1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự lưu hành virus viêm não nhật bản (japanese encephalitis virus) trên đàn lợn nuôi tại vùng đồng bắng sông hồng và ứng dụng phương pháp rt pcr trong chẩn đoán bệnh

75 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNTHỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ THẢO NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VIRUS VIÊM NÃO NHẬT BẢN JAPANESE ENCEPHALITIS VIRUS TRÊN ĐÀN LỢN NU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THẢO

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VIRUS VIÊM NÃO NHẬT BẢN (JAPANESE ENCEPHALITIS VIRUS )TRÊN ĐÀN LỢN NUÔI TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP RT – PCR TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH

CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y

MÃ SỐ: 60.64.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN HỮU NAM

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thảo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Học viện Nông nghiệp

Việt Nam, tôi đã được sự dạy dỗ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, đặc biệt

là các thầy cô giáo trong khoa Thú y đã giúp tôi có những kiến thức cơ bản của nghề nghiệp, cũng như tư cách, đạo đức của người làm kỹ thuật, của một bác sĩ thú y

Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cùng các anh chị làm việc tại phòng nghiên cứu TY317, B213-214 Đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS Nguyễn Hữu Nam – Khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, là người trực tiếp hướng dẫn, uốn nắn tôi trong suốt quá trình thực tập Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Các thầy cô giáo khoa Thú y

Các thầy cô giáo bộ môn Bệnh lý thú y

Các anh, chị làm việc tại phòng nghiên cứu TY317, B213-214 Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Các anh chị phòng dịch tễ Chi cục thú y tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình

Các ông bà là chủ trại lợn thuộc địa bàn các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình

Gia đình, bạn bè những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Thảo

Trang 4

MỤC LỤC Lời cam đoan Error! Bookmark not defined Lời cảm ơn Error! Bookmark not defined Mục lục Error! Bookmark not defined Danh mục các chữ viết tắt Error! Bookmark not defined

Danh mục bảng viii

Danh mục hình ix

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Giới thiệu bệnh 3

1.2 Lịch sử hình thành và nghiên cứu bệnh viêm não Nhật Bản 4

1.2.1 Lịch sử hình thành và nghiên cứu bệnh viêm não Nhật Bản trên thế giới 4

1.2.2 Lịch sử hình thành và tình hình nghiên cứu bệnh viêm não Nhật Bản ở Việt Nam 7

1.3 Đặc điểm căn bệnh học 9

1.3.1 Đặc điểm hình thái và cấu trúc của virus viêm não Nhật Bản 9

1.3.2 Sự nhân lên của virus trong tế bào 11

1.3.3 Đặc tính kháng nguyên của virus VNNB 12

1.3.4 Sức đề kháng của virus gây bệnh VNNB 12

1.3.5 Đặc tính nuôi cấy 13

1.4 Dịch tễ học của bệnh VNNB 13

1.5 Nhân tố trung gian truyền bệnh (muỗi) 14

1.6 Vật chủ của virus VNNB 17

1.7 Chu trình truyền bệnh trong tự nhiên 18

1.8 Sinh bệnh và miễn dịch học 21

1.8.1 Sự nhiễm virus huyết 21

Trang 5

1.8.3 Miễn dịch học 23

1.9 Triệu chứng và bệnh tích 25

1.9.1 Triệu chứng 25

1.9.2 Bệnh tích 25

1.10 Chẩn đoán bệnh 26

1.10.1 Chẩn đoán lâm sàng 26

1.10.2 Chẩn đoán virus học 27

1.10.3 Chẩn đoán huyết thanh học 27

1.11 Phòng và trị bệnh viêm não Nhật Bản 28

1.11.1 Phòng bệnh 28

1.11.2 Điều trị 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 ĐỐI TƯỢNG 30

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 30

2.3 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 30

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.4.1 Phương pháp điều tra số lượng đàn lợn 30

2.4.2 Phương pháp tiến hành xét nghiệm RT-PCR 31

2.4.3 Kỹ thuật miễn dịch enzym để phát hiện kháng thể IgG kháng virus viêm não Nhật Bản (ELISA) 35

2.5 Xử lí số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Điều kiện tự nhiên và địa hình của Vùng đồng bằng sông Hồng 37

3.2 Điều tra thực trạng chăn nuôi tại khu vực nghiên cứu 38

3.2.1 Tổng đàn lợn của khu vực Đồng Bằng Sông Hồng 38

3.2.2 Cơ cấu các nhóm đối tượng lợn trên địa bàn nghiên cứu 43

3.3 Kết quả thu thập mẫu tại một số tỉnh thuộc khu vực ĐBSH 44

3.4 Kết quả phát hiện virus VNNB bằng phương pháp RT - PCR 47

3.4.1 Kết quả phát hiện virus VNNB trong dịch não tủy của lợn bằng kỹ thuật RT-PCR 47

Trang 6

3.4.2 Xác định sự có mặt của virus viêm não Nhật Bản trong mẫu muỗi

thu thập được trên địa bàn nghiên cứu 48

3.5 Kết quả xét nghiệm lợn dương tính với kháng thể kháng virus viêm não Nhật Bản 51

3.5.1 Kết quả ELISA xác định sự có mặt của kháng thể kháng virus viêm não Nhật Bản trong huyết thanh lợn theo từng tỉnh 52

3.5.2 Kết quả ELISA xác định sự có mặt của kháng thể kháng virus viêm não Nhật Bản có trong huyết thanh lợn theo đối tượng lợn 55

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60

KẾT LUẬN 60

ĐỀ NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 7

DEPC Diethyl Pyrocarbonate

ELISA Enzyme linked immuno sorbent assay

OD Optical Density (Mật độ quang)

RNA Ribonucleic Acid

RT-PCR Reverse Transcription polymerase Chain Reaction TBE Tris - axit boric – EDTA (ethylene diamine tetra acetic)

UV Ultra Violet

VNNB Viêm não Nhật Bản

Trang 8

DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang

2.1 Thành phần phản ứng RT - PCR 33

2.2 Nhiệt độ và thời gian trong từng giai đoạn của chu kỳ nhiệt 34

3.1 Tình hình chăn nuôi lợn của các khu vực trong cả nước giai đoạn 2010 – 2014 40

3.2 Số lượng lợn của 1 số tỉnh trong vùng ĐBSH giai đoạn 2010 - 2014 42

3.3 Cơ cấu các nhóm đối tượng lợn của 4 tỉnh: Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương năm 2014 43

3.4 Số lượng mẫu thu thập được tại khu vực nghiên cứu 45

3.5 Sự có mặt của virus VNNB trong dịch não tủy của lợn 47

3.6 Sự có mặt của virus VNNB trong mẫu muỗi 49

3.7 Sự có mặt của kháng thể kháng virus viêm não Nhật Bản trong huyết thanh lợn của các tỉnh 53

3.8 Sự có mặt của kháng thể kháng virus viêm não Nhật Bản có trong huyết thanh lợn tại địa bàn nghiên cứu theo đối tượng lợn 58

Trang 9

DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang

1.1 Các khu vực bị ảnh hưởng bởi VNNB 6

1.2 Cấu trúc virus JEV 11

1.3 Vòng đời phát triển của muỗi 16

1.4 Chu trình chim - muỗi - chim trong truyền lây bệnh VNNB 19

1.5 Chu trình lợn – muỗi – lợn trong truyền lây bệnh VNNB 20

1.6 Chu trình tổng hợp của bệnh VNNB 20

3.1 Bản đồ vùng Đồng Bằng sông Hồng 37

3.2 Cánh đồng lúa khu vực Đồng Bằng Sông Hồng 38

3.3 Tình hình chăn nuôi lợn các khu vực trên cả nước 40

3.4 Biểu đồ hình cột thể hiện số lượng lợn các tỉnh trong giai đoạn 2010 - 2014 42

3.5 Lấy mẫu máu của lợn đực giống 46

3.6 Lấy mẫu máu của lợn nái 46

3.7 Kết quả chạy điện di của phản ứng RT-PCR đối với 5 mẫu bệnh phẩm Virus VNNB được phát hiện bằng phản ứng RT- PCR với độ dài của gen là 500 bp, thang chuẩn M; giếng 1 là đối chứng dương , giếng 2 là đối chứng âm, giếng 3,4,5,6,7 là mẫu dịch não tủy của lợn thu được tại lò mổ thuộc tỉnh Thái Bình 48

3.8 Mẫu muỗi 49

3.9 Số mẫu muỗi dương tính với virus VNNB của các tỉnh 50

3.10 Mẫu máu được bảo quản trong thùng xốp có đá khô 52

3.11 Biểu đồ số mẫu huyết thanh dương tính với kháng thể kháng virus VNNB tại các tỉnh 53

3.12 Khu chuồng nuôi gần ao và cánh đồng tại Thái Bình 54

3.13 Lợn rừng nuôi tại Hải Dương 56

3.14 Lợn thịt nuôi tại Bắc Ninh 56

3.15 Lợn nái nuôi tại Thái Bình 57

3.16 Lợn đực giống nuôi tại Hưng Yên 57

Trang 10

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn là ngành chăn nuôi không mới nhưng ở điều kiện Việt Nam hiện nay đó lại là ngành chăn nuôi có triển vọng nhất Nếu được đầu tư đầy đủ về vốn, công nghệ, chăn nuôi trên quy mô lớn thì hiệu quả thu được của ngành thực

sự là không nhỏ, đặc biệt là đối với mức thu nhập của các hộ gia đình nông dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới kinh tế Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã có những thay đổi đáng kể, góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển của ngành Nông nghiệp Việt Nam, nâng cao mức sống cho người dân ở nông thôn cũng như thành thị Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, lưu lượng động vật và sản phẩm động vật lớn, kèm theo đó là sự gia tăng về tình hình dịch bệnh Bệnh chung giữa người và gia súc vì thế cũng gia tăng Trong số đó có bệnh Viêm não Nhật Bản trên lợn - là nguyên nhân hàng đầu của viêm não do virus ở châu Á

Bệnh viêm não Nhật Bản là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm truyền lây giữa người và động vật (Zoonosis) “Viêm não Nhật Bản trên lợn” là một trong số các bệnh truyền từ lợn sang người đặc biệt được quan tâm hiện nay không chỉ trong thú y mà còn cả nhân y với mối nguy hại đối với trẻ em Bệnh viêm não Nhật Bản (JE, viết tắt: Janpanses Encephalitis) nổ ra lần đầu tiên ở Nhật Bản vào năm

1870 nhưng mãi đến khi bệnh nổ thành dịch lần đầu năm 1924 trên người với

6000 ca bệnh có triệu chứng viêm não thì bệnh mới được nghiên cứu sâu Kể từ

đó đến nay bệnh lan rộng ra khắp Châu Á và trở thành 1 bệnh được quan tâm hàng đầu Hàng năm trên thế giới ước tính có từ 30000 – 50000 trường hợp mắc trong đó có 10.000 – 15.000 ca chết, trường hợp sống sót có tới 50% để lại di chứng thần kinh không hồi phục suốt đời Bệnh gây nên ở trên lợn cũng gây nên một số thiệt hại nhất định, chủ yếu gây xảy thai ở lợn mẹ và viêm cơ quan sinh dục ở lợn đực giống Lý do nguy hiểm nhất qua nhiều nghiên cứu cho thấy lợn là vật chủ quan trọng nhất trong chu trình virus truyền bệnh sang cho người Yếu tố

Trang 11

mương, chỗ ẩm ướt Muỗi truyền virus từ lợn sang cho người Khi người mắc bệnh, người là vật chủ cuối cùng bởi lẽ khi người nhiễm virus viêm não Nhật Bản sẽ biểu hiện triệu chứng bệnh và có thể gây tử vong

Để ngăn chặn sư lây lan từ lợn, muỗi sang người và bảo vệ sức khỏe của con người thì việc nghiên cứu sự lưu hành của virus viêm não Nhật Bản là vấn đề cấp thiết Từ những yêu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Nghiên cứu sự lưu hành của virus viêm não Nhật Bản (Japanese

Encephalitis virus ) trên đàn lợn tại vùng Đồng Bằng Sông Hồng và ứng dụng phương pháp RT-PCR trong chẩn đoán bệnh”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định sự lưu hành của virus viêm não Nhật Bản trên lợn, muỗi tại vùng Đồng bằng sông Hồng

- Từ đó cảnh báo nguy cơ bệnh có thể lây sang người

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu bệnh

- Viêm não Nhật Bản (VNNB) là một bệnh truyền nhiễm của người và động vật gây ra bởi một loại siêu vi trùng thuộc nhóm Arbovirus có ái tính với tế bào thần kinh, có tên là virút viêm não Nhật Bản Thuật ngữ Arbo xuất phát từ tiếng lóng của phòng thí nghiệm được sử dụng từ những năm đầu 1940 trong số những nhà nghiên cứu ở California để chỉ một loại virus được truyền cho động vật có xương sống từ những loài vector chân đốt hút máu

- Trên người, bệnh VNNB là một trong những nguyên nhân gây viêm não phổ biến nhất ở nhiều nước châu Á trong đó có Việt Nam Đây là bệnh viêm não cấp với tỷ lệ tử vong lên đến 30% và trong số bệnh nhân sống sót thì khoảng 50% bị di chứng thần kinh

Trong tự nhiên các động vật gần người đều có thể nhiễm virus VNNB như lợn, bò, ngựa, dê, cừu và một vài động vật khác như thỏ, rắn, bồ câu (Chang, 1984) Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu thì lợn là động vật cảm nhiễm cao nhất

và là động vật khuếch đại virus trong tự nhiên (Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2011), do lợn đẻ nhiều lứa, tạo ra số lượng một quần thể heo cảm nhiễm mới, luân chuyển thường xuyên chỉ trong vòng 6-8 tháng Nhiễm virus huyết ở lợn thường cao nên dễ truyền virus qua muỗi (Võ Công Khanh – Trung tâm bệnh viện nhiệt đới Tp Hồ Chí Minh) Bệnh quan trọng đối với những lợn nái mang thai vì virus qua được nhau thai gây nên hiện tượng chết phôi, chết thai và rối loạn trong sinh sản Ở lợn đực có hiện tượng sưng viêm, giảm tính dục và xáo trộn quá trình sinh tinh Ở ngựa có sự tổn thương hệ thống thần kinh trung ương, những tổn thương này cũng tìm thấy ở lừa và khỉ ( trích dẫn Lê Thị Thu, 2005)

Trong các bệnh nhiễm virus của hệ thần kinh, bệnh viêm não Nhật Bản chiếm một vị trí quan trọn đặc biệt Đây là loại viêm não - màng não virus do muỗi truyền, thường gặp tại nhiều nước ở châu Á với tỉ lệ mắc bệnh và tử vong

Trang 13

1.2 Lịch sử hình thành và nghiên cứu bệnh viêm não Nhật Bản

1.2.1 Lịch sử hình thành và nghiên cứu bệnh viêm não Nhật Bản trên thế giới

Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) nổ ra lần đầu tiên ở Nhật Bản từ năm

1870, sau đó bệnh lan rộng khắp các nước của Châu Á Năm 1924 tại Nhật Bản xảy ra 1 vụ dịch lớn trên người có tới 6125 người mắc trong đó có 3797 trường hợp bị chết

Năm 1934, Hayashi đã thành công trong việc lấy chất não ở tử thi bệnh nhân và truyền bệnh vào não cho năm thế hệ khỉ Macacus

Năm 1935 chủng virus viêm não lần đầu tiên được phân lập từ não 1 người bị chết do bệnh viêm não, virus này được xem như chủng virus mẫu của virus VNNB và được đặt tên là Nakayama Nhiều nghiên cứu khác trong suốt trận dịch viêm não ở Tokyo cho thấy những virus này giống nhau và có liên quan đến dịch viêm não mùa hè Những virus này được gọi là virus viêm não Nhật Bản B Sau khi chủng virus đầu tiên được phân lập trên người đến năm 1937 virus VNNB được phân lập từ não ngựa ốm ở Nhật Bản và đến năm 1938 virus được phân lập trên loài muỗi Culex Tritaeniorhychus Và kể từ đó cũng chứng minh được vai trò truyền bệnh của loài muỗi Culex sang người Những nghiên cứu tiếp theo ở Nhật Bản đã xác định được lợn và chim là những vật chủ chứa virus VNNB và làm bệnh lan rộng

Năm 1962, tại Hội nghị chuyên đề về VNNB ở Tokyo (Nhật Bản), Miles

đã khẳng định vectơ chính truyền viêm não Nhật Bản là Culex tritaeniorhynchus, vectơ phụ là culex Pipiens, ổ dự trữ virus chủ yếu là các loài chim hoang dã đặc biệt là loài diệc (héron), bên cạnh đó cần chú ý tới vai trò của lợn đối với các vụ dịch xảy ra ở người Năm 1963, shiraki H và cs trình bày trong hội thảo quốc tế lần thứ 26 về thần kinh học tại Paris (Pháp) báo cáo về tình hình viêm não Nhật Bản tại Nhật Bản trong một công trình nghiên cứu khá đầy đủ, nhất là về các mặt dịch tễ, lâm sàng và giải phẫu bệnh

Reeves (1974) đã tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến sinh thái học của virus VNNB ngoài mùa dịch và đã đưa ra một vài giả thuyết về các ổ dự trữ virus

để giải thích sự tồn tại của virus trong mùa đông Đối với vùng Đông Nam Châu

Trang 14

Á, VNNB là một vấn đề được Tổ chức y tế thế giới hết sức quan tâm như đã được nêu lên trong Hội nghị chuyên đề năm 1979 tại Niu Đêli (Ấn Độ) Một chương trình hành động đối với khu vực Đông Nam Châu Á và Tây Thái Bình Dương cũng đã được thông qua tại hội nghị của tổ chức y tế thế giới năm 1982 ở Thái Lan Vai trò của muỗi truyền bệnh, của súc vật chủ trung gian, các ổ dự trữ virus trong thiên nhiên cũng như sự tồn tại của virus viêm não Nhật Bản trong các điều kiện khác nhau là những nội dung được đặc biệt chú ý Đối với phòng bệnh và điều trị cũng nổi lên nhiều chủ đề quan trọng như: sử dụng interferon đối với các viêm não do virus Arbor, tiêm phòng cho ngựa và lợn bằng các vacxin cho người, gây miễn dịch để bảo vệ các đối tượng có nguy cơ cao dễ bị nhiễm virus viêm não Nhật Bản, triển khai các biện pháp khống chế viêm não Nhật Bản

và các bệnh nhiễm khuẩn khác lồng ghép trong chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu v.v

Viêm não Nhật Bản lan tràn trên một lãnh thổ khá rộng lớn bao gồm tất cả miền Đông Châu Á, từ vùng biển của Xibêri ở phía bắc xuống các đảo Indonesia

ở phía nam Khu vực có bệnh này lan tới các đảo ở ngoài khơi vùng biển Châu Á như Nhật Bản, Ôkinaoa, Guam, Đài Loan, Philippin, Bocnêô và Carolines

Năm 1976 – 1977, người ta đã chứng minh được vai trò của virus viêm não Nhật Bản trong rối loạn sinh sản ở lợn đực (Lê Thị Thu, 2005)

Ở Thái Lan virus VNNB được tìm thấy trên lợn và ở muỗi gần ngôi nhà người đàn ông bị bệnh viêm não Nhật Bản năm 2003 Cũng ở đây người ta đã phân lập được 12 chủng chủng virus VNNB của kiểu gen I

Ở Trung Quốc virus VNNB được ghi nhận đầu tiên vào năm 1940 và đã phân lập được chủng virus VNNB đầu tiên vào năm 1949 Hàng năm có khoảng 8.000 – 10.000 trường hợp mắc viêm não trên người gây ra bởi virus VNNB gây ra

Ở Triều Tiên dịch VNNB lần đầu tiên được ghi nhận vào năm 1994 với 5.548 bệnh nhân, sau đó dịch lại xuất hiện vào năm 1958 với 2.177 người chết trong tổng số 6.879 ca bệnh Sự phát hiện hemagglutinin (chất gây ngưng kết hồng cầu) từ virus đã mở đường cho phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu chuẩn

Trang 15

như một xét nghiệm thông dụng để chẩn đoán bệnh trong hơn 30 năm đến khi kỹ thuật miễn dịch gắn enzyme (ELISA) được phát hiện (Burke et al, 1986)

Tại Ấn Độ bệnh được công nhận lần đầu tiên năm 1955 và cũng trong năm 1955 virus VNNB đã được phân lập từ loài muỗi Culex

Ở Nepan, từ năm 1978-1984 đã ghi nhận được 2.508 trường hợp mắc viêm não Nhật Bản với 886 trường hợp tử vong; tỉ lệ tử vong là 35,32% tại các bệnh viện Đặc biệt đối với trẻ em dưới 14 tuổi, tỉ lệ mắc bệnh là 33% và tỉ lệ tử vong lên tới 28,7% (Joshi D D., 1986) Gần đây trong vụ dịch năm 1985 ở Nepan có 595 trường hợp mắc bệnh trong mọi lứa tuổi và đã có 146 người tử vong; năm 1986 có 1.299 trường hợp mắc là 357 đã tử ong (Joshi D D., 1987) Bệnh VNNB đã trở thành một mối quan tâm sức khỏe cộng đồng quan trọng ở nhiều nước Châu Á được lan truyền bởi muỗi vằn

Hình 1.1 Các khu vực bị ảnh hưởng bởi VNNB (http://www.slideshare.net/smnattu/japanese-encephalitis)

Trang 16

1.2.2 Lịch sử hình thành và tình hình nghiên cứu bệnh viêm não Nhật Bản ở Việt Nam

Ở Việt Nam, năm 953 đã có một báo cáo sơ bộ của Puyuelo H à Prévot

M về 98 trường hợp viêm não Nhật Bản trong quân đội viễn chinh Pháp tại miền Bắc Việt Nam Sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc, các tác giả Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu có hệ thống về viêm não Nhật Bản Bệnh thường thấy lan tràn ở hầu hết các địa phương trên miền Bắc nhưng nói chung số trường hợp ghi nhận được phần lớn khá cao ở các tỉnh quanh Hà Nội

Trường hợp viêm não Nhật Bản được ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1952 do các tác giả người Pháp tìm ra Năm 1959 Viện Vệ Sinh Dịch

Tễ Hà Nội đã xác định dịch viêm não mùa hè ở Miền Bắc là VNNB bằng phản ứng huyết thanh học, và năm 1964 đã phân lập thành công chủng virus đầu tiên

từ não một tử thi của bệnh nhân sống ở Đông Anh ngoại thành Hà Nội, chủng virus có ký hiệu HN – 60, được xác định thuộc genotyp III, có vật liệu di truyền tương tự như chủng virus Nakayama

Tại Hội nghị vệ sinh phòng dịch toàn miền Bắc lần thứ nhất tháng 1-1961, Hoàng Thủy Nguyên và Lê Xuân Thiên cho biết trong số 1.033 xét nghiệm với các kháng nguyên khác nhau đã thấy có 237 trường hợp dương tính với VNNB

Từ các nhận xét trên đã đưa đến kết luận miền Bắc Việt Nam có viêm não do virus VNNB gây ra Tiếp theo việc xác định virus HN-60 là một virus Arbor gây VNNB (Đỗ Quang Hà, Đoàn Xuân Mượu, 1965), vai trò truyền bệnh của muỗi Culex tritaeniorhynchus cũng đã được khẳng định (Đỗ Quang Hà, Vũ Thị Phan

và cs, 1972) Các nghiên cứu về dịch tễ học, lâm sàng và xét nghiệm đã cho phép thừa nhận vai trò quan trọng của VNNB trong các vụ dịch xảy ra vào mùa hè ở Việt Nam dưới hình thái lâm sàng phổ biến là “hội chứng não cấp tính” (gọi tắt là

“hội chứng não cấp”) Theo dõi tình hình mắc “hội chứng não cấp” từ năm

1961-1980, thống kê của vụ vệ sinh và phòng dịch Bộ y tế cho biết, ở miền Bắc, tính trên 100.000 dân: tỉ lệ mắc bệnh dao động từ 1,77 (1962) đến 20,05 (1970); tỉ lệ

Trang 17

Thời điểm bệnh xảy ra hằng năm trùng hợp với thời kỳ các côn trùng truyền bệnh phát triển mạnh trong thiên nhiên Điều này giải thích tại sao VNNB

là một bệnh của mùa nóng ở các nước khí hậu ôn hòa còn ở những nơi thời tiết ít biến đổi lớn thì bệnh lại có thể xảy ra quanh năm

Ở Việt Nam đã phân lập được virus VNNB từ nội tạng của chim (Garrulax perspicillatus Gmelin) (Đỗ Quang Hà, Đoàn Xuân Mượu, 1965) Ngoài ra, vai trò của ngựa và nhất là lợn khá quan trọng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh chính lợn là một khâu trung gian giữa chu kỳ thiên nhiên “chim - muỗi” với các vụ dịch ở người

Vật truyền bệnh viêm não Nhật Bản chủ yếu là muỗi Culex tritaeniorhynchus Ngoài muỗi này còn có muỗi Culex pipiens với hai loại pallens và fatigans Vai trò truyền bệnh của Culex tritaeniorhynchus đã được khẳng định (Đỗ Quang Hà, 1972; Nguyễn Thị Kim Thoa, 1974) Hiện nay, đã phát hiện được virus VNNB ở 30 loài muỗi khác nhau thuộc 5 họ: Culex, Anopheles, Aedes, mansonia và Amergeres

Theo tài liệu của Viện vệ sinh dịch tễ học năm 1973, thống kê tình hình

“hội chứng não cấp” ở Việt Nam từ năm 1979 - 1990 cho thấy tỉ lệ mắc tính trên 100.000 dân dao động từ 1,62 (1990) đến 5,96 (1984) và tỉ lệ tử vong dao động

từ 0,18 (1990) đến 0,76 (1983)

Nghiên cứu điều tra huyết thanh học trên lợn năm 1970 tại một số nông trường và hợp tác xã ở Hà Nội, Hà Bắc và Hà Tây cho thấy có đến 64,23% lợn dương tính và hiệu giá kháng thể trung bình là 1224,17 Từ những số liệu trên tác giả đã khẳng định lợn là một trong những nguyên nhân chính làm lan rộng virus VNNB trong tự nhiên, từ đó muỗi hút máu lợn bị nhiễm virus huyết rồi truyền sang cho người (Đỗ Quang Hà và ctv, 1971)

Năm 1994, Lê Hùng Thịnh điều tra tổng số 648 mẫu huyết thanh ở các trại lợn thuộc thành phố Hồ Chí Minh, có 363 mẫu dương tính chiếm tỷ lệ 56,02% và của Nguyễn Việt Thanh điều tra tổng số 405 mẫu huyết thanh lợn ở Đồng bằng Nam Bộ có 285 mẫu dương tính chiếm tỷ lệ 70,37%

Trang 18

Kết quả điều tra huyết thanh học trên đàn lợn nái của tỉnh Đồng Tháp cho thấy đàn lợn nái của tỉnh có tỷ lệ nhiễm là 53,32% bằng trắc nghiệm Cochran-Mantel-Haenzel tác giả đã chứng minh có sự liên quan giữa bệnh và hội chứng rối loạn sinh sản (Nguyễn Hồ Thiện Trung, 2000)

Năm 2000, Lê Thị Thu xét nghiệm 186 mẫu huyết thanh lợn ở các trang trại tập trung của hai tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre, kết quả có 123 mẫu dương tính, chiếm tỷ lệ 66,13%

Năm 2000, Ngô Thụy, Bảo Trân xét nghiệm 167 mẫu huyết thanh lợn ở các trại tập trung của hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng ghi nhận số mẫu dương tính

là 98 mẫu chiếm tỷ lệ 58,68%

Nghiên cứu điều tra huyết thanh học cũng được thực hiện trên đàn lợn sinh sản tại các trại chăn nuôi tập trung tại tỉnh Cần Thơ Kết quả có 72,64% lợn xét nghiệm dương tính và nhóm lợn dương tính có tỷ lệ rối loạn sinh sản cao hơn nhóm lợn âm tính (45,88% và 22,22%) (Lê Thị Thu, 2005)

Do điều kiện sinh thái khác nhau, bệnh VNNB trên người xảy ra thành dịch chủ yếu vào mùa hè ở miền Bắc còn ở miền Nam bệnh xảy ra quanh năm dưới dạng dịch lẻ tẻ Bệnh VNNB trên lợn đến nay vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Mặc dù vậy các nghiên cứu trên người được thực hiện cũng liên quan đến lợn Các mẫu huyết thanh lợn được thu thập và đã chứng minh được có sự tồn tại của virus VNNB trong cơ thể lợn Đây là nguồn bệnh tự nhiên quan trọng trong việc truyền virus VNNB sang người

1.3 Đặc điểm căn bệnh học

1.3.1 Đặc điểm hình thái và cấu trúc của virus viêm não Nhật Bản

- Virus VNNB là một loại virus có kích thước nhỏ, hình cầu đối xứng có

vỏ, đường kính từ 40 – 50 nm, qua được lọc Cấu trúc của virus gồm 32 capsome bao quanh, vỏ bọc chứa một sợi RNA đơn, sợi RNA có hằng số lắng là 44S, trọng lượng phân tử 4106 D, chiếm 6% trọng lượng hạt virus

- Virus có cấu tạo gồm 3 protein cấu trúc và 7 protein không cấu trúc

Trang 19

* Các protein cấu trúc bao gồm: Glycoprotein E của vỏ (54 kD), protein cấu trúc không có glycosylated M của vỏ (8 kD), protein C của capsid (14 kD) Protein của vỏ (protein E – 54 kD) có chứa epitop gây đáp ứng kháng thể trung hòa, protein E có ít nhất là 8 epitop mang các quyết định kháng nguyên và một epitop ở vị trí quyết định N trên protein biểu hiện tính đặc hiệu của virus viêm não Nhật Bản Glycoprotein E trên bề mặt hạt virus tham gia chủ yếu vào việc nhận diện những thụ thể của tế bào, gây cảm ứng tạo kháng thể trung hòa, gây đáp ứng miễn dịch tế bào và là kháng nguyên gây ngưng kết hồng cầu

* Các protein không cấu trúc bao gồm: NS1, NS2a, NS2b, NS3, NS4a, NS4b, NS5 trong đó đáng quan tâm nhất là NS1:

- NS1 là glycoprotein rất kỵ nước, chức năng chưa rõ, có thể liên quan đến sự phát triển hình dạng của virion và đóng vai trò bảo vệ (Flamand, 1992)

- NS2a và NS2b kỵ nước có khả năng thay đổi, có chức năng giống màng

Dựa vào các trình tự sắp xếp các nucleotide của protein M người ta chia

virus viêm não Nhật Bản thành 3 nhóm:

- Nhóm 1: Các chủng virus được phân lập ở Bắc Thái Lan và Campuchia

- Nhóm 2: Các chủng virus phân lập ở Nam Thái Lan và Malaysia, Sarawak và Indonesia

- Nhóm 3: Các chủng virus phân lập được từ Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Philippine, Ấn Độ và Nepal

Chủng virus VNNB gặp ở Việt Nam thuộc nhóm 3, cùng giống với các chủng phân bố được ở Trung Quốc và Nhật Bản

Bằng kỹ thuật đánh dấu các nucleotit (nucleotide fingerprinting teachnique) cho thấy có sự biến dị giữa những chủng virus phân lập cách nhau nhiều năm ở Nhật Bản và Thái Lan

Trang 20

Hình 1.2 cấu trúc virus JEV

virus-jev-er.html)

(http://virologytidbits.blogspot.com/2014/07/japanese-encephalitis-1.3.2 Sự nhân lên của virus trong tế bào

Virus VNNB có nhân là RNA vì thế quá trình nhân lên của nó cũng tương

tự các virus khác Sự nhân lên của virus VNNB trong tế bào trải qua các giai đoạn sau:

- Hấp thụ và xâm nhập: virus hấp thụ lên màng tế bào, cố định vào một thụ thể đặc hiệu ở màng tế bào, sau đó xâm nhập vào màng tế bào, vỏ ngoài virus

bị phân hủy để giải phóng nucleocapsid

- Phiên mã RNA: RNA sợi dương của virus làm 2 chức năng: vừa làm khuôn tổng hợp RNA sợi âm vừa làm chức năng RNA thông tin RNA của virus vào trong tế bào gây cảm nhiễm tổng hợp RNA – polymerase dùng cho tổng hợp RNA sợi âm bổ sung, tạo thành dạng sao chép (RF – reading frame) Từ đây tổng hợp các RNA mới

Trang 21

- Tổng hợp protein: protein của virus được tổng hợp ở mạng lưới nội chất hạt Protein cấu trúc và phi cấu trúc được tổng hợp với tỷ lệ không đổi do được phiên mã từ một sợi RNA thông tin duy nhất

- Lắp ráp các nucleocapsit và vỏ: các protein capsit gắn vào sợi RNA của virus tạo thành nucleocapsit Protein capsit hình cầu chứa một sợi acid nucleic Tiếp theo virus được bọc trong không bào hoặc màng ngoài của nhân để hoàn chỉnh virion, quá trình lắp ráp và hoàn chỉnh virion được thực hiện ở màng tế bào chủ

- Giải phóng virus: sau khi lắp ráp thành virus hoàn chỉnh, chúng tiến đến màng tế bào chủ, phá vỡ tế bào chủ, thoát khỏi tế bào và tiếp tục xâm nhập vào tế bào khác Sự nhân lên của virus dẫn đến sự phá hủy tế bào chủ bị nhiễm, giải phóng khỏi tế bào và xâm nhập vào tế bào mới

1.3.3 Đặc tính kháng nguyên của virus VNNB

Virus VNNB có 3 loại kháng nguyên: protein màng VI (hoặc M) là nucleoprotein, protein lõi V2 (hoặc C) chính là RNA và protein vỏ V3 (hoặc E)

là glycoprotein Trong đó protein kháng nguyên vỏ ngoài E nằm trên bề mặt của hạt virus đóng vai trò quan trọng nhất trong bước đầu tiên của phản ứng virus và vật chủ để tạo ra kháng thể miễn dịch bảo vệ cơ thể (kháng thể ức chế ngưng kết hồng cầu và kháng thể trung hòa)

1.3.4 Sức đề kháng của virus gây bệnh VNNB

Về đặc tính lý hóa, virus có sức đề kháng yếu với các tác nhân lý học, hóa học, dễ dàng bị tiêu diệt bởi hầu hết các hóa chất khử trùng ở nồng độ thông thường

- Virus VNNB chịu đựng kém ở nhiệt độ cao: ở 560C virus bất hoạt sau

30 phút, ở 600C virus chết sau 10 phút, ở 700C chết sau 5 phút Trái lại ở nhiệt

độ lạnh -700C thì giữ nguyên độc lực, virus thích hợp ở pH = 8,5 đến 9

- Cồn, ether, aceton làm mất hoạt lực sau 3 ngày, lyson tiêu diệt virus sau

5 phút, formal 0,5% tiêu diệt virus sau 48 giờ, virus nhạy cảm với chloroform, desoxycholate natri, những men phân giải protid hoặc lipid

- Virus có thể tồn tại nhiều tháng trong huyết thanh ở -200C và có thể gây nhiễm tế bào nuôi cấy

Trang 22

- Virus gây ngưng kết hồng cầu gà con 1 ngày tuổi và hồng cầu ngỗng, bồ câu, cừu, chuột lang, thỏ, nhưng tốt nhất là hồng cầu gà con 1 ngày tuổi

- Với các chất hóa học/ chất sát trùng: Virus rất mẫn cảm trong các dung môi hòa tan lipit như ete, dexoxy – cholat natri, chlorofoc.Virus dễ bị tiêu diệt với các loại chất sát trùng thông thường như: Ethanol 70%, formaldehyde 3 – 8%, gluteraldehyde 2%, dung dịch hypochlorite 1% và nhanh chóng bị tiêu diệt bởi tia cực tím và ánh sáng mặt trời

1.3.5 Đặc tính nuôi cấy

Virus có thể nhân lên và gây bệnh tích trên nhiều loại tế bào, các tế bào nguyên phát và nhiều dòng tế bào từ động vật hữu nhũ, tế bào thận chuột đất vàng con (BHK – baby hamster kidney), tế bào thận khỉ con (BMK – baby monkey kidney), nguyên bào sợi chuột nhắt L - M, những dòng tế bào có nguồn gốc từ ấu trùng hoặc phôi muỗi như dòng tế bào C6/36 từ tế bào ấu trùng của Ae albopictus và dòng tế bào từ phôi của Ae.aegypti Ngoài ra virus cũng có thể nhân lên ở tế bào sơ phôi gà, màng nhung niệu của phôi gà và chuột bạch (Hồ

Thị Việt Thu, Nguyễn Đức Hiền, 2012)

Khi nuôi cấy virus trên tế bào thận chuột đất vàng con thì sau 60 phút đã có những virus tiếp cận màng tế bào, sau 3 giờ thì virus tiếp cận trong nguyên sinh chất của một vài loại tế bào, còn hầu hết các tế bào khác có thay đổi, sau 3 – 4 ngày hầu hết các tế bào đã thoái hóa hoặc bong ra khỏi thành chai, lúc này virus

đã nhân lên ở mức độ cao và tập trung thành những đám lớn hoặc rải rác trong nguyên sinh chất tế bào (Đỗ Quang Hà và ctv, 1976)

1.4 Dịch tễ học của bệnh VNNB

Dịch viêm não đã được biết tới ở Nhật Bản từ trước những năm 1870 Virus VNNB lần đầu được phân lập năm 1935 sau đó đã được tìm thấy ở hầu hết khu vực Châu Á Nguồn gốc của virus thì vẫn chưa được xác định, nhưng theo hệ phát sinh loài được so sánh với các virus thuộc họ Flavi khác thì nó được mở ra từ loài virus tổ tiên bắt nguồn từ Châu Phi, có thể là các đây từ vài thế kỷ trước Ở khu vực phía Bắc vùng nhiệt đới thì bệnh VNNB xảy ra dịch và mùa hè còn ở khu vực

Trang 23

Tại miền Nam Việt Nam bệnh viêm não xảy ra rải rác quanh năm, số mắc cao nhất vào năm 1980 với tỷ lệ 4,95% trong 100.000 dân và tỷ lệ tử vong 27,46%, thường tập trung nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long vựa lúa của miền Nam, nơi có thói quen nuôi lợn gần nhà (Đoàn Đức Hùng, 2011)

Ở động vật có xương sống như lợn được xem là động vật cảm nhiễm cao nhất và quan trọng nhất, sau lợn là chim Một số động vật khác như bò, cừu, dê, khỉ cũng cảm nhiễm với virus viêm não Nhật Bản nhưng với tỷ lệ thấp (Lê Thị Thu, 2005)

Sự xuất hiện của bệnh VNNB liên quan đến một chu kỳ truyền lây phức tạp giữa vật chủ, vectơ truyền bệnh, biến đổi khí hậu và các yếu tố con người Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các biến đổi khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm tương đối, và lượng mưa có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ nhiễm VNNB Các biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến việc truyền tải virus VNNB chủ yếu thông qua tác động của chúng và trưởng thành vector trong các giai đoạn ấu trùng và nhộng Yếu tố xã hội cũng đóng một vai trò quan trọng trong dịch tễ học VNNB trên người Một nghiên cứu trước đây cho thấy rằng các vùng có dịch lớn của bệnh VNNB ở Trung Quốc di chuyển từ khu vực phía đông vào những năm 1970 cho các tỉnh Tây Nam trong năm 2010 này có lẽ là kết quả của sự phát triển kinh tế nhanh chóng ở khu vực phía đông Các yếu tố tiềm năng khác có thể ảnh hưởng đến việc truyền tải virus VNNB bao gồm độ cao và việc sử dụng đất nông nghiệp Ví

dụ, sản xuất lúa là trực tiếp liên quan đến tỷ lệ nhiễm virus VNNB bởi vì cánh đồng lúa không chỉ là nơi sinh sản của vector truyền bệnh , mà còn là nơi cung cấp thức ăn cho các loài chim nước loài dễ bị nhiễm virus VNNB Vì thế, hầu hết các nước trong khu vực Châu Á đều có nguy cơ nhiễm bệnh VNNB cao và là nguồn chính của virus VNNB

1.5 Nhân tố trung gian truyền bệnh (muỗi)

Virus VNNB đã được phân lập từ một số lượng lớn khoảng hơn 30 loài muỗi khác nhau trong đó chủ yêu là các loài Cx.tritaeniorhynchus, Cx gelidus, Mansonia spp, Aedes curtipes Nó phân bố ở các vùng địa lý khác nhau với nhiều loại muỗi khác nhau nơi mà virus VNNB có thể lưu hành Ngoài muỗi

Trang 24

Cx.tritaeniorhynchus, bệnh VNNB còn được phân lập từ loài muỗi thuộc nhóm Cx.pipiens var, pallens, An Hyracanus,Ae Albopictus và Armigeres obturans ở Trung Quốc; Cx.Fuscocephala,Cx.whitmorei, và Mansonia unformis ở Sri Lanka (George et al 1987; Gajanna et al 1997)

Điều này đã được chứng minh là virus VNNB có thể được truyền và lây nhiễm bởi một số lượng lớn loài muỗi Cx.Triaeniorhynchus, Cx.Gelidus được coi là vector quan trọng nhất trong việc truyền JEV

Hoạt động thích hút máu các vật chủ của muỗi và các yếu tố môi trường làm phát triển muỗi là điều kiện lý tưởng để dịch bệnh lây nhiễm cho người.Theo quan sát ở Thái Lan loài muỗi Culex thích đốt nhiều vào hai thời điểm trong ngày là khi mặt trời lặn và lúc nửa đêm (Gould et al.1974) Các nghiên cứu cho thấy loài muỗi Cx tritaeniorhynchus chính là vector truyền virus Virus VNNB sống trong muỗi Cx tritaeniorhynchus nhân lên, và truyền tải bệnh phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường Vào mùa hè, Cx tritaeniorhynchus là vector phát tán và truyền tải virus VNNB Nhiệt độ môi trường và ở các đồng lúa chiêm trũng là điều kiện lý tưởng để loài muỗi này nhân lên và phát tán mầm bệnh cho kí chủ Điều này làm cho virus VNNB tồn tại từ năm này sang năm khác và truyền bệnh cho người

Vòng đời của muỗi

Muỗi là loài biến thái hoàn toàn trải qua 4 giai đoạn phát triển rõ ràng bao gồm: trứng, ấu trùng, nhộng và muỗi trưởng thành Muỗi cái có thể đẻ từ 100 -

400 trứng/lần, muỗi cái thường chỉ giao phối một lần nhưng có thể đẻ trứng suốt đời Để thực hiện được việc đẻ trứng, phần lớn muỗi cái cần phải hút máu người hoặc động vật để cung cấp protein Sau 2 - 3 ngày trứng ở thành ấu trùng Ấu trùng có 4 giai đoạn liên tiếp nhau trải qua những lần lột xác, sau 8 – 12 ngày ấu trùng trở thành nhộng Thời gian nhộng thành muỗi trưởng thành rất nhanh chỉ khoảng 1 ngày Toàn bộ thời gian từ trứng đến muỗi trưởng thành ở điều kiện khí hậu tốt nhất khoảng từ 7 đến 13 ngày

Trang 25

Hình 1.3 Vòng đời phát triển của muỗi

(http://valiantpestdefense.com/services/mosquito-control-dallas-tx)

Có 4 cơ chế duy trì virus ở môi trường là: sự trải đông, truyền virus qua trứng, nhiễm bệnh lúc đẻ trứng và lây truyền qua giao phối Sự trải qua đông của virus VNNB trong cơ thể muỗi Cx tritaeniorhynchus và Cx pipens đã chứng minh sự duy trì virus ở môi trường (Hayashi et al, 1975) Việc truyền virus qua trứng đã được ghi nhận trên muỗi Cx.tritaeniorhynchus, Cx bitaeniorhynchus và Cx vishnui, Aedes albopictus (Rosen et al, 1978, 1989) Muỗi Cx tritaeniorhynchus hoạt động mạnh vào mùa nóng, mật độ cao nhất vào tháng 3, tháng 4 cho đến tháng 7, thích hợp ở nhiệt độ 22-280C, độ ẩm 80-90%, sinh sản ở ao hồ, vũng nước quanh nhà, chu kỳ sinh sản 15-16 ngày, không hoạt động ban ngày (Bài giảng Bệnh truyền nhiễm, Khoa Y, Đại học Cần Thơ, 1990-1991)

Sự phát triển của muỗi chịu ảnh hưởng rất lớn bởi lượng mưa, nhiệt độ và

độ ẩm Nếu không hoặc rất ít mưa sẽ hạn chế mật độ muỗi, chỉ trừ những vùng canh tác lúa đang giữ nước ngoài đồng Tuy nhiên, nếu mưa quá nhiều sẽ làm

Trang 26

cuốn trôi ấu trùng và trứng của muỗi Khi nhiệt độ tăng sẽ có rất nhiều muỗi trưởng thành do thời gian phát triển ấu trùng ngắn hơn (Endy and Nisalak, 2002)

1.6 Vật chủ của virus VNNB

Người, lợn và ngựa chỉ là những ký chủ có xương sống được biết là mang virus gây bệnh trong điều kiện tự nhiên, nhiều loài có xương sống khác cũng bị nhiễm virus Điều quan tâm là ở ký chủ đôi khi không có biểu hiện chứng giống như là một ký chủ để virus có thể sống qua đông

Con người, gia súc và ngựa là vật chủ, trong đó người và ngựa có thể coi là vật chủ cuối cùng vì khi nhiễm bệnh VNNB sẽ biểu hiện triệu chứng và có thể

chết Các vector chính của VNNB là muỗi vằn Culex tritaeniorhynchus ở châu

Á, trong khi đó các vector chính tại Úc là loài Culex Annulirostri Ở châu Á, lợn

nội là vật chủ khuếch đại và giữ một vai trò rất quan trọng trong sự lưu hành của bệnh VNNB Loài chim di cư và con dơi đóng vai trò là nguồn chứa và khuếch tán virus Đặc biệt, chim được coi như là vật chủ tự nhiên có vai trò vật chứa và khuyếch tán virus VNNB truyền cho muỗi và lợn do đó nhiều tác giả cho rằng rất

khó để kiểm soát bệnh VNNB do tính chất di cư của các loài chim

Trên người khi thu thập virus VNNB trong huyết thanh thì không biết được giai đoạn virus huyết ở người bị nhiễm hoặc là giai đoạn virus huyết xảy ra ngắn hoặc là nồng độ virus không đủ cao để truyền virus sang cho muỗi Khi những bệnh nhân bị nhiễm virus VNNB có những dấu hiệu của hội chứng viêm não thì giai đoạn virus huyết có thể sẽ không xuất hiện

Chim hoang dã:

Các loài cò, diệc, tu hú, liếu điếu và các loài chim khác sống gần vùng đầm lầy là những vật chủ quan trọng mang mầm bệnh VNNB Mặc dù mang virus trong máu kéo dài nhưng các loài chim này lại không có biểu hiện bệnh lý

và do đó chúng trở thành ổ chứa lâu dài, nguồn lây nhiễm virus cho các loài muỗi sống trong thiên nhiên

Lợn:

Lợn được coi là nguồn nhiễm virus huyết quan trọng vì:

+ Chỉ số lợn bị nhiễm virus trong tự nhiên cao hơn cả

Trang 27

+ Sự xuất hiện virus trong máu lợn thường xảy ra ngay sau khi nhiễm virus VNNB

Vì vậy, hầu hết tất cả các lợn nội đều có khả năng nhiễm virus trong máu khi bị muỗi chứa virus đốt Các nghiên cứu đã chứng minh rằng khi lợn bị nhiễm virus VNNB nó sẽ đặc trưng cho virus VNNB ở vùng đó Do tính mẫn cảm của lợn với virus VNNB và việc muỗi thích hút máu lợn, lợn nội đã được theo dõi như một quần thể trọng điểm và ước tính với việc sự phụ thuộc của môi trường đối với VNNB Lợn đóng vai trò quan trọng trong việc tái tổ hợp virus VNNB Lợn là vật chủ chính cho quá trình khuếch đại virus, là ổ chứa quan trọng và là nguồn nhiễm chính cho người Vì lợn có thể mang virus VNNB rất cao, thời gian mang thai kéo dài và còn vì loài muỗi Culex - vector truyền virus VNNB rất ưa thích đốt hút máu lợn Với truyền thống chăn nuôi thì con người liên hệ gần gũi nhất với loài lợn và muỗi nên nguy

cơ nhiễm bệnh VNNB là rất cao

Ngựa:

Virus VNNB có thể gây nhiễm ở ngựa Ngựa được cho là vật chủ cuối cùng trong truyền bệnh VNNB, có sự truyền tải virus VNNB từ người, chim sang ngựa, từ ngựa sang ngựa, và từ ngựa truyền lại chim thông qua loài muỗi Cx tritaeniorhynchus đã được chứng minh (Gould et al 1964)

Động vật có xương sống máu lạnh:

Virus VNNB có thể tồn tại trong hai loài thằn lằn (Takydromus tadydromoides và Eumeces latisculatus) (Doi et al, 1983) Trong suốt thời gian ngủ đông, có thể phân lập virus từ máu của chúng khi nhiệt độ tăng lên Thằn lằn có thể truyền virus cho muỗi và những con thằn lằn này có thể bị nhiễm virus do muỗi đốt hoặc ăn phải những con muỗi có chứa virus VNNB Ngoài ra virus VNNB còn tồn tại ở rắn và ếch, tắc kè cũng bị nhiễm bệnh (Rosen, 1986)

1.7 Chu trình truyền bệnh trong tự nhiên

Trong tự nhiên, virus được duy trì và lây truyền qua chu trình bao gồm: nhân tố trung gian là muỗi (chủ yếu là giống Culex) chim và động vật hữu nhũ

Sự tồn tại của virus chủ yếu nhờ vào những động vật mà sự nhiễm trùng huyết không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng

Trang 28

Chu trình truyền bệnh trong tự nhiên của virus VNNB tạo thành một vòng khép kín lợn - muỗi – lợn hoặc chim - muỗi – chim (Hurk et al, 2009) bắt đầu sau một thời gian ngắn rõ rệt, ở những vùng nhiệt đới phía Nam Châu Á thì vòng khép kín lợn - muỗi diễn ra suốt năm Động vật cảm nhiễm thứ hai là chim, một số động vật khác như trâu bò, cừu, dê, khỉ cũng cảm nhiễm với virus VNNB nhưng với mức độ thấp Lợn và chim được xem là nguồn chứa virus quan trọng để truyền cho muỗi

Ở người và ngựa, khi nhiễm virus có thể có triệu chứng lâm sàng hoặc không nhưng khi bệnh diễn biến sẽ có những triệu chứng nặng thì có thể chết Tuy nhiên, nồng độ virus huyết ở người và ngựa không đủ cung cấp cho muỗi để tiếp tục gây nhiễm Do đó, người và ngựa được xem là ký chủ tử vong cuối cùng trong chu trình truyền bệnh (Gould et al, 1964)

Trâu bò cũng có thể bị nhiễm virus VNNB và có đáp ứng kháng thể nhưng không có dấu hiệu nhiễm trùng huyết (Ilkal et al, 1988) Kết quả nghiên cứu huyết thanh học của bệnh trên nhiều loài gia súc ở Malaysia cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất được ghi nhận ở lợn (88,1%), kế đến là trâu (45%), bò (42%), cừu (17,9%) và dê (13,8%)

Bệnh VNNB có phương thức truyền lây gần như duy nhất là qua vector loài muỗi Các chu trình truyền lây quan trọng được để cập trong nhiều nghiên cứu, trong đó chu trình chim - muỗi - chim và lợn - muỗi - người được coi là 2 chu trình quan trọng nhất để truyền bệnh

Hình 1.4 Chu trình chim - muỗi - chim trong truyền lây bệnh VNNB

Trang 29

Chu trình này được coi là quan trọng nhất trong việc duy trì và phát triển

virus VNNB trong tự nhiên

Hình 1.5 Chu trình lợn – muỗi – lợn trong truyền lây bệnh VNNB

(http://www.slideshare.net/smnattu/japanese-encephalitis) Chu trình lợn - muỗi - lợn rất quan trọng không chỉ để duy trì virus VNNB trong thiên nhiên mà còn là nguồn virus VNNB quan trọng nhất lây sang người

Hình 1.6 Chu trình tổng hợp của bệnh VNNB (http://www.slideshare.net/smnattu/japanese-encephalitis)

Trang 30

Con người tham gia vào 2 chu trình trên, đặc biệt là chu trình lợn - muỗi - lợn, do những con muỗi đã có nhiễm virus đốt và hút máu một cách ngẫu nhiên,

vì người không phải là đối tượng ưa thích hút máu của của loài muỗi Culex Khi

2 chu trình trên hoạt động mạnh thì cũng là lúc số ca bệnh VNNB trên người tăng lên, đôi khi thành dịch

1.8 Sinh bệnh và miễn dịch học

1.8.1 Sự nhiễm virus huyết

Ở muỗi virus VNNB được nhân lên ở thực bào và các tế bào máu trong 2 ngày Sau khi muỗi đốt gia súc, một lượng virus bị tiêu diệt tại chỗ, một lượng xâm nhập vào cơ thể, sau đó lan rộng đến nhiều cơ quan, sự lan rộng này có tính hướng thần kinh trung ương Virus hiện diện ở hệ thống thần kinh vào ngày thứ 4 sau khi bị nhiễm, sau đó 1 – 2 ngày virus được tìm thấy ở tuyến nước bọt Trong điều kiện tự nhiên, lợn bị nhiễm virus VNNB là do muỗi đốt Hiện tượng nhiễm virus huyết xảy ra từ sau 12 giờ đến vài ngày, kháng thể được tạo ra trong vòng 1 – 4 tuần sau khi nhiễm Virus sẽ nhân số lượng lên gấp bội khi vào

cơ thể heo và sau đó truyền bệnh lại cho người Hầu như tất cả lợn đều phát triển virus huyết khi bị muỗi có mang virus đốt

Những nghiên cứu trong tự nhiên cho thấy, lợn mẫn cảm khi đưa vào vùng có bệnh lưu hành, chúng sẽ bị nhiễm virus sau một tuần Hiện tượng virus huyết kéo dài trong 4 ngày hay dài hơn với nồng độ virus 106 liều LD50 (LD50– Lethal dose 50%)

Có đến 30% muỗi bắt được trong vùng dương tính với virus VNNB (Komada et al, 1968) Khi gây nhiễm lợn bằng virus VNNB, sau một tuần sẽ tìm thấy kháng thể ức chế ngưng kết hồng cầu và kháng thể trung hòa cùng một thời gian (Scherer et al, 1959)

Ở người cũng tìm thấy virus VNNB ở những bệnh nhân bị viêm não Tuy nhiên ở người việc nhiễm virus huyết không phổ biến và nếu có thì nồng độ virus trong máu thấp và thời gian virus huyết rất ngắn, khi bệnh nhân có triệu chứng bệnh virus đã không còn trong máu Do đó, người bị nhiễm virus VNNB không thể là

Trang 31

nguồn cung cấp virus cho muỗi Hơn nữa chưa có dữ liệu dịch tễ nào chứng minh sự lây bệnh trực tiếp từ người sang người do muỗi truyền (Rosen, 1986)

Trên ngựa, mặc dù có nghiên cứu đã chứng minh được sự lây truyền từ chim sang ngựa, từ ngựa cho ngựa và từ ngựa cho chim do muỗi Cx tritaeniorhynchus (Gould et al, 1964) Sự nhiễm virus huyết ở ngựa xảy ra khi gây nhiễm từ 1 – 4 ngày và kéo dài từ 2 – 6 ngày với nồng độ 101,2 LD50 SMIC (Endy and Nisalak, 2002) không đủ cung cấp cho muỗi tiếp tục gây nhiễm

Nhiều loài gia súc khác cũng có thể bị nhiễm virus VNNB và phát triển kháng thể ở hiệu giá khá cao như trâu bò và có liên quan đến những trận dịch xảy

ra ở người, tuy nhiên ở những loài bị nhiễm này chưa có tài liệu nào chứng minh

là có giai đoạn virus huyết (Ilkal et al, 1988)

1.8.2 Bệnh lý học

Sau khi nhiễm virus huyết, virus phân tán đến các mô mềm có nhiều mạch máu đi qua như gan, lách, cơ… virus tăng sinh ở các cơ quan này, virus di chuyển đến hệ thần kinh trung ương qua đường não tủy, đại thực bào hay qua đường máu

Giai đoạn virus huyết này thường biểu hiện các triệu chứng toàn thân như sốt , đây là giai đoạn chưa có triệu chứng thần kinh đặc hiệu

Virus sinh sản ở hệ thống thần kinh trung ương, thần kinh tủy sống, màng

tế bào, đại thực bào và các tế bào lymphô Ở người và chuột, virus xâm nhiễm có tính hướng thần kinh chủ yếu là đồi não, cuống não, hạch thần kinh, dưới vỏ não Đại thực bào đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh của bệnh Người ta tiến hành thí nghiệm tiêm virus vào chuột qua đường phúc mạc và quan sát thấy virus tái sinh lần đầu trên màng của đại thực bào, sau đó vào ngày thứ 3 virus tái sinh

ở các đại thực bào lách của vùng tiền lách Virus gây nhiễm và nhân lên trong các đại thực bào và tế bào T

Trong tự nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về dạng nhiễm bệnh tiềm ẩn trên lợn Trên chuột bạch, sau khi tiêm truyền virus cho chuột cái mang thai qua đường phúc mạc thì sự nhiễm virus tiềm ẩn xảy ra trên cả chuột mẹ và chuột con

Trang 32

Ở lợn nái mang thai bị nhiễm virus ở giai đoạn virus huyết có thể truyền cho bào thai do virus qua được màng nhau thai Trong thí nghiệm tiêm virus VNNB vào tĩnh mạch lợn nái đang mang thai, có thể tìm thấy virus trong bào thai khoảng 7 ngày sau khi tiêm Có trường hợp virus yếu dần khi vào nhau thai,

có ý kiến cho rằng việc lợn mẹ truyền virus qua nhau thai để vào bào thai có thể phụ thuộc vào từng giai đoạn thai kỳ hoặc dòng virus Hiện tượng chết thai và khô thai có thể xảy ra nếu lợn nái mang thai bị nhiễm virus VNNB trong giai đoạn từ ngày thứ 40 – 60 của thai kỳ, lợn con sinh ra từ các lợn nái bị nhiễm sau ngày thứ 85 của thai kỳ thì ít bị ảnh hưởng Thai chết là do có liên quan đến việc không kiểm soát được sự nhân lên của virus và sau đó phá hủy các tế bào sống của bào thai Giai đoạn thai bắt đầu có khả năng miễn dịch với virus VNNB vẫn chưa được xác định rõ Khi virus xâm nhập vào bào thai đi qua nhau thai sau thời gian mà bào thai có khả năng miễn dịch đối với virus thì trên thai không có ảnh hưởng gì về mặt sinh lý Virus VNNB phải xâm nhập vào thai trước giai đoạn mà cơ quan miễn dịch của bào thai chưa có đủ khả năng miễn dịch chống lại virus thì trên bào thai có những biến đổi về bệnh lý Virus VNNB

có thể gây chết phôi ở các giai đoạn khác nhau, điều này phụ thuộc vào khả năng chịu đựng của bào thai có thể chết thai, thai khô, lợn con sinh ra yếu ớt, lợn con

có nhiều tinh trùng kỳ hình Virus theo tinh dịch vào cơ quan sinh dục cái, qua nhau thai và xuất hiện trong các cơ quan nội tạng của phôi thai: gan, lách… giai đoạn này thường thuộc vào ngày thứ 40 – 60 của thai kỳ

1.8.3 Miễn dịch học

Khi gây nhiễm cho lợn mẫn cảm với virus VNNB, sau 1 tuần cả kháng

Trang 33

có thể đạt nồng độ cao nhất ở 2 – 4 tuần sau khi tiêm Đôi khi kháng thể HI xuất hiện trước kháng thể trung hòa (Scherer et al, 1959) Khi huyết thanh lợn được lấy ở 4 tuần sau khi nhiễm, được xử lý với 2 - mercaptoethanol, hiệu giá kháng thể giảm, chứng tỏ kháng thể này thuộc nhóm IgM Kháng thể thụ động để kháng với 2 -mercaptoethanol, được phát hiện ở lợn con theo mẹ và có thể tồn tại đến 4

- 6 tháng tuổi Sau khi tiêm ngừa bằng những loại vacxin giảm độc lực hiệu giá kháng thể HI trong khoảng 40 - 160 được phát hiện sau 2 - 4 tuần và hiệu giá 160 được duy trì ít nhất trong 6 tuần

Sự đáp ứng kháng thể trên chuột bạch 3 tuần tuổi đối với virus VNNB chủng Nakayama và chủng CTMP - 7 được Hồ Thị Việt Thu tiêm truyền thử nghiệm Khi tiêm virus VNNB chủng Nakayama hoặc CTMP - 7 với liều 200 SMICLD50 bằng các đường: Tĩnh mạch, bắp thịt, dưới da và phúc mạc thì tất cả chuột đều khỏe mạnh, không có dấu hiệu bất thường Một tuần sau khi tiêm một

số chuột thí nghiệm có đáp ứng kháng thể HI, ở tuần thứ 2 tất cả chuột (100%) đều có kháng thể và hiệu giá kháng thể trung bình (GMT) đạt cao nhất vào tuần thứ 3 Sau đó hiệu giá kháng thể giảm nhanh và không phát hiện được kháng thể vào tuần thứ 6

Một thí nghiệm khác cũng được thực hiện trên chuột bạch 3 tuần tuổi được tiêm với liều 1000 SMICLD50, chủng CTMP-7 gây chết 25,0% chuột thí nghiệm và chủng Nakayama có 27,0% chuột bị chết Những chuột còn sống có đáp ứng kháng thể kéo dài hơn so với chuột được tiêm liều 200 SMICLD50 ở cùng đường tiêm

Kháng thể được phát hiện trên một số chuột sau gây nhiễm 1 tuần, tất cả chuột có kháng thể sau 2 tuần và GMT đạt đỉnh cao nhất ở tuần thứ 3 Sau đó, hiệu giá kháng thể giảm dần và không phát hiện được vào tuần thứ 8 (Hồ Thị Việt Thu, 2011)

Khả năng đáp ứng miễn dịch ở mỗi loài rất khác nhau và phụ thuộc và rất nhiều yếu tố như độc lực của từng chủng virus VNNB, thời gian tiếp xúc của ký chủ với virus, số lượng virus… Do đó khả năng chống lại mầm bệnh của ký chủ cũng khác nhau

Trang 34

1.9 Triệu chứng và bệnh tích

1.9.1 Triệu chứng

Trên lợn

-Thời gian nung bệnh chưa xác định

Trên lợn qua thực nghiệm trên lợn 3 tuần tuổi qua đường tiêm tĩnh mạch cho thấy thân nhiệt tăng trên 400C với triệu chứng biếng ăn, suy nhược, run và liệt chân sau

Trên lợn đực giống, bệnh có liên quan đến hiện tượng vô sinh trong mùa

hè, lợn đực giống có thể bị viêm dịch hoàn, thủy thũng, mào tinh cứng và giảm tính dục Nhiều nghiên cứu đã phân lập virus từ lợn đực giống bị viêm dịch hoàn, chứng minh sự xâm nhập virus vào cơ quan sinh dục gây rối loạn quá trình sinh tinh Những rối loạn trên chỉ là tạm thời và con vật có thể bình phục nhưng trong những trường hợp nặng lợn đực giống có thể vô sinh vĩnh viễn

Tất cả các lợn trưởng thành, lợn nái mang thai đều không có triệu chứng bệnh Tuy nhiên, các ảnh hưởng bệnh lý được ghi nhận qua những dấu hiệu bất thường của lứa đẻ Trong lứa, có nhiều thai khô, thai chết, lợn con yếu ớt với triệu chứng thần kinh như run, co giật và chết Thai khô thường có kích thước khác nhau, thai chết có biểu hiện phù thũng (Hồ Thị Việt Thu, 2008), lợn con yếu ớt, run, ứ nước dưới da, ở não Hiện tượng sảy thai ít được ghi nhận trong các nghiên cứu gây bệnh thực nghiệm (Chu and Joo, 1996)

1.9.2 Bệnh tích

Bệnh tích không được ghi nhận ở lợn nái bị nhiễm bệnh sau khi đẻ Tuy

Trang 35

lợn nái bị nhiễm virus trong suốt thời gian mang thai Bệnh tích đại thể thường là thai chết hoặc lợn sinh ra yếu ớt do viêm não tích dịch, phù thũng ở da, tích nước xoang ngực, xoang bụng, xuất huyết màng tương mạc, hạch lâm ba sung huyết, hoại tử điểm ở lách, gan, sung huyết ở tủy sống và màng não (Burn, 1950) Nếu quan sát kỹ có thể thấy hệ thống thần kinh trung ương bị tổn thương

ở một số vùng với biểu hiện vỏ não cực mỏng ở những heo con bị viêm não tích dịch (Shimizu et al, 1954) Bệnh tích tổn thương ở tiểu não và bao myelin của tủy sống cũng được ghi nhận (Morimoto, 1969)

Bệnh tích vi thể quan trọng giới hạn ở hệ thần kinh trung ương đặc trưng bởi hiện tượng viêm não không mủ, hoại tử nơron thần kinh, thực bào thần kinh, hạch thần kinh đệm (Yamada et al, 2004) và có sự tập trung quanh mạch của các

tế bào đơn nhân lớn, tế bào lam ba, tương bào và các tế bào thần kinh thoái hóa Bệnh tích tập trung chủ yếu ở vỏ não, hạch đáy não, cuống não và tủy sống, những bệnh tích này có thể được ghi nhận cả ở lợn 6 tháng tuổi (Chu and Joo, 1996) Hiện tượng thoái hóa và hoại tử tế bào thần kinh rải rác ở não và tiểu não, hiện tượng thoái hóa thể hiện rõ nhất ở chất xám

Bệnh tích ở các cơ quan phủ tạng như phổi, gan, thận, lách cũng được ghi nhận trên người và các động vật thí nghiệm như khỉ và ngựa (Johnson, 1987)

Ở lợn đực giống, dịch hoàn viêm, có nhiều dịch nhầy ở màng bao dịch hoàn, đồng thời có lớp tơ huyết dày ở mào tinh và màng trong của bao dịch hoàn Bệnh tích vi thể là ứ nước, viêm với sự xâm nhiễm của nhiều tế bào ở mô kẽ của mào tinh và màng bao dịch hoàn Hiện tượng thâm nhiễm và xuất huyết cũng được ghi nhận ở mô kẽ của dịch hoàn Biểu mô ống sinh tinh bị thoái hóa

1.10 Chẩn đoán bệnh

1.10.1 Chẩn đoán lâm sàng

Việc chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng thường ít có ý nghĩa Lợn thường không có triệu chứng bệnh khi bị nhiễm virus Ở lợn nái để phân biệt rối loạn sinh sản do virus VNNB dựa vào tính chất mùa để phân biệt với các nguyên nhân khác

Trang 36

1.10.2 Chẩn đoán virus học

Nuôi cấy phân lập virus:

Não của thai chết (thai sảy) và nhau thai là những bệnh phẩm thường dùng trong phân lập virus Tiêm huyễn dịch bệnh phẩm vào não chuột từ 1-5 ngày tuổi Chuột có biểu hiện thần kinh và chết sau 4 - 14 ngày Các môi trường tế bào

có nguồn gốc từ chuột đất vàng (hamster), dòng tế bào C6/36 là môi trường thích hợp để virus nhân lên

Tuy nhiên, hiện nay để tìm được mẫu bệnh phẩm nghi bị viêm não trên lợn là rất hiếm và phương pháp này chỉ tiến hành trong phòng thí nghiệm ở phòng thí nghiệm có trang bị hiện đại, tốn kém, thời gian quá lâu và nhều khi không đạt kết quả

Kỹ thuật RT – PCR:

Hiện tượng virus huyết rất ngắn, virus hiếm khi được tìm thấy trong máu nên kết quả dương tính rất thấp Thêm vào đó kỹ thuật này yêu cầu công nghệ cao và đắt tiền Mặc dù vậy, RT – PCR vẫn được tiến hành để xét nghiệm virus VNNB trên muỗi và một số mẫu huyết thanh Kết quả của phản ứng RT – PCR làm tiền đề cho những nghiên cứu sâu hơn về sinh học phân tử: Giải trình tự gen

và xây dựng cây sinh học phân tử để xác định các chủng virus VNNB tại Việt Nam tiến tới chế tạo vaccin phòng bệnh VNNB hiệu quả tại Việt Nam

1.10.3 Chẩn đoán huyết thanh học

Có thể sử dụng một số phương pháp để chẩn đoán như sau:

- Phản ứng kết hợp bổ thể: dương tính sau một tuần và kháng thể tồn tại

6 - 9 tháng

- Phản ứng trung hòa: kháng thể trung hòa có khi tồn tại suốt đời mặc dù hiệu giá xuống thấp hơn thời kỳ đầu

- Phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu: kháng thể tồn tại từ 5 - 10 tháng

- Phản ứng ELISA: dựa trên sự kết hợp kháng nguyên và kháng thể

Trang 37

1.11 Phòng và trị bệnh viêm não Nhật Bản

1.11.1 Phòng bệnh

Vệ sinh phòng bệnh:

- Kiểm soát nhân tố trung gian truyền bệnh (muỗi)

Áp dụng các biện pháp kiểm soát nhân tố trung gian truyền bệnh là muỗi, nhưng điều này rất khó thực hiện vì bao gồm nhiều loại muỗi và tính chất của bệnh còn tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng Chúng ta có thể sử dụng một số phương pháp để làm giảm mật độ muỗi trong thời gian ngắn như dùng hóa chất diệt muỗi Tuy nhiên việc sử dụng hóa chất để diệt muỗi Culex và các vectơ cũng gặp nhiều khó khăn vì các vectơ này sinh sản trên những ruộng lúa ngập nước có nhiều chất hữu cơ Muỗi lại có khả năng bay và tìm mồi rất xa

Do đó, để có thể diệt muỗi bảo vệ lợn và người tránh muỗi đốt đòi hỏi sử dụng các hóa chất trong phạm vi bán kính 1 km hay xa hơn Các thuốc diệt ấu trùng của muỗi chỉ có tác dụng trong thời gian ngắn, nên đòi hỏi phải sử dụng hóa chất nhiều lần

Ngoài ra, có thể áp dụng các biện pháp khác như cải tiến phương pháp canh tác, tháo nước và bơm nước đảm bảo nước luôn lưu thông Có thể nuôi tôm hoặc cá trên ruộng lúa như là biện pháp phòng trừ muỗi sinh học Trại chăn nuôi

và khu vực nhà ở nên cách xa các cánh đồng Tránh muỗi đốt cho lợn bằng cách

sử dụng lưới chắn muỗi vào ban đêm hoặc có thể sử dụng các thuốc đuổi muỗi, thuốc phun xịt muỗi

Phòng muỗi đốt cho người bằng cách dùng lưới chắn muỗi, ngủ mùng, mặc quần áo tay dài, sử dụng các thuốc thoa đuổi muỗi Thuốc thường sử dụng là dung dịch DEET 10-30% (N, N-diethyl-metatoluamide), phun lên quần áo hoặc

bôi lên da

Tiêm phòng vaccine cho lợn

Tiêm phòng vacxin cho đàn lợn giống là biện pháp có thể thực hiện trong các biện pháp phòng chống bệnh Ngoài ra việc tiêm phòng vacxin trên lợn có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh trên người

Ngày đăng: 24/08/2021, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w