính quyền thực dân vàlàm bánh vẽ cho công cuộc ‘‘khai hóa văn minh" của chúng
Chính sách cai khai thác, cai trị và bóc lột của thực dân Pháp là độcquyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, nhằm biến Việt Nam thành nơicung cấp nguyên liệu, bóc lột nhân công và tiêu thụ hàng công nghiệp củachính quốc Nhng trái với mong muốn của thực dân Pháp thì cơ cấu kinh tế
Trang 17của Nghệ An đã thực sự biến đổi mạnh mẽ Từ chỗ chỉ là một nền kinh tế tựcung tự cấp, khép kín trớc đó, kinh tế Nghệ An lúc này đã mang nhiều đặc
điểm của kinh tế hàng hóa Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Phápthực chất đã khách quan làm phát kinh tế Nghệ An Mặt khác, từ sự biến đổimạnh mẽ về kinh tế đã dẫn đến xã hội Nghệ An đã có sự phân hóa sâu sắc
1.3 Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trớc năm 1919
Cho đến khi Pháp chiếm thành Nghệ An (20/7/1885), kinh tế Nghệ Anvẫn là nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông mang tính tự cung tự cấp lỗi thời vàlạc hậu Làng xã là địa bàn c trú của đại bộ phận dân chúng Với chính sáchkhai thác thuộc địa lần thứ I, thực dân Pháp đã khách quan làm biến đổimạnh mẽ kinh tế Nghệ An và xã hội cũng đã có sự phân hóa sâu sắc
1.3.1 Kinh tế
Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I (1897 - 1914) Pháp chủ trơngxây dựng cho Đông Dơng một hệ thống đờng sắt, đờng bộ, sông đào, bếncảng, những cái cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dơng Vì vậy trongcuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Pháp chỉ chú trọng xây dựng cơ sở hạtầng nhất là mạng lới giao thông và một số ít ỏi các cơ sở công nghiệp phục
vụ cho việc sơ chế các sản phẩm khai thác đợc
*Giao thông vận tải
Khi hoàn thành quá trình xâm lợc và bình định nớc ta, trớc thực tế làhầu hết các tuyến đờng bộ nối từ tỉnh này đến tỉnh khác, vùng này qua vùngkhác đều thích hợp với việc đi ngựa, đi bộ, chính quyền thực dân buộc phải
đầu t xây dựng cả một hệ thống đờng giao thông và phơng tiện đi lại Điềunày không chỉ giúp t bản Pháp có điều kiện đẩy nhanh hơn nữa công cuộckhai thác để vắt kiệt sức sống của thuộc địa, mà còn giúp cho nhà cầm quyềnnhanh chóng đàn áp và đè bẹp đợc sự nổi dậy của dân chúng qua các phongtrào đấu tranh Xuất phát từ mục đích và lợi ích đó t bản thực dân Pháp đã bỏvốn xây dựng ở Nghệ An - Hà Tĩnh một trung tâm giao thông vận tải lớnnhất Bắc Trung Kỳ
Năm 1893, khi cha chủ trơng khai thác thuộc địa, để phục vụ cho côngcuộc xâm lợc và bình định vùng Nghệ An - Hà Tĩnh và Lào, Pháp đã cho xâydựng tuyến tỉnh lộ Vinh - Cửa Rào - Trấn Ninh dài 515 km, nay là đờng số 7
từ Vinh đi các huyện Yên Thành, Đô Lơng, Con Cuông và sang Lào Cùngvới đờng số 7, đờng số 8 chạy từ Vinh - Bến Thủy qua Hà Tĩnh đến ViênChăn với chiều dài 217km đợc xây dựng Năm 1899, thực dân Pháp làm
Trang 18xong các con đờng rải đá Cũng trong năm này, Pháp cho làm lại đờng bộVinh - Cửa Hội Cùng với đờng bộ, sân bay Vinh đợc khởi công xây dựng(1918) để tăng thêm vai trò hoạt động của đờng hàng không.
ở Nghệ An từ đầu thế kỷ XX cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhấtkết thúc, các loại ô tô tải nhỏ, ô tô chở khách đã hoạt động trên các tuyến đ -ờng: Vinh - Bến Thủy - Yên Lý - Phủ Quỳ - Bến Thủy - Cửa Hội, Vinh - HàNội; Vinh - Bến Thủy - Mờng Xén - Cửa Rào - LuôngPhaBăng Công tyvận tải ô tô Bắc Trung Kỳ và Lào thành lập và hoạt động kinh doanh có lãitrên các tuyến đờng này trong thời kỳ đầu Nhng đến khi Chiến tranh thếgiới thứ nhất bùng nổ, điều hy hữu đã diễn ra: Phạm Văn Phi một thợ máykiêm ông chủ cơ sở sửa chữa ô tô ở Vinh (thành lập 1912) với số vốn ban
đầu là: 15.000 phơ răng trở thành đối thủ cạnh tranh quyết liệt với công tyvận tải ô tô Bắc Trung Kỳ và Lào Ô tô của Phạm Văn Phi có mặt khắp cáchuyện lỵ Phạm Văn Phi trở thành ông chủ ngời Việt đầu tiên bỏ vốn kinhdoanh vận tải ô tô trên địa bàn Nghệ An và thu đợc nhiều lợi nhuận
Bên cạnh đó, đờng sắt cũng đợc chú ý xây dựng Ngày 17/3/1905 thựcdân Pháp cho thông đoạn đờng sắt Hàm Rồng - Vinh - Bến Thủy Cùng ngàychúng bắt đầu khai thác toàn tuyến đờng sắt Hà Nội - Vinh dài 328km Năm
1913, thực dân Pháp cho khởi công làm đờng sắt Vinh - Đông Hà nhng đếnnăm 1914 phải tạm dừng lại do Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ
Ngoài đờng bộ, đờng sắt thì đờng thủy cũng là một hệ thống giao thôngquan trọng Nhận thấy rõ vị trí đặc biệt của Vĩnh Doanh (trong đó bao gồmBến Thủy, sông Lam, Rú Quyết), ngay khi đặt chân đến Nghệ An, thực dânPháp đã tiến hành đầu t phát triển, Bến Thủy đợc nhanh chóng xây dựngthành một thơng cảng phục vụ cho công cuộc bình định và khai thác lâu dàiViệt Nam và Đông Dơng Đến năm 1910 tại Bến Thủy ngời Pháp đã xâyxong bến lấy tên là Lô - No và Măng Giơ Các cầu tàu của t bản Pháp và tsản Việt Nam cũng lần lợt đợc lập nên ở Bến Thủy: "đó là cầu tàu của Saclơ,xây năm 1908, cầu tàu Bạch Thái Bởi (1911), cầu tàu của Rốc Cơ, cầu tàuNguyễn Hữu Thu (1916) " [29, 5 ] Năm 1918 thực dân Pháp cho nạo vétcảng Bến Thủy lần thứ nhất với một khoản kinh phí khá lớn Ngoài tuyếnsông Lam, hệ thống kênh đào cũng đã đợc bắt đầu chú ý Năm 1918 Phápcho đào kênh Sắt Vinh- Thanh Hóa, cùng với hệ thống kênh nhà Lê trớc đó,việc đi lại giao lu giữa các vùng đợc mở rộng
* Công nghiệp:
Trang 19Do ảnh hởng của chính sách khai thác bóc lột của thực dân Pháp, nêncông nghiệp và thủ công nghiệp ở Nghệ An và Hà Tĩnh trong những năm
đầu thế kỷ cũng nằm trong tình trạng manh mún và tiêu điều Hầu hết nhữngcơ sở công nghiệp trong thời gian này đều là những cơ sở công nghiệp phục
vụ, tuy không chú ý đến công nghiệp cơ khí, xây dựng, phục vụ nôngnghiệp, nhng bọn thực dân cũng đã chú ý phát triển một số cơ sở côngnghiệp phục vụ cho việc khai thác, xuất khẩu nông lâm sản nhằm bòn rút sứclực và tài nguyên của dân bản xứ
Năm 1903 khi kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pôn Đume(Paul Doumer) đợc thực hiện, trên cơ sở "xởng ca xẻ", công ty Diêm ĐôngDơng lập nhà máy Diêm với số lợng 750 công nhân, đa việc chế biến gỗ pháttriển thêm một bớc Những năm sau đó các công ty lâm sản thơng mại Trung
Kỳ và Công ty Diêm Đông Dơng đã hợp tác quản lý hết các xí nghiệp côngnghiệp gỗ ở Bến Thủy, đa việc chế biến và xuất khẩu gỗ thành một mónhàng chủ yếu của chúng Có năm nhà máy này đã cho xuất khẩu tới 7.000tấn gỗ và cung cấp diêm cho cả nớc Bên cạnh Nhà máy Diêm, Nhà máy Cáhộp của tên t bản Lapich (Lapique) cũng đợc lập rất sớm ở Vinh để phục vụnhu cầu của quân đội viễn chinh Pháp trong cuộc "bình định"
Từ khi kéo dài thêm con đờng sắt Hà Nội - Vinh tới Đông Hà, bọn thựcdân đã mở thêm ở Vinh - Bến Thủy (1917) một nhà máy cơ khí Trờng Thi đểsửa chữa xe lửa… còn nhiều hạn Đây là một nhà máy lớn ở Nghệ An và cả vùng Trung Kỳlúc bấy giờ
Trong khi ngành công nghiệp phát triển một cách chậm chạp và nhỏgiọt, nh vậy thì tiểu thủ công nghiệp vốn có truyền thống lâu đời của nhândân trong tỉnh cũng không đợc bọn thống trị chú ý và khuyến khích pháttriển Không những vậy, chúng còn ra sức kìm hãm, hạn chế làm cho cácngành nghề mai một dần Chính sách độc chiếm thị trờng để chúng mặc sứctung hoành và lũng đoạn, đã làm cho các nghề chính nh dệt vải, thuộc da,nấu rợu Phải đình đốn rồi đi đến phá sản Duy chỉ có nghề đánh cá, chếbiến nớc mắn ở các vùng ven biển (Quỳnh Lu, Diễn Dâu) là có phát triểnchút ít, cung cấp cho nhu cầu trong tỉnh và bán ra cả ngoài tỉnh
*Thơng nghiệp - Dịch vụ
Trên các lĩnh vực kinh tế của Nghệ An trong thời gian này thì thơngnghiệp phát triển nhất Nhng sự phát triển đó cũng chủ yếu phục vụ choquyền lợi của bọn t bản thơng nghiệp Pháp độc quyền Năm 1901 chúng ra
Trang 20một nghị định đánh thuế môn bài theo 10 hạng, từ hạng nhất (300đ) đếnhạng thấp nhất (0,5đ), với nghị định này một số thơng nhân Việt ở Nghệ Anphải phá sản, tạo điều kiện cho thơng nhân nớc ngoài làm ăn lớn hơn.
Từ sau 1901 trở đi, Vinh đã có một số cửa hiệu buôn bán lớn của t bảnngoại quốc Đáng kể trong đó là "Hội buôn Lào", với số vốn khoảng600.000đ chuyên nhập các loại dầu, vải, rợu và thu mua xuất khẩu các loại
đồ da, dầu thông, cánh kiến
Để phục vụ cho sự phát triển thơng nghiệp trong giai đoạn mới, thựcdân Pháp đã đặt tại Vinh chi nhánh "Nhà băng Đông Dơng" từ đó chúng mởthêm đờng giao thông, mở rộng thị xã Vinh, thị xã Bến Thủy rồi cả TrờngThi
Những năm trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, bên cạnh những hiệubuôn, những chủ hãng trớc đó ở Vinh còn xuất hiện một số hãng buôn lớncủa thực dân Pháp nh Cơrốc (cros), Sanhtac (saintard) chuyên buôn gỗ, hãngLuyơ (Luevi), công ty dầu hỏa Pháp - á thu mua các hàng nông, lâm sản đểxuất khẩu
Do chính sách khai thác lần thứ I nên ở Nghệ An cũng nằm trong tìnhtrạng xuất nhiều hơn nhập Đa số các hàng xuất khẩu là các thứ nông, lâm,hải sản thực dân Pháp cớp đợc của nhân dân trong tỉnh Trái lại, những hàngnhập khẩu thờng là những sản phẩm ế thừa của các công ty t bản chính quốc
mà thị trờng chính quốc và các thuộc địa khác của chúng không tiêu thụ hết.Trong khi thơng nghiệp ở các thành thị lớn bị bọn thơng nhân ngoạiquốc lũng đoạn độc quyền thì ở những vùng nông thôn vẫn giữ một vai tròlớn trong việc cung cấp, trao đổi các mặt hàng thiết yếu cho nhân dân lao
động Hầu hết các phủ huyện trong tỉnh đều có chợ ở miền ngợc tuy số chợ
có ít hơn, song vẫn đảm bảo đủ nhu cầu trao đổi buôn bán thờng xuyên chongời lao động Một số chợ lớn nổi bật trong tỉnh nh chợ Vinh, chợ Si (DiễnChâu), chợ Rạng (Thanh Chơng) đã giữ vai trò to lớn trong việc trao đổibuôn bán
Mạng lới thơng nghiệp và dịch vụ này đã phục vụ đắc lực cho côngcuộc khai thác Thật vậy, một trong những mục tiêu của chủ nghĩa thực dântrong quá trình khai thác thuộc địa là chiếm thị trờng để tiêu thụ hàng hóa vàvơ vét các sản phẩm của thuộc địa về chính quốc
Cùng với quá trình hình thành khu công nghiệp ở Nghệ An và Hà Tĩnh
là sự ra đời của các công ty kinh doanh của t bản Pháp và các chủ thầu ngời
Trang 21Pháp và ngời Việt Ngay từ năm 1907 đã thành lập công ty thơng mại và kỷnghệ ở Vinh có chi nhánh ở Cửa Rào, nắm độc quyền mua bán đặc sản xuấtkhẩu, vơ vét đặc sản các vùng Trung Lào, Nghệ An và Hà Tĩnh Năm 1911,Pháp lập chi nhánh "Công ty dầu lửa Pháp - á" tại Vinh, độc quyền kinhdoanh dầu hỏa.
Từ năm 1901 trở đi, ở Vinh - Bến Thủy có những hiệu buôn nh sau:Cửa hàng ngời Pháp có Luy-Xi - A buôn dầu, Đô - Bơ buôn thuốcphiện, Đơ - Măng - Lơ - buôn tạp hóa
Nhà buôn ngời Hoa kiều có: Trơng Vĩnh Du buôn dầu sơn, dầu hỏa;Duy Hòa Xơng buôn nông sản xuất khẩu; Phúc Choan Vinh buôn thựcphẩm
Nhà buôn ngời Việt có: Phạm Văn Phúc buôn đồng, Lê Viết Lới, Trơng
Đắc Lập buôn gỗ Ngoài những nhà buôn nói trên, lúc này ở Nghệ An đãxuất hiện một số t sản ngời Việt nh: Nguyễn Đình Khai lập xởng gạch hoachuyên sản xuất các loại gạch lát, Vơng Đình Châu lập xởng in, Thái hợp lậpxởng ca Tuy bị thực dân Pháp chèn ép, vốn ban đầu còn ít, kinh doanh gặpkhó khăn song đây cũng là sự xuất hiện của một tầng lớp xã hội mới trênmảnh đất Nghệ An
Những năm cuối cùng của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I, Pháp tiếptục cho các nhà t bản thành lập công ty, đại lý buôn bán là nhằm độc quyềnkinh doanh các mặt hàng đợc coi là đặc sản của Nghệ An nh lâm sản, thủyhải sản, nông sản Đây là những mặt hàng không thể có ở Pháp Thơng nhânPháp một mặt tiến hành thu mua nguồn nguyên liệu quý hiếm tại đây cũng
nh ở một số thuộc địa khác để chở về chính quốc, sau đó lại đem hàng côngnghiệp từ Pháp sang tiêu thụ ở khu vực này với giá thành cao hơn Chỉ riênghình thức kinh doanh này cũng đã đa lại cho t bản Pháp một nguồn lợi nhuậnlớn Thực tế, Pháp đã mạnh lên rất nhiều khi có một thị trờng tiêu thụ sảnphẩm rộng lớn và một nơi cung cấp nguồn nguyên liệu, vật liệu dồi dào vàphong phú nh Đông Dơng
Nh vậy, cho đến trớc năm 1919 nền thơng nghiệp - dịch vụ ở Nghệ An
đã có nhiều thay đổi, làm cho bộ mặt thơng nghiệp - dịch vụ nơi đây có thêmkhởi sắc
* Nông nghiệp:
Sau khi cơ bản bình định xong đất nớc ta, thực dân Pháp đã xác định rõmột phơng châm khai thác quan trọng là chiếm đoạt ruộng đất, xây dựng
Trang 22những đồn điền trồng cây công nghiệp để phục vụ cho chính quốc Đây vừa
là thủ đoạn, vừa là mục đích cuộc khai thác của thực dân Pháp trên một đấtnớc thuộc địa mà nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành kinh tế cổ truyền của nớc ta Cho đến nhữngnăm trớc khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa thì nông nghiệp vẫngiữ đợc địa vị chủ đạo gần nh độc tôn trong toàn bộ cơ cấu kinh tế Việt Nam.Tuy nhiên, cũng nh các ngành kinh tế khác, trớc sự xâm lợc của thực dânPháp, nông nghiệp Việt Nam đã có sự biến đổi sâu sắc ở trên nhiều khíacạnh.T bản Pháp đã thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế Nghệ An Nền nôngnghiệp không còn giữ vị trí độc tôn nh trớc
Từ năm 1886 trở đi chúng chiếm 35.426 mẫu ở Nghệ An Vùng đất đỏPhủ Quỳ là một trong những vùng đất màu mỡ nhất của Nghệ An, khai thácvùng đất này để trồng cây công nghiệp nh: Cà phê, cao su, chè là một nguồnlợi lớn của bọn t bản Pháp Để hợp pháp hóa việc cớp đất, thực dân Pháp đã
đa ra nghị định năm 1886 cho phép t nhân Pháp chiếm đất lập đồn điền từ10ha đợc quyền chiếm tới 500ha để lập những đồn điền rộng lớn trồng câycông nghiệp
Về tài chính, năm 1904 Pháp thành lập Ngân hàng ở Vinh cho phép cácnhà t bản và thơng nhân vay vốn theo lãi suất để khai thác đất đai xây dựng
đồn điền Nh vậy, để tiến hành cớp đất lập đồn điền thực dân Pháp cùng triều
đình nhà Nguyễn đã hợp pháp hóa việc ăn cớp đất và tạo cơ sở cho việcchiếm đoạt ấy bằng văn bản pháp lý và các tổ chức
Để tiến hành nhanh chóng việc lập các đồn điền, thực dân Pháp đã thựchiện chính sách bần cùng hóa nhân dân bằng các mức thuế rất cao Cùng vớithủ đoạn ấy là việc chiếm đoạt đất đai bằng bạo lực vô cùng dã man nh đốtnhà, dồn dân, đuổi dân ra khỏi mảnh đất sinh sống của họ Theo t liệu thống
kê cha đầy đủ, từ năm 1910 (năm mà thực dân Pháp mở đồn điền Cát Mộng
ở Phủ Quỳ) đến cuối những năm 20 ở Nghệ An - Hà Tĩnh có khoảng 46 đồn
điền Có thể kể ra đây một số đồn điền lớn nh:
Đồn điền La - pích của Công ty La - pích có 7.500 ha ở Nghĩa Hng,Nghĩa Đàn
- Đồn điền Van - te có 600 ha ở Nghĩa Đàn
- Đồn điền Booc -đê có 500ha ở Hà Tân, Hơng Sơn
- Đồn điền Ma - rốt - tơ có 418 ha ở Quỳ Châu
- Đồn điền Cu - đue có 400 ha ở Voi Bổ, Hơng Sơn
Trang 23- Đồn điền Tô - ma có 135 ha ở Nghĩa Hng, Nghĩa Đàn
- Đồn điền Phe - rây có 200 ha ở Hơng Sơn [23, 13]
Sau khi chiếm đoạt hầu hết những vùng đất ba dan ở Phủ Quỳ, t bảnPháp lại tràn xuống các vùng trung du để chiếm thêm những mảnh đất phìnhiêu của nông dân lập tiếp các đồn điền khác
Thủ đoạn chiếm ruộng đất của bọn thực dân phong kiến cũng muônhình muôn vẻ Ruộng đất của nông dân bao đời cha truyền, con nối và ruộng
đất công của làng xã đều bị chúng cớp đoạt, đua nhau chiếm gọn
Do nạn chiếm cứ ruộng đất nh vậy, đa số nông dân Nghệ An không córuộng cày Họ phải lĩnh canh nộp tô, chịu sống cuộc đời vất cả lam lũ củamột tá điền ngay trên mảnh đất xa của mình
Với bản chất ăn bám xấu xa, bọn địa chủ ngời Việt cũng nh ngời Pháp
ở Nghệ An đã nghĩ ra nhiều mánh khóe, thủ đoạn bóc lột vừa xảo quyệt, vừatrắng trợn Ngời nông dân vất cả quanh năm trên đồng ruộng, nhng đến vụthu hoạch vào những năm mùa màng thất bát, họ phải nộp cho chủ một sốthóc làm ra Ngợc lại vào những năm đợc mùa chúng lại bắt nông dân chia
đôi ruộng lúa bông để chúng gặt
Ngoài “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai tháctô chính” ngời nông dân còn phải chịu nhiều khoản “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai tháctô phụ”., họphải làm công không (cày cấy, gặt hái) ,đi tết lễ là một năm hai vụ cho bọnchủ đất Bởi vậy, dù là những năm đợc mùa họ vẫn là những ngời làm thuê
“Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácđói cơm rách áo” Tình cảnh “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai tháclúa chín vàng” những ngời nông dân phải
“Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácđói vàng mắt” xong mùa “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai tháctreo hái treo niêu”.đi phiêu bạt kiếm ăn là chuyệnthờng tình của ngời nông dân Nghệ An dới chế độ cũ - thực dân phong kiến
Nh vậy, rõ ràng kinh tế nông nghiệp Nghệ An cho đến trớc năm 1919không còn giữ vị trí độc tôn nh trớc nữa Thực dân Pháp cớp đất lập các đồn
điền trồng cây công nghiệp: chè, cà phê, và bóc lột ngời nông dân hết sứcnặng nề Cùng với sự tàn phá của thiên tai, sự cằn cỗi dần của những vùng
đất còn lại, nông nghiệp Nghệ An không thể có một vai trò quan trọng nh
tr-ớc, mặt khác sự xuất hiện của công nghiệp - thơng nghiệp và các tuyến đờnggiao thông quan trọng đã phá vỡ tính chất tự nhiên tự cung tự cấp khép kíncủa kinh tế Nghệ An, đồng thời đẩy nông nghiệp từ chỗ là ngành chủ đạoxuống hàng thứ yếu
1.3.2 Xã hội
Với những chính sách xâm lợc và khai thác của thực dân Pháp tiến hành
ở Nghệ An không những làm cho đời sống chính trị tại nơi đây ngột ngạt,
Trang 24đời sống vật chất cực khổ và ngay cả đến đời sống văn hóa giáo dục, xã hộicủa nhân dân Nghệ An cũng vô cùng lạc hậu.
* Văn hóa, giáo dục: Mục đích giáo dục của bọn thực dân là nhằm nô
dịch, đồng hóa nhân dân ta Muốn vậy, một mặt chúng duy trì sử dụng nềngiáo dục phong kiến lạc hậu, mặt khác chúng mở nhỏ giọt một số trờngnhằm đào tạo một số tay sai cho bộ máy thống trị của chúng Bởi vậy, đếnnhững năm đầu thế kỷ, việc dạy Hán học vẫn đợc giữ lại và phát triển bêncạnh một số Trờng tiểu học Pháp - Việt, cùng một số nơi khác trong nớc,Hán học vẫn đợc duy trì mãi cho tới khoa thi năm Mậu Ngọ (1918) ở trờngVinh Thời gian này tại các tỉnh lỵ Nghệ An và Hà Tĩnh vẫn còn các "tr ờng
Đốc học" Còn các lớp học của các ông Đồ, ông Cử hầu nh làng nào cũng có.Năm 1918, Nghệ An có 8 trờng Tiểu học với 726 học sinh, 128 trờng Tiểuhọc với 3095 học sinh [6,300]
ở hệ thống trờng làng thì thực tế càng cho thấy đất Nghệ An là mảnh đấthiếu học Nghệ An có 227 trờng với 1.576 học sinh vào năm 1917 Nhữnglàng nổi tiếng về học hành đậu đạt trong thời kỳ phong kiến lúc này vẫn giữvững đợc truyền thống nh: Quỳnh Đôi (Quỳnh Lu), Trung Cần (Nam Đàn).Năm 1905 khi thực dân Pháp lập "Nha học chính Đông Dơng" và "Hội đồngcải cách nền giáo dục bản xứ" thì chúng đa thêm một số chơng trình "Tânhọc" vào các trờng Hán học Tuy vậy, mãi tới năm 1910 chúng mới mở đợcmột số trờng dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ
ở Vinh mãi tới năm 1912 mới có trờng Cao Đẳng Tiểu học (trờng QuốcHọc), nhng không phải riêng cho Nghệ An mà cả 4 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh
- Bình Học sinh 4 tỉnh chen chúc nhau thi vào, nhng phần lớn chỉ có con emcác gia đình quyền thế giàu có mới vào đợc Quy chế thi cử ngoặt nghèo đãtrở ngại rất lớn cho con em lao động, dù cho họ học rất giỏi
Việc thi cử khắt khe, chơng trình học nhồi sọ, hàng năm số học sinh bị
đánh hỏng gần tới một nửa Bên cạnh đó, ý thức phân biệt lao động trí óc vàlao động chân tay đợc chúng nhấn mạnh trong quá trình đào tạo, các tệ lậu
nh "tế lễ" vẫn đợc duy trì Tình hình đó đã hạn chế rất lớn sức vơn lên tronghọc hỏi của đại đa số con em lao động ở Nghệ An Phần lớn những kiến thức
mà học sinh thu nhận đợc đều nghèo nàn, vụn vặt và nặng tính chất duy tâmthần bí, xuyên tạc sự thật lịch sử để phục vụ cho chính sách nô dịch của thựcdân
Mặc dầu có những hạn chế nh vậy, với truyền thống hiếu học lâu đờinhân dân Nghệ An vẫn tự vơn lên, mở mang kiến thức hiểu biết cho mình,
Trang 25bằng tự dạy, tự học Các lớp học đã góp phần đáng kể trong việc nâng caokiến thức và giáo dục t tởng trong nhân dân.
Hai tỉnh Thanh - Nghệ Tĩnh chỉ có một tờ báo "Thanh Nghệ Tĩnh TânVăn", mà nội dung chủ yếu là đăng tải các thông báo Chỉ thị của Nhà nớc
"bảo hộ"
Đi đôi với việc kìm hãm "tự do ngôn luận", bọn thực dân cũng ra sứcduy trì những hủ tục do chế độ cũ để lại nh đình đám, hội hè, ma chay, bóitoán, mua ngôi bán thứ, vì các tệ nạn xã hội đó có lợi cho chúng trong việcbòn rút, bóc lột thêm của cải, đồng thời trói buộc nhân dân trong vòng ngudốt để dễ bề cai trị Mặt khác, tại hầu khắp các phủ huyện, ngời ta khôngthấy một cơ sở văn hóa nào
* Chính sách xã hội: Chính sách cai trị và bóc lột của thực dân Pháp là
độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, nhằm biến Việt Nam thànhnơi cung cấp nguyên liệu, bóc lột nhân công và tiêu thụ hàng công nghiệpcủa chính quốc, biến chính quyền phong kiến thành chính quyền bù nhìn,tay sai Chính sách đó làm cho xã hội Việt Nam phân hóa ngày càng sâusắc
Đầu tiên phải kể đến chính sách thuế: Có hàng trăm thứ thuế, điển hình
là thuế điền thổ và thuế đinh Chính quyền bù nhìn phong kiến Nam Triềucòn cải cách việc đánh thuế điền Đó chính là mu mẹo để chúng bòn vétthêm mồ hôi, nớc mắt của nông dân
Ngoài ra còn có thuế thân (tức thuế đinh hoặc su) Đây là thứ thuế đánhvào đầu tráng đinh, một thứ thuế vô lý mà chỉ ở xứ lạc hậu này mới có.Ngoài thuế, thực dân Pháp còn bày trò "lạc quyền" "quốc trái" vơ vét của cảitrong dân chúng Làm cho đời sống của ngời nông dân vốn đã bần cùng naycàng cơ cực hơn Hơn nữa, nơi đây khí hậu khắc nghiệt, mất mùa liên tiếpnên ngời nông dân không thể đóng nổi thuế, phải tha phơng cầu thực khắpnơi trong và ngoài nớc
Ngoài chính sách về thu thuế, để có công nhân phục vụ việc mở manggiao thông vận tải, thực dân Pháp đã tiến hành một cách mạnh mẽ chính sáchbắt phu trong toàn tỉnh Nạn đi phu làm đờng trong những năm đầu thế kỷ lànỗi lo âu khủng khiếp của nhân dân Nghệ An Nhiều gia đình nông dân ởNghệ An đã vì "sự mở mang công chính" của nhà nớc "bảo hộ" mà mấtchồng mất con, tan tác cửa nhà Nỗi buồn lo âu và sự oán thán của nhân dân
đợc thể hiện qua một số câu thơ, câu vè sau:
"Xa kia cha có Tây Tàu
Trang 26Quan bắt xây lũy đào hào ai đơng?
Tây sang chiếm đợc quốc vơng
Đào hào đắp lũy vấn vơng Sơn Hà " [6, 298]
Chính sách bắt buộc phải tiêu thụ rợu Phông ten của thực dân Pháp đãlàm cho số ngời nghiện rợu ngày càng tăng lên Rợu cồn, thuốc phiện cùngvới nạn cờ bạc, tệ mê tín dị đoan Đã phát triển những nơi có đông ngời ởVinh đều có các "nhà thổ", tiệm hút, nhà săm, nhà cô đầu là nơi tiêu khiểncho bọn thống trị và tay sai
Chính từ những chính sách trên đã làm cho đời sống của ngời dân bị đảolộn, ngời nông dân ngày càng bần cùng Các tệ nạn xã hội ngày càng nhiều
và trở nên phổ biến Từ đó làm cho xã hội Nghệ An những năm trớc 1919phân hóa ngày càng sâu sắc
* Đời sống các tầng lớp nhân dân:
Dới ảnh hởng của cuộc khai thác lần thứ I do thực dân Pháp tiến hành
đã tác động mạnh mẽ và có sự phân hóa sâu sắc đến các giai cấp, đến đờisống của các tầng lớp nhân dân
Nông dân chiếm tuyệt đại đa số và cũng là đối tợng chủ yếu của chínhsách phá sản và bần cùng hóa của bọn thực dân Đa số nông dân Nghệ An lànhững ngời nghèo khổ dới thời kỳ phong kiến Từ khi Pháp đặt chân lênNghệ An, họ phải chịu thêm một ách bóc lột nặng nề tàn khốc, càng bị phásản Ngời nông dân không chỉ bị đế quốc phong kiến bóc lột về kinh tế, về s-
u thuế, phu đài tạp dịch, mà còn bị t bản Pháp, bản xứ cớp bóc, tớc đoạt cácthứ nông, lâm, hải sản kiếm đợc Họ cũng là nạn nhân của sự áp bức nhũngnhiễu của bọn cờng hào ở vùng nông thôn Họ là giai cấp phải chịu đựngnhiều nhất những hậu quả của chính sách bóc lột kinh tế và đàn áp chính trịcủa t sản Pháp nên họ bị phân hóa mạnh mẽ nhất Do đó, họ phải dấn thânvào các đồn điền, xí nghiệp công thơng của bọn thực dân nh vùng côngnghiệp Vinh - Bến Thủy, vùng đồn điền Phủ Quỳ hoặc bị chúng đa vào Nam
Bộ sang Lào và bộ phận khác cày thuê cuốc mớn nơi đất khách quê ngời
Bộ phận công nhân ở Nghệ An trong những năm đầu thế kỷ đến hếtChiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu hình thành và phát triển Thời gian nàycông nhân nơi đây phần đông là nông dân bị phá sản đi làm khuân vác ở cácbến cảng, phu đài ở các công trờng đờng sá hoặc ở một số đồn điền, rất ítnhà máy nên đời sống của họ vẫn gắn chặt với nông thôn
Trong cuộc khai thác lần thứ I, t sản Pháp đã ráo riết bóc lột sức lao
động của công nhân, nhng tiền lơng trả lại vô cùng rẻ mạt Họ làm việc từ 10
Trang 27đến 14 giờ mà cao nhất cũng chỉ đợc trả 0,3đ (ngời lớn) và 0,05đ (trẻ em)trong 1 ngày Cùng với việc bóc lột là sự nhũng nhiễu, hạch sách của bọn cai
ký, chủ xởng
Trong thời kỳ này bộ phận công nhân Nghệ An còn ít, đang hình thành
và cha có tổ chức đấu tranh
Khá đông là đội ngũ tiểu t sản Họ gồm các thợ thủ công, những ngờibuôn nhỏ, tiểu thủ, học sinh, công chức v.v Đây là tầng lớp bị bạc đãi, bịphá sản và thất nghiệp, nên nói chung họ gần gũi với nông dân lao động vàcũng có mâu thuẫn với thực dân phong kiến Bởi vậy, khi có phong trào cáchmạng, họ hăng hái tham gia và ở chừng mực nhất định họ đã phát huy đợctác dụng trong các cuộc đấu tranh
T sản ở Nghệ An nhìn chung đã bắt đầu đợc tập hợp từ trong cuộc khaithác lần thứ I Tuy nhiên, những ngành nghề quan trọng đều bị t sản ngoạiquốc độc quyền chiến giữ Đa số t sản thơng nghiệp ở Nghệ An chỉ làm đại
lý thu mua và bán hàng cho bọn t bản Pháp Hầu nh ở Nghệ An thời gian nàykhông có t bản công nghiệp ngời Việt Nam Một số cố ngoi lên trong nghềthầu khoán, nhng rồi bị chèn ép, phải tụt xuống làm nghề buôn bán Một sốvừa là t sản, vừa là địa chủ
T sản Nghệ An cũng bị thực dân chèn ép, nhng lại có quan hệ chặt chẽvới chúng Bởi vậy, bên cạnh tinh thần dân tộc họ cũng có sẵn t tởng đầuhàng bọn thực dân Thậm chí có những tên từng là tay sai của Pháp Các nhà
t sản Nghệ An cũng muốn mơ màng hoạt động thơng mại, chấn hng kinh tếnhng bị chính sách độc quyền kinh tế của Pháp và sự chèn ép của t sản nớcngoài (ấn kiều, ấn kiều) nên họ không thể ngoi đầu lên đợc
Nh vậy có thể thấy dới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I, xãhội Nghệ An phân hóa sâu sắc, bắt đầu hình thành nên nhiều giai cấp mới.Tuy nhiên, giai cấp nông dân vẫn chiếm đại đa số và là những ngời chịu tác
động mạnh mẽ nhất hậu quả của chính sách bóc lột kinh tế và đàn áp chínhtrị của t sản Pháp
Đồng thời qua bức tranh đời sống của các tầng lớp nhân dân, qua sựphân hóa xã hội sâu sắc của Nghệ An trong những năm đầu thế kỷ tới Chiếntranh thế giới thứ nhất làm cho mối mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân Nghệ
An với thực dân Pháp bùng nổ liên tục trong suốt quá trình chúng thống trịnhân dân ta
Trang 28Chơng 2 tình hình kinh tế nghệ an trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân pháp (1919 - 1929)
2.1 Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp ở Nghệ An (1919 - 1929)
Mặc dù là một nớc thắng trận, Pháp bớc ra khỏi Chiến tranh thế giới thứnhất (1914-1918) với những tổn thất nặng nề về kinh tế và tài chính Chiếntranh đã tàn phá hàng loạt các nhà máy, cầu cống, đờng sá và làng mạc trênkhắp đất nớc Nhiều ngành sản xuất công nghiệp bị đình trệ, hoạt đông th-
ơng mại bị sa sút nghiêm trọng Sau chiến tranh, Pháp trở thành con nợ lớntrớc hết là Mỹ Số nợ quốc gia vào năm 1920 đã lên tới 300 tỉ phơrăng.Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng đã tiêu huỷ hàng triệu phơ răng đầu t củaPháp ở nớc ngoài Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mời Nga (1917) thị tr-ờng đầu t lớn nhất của nớc Pháp tại Châu âu không còn nữa Thêm vào đó lànạn lạm phát, sự leo thang của giá cả và đời sống khó khăn đã làm trổi dậycác phong trào đấu tranh của các tầng lớp lao động Pháp chống lại chínhphủ
Trớc tình hình đó, để nhanh chóng hàn gắn vết thơng chiến tranh vàkhôi phục nền kinh tế, chính quyền Pháp một mặt ra sức tìm các biện phápthúc đẩy sản xuất trong nớc, mặt khác tăng cờng khai thác thuộc địa, trớchết và chủ yếu là các nớc Đông Dơng Đông Dơng đợc coi là một trongnhững thuộc địa giàu tiềm năng của Pháp Ngày 12- 4-1921 bộ trởng bộthuộc địa Xarô (alber sarraut) trình bày trớc quốc hội Pháp bản dự luật khaithác thuộc địa, trong đó có một phần quan trọng nói về chơng trình đầu tkhai thác thuộc địa ở Đông Dơng, với đa số phiếu thuận Quốc hội Pháp đãchuẩn y dự luật khai thác thuộc địa do Xarô trình bày Các nhà nghiên cứulịch sử, kinh tế, chính trị gọi đây là: "Chơng trình khai thác thuộc địa lần thứhai”
Số vốn đầu t của thực dân Pháp vào các nghành kinh tế Việt Nam tronggiai đoạn này tăng vọt với tốc độ cha từng thấy; năm 1920 đạt: 255.000.000phơrăng, nếu tính số vốn đầu t vào Việt Nam từ năm 1924-1929 đạt tới :4.000.000.000 phơrăng, tức là gấp tới 4 lần tổng số vốn t bản Pháp đầu t vàoViệt Nam trong vòng 30 năm (1888-1918)
ở Việt Nam, Nghệ An là vùng đất giàu tài nguyên, đông nhân công,giao thông thuỷ bộ thuận lợi, lại giáp Lào Hơn nữa, ở đây có trung tâm công
Trang 29nghiệp quan trọng Vinh - Bến Thuỷ Do đó, Nghệ An là một tâm điểm màthực dân Pháp chú trọng đầu t và tiến hành khai thác, với hy vọng sẽ phục vụ
đắc lực cho ý đồ của họ
Về hớng đầu t, trong thời gian này chúng tập trung đầu t vào nôngnghiệp và khai mỏ.Việc t bản Pháp tập trung một lợng lớn vốn đầu t vào hailĩnh vực này tiếp tục làm biến đổi mạnh cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế
ở nớc ta nói chung cũng nh ở Nghệ An nói riêng
So với các ngành kinh tế khác, nông nghiệp là ngành đợc thực dân Phápchú trọng nhiều hơn cả Năm 1924 số vốn bỏ vào nông nghiệp là 52 triệuphơrăng, đến năm 1927 lên tới 400 triệu phơrăng Với số vốn đầu t đó, thựcdân Pháp ra sức cớp đoạt ruộng đất của nhân dân để lập đồn điền ở Nghệ
An có nhiều tiềm năng kinh tế, có vùng đất đỏ phì nhiêu, nhất là vùng đất đỏ
ba gian ở vùng Phủ Quỳ, đợc ngời Pháp xem là “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácloại đất tốt nhất ở Đông
D-ơng” [15, 10] Rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp nh cao
su, cà phê, cây ăn quả Đất phù sa ven sông, ven biển tuy độ màu mỡ khôngcao nhng là vùng đồng bằng thâm canh lơng thực nhất là cây lúa, chủ yếu ởcác huyện Yên Thành, Nghi Lộc, Diễn Châu, Hng Nguyên, Nam Đàn Chính vì vậy mà thực dân Pháp đẩy mạnh việc chiếm đất lập đồn điền.Chúng đã cấu kết chặt chẽ hơn nữa với giai cấp phong kiến, trắng trợn cớpnhững vùng đất rộng lớn của Nghệ An và dành cho bọn t bản Pháp nhiều
đặc quyền, đặc lợi Từ đó mà các vùng có khả năng trồng cây công nghiệp ởNghệ An mau chóng nổi lên những đồn điền rộng lớn Lúc này, một nguồnlợi lớn làm cho thực dân Pháp háo hức chiếm các vùng đất đỏ là để trồng càphê xuất khẩu Mặt khác, chúng còn tiến hành dồn dân chiếm đất ở nhiều nơi
để mở rộng các hoạt động quân sự, tài chính
Thực dân Pháp cũng tiến hành nhiều chính sách nhằm mở rộng kinhdoanh công thơng nghiệp Để tiện khai thác, bóc lột, thực dân Pháp tiếp tụcxây dựng và mở mang các công trình giao thông vận tải nh: các tuyến đờng
bộ, đờng hàng không, cầu cống, và cảng Bến Thuỷ Riêng năm 1929, chínhphủ Pháp duyệt một khoản chi 10 triệu phơ răng cho việc mở rộng cảng BếnThuỷ Báo chí của t bản Pháp hồi đó đã bình luận: "Bến Thuỷ là cảng của batriệu dân, của một vùng bao la vô cùng giàu có về xuất khẩu, là chìa khoá
mở cửa vào xứ Lào Bến Thuỷ sẻ là cảng chính, ngời ta có thể xây dựng ở
đây một thành phố lớn nhất Trung Kỳ” [6, 333]
Trang 30Cùng với việc hoàn chỉnh hệ thống giao thông vận tải là việc côngnghiệp hoá thành phố Vinh - Bến Thuỷ Ngày 10 -10 -1922, toàn quyền
Đông Dơng ra nghị định lập Công ty lâm sản thơng mại Trung Kỳ và Công
ty Diêm Đông Dơng (socíeté inđôchinoise des forêts et d’allumetts), gọi theotên viết tắt là là Xipha (S.I.F.A) Từ năm 1928 đến năm 1929, nhiều xởng,nhà máy đợc mở rộng nh xởng Trờng Thi, xởng Đề Pô đó là các cơ sởcông nghiệp lớn có sự đầu t vốn của ngân hàng Đông Dơng và các ngânhàng quốc gia Pari, ngân hàng công thơng nghiệp Pari, ngân hàng tín dụngLyông Ngoài ra ,cũng trong thời gian này t bản Pháp cũng mở rộng các cơ
sở công nghiệp: Nhà máy ca, chế biến thực phẩm, Nhà máy rợu v.v
Thơng nghiệp cũng phát triển với tốc độ nhanh hơn trớc, lúc này cáchiệu buôn mới xuất hiện ngày một nhiều ở Vinh và các thị trấn khác Ngày
30 - 10 -1925, toàn quyền Đông Dơng lại ký nghị định cho đặt ở Vinh mộtvăn phòng hỗn hợp thơng mại canh nông kiêm doanh cả Thanh - Nghệ -Tĩnh Đối với các mặt hàng đặc sản nh: rợu, muối, thuốc phiện và một sốhàng quý hiếm khác, thực dân Pháp độc quyền về kinh doanh và lu thôngbuôn bán, nhất là thuốc phiện và các loại hơng liệu, dợc liệu nh: sa nhân,nhung, cánh kiến, trầm là những mặt hàng có nhiều ở Nghệ An - Hà Tĩnhthì thực dân Pháp càng kiểm soát chặt chẽ, tuyệt đối không nhờng quyền thumua và buôn bán cho ai cả
Bên cạnh việc đầu t mạnh, việc chiếm đất lập đồn điền, mở rộng kinhdoanh công thơng nghiệp thì thực dân Pháp còn tăng cờng thu thuế và địa tô
Để tiện cho việc kiểm soát hành chính, bảo đảm việc thu đợc nhiều thuế,thực dân Pháp đã cũng cố và tăng cờng quyền lực của chúng ở nhiều cơ sở Ngày 16-12-1927 toàn quyền Đông Dơng ký nghị định nhập ba khu vựcVinh, Trờng Thi, Bến Thuỷ lại thành thị xã Vinh - Bến Thuỷ Điều 2 củamục 1 ghi rõ: “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácthị xã Vinh - Bến Thuỷ đợc quản lý với sự giúp đỡ của cácquan tỉnh, do viên công sứ Vinh trực tiếp làm thị trởng đứng đầu Khi thị tr-ởng đi vắng thì thị trởng giao quyền đó lại cho phó sứ” [6, 336]
Điều 3 mục 1 ghi: “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácthị trởng chủ trì một hội đồng thị xã gồm dới mìnhbốn uỷ viên ngời Pháp và bọn uỷ viên ngời Việt Viên tổng đốc cũng buộcphải chủ trì các phiên họp của hội đồng thị chính với t cách ngồi ngang hàngvới thị trởng” [6, 336]
Trang 31Điều 4 mục 1 nói rõ các Uỷ viên thị chính ngời Việt “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácchọn trong những
địa chủ của thị xã, những thơng nhân có môn bài và những ngời có chứcquyền khác” [6 ,336]
Rõ ràng việc sát nhập này trớc hết nhằm tăng thế lực của các quan chứcngời Pháp trong tỉnh và lôi kéo thêm nhiều địa chủ, t sản lớp trên nhằmthống trị và bóc lột nhân dân nhiều hơn nữa
Đồng thời với việc tăng cờng quyền lực ở những khu trung tâm, thựcdân Pháp cho củng cố lại các trạm thu thuế, trớc hết là các sở đoan Khôngchỉ ở miền xuôi mà cả miền núi thực dân Pháp cũng có những biện phápkiểm soát và thu thuế rất ráo riết Ngày 22-10-1907 toàn quyền Đông Dơng
ký nghị định chia Phủ Quỳ châu ra làm Phủ Quỳ châu và huyện Nghĩa Đàn.Chúng cho đặt một sở đại diện của chính quyền cấp tỉnh tại Nghĩa Hng (1-9-1908) gọi là trạm Nghĩa Hng Đến ngày 3-3-1930, toàn quyền Đông Dơnglại có nghị định mới đổi trạm Nghĩa Hng thành đại lý Phủ Quỳ với tráchnhiệm và quyền hành lớn hơn
Quyền lực hành chính của thực dân ở miền xuôi cũng nh miền núi đợctăng cờng đã tạo thêm nhiều thuận lợi cho t bản Pháp trong việc mở rộngkinh doanh khai thác và tận dụng thu thuế khoá
Chính sách khai thác bóc lột của thực dân Pháp ở Nghệ An trên đủ cáclĩnh vực công, nông, thơng nghiệp và tài chính từ sau chiến tranh thế giới thứnhất đã làm cho tài nguyên nơi đây hao mòn, đời sống nhân dân kiệt quệ
2.2 Kinh tế Nghệ An trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp (1919-1929)
2.2.1 Nông nghiệp
Nếu nh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I thực dân Pháp chú trọng đếncơ sở hạ tầng, thì đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II nông nghiệp làngành đợc chú trọng đầu t khai thác nhiều hơn cả Năm 1924 số vốn bỏ vàonông nghiệp là 52 triệu phơrăngthì đến năm 1927 đã lên đến 400 triệu phơrăng.Với số vốn đó, thực dân Pháp ra sức cớp đoạt ruộng đất lập đồn điền vàNghệ An - một tỉnh thuộc xứ bảo hộ Trung Kỳ với đất đai trồng trọt phongphú, nhất là vùng đất đỏ ba gian ở Phủ Quỳ rất thích hợp cho việc trồng cácloại cây công nghiệp - đã đợc thực dân Pháp liệt kê vào tầm ngắm để thànhlập đồn điền
Khác với Nam Kỳ và Bắc Kỳ từ cuối thế kỷ XIX đến hết Chiến tranh thếgiới thứ nhất, các điền chủ ngời Pháp, ngời Việt đã đầu t xây dựng một hệ
Trang 32thống đồn điền rộng hàng chục vạn ha và hình thành kinh tế đồn điền Còn ởNghệ An thời gian này sự đầu t vào kinh tế đồn điền là cha đáng kể.
Ngày 27-12-1913, toàn quyền Đông Dơng ra nghị định nêu lên nguyêntắc chung đầu tiên cho toàn xứ Đông Dơng quy định về việc chuyển nhợngruộng đất công theo hai loại đất: đất thành phố, đất cấp phát nông thôn Nghị
định này đã mở đờng cho quá trình chuyển nhợng đất đai và cả chiếm đoạtruộng đất của các điền chủ ngời Pháp Tuy nhiên, theo thống kê của ngờiPháp, đến trớc Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, diện tích đất đai bịmua, bán, chuyển nhợng, tớc đoạt, lập đồn điền chủ yếu tập trung ở Bắc Kỳ,Nam Kỳ còn ở Trung Kỳ tình trạng đầu t xây dựng đồn điền cha mấy sôi
động và chỉ diễn ra lẻ tẻ, cha đồng loạt ở Nghệ An, từ năm 1897- 1910 vấn
đề đồn điền chỉ mới nằm trên giấy tờ là chủ yếu, từ 1910 -1913 một số điềnchủ ngời Âu nh: Ba canh (bacaine), Van tơ (walther), bắt đầu khai phá đồn
điền Tiên sinh và Nai sinh (nay thuộc nông trờng Đông Hiếu - Nghĩa Đàn)
để trồng cây công nghiệp và chăn thả gia súc Tiếp đó, Cô lê (collet) lập đồn
điền ở Dốc Lụi (Nghĩa Đàn) Công việc kinh doanh của họ không mấy phát
đạt vì thời tiết, khí hậu, thiếu nhân công Khi Chiến tranh thế giới thứ nhấtkết thúc, các đồn điền này đợc chuyển nhợng lại cho hội Lapiccơ và công ty(P.a.Lapicque et cie) và diện tích chuyển nhợng theo văn bản là 350 ha Nhng từ năm 1919, cả ngời Pháp lẫn ngời Việt ở vùng Phủ Quỳ lập đồn
điền diễn ra liên tục với quy mô lớn Đến năm 1923, t bản Pháp phát hiện ramiền đất đỏ Phủ Quỳ và đẩy mạnh kinh doanh cây công nghiệp ở nơi này.Hăng- ri- cu- sơ- rút- xê (Henri coucherousset) viết trên báo Ê- vây- cô- nô-mích (Eveil économique): “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácnhững đất này do chất ba gian phân huỷ ra nênrất màu mỡ đất đỏ Phủ Quỳ có thế mạnh hơn hẳn đất Nam Kỳ Nơi đâydân không đến nổi quá tha thớt ngời kinh vốn quen với chế độ làm cônghoặc do nghèo khổ buộc phải đi làm thì ta không phải “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai tháctriệu” họ từ nơi cách
xa đồn điền 1.500km,họ khắc tự tìm đến từ nơi cách xa đồn điền có 15km”.[11, 19] Walther lập đồn điền ở Cau Trai (nay thuộc nông trờng Tây Hiếu-Nghĩa Đàn), làm ăn phát đạt thuê mớn hàng trăm nhân công làm theo mùa
vụ Năm 1930 diện tích đồn điền của Walther lên tới 63.000 ha
Đáng chú ý khi thành lập công ty Rừng và Diêm Đông Dơng, đầu t xâydựng đồn điền ở Phủ Quỳ với diện tích hàng ngàn ha, trồng cao su, cà phê,
và chăn thả gia súc Sự hiện diện của tập đoàn t bản này trên vùng đất đỏ PhủQuỳ chứng tỏ thực dân Pháp đang quan tâm đến vùng đất trớc chiến tranh
Trang 33mà họ cha kịp khai thác Ngay trong thời gian từ 1922-1930, một phần lớn
đất đỏ Phủ Quỳ đợc các điền chủ ngời Pháp, ngời Việt chuyển thành đồn
điền để trồng cà phê, cao su, đay, gai, chăn thả gia súc Chính quyền thuộc
địa cho phép xây dựng ở đây một trạm thí nghiệm trồng các loại cây nhiệt
đới và chăn thả gia súc Ngoài các loại cây nhập từ các nớc khác đến nh: cao
su, cà phê trạm thí nghiệm giống cây trồng nhiệt đới Phủ Quỳ còn trồng thínghiệm giống cam sành, bởi, quýt, nhãn, na , Hệ thống đồn điền trải dài từTrạm Lụi đến vùng đất Đông Hiếu, Tây Hiếu, Cờ đỏ, 1/5 (Nghĩa Đàn ),sang tận Vực Lô, Vực Rồng , Đào Nguyên (Tân Kỳ) lên tận Kẻ Tụ (QuỳChâu) Theo số liệu của sở canh nông Trung Kỳ tính đến ngày 31-12-1929diện tích đồn điền tạm cấp ở Nghệ An là 13.406 ha, diện tích đã cấp chínhthức là 3.257 ha Căn cứ vào số liệu thống kê và diện tích đất đai ở Hà Tĩnh,Quảng Bình, Thanh Hoá trong cùng một thời gian thì Nghệ An có diện tíchnhiều hơn cả
Đặc biệt bên cạnh các điền chủ ngời Pháp trong giai đoạn này một sốngời Việt có đầu óc kinh doanh đồn điền nh: Lê Bôn Đào, Ký Viễn, Lê VănQuý đã có mặt tại Phủ Quỳ, bỏ tiền mua hàng trăm ha đất đai lập đồn điềntrồng cao su, cà phê, chăn thả gia súc, gia cầm, thuê mớn vài chục đến vàitrăm nhân công tuỳ theo mùa vụ Đây là một nét mới trong bức tranh kinh tế
đồn điền ở Nghệ An cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ hai
Không chỉ dừng lại ở Phủ Quỳ, trong khoảng thời gian từ 1919 - 1930các điền chủ ngời Pháp, ngời Việt còn mạnh dạn bỏ vốn đầu t lập ra mộthình thức đồn điền đều khắp các huyện thuộc địa bàn Nghệ An Đáng kể là:
đồn điền Sapainhepha, Pau hugon, Ký Viễn ở Hạnh Lâm (Thanh Chơng),
đồn điền của anh em nhà Le Jeune (Anh Sơn), đồn điền của Miphare (KẻTụ- Quỳ Châu), đồn điền của Emileur, Chavanon, ở Quỳnh Lu, đồn điền củaThừa Duệ ở Nghĩa Động (Nam Đàn), đồn điền của Bá Hộ Cầu (HngNguyên), đồn điền của Trần Thi Vực (Yên Thành), v.v Nhà chung NghiLộc, Nam Đàn, Hng Nguyên, Yên Thành, v.v, mỗi nơi có từ vài trăm đếnvài ngàn mẫu đất, nhng đây là loại hình ruộng đất khá đặc biệt không phải
đồn điền nh một số ngời từng khẳng định
Theo thống kê của Y- vơ- Hăng- ri (Yves henri) ở Nghệ Tĩnh có mời bốngia đình có trên 50 ha ruộng đất Từ năm 1925- 1930, thực dân Pháp cớp đoạtruộng đất mạnh nhất, năm 1925 ở Nghệ An riêng ba đồn điền của thực dânPháp đã chiếm 3.761 ha Năm 1929 số lợng đồn điền lên đến 35 cái, chiếm
Trang 3435.426 mẫu ở Nghệ An Nếu nh các điền chủ Việt Nam thờng làm chủ những
đồn điền trồng lúa thì các chủ đồn điền Pháp có tên tuổi: Maren,Lôcơ, Lapie,Sanh ta, đều làm chủ những đồn điền pha tạp vừa trồng lúa, vừa trồng câycông nghiệp nhiều nhất là cà phê Lúc này một nguồn lợi lớn làm cho thựcdân Pháp háo hức chiếm các vùng đất đỏ là để trồng cà phê xuất khẩu Rừng
đồn điền của Oante đã có 280 ha trồng loại cây này
Thực dân Pháp còn tiến hành dồn dân chiếm đất ở nhiều nơi để mở rộngcác hoạt động quân sự, tài chính Kể từ việc lớn nh cớp hơn 100 mẫu đất đỏlập sân bay (11- 1929) đến việc tự tiện lấy 729 m2 đất đỏ để lập một trạmthuế quan tại Vạn Phần (13 - 9 - 1930)
Phơng thức khai thác chủ yếu của thực dân Pháp là dựa vào sức lao
động của nhiều công nhân chuyên nghiệp và những ngời làm việc theo kiểugiao kèo theo thời vụ, cũng có nghĩa là làm nô lệ có thời hạn đối với chủ tbản đúng nh tên toàn quyền pháp An - be - xa- rô đã thú nhận: “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácnhặt nhạnh,chiếm đoạt một cách đơn thuần nông sản và nông phẩm tự nhiên, thậm chíchỉ vơ vét những sản phẩm nhanh hơn” [23, 14] Đó chính là mục đích cơbản trong việc khai thác đất đai thành lập đồn điền của thực dân Pháp ởNghệ An cũng nh ở Việt Nam
Từ 1919 trở đi, chính quyền thuộc địa còn ban hành 74 văn bản có nộidung liên quan đến vấn đề nhân công và lao động ở Đông Dơng, trong đó có
60 bản quy định rõ về nhân công lao động trong các đồn điền, hầm mỏ, nhàmáy Đáng chú ý là bản nghị định ngày 25 - 10 - 1927 về: “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácthể lệ bảo hộnhân công bản xứ và ngời châu á làm theo giao kèo trong các sở nôngnghiệp, kỷ nghệ và hầm mỏ Đông Dơng” [28, 12] Nghị định này đảm bảocho các đồn điền một đội ngũ công nhân đông đảo, tạo cơ hội cho các điềnchủ mở rộng diện tích phát triển kinh tế đồn điền trên toàn Đông Dơng
ở Nghệ An, nguồn nhân công trong khu vực đồn điền Phủ Quỳ trớc hếtphải kể đến lực lợng ngời Mờng sống xung quanh khu đồn điền, họ thờngbán rơm rạ, thóc gạo cho các chủ đồn điền, và sẵn sàng tham gia công việcphá rừng Ngời Mờng chỉ làm việc trong vài ngày liên tục kiếm tiền để muavải vóc, muối, đồ dùng khác do ngời An Nam đem từ xuôi lên Vì thế, rất ítkhi chủ đồn điền trồng cậy vào ngời Mờng để tìm nguồn nhân công chắcchắn Chủ yếu là nhân công ngời Kinh, cũng sống gần khu đồn điền đợc cácchủ đồn điền thuê họ làm việc nh những tá điền Bộ phận ngời Kinh này th-ờng dành thời gian thừa sau khi làm ruộng của mình và nhờ những ngời cai
Trang 35thầu thuê làm công nhật Vì vậy họ không cần đến việc bắt làm giao kèohoặc cam đoan với chủ Song lực lợng đông đảo nhất các đồn điền Phủ Quỳ
là những ngời có nguồn gốc, quê quán ở các huyện đồng bằng của tỉnh Nghệ
An bị địa chủ chiếm hết đất đai nh: Diễn Châu, Yên Thành, Nghi Lộc, HngNguyên, Nam Đàn
Bên cạnh phát triển các đồn điền, thì kinh tế nông nghiệp ở làng xãtrên phần đất Trung Kỳ nói chung và Nghệ An nói riêng đã có những đổithay đáng kể Các kỹ s khí tợng thuỷ văn tiến hành khảo sát, đo đạc, nghiêncứu về thời tiết, khí hậu, ma bão, các dòng chảy trên sông Lam Nhng trênthực tế cho đến năm 1929 ngoài việc bỏ tiền nạo vét luồng lạch ở cảng BếnThuỷ để tàu có tải trọng lớn vào, lập dự án cải tạo cảng Bến Thuỷ quy môlớn với nguồn vốn dự tính lên tới 10 triệu phơ răng, đo đạc đất đai, theo dõikhí hậu, ngời Pháp cha có sự đầu t đáng kể nào cho việc trị thuỷ ở Nghệ
An Các dự án về trị thuỷ, dẫn thuỷ, nhập điền, ngăn nớc triều dâng ở Nghệ
An chỉ mới nằm trên giấy tờ và trong hồ sơ của quan công sứ hoặc khâm sứTrung Kỳ mà thôi
Nông nghiệp ở Nghệ An lấy nghề lúa làm chính, nhng năng suất lạiquá thấp Theo thống kê của ngời Pháp năm 1927 tổng sản lợng lúa của cáctỉnh Trung Kỳ đạt: 959.184 tấn, năng suất bình quân đạt 987 kg/1 ha tức làkhoảng 44- 45 kg/ 1 sào/ 1năm [17,135]
Tỉnh Diện tích lúa tính theo ha Năng suất tính theo tấn
6 tháng đầu 6 tháng cuối 6 tháng đầu 6 tháng cuối
Thanh Hoá 66.100 ha 118.120 ha 76.782 tấn 96.100 tấnNghệ An 43.800 ha 85.000 ha 39.000 tấn 60.000 tấn
Hà Tĩnh 60.500 ha 45.000 ha 60.5000 tấn 17.000tấnQuảng Bình 20.000 ha 21.000 ha 20.000 tấn 18.000tấnQuảng Trị 19.470 ha 11.160 ha 20.505 tấn 10.365tấnThừa Thiên 26.570 ha 16.900 ha 30.000 tấn 25.500 tấn
Quảng Ngãi 80.000ha 80.000ha 90.000tấn 120.000tấnBình Định 29.900ha 23.632 ha 26.122 tấn 26.441 tấn
Nha Trang 10.650 ha 35.890 ha 6.070 tấn 21.534tánPhan Rang 8.272 ha 7.000ha 12.500 tấn 8.000 tấnPhan Thiết 12.000 ha 6.000ha 7.000tấn 10.000tấn
Đ.Nai thợng 12.000ha 7.200 ha 7.200tấn 8.000 tấn
Tổng cộng 437.345 ha 540.634 ha 443.679tấn 515.505 tấn
Trang 36Qua đó ta thấy diện tích trồng lúa ở Nghệ An vào năm 1927 thuộc vàodiện nhiều, chỉ đứng sau Thanh Hoá Nhng tổng sản lợng lúa hàng năm lại t-
ơng đối thấp
2.2.2 Công nghiệp
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp là một nớc thắng trận nhng
bị thiệt hại nặng nề về kinh tế, tài chính Hơn nữa năm 1926 đồng phơ răngmất giá, bọn t bản Pháp đổ xô vào đầu cơ đồng bạc để kiếm lời Việc đầu tvào Việt Nam đã trở thành “Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácmột nơi trú ẩn an toàn cho vốn để giành củachính quốc” [16, 17]
Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp, bên cạnhngành kinh tế nông nghiệp đợc chú trọng đầu t thì công nghiệp cũng đợc đẩylên một bớc đáng kể
Dới dây là khối lợng đầu t vốn theo các ngành kinh tế của các công tyvô danh Pháp tiến hành trong những năm 1924 - 1930 [20, 212]
Đối với Nghệ An là vùng có nhiều nhân công, là vùng đất giàu thiênnhiên, giao thông thuận lợi, lại sát với Lào, nên các tập đoàn t bản Pháp đãtập trung vào cấu xé Hơn nữa, ở đây lại có khu trung tâm công nghiệp quantrọng Vinh - Bến Thuỷ Ngày 10 -12 - 1927, toàn quyền Đông Dơng ra nghị
định bãi bỏ thị xã Vinh, thị xã Bến Thuỷ, thị xã Trờng Thi sát nhập địa bàn
Trang 37ba thị xã đó để thành lập thành phố Vinh - Bến thuỷ, do công sứ Nghệ Ankiêm giữ chức đốc lý thành phố Từ năm 1917, một nhà t sản Pháp dự đoán:
“Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thácVinh- Bến Thuỷ sẽ là một thành phố có nhiều triển vọng Đây là chiếc chìakhoá của xứ Lào, vì có hai con đờng chính nối liền Lào với cảng Bến Thuỷ:
đờng Vinh sang Trấn Ninh qua Cửa Rào, đờng Vinh sang Mê Kông quaKhăm Muộn là tỉnh giàu có của xứ Lào Sau này có thêm con đờng thứ 3 mở
đi vào phía nam đèo Mụ Dạ qua Lào và lu vực sông Sêbanphai Lào là một
xứ nuôi gia súc đặc biệt ’’
“Tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An trong cuộc khai thác Bến Thuỷ có đầy đủ đờng giao thông các mặt và tất cả đều nhóm vềcảng, hai tỉnh này có trên một triệu rỡi dân cũng tập trung xung quanh đây.Ngoài ra hai tỉnh của xứ Lào là Khăm Muộn và Trấn Ninh cũng dùng cảngBến Thuỷ làm nơi giao xuất hàng hoá cuối cùng Trớc hết chúng ta cần phảixem xét những sản vật sẵn có ở đây để xuất cảng nh: than đá, kẽm, chì, gỗ vàcác thứ lâm sản khác nh cà phê, cam, chè, ngô và da súc vật ” [1, 27]
Từ nhận định trên mà thực dân Pháp đã đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ
sở công - thơng nghiệp ở Vinh - Bến Thuỷ
Công ty t bản Pháp xây dựng cơ sở khai thác đầu tiên ở Nghệ An đó
là Hội làm Diêm Đông Dơng và Hội lâm nghiệp thơng mại Trung Kỳ Haihội này đợc thành lập từ năm 1891, đến năm 1922 nhập lại thành Hội lâmnghiệp làm Diêm Đông Dơng, gọi tắt là SIFA, đặt cơ sở ở Bến Thuỷ Đây làtập đoàn t bản Pháp kinh doanh lớn, có thế lực nhất ở Trung Kỳ Nó trởthành công ty chế biến gỗ lớn nhất, hàng năm xuất khẩu sang Pháp 7.000tấn gỗ, cung cấp diêm cho nhu cầu nhân dân khắp Hoa Kỳ So với các công
ty trớc đó, SIFA là một cơ sở công nghiệp chế biến tơng đối quy mô và đadạng Nguồn vốn của SIFA nhận đợc từ t bản thực dân ngày càng lớn [16,101]
Năm Vốn (phơ răng)
1904192219241925
1.600.0002.276.0004.552.0009.104.000 Ngoài sản xuất diêm, khai thác gỗ và các lâm sản để xuất khẩu,chúng còn kinh doanh cả hàng nhập khẩu và mở đồn điền Cơ sở của chúng
Trang 38gồm có Nhà máy Diêm, Nhà máy Điện, Nhà máy Ca ở Bến Thuỷ và một đồn
điền lớn huyện Nghĩa Đàn với khoảng 1.500 công nhân Số vốn đầu t và lợinhuận của chúng tăng vọt hàng năm [4, 23]
Năm Vốn (phơ răng) Lãi ( phơ răng)
192219241925
2.276.0004.552.0009.104.000
1.586.0002.564.0003.297.000 Công ty có nhà máy Diêm Bến Thuỷ đợc xây dựng từ năm 1907 vànăm 1922 đa vào sản xuất với số lợng một năm là 16.000 kiện, mỗi kiện7.200 bao ở đây có 730 ngời Việt làm, phần lớn là đàn bà và trẻ em Theonghị định ngày 20 - 4 - 1893, toàn quyền Pháp cho chủ thuê mớn ngời ViệtNam dới 16 tuổi, có quyền trừng phạt và đánh đập công nhân Dựa vào đóchúng tha hồ đàn áp và bóc lột công nhân rẻ mạt; cuối năm 1932 đầu năm
1933 Nhà máy Diêm Bến Thuỷ phải đóng cửa và sát nhập vào Nhà máyDiêm Hà Nội
Cũng vào năm 1892, SIFA thành lập Nhà máy Ca XIRI (Scierie) đếnnăm 1925 đã có tới 40 máy ca, 15 bộ đồ mộc, 19 bộ máy ván, 400 côngnhân ngời Việt Nam, hàng năm ca xẻ 25.000 m3 gỗ tròn SIFA cũng xâydựng tại Bến Thuỷ nhà máy Điện công suất 3.000 kw, có hai trạm biến thếcung cấp điện cho các nhà máy và nhu cầu ánh sáng tại Vinh - Bến Thuỷ.Nhà máy có 110 công nhân và hoạt động từ năm 1922 Cuối năm 1924 đầunăm 1925, công việc xây dựng nhà máy, hệ thống đờng dây, bóng đèn thắpsáng hoàn thành Tập đoàn SIFA đa vào khai thác ngành công nghiệp mới
mẻ này và trở thành tập đoàn cung cấp toàn bộ điện năng thắp sáng, điện phục
vụ sản xuất tại các nhà máy trên địa bàn thành phố Vinh- Bến Thuỷ Riêng PhủQuỳ , một số điền chủ ngời Âu nh : Walther, công ty Lapi có sử dụng máy phát
điện chạy bằng dầu Mazut, công suất nhỏ Khi SIFA kinh doanh đồn điền ở PhủQuỳ thì ngời ta sử dụng những máy phát điện có công suất lớn hơn
So với Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định ngành công nghiệp điện lực
đợc đầu t xây dựng ở Nghệ An muộn hơn vài thập kỷ Phải đến giữa thập kỷ
XX của thế kỷ trớc, nhà máy Điện Bến Thuỷ mới đợc xây dựng xong và đavào khai thác Đối tợng sử dụng điện chỉ là ngời Pháp, các gia đình giàu cóviên chức nơi công sở, Nhà máy xe lửa Trờng Thi, Nhà máy ca xẻ gỗ, sảnxuất Diêm Bến Thuỷ phát triển với quy mô ngày càng lớn Quá trình đô thị