Từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, làn sóng di c từ trung quốc đại lục sang hồng kông tạo nên một sức ép dân số rất lớn, cùng với nó là cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950- 1953 và chính s
Trang 1Phần a: mở đầu
1 lý do chọn đề tài.
Đúng oh ngày 1-7-1997 lễ trao trả Hồng Kông về với Trung Quốc Đại Lục đã đợc cử hành trọng thể Sự kiện Hồng Kông hồi quy với t cách là một Khu hành chính đặc biệt (SAR) của nớc CHND Trung Hoa, đợc đánh giá là một trong mời sự kiện nổi bật nhất trong năm 1997 Sự kiện này đã kết thúc gần 100 năm thống trị và bảo hộ của Vơng quốc Anh (1898 - 1997) đồng thời đánh dấu một bớc ngoặt đối với sự phát triển của Hồng Kông nói riêng
và của nớc CHND Trung Hoa nói chung
Là một chuỗi đảo nhỏ nằm ở phía Đông Nam bờ biển Trung Quốc, đất không rộng, tài nguyên khan hiếm, nhng chỉ trong bốn thập kỷ phát triển (1847 - 1987), Hồng Kông đã trở thành một trong bốn con rồng của châu á,
là nơi xuất khẩu hàng công nghiệp lớn thứ 13 của thế giới và là một trong ba trung tâm tài chính, thơng mại lớn nhất thế giới (New york, Tokyo và Hồng Kông) Những thành tựu đáng khâm phục đó đã khiến Hồng Kông trở thành một thành phố công nghiệp hiện đại, có cơ sở hạ tầng, hệ thống giáo dục, phúc lợi xã hội hết sức hoàn hảo
Với tốc độ phát triển kinh tế đến chóng mặt, Hồng Kông đã trở thành một "hiện tợng lạ" Một nhà nghiên cứu đã nói rằng: "nếu nh gọi sự tăng tr-ởng của các nớc, lãnh thổ NICs Đông á là những "điều thần kì" thì Hồng Kông chính là "sự thần kì của những điều thần kì" Sự phồn vinh của Hồng Kông không những đợc d luận đánh giá cao, mà còn đợc các nhà nghiên cứu trong khu vực và trên thế giới rất quan tâm Những vấn đề nh: bằng cách nào
mà Hồng Kông lại đạt dợc những thành tựu cao nh vậy? Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hồng Kông ra sao? Hồng Kông đã thi hành những biện pháp, chính sách nào trong quá trình phát triển? đã trở thành những đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học
"Kì tích kinh tế" mà Hồng Kông đã đạt đợc trong thời gian qua, chính là những bài học kinh nghiệm quý giá cho nhiều nớc tham khảo và học hỏi, trong đó có cả Việt Nam - một quốc gia có nhiều điểm tơng đồng về bối cảnh
địa lí, lịch sử và truyền thống văn hoá Thiết nghĩ rằng việc tìm hiểu về con
Trang 2đờng phát triển và tình hình Hồng Kông sau ngày trở về với đất mẹ Trung Quốc là cần thiết, nhất là trong khi ở nớc ta cha có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Là một sinh viên khoa Lịch Sử, tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Tình hình
Hồng Kông từ năm 1997 đến nay" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Đại học
với hi vọng sẽ góp phần tạo nên một bức tranh chân thực về tình hình của Hồng Kông kể từ sau ngày 1-7-1997 cho đến nay Tuy nhiên vì điều kiện và khả năng còn hạn chế, nên khoá luận này sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự miễn thứ và đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ trớc tới nay, đã có nhiều các học giả tiến hành nghiên cứu về Hồng Kông, mà chủ yếu là nghiên cứu về sự "thần kì", trên con đờng phát triển của
Hồng Kông, nh bài "Hồng Kông trớc ngày Trung Quốc khôi phục chủ
quyền" của PGS Nguyễn Huy Quý, đợc đăng trên tạp chí "Nghiên cứu TrungQuốc" số 5 (9), 6 (10) năm 1996 và số 1(11) năm 1997
Sau ngày 1-7-1997, các nhà nghiên cứu lại rất quan tâm đến Hồng Kông với t cách là một Khu hành chính đặc biệt của nớc CHND Trung Hoa Nh tác
giả Vũ Thuỳ Dơng với cuốn "Hồng Kông trên đờng phát triển", Trung tâm
nghiên cứu Trung Quốc, Hà Nội 12 - 1998, tác giả Hải Linh với bài viết:
"Hồng Kông trớc bớc ngoặt lịch sử" Tuần báo quốc tế - số 27 tháng 7-1997
Mới đây trên Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc - số 4 (50) năm 2003đã đăng
tải bài viết: "Hiện trạng và triển vọng hợp tác tài chính - tiền tệ giữa Hồng
Kông và Đại Lục" của hai tác giả Tiền ích Binh và Vơng Việt do Bích Ngọc
dịch, hay tác giả Dơng Văn Lợi với bài viết: "chính sách "một nớc hai chế
độ", thành tựu lớn của Trung Quốc trong 25 năm cải cách - mở cửa" trên
Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 1 (54) năm 2004
Ngoài ra tôi còn đợc tiếp cận với các nguồn t liệu là những luận văn tốt
nghiệp, luận án thạc sĩ, nh luận án "Hồng Kông trên đờng phát triển và trở
về trung Quốc" của Thạc sĩ Nguyễn Kim Nga - Trờng ĐHKHXH và Nhân
Trang 3văn - Hà Nội năm 1999, cùng với nhiều nguồn t liệu thu thập đợc trên nhiều kênh thông tin khác nhau.
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu của khoá luận này, là nghiên cứu một cách khái quát về tình hình của Hồng Kông từ sau ngày trở về với Trung Quốc cho đến nay
4 Phơng pháp nghiên cứu
Với những nguồn tài liệu có đợc, dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, tác giả khoá luận này cố gắng trình bày một cách khái quát nhất về tình hình Hồng Kông sau khi trở về với Trung Quốc Đứng trên lập trờng quan điểm Mác xít - Lê nin nít, kết hợp phơng pháp sử học và phơng pháp lô gíc với các phơng pháp tổng hợp, phân tích, so sánh… nhằm tạo dựng nên một bức tranh nhằm tạo dựng nên một bức tranhchân thật, toàn diện về Hồng Kông sau ngày trở về với Trung Quốc
5 Bố cục của để tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luận đợc trình bày trong ba chơng:
Trang 4Phần b: nội dung
Chơng 1:
những nhân tố tác động đến sự phát triển
của hồng kông từ 1997 đến nay
1.1 vài nét về điều kiện địa lý và lịch sử
Hồng Kông là tên gọi chung cho một khu vực bao gồm bán đảo Tân Giới, Cửu Long, đảo Hồng Kông và rải rác hơn 235 hòn đảo lớn nhỏ với tổngdiện tích là 1076 km², dân số là 6,3 triệu ngời (1996) hồng Kông nằm ở vị trí có thể xem là rất thuận lợi, phía đông cách áo Môn bởi cửa khẩu sông Chu Giang, phía tây là hai bờ eo biển Đài Loan, phía Bắc giáp với Trung Quốc Đại Lục, là đầu mối giao thông quan trọng giữa thái bình dơng và ấn
độ dơng
Phần đất lớn nhất của khu vực Hồng Kông là bán đảo tân giới Nếu kể cả hơn 200 đảo nhỏ xung quanh thì tổng diện tích của bán đảo tân giới là 984,53km², chiếm 62% dân số, 92% tổng diện tích của toàn bộ khu vực hồng kông Gần nh hầu hết các công xởng, thị trấn, thành phố mới đều đợc xây dựng tại đây tân giới là đầu mối giao thông quan trọng nối liền trung quốc lục địa với hồng kông
Bán đảo cửu long nằm ở phía nam bán đảo tân giới với diện tích là 11,7 km² ngày nay bán đảo cửu long đã trở thành trung tâm hoạt động th-
ơng nghiệp và cũng là một trong những tuyến đờng giao thông trọng yếu của khu vực hồng kông
Trang 5Phía dới bán đảo cửu long là đảo hồng kông Đảo hồng kông với tổngdiện tích là 79,77km², đây là nơi hoạt động công - thơng nghiệp diễn ra sôi
động nhất, là trung tâm chính trị của toàn bộ khu vực hồng kông Ven biển phía bắc của đảo hồng kông là cảng victoria nổi tiếng: "Cảng này có thể cùng một lúc đón hơn 150 tàu thuyền cập bến đây là một trong ba cảng nớc sâu lớn nhất thế giới" [5-2]
Khác với các nớc và khu vực khác trên thế giới, hồng kông không đợc thiên nhiên u đãi Phần lớn diện tích đất đai của hồng kông là núi đồi, đồng bằng rất ít và thờng là nớc chua mặn, tầng đất canh tác rất mỏng vì thế chỉ cómột số nơi ở tân giới là canh tác đợc, điều này giải thích vì sao "hàng năm hồng Kông phải nhập trên 80% thực phẩm cho tiêu dùng nội địa" [5-2] mặc
dù diện tích đồi núi nhiều, song lại rất ít khoáng sản, chỉ có một ít quặng sắt, quặng chì, quặng thiếc nhng phần lớn đã bị ngời nhật khai thác trong Chiến tranh thế giới thứ hai
khí hậu hồng kông thuộc khu vực gió mùa á nhiệt đới, mùa hè không nóng lắm, nhiệt độ thờng từ 27 C - 29°C - 29 °C - 29C, mùa đông không lạnh lắm nhiệt độthờng từ 15 C - 19°C - 29 °C khí hậu ôn hoà đã tạo điều kiện cho hồng kông trở thành nơi nghỉ mát lý tởng đối với với du khách quốc tế vì thế mà ngành du lịch, dịch vụ hồng kông phát triển rất mạnh tuy nhiên ở hồng kông vẫn thờng hay có bão vào khoảng từ tháng 7 đến tháng 9, sơng mù dầy đặc vào mùa xuân Do đó đã hạn chế các hoạt động kinh tế, đặc biệt là giao thông đ-ờng thuỷ và hàng không mùa ma thờng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, tuy nhiên lợng ma nhỏ, trung bình hàng năm khoảng 2246 mm, bởi vậy nớc sinh hoạt vẫn thờng phải vận chuyển từ trung quốc lục địa sang
tuy điều kiện tự nhiên của hồng kông không mấy thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, nhng bù lại hồng kông lại có một vị trí rất u việt mà không phải nơi nào cũng có đợc Vị trí u việt của hồng kông ở đây chính là chỗ nó nằm ở vị trí 22° vĩ Bắc, giữa 113°- 114° kinh Đông, ở chính giữa hai châu lụclớn là châu Âu và châu Mỹ, đồng thời cũng là chính giữa hai thị trờng tiền tệ sôi động nhất thế giới "chính sự chênh lệch về múi giờ đó mà hồng kông
đã lấp đợc khoảng trống về thời gian đóng cửa và mở cửa của hai thị trờng tiền tệ châu Âu và châu Mỹ, đảm bảo cho việc giao dịch tiền tệ quốc tế đến
Trang 624h trong ngày đợc liên tục, không bị gián đoạn" [12-33] khi thị trờng châu
âu đóng cửa thì thị trờng hồng kông mở cửa, thị trờng hồng kông đóng cửa thì thị trờng châu mỹ mở cửa và khi thị trờng châu mỹ đóng cửa thì thị trờng châu âu mở cửa
từ những năm 50 của thế kỷ XX, kinh tế TBCN thế giới bớc vào thời kì phát triển trong 20 năm, đây chính là cơ hội quốc tế thuận lợi để kinh tế hồng kông phát triển Thời gian này, tình hình quốc tế tơng đối ổn định, mốiquan hệ và mậu dịch giữa các nớc trên thế giới phát triển cha từng thấy, khoahọc kỹ thuật xuất hiện những đột phá mới và đợc vận dụng rộng rãi trong thực tiễn sự lớn mạnh của lu thông tiền tệ t bản quốc tế đã thúc đẩy mậu dịch và đầu t quốc tế phát triển trong bối cảnh đó, hồng kông trở thành một môi trờng đầu t thuận lợi đối với t bản lũng đoạn quốc tế, nhờ đó mà các mối quan hệ kinh tế, mậu dịch, tiền tệ giữa hồng kông và các nớc TBCN ngày càng phát triển, trên cơ sở đó, nền kinh tế hồng kông có điều kiện để cất cánh
trong giai đoạn này, các nớc công nghiệp phơng tây dần coi nhẹ công nghiệp truyền thống vốn tập trung nhiều lao động nh ngành dệt, may mà chú trọng đến các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn và kỹ thuật Từ đó đã xuất hiện "lỗ hổng" trong cơ cấu kinh tế thế giới Đây là môi trờng quốc tế thuận lợi cho hồng kông tập trung phát triển các ngành công nghiệp truyền thống nói trên và mở rộng thị trờng xuất khẩu chính quyền hồng kông đã biết tậndụng môi trờng quốc tế thuận lợi đó mà đề ra đờng lối phát triển kinh tế dựa vào công nghiệp hoá, hớng vào xuất khẩu hàng hoá, nguyên liệu và bán thành phẩm nhập từ bên ngoài vào và gia công ở hồng kông do đó đã phát huy đợc mậu dịch, ngoại thơng và tiền tệ để phát triển các ngành dịch vụ truyền thống
1.2 thực trạng hồng kông trớc khi trở về trung quốc 1.2.1 thực trạng về kinh tế.
nếu tính từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai trở đi, tức là giai đoạn bắt
đầu phục hồi và phát triển kinh tế, chỉ trong vòng 50 năm (1947-1997) GNP bình quân đầu ngời của hồng kông đã tăng gấp hơn 10 lần Để làm đợc điềutơng tự, nớc Anh phải mất 200 năm (1750 - 1950), nớc mỹ cũng phải mất
120 năm (1840 - 1960) cũng chỉ tăng gấp 8 lần GNP bình quân đầu ngời của
Trang 7hồng kông năm 1990 là 12560 USD/ ngời, năm 1994 là 21760 USD/ ngời, vợt qua các cờng quốc kinh tế nh Anh, Canađa, Italia, Australia
Học thuyết "mặc cho họ làm" (laissez- faire) đã biến hồng kông từ hòn
đảo hoang vắng, điêu tàn trở thành một trung tâm kinh tế, tài chính, mậu dịch, du lịch quan trọng nhất thế giới trong 50 năm khôi phục và phát triển nền kinh tế đó, có thể chia thành bốn giai đoạn nh sau:
1.2.1.1 Giai đoạn khôi phục kinh tế sau Chiến tranh thế giới lần thứ
Sở dĩ nền kinh tế hồng kông có đợc sự phục hồi nhanh chóng nh thế, một phần quan trọng là nhờ vào sự gia tăng mạnh mẽ của mậu dịch đối ngoạigiữa trung quốc đại lục và hồng kông Năm 1949 nớc CHDCND Trung Hoa đã rất coi trọng đến kinh tế đối ngoại, chính phủ trung quốc coi hồng kông là cửa ngõ giao lu với thế giới bên ngoài, nhờ vậy, kim ngạch buôn bángiữa hồng kông và trung quốc đã tăng rất nhanh, năm 1949 là 66% năm
1952 tăng lên 74% so với trớc chiến tranh
1.2.1.2 Giai đoạn tiến hành công nghiệp hoá (1952 - 1970).
Từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, làn sóng di c từ trung quốc đại lục sang hồng kông tạo nên một sức ép dân số rất lớn, cùng với nó là cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950- 1953) và chính sách cấm vận của LHQ đối với Trung Quốc đã làm cho nền kinh tế mậu dịch của Hồng Kông suy giảm nghiêm trọng, vai trò trung gian của Hồng Kông không còn nh trớc, tình hình
đó đã buộc Hồng Kông phải đổi cơ cấu kinh tế
Cũng vào thời điểm này, các nớc TBCN bắt đầu phát triển nền kinh tế đòihỏi kỹ thuật cao, từ bỏ nền công nghiệp truyền thống nh dệt, may… nhằm tạo dựng nên một bức tranh
Nh một sự tình cờ của lịch sử, Hồng Kông lại là nơi có nguồn nhân công rất trẻ với giá rẻ, bên cạnh đó trong lực lợng ngời di c từ Trung Quốc Đại Lụcsang có cả những chủ xởng ở thợng hải, quảng châu Họ mang theo máy móc, thiết bị, trí tuệ, tài năng và kinh nghiệm kinh doanh tới hồng kông trở
Trang 8thành nơi lý tởng để "lấp chỗ trống về công nghiệp truyền thống do các nớc
t bản phát triển để lại Ngành dệt ở hồng kông hình thành và phát triển nh diều gặp gió, năm 1948 cả hồng kông chỉ có 8000 khung cửi thì đến 1951
đã có tới 210.000 khung cửi" [5-39]
Sự phát triển của ngành dệt tạo ra một nguồn nhân lực phong phú, là tiền
đề thúc đẩy ngành may mặc phát triển Quần áo may sẵn trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Hồng Kông sang thị trờng Âu - Mỹ Hồng Kông trở thành một trong những trung tâm thế giới về quần áo may sẵn và là nơi xuất khẩu lớn nhất thế giới về quần áo nói chung
Theo thống kê đến cuối những năm 50 của thế kỷ XX, sản phẩm công nghiệp chế tạo đã chiếm 70% tổng giá trị xuất khẩu của Hồng Kông "năm
1960 kim ngạch ngoại thơng của Hồng Kông đạt 9 tỉ HKD trong đó giá trị xuất khẩu chiếm 72%"[5-39] Hồng Kông trở thành một thành phố công nghiệp phát triển
1.2.1.3 Giai đoạn đa nguyên hoá về kinh tế (1971 - 1984).
Cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 đã làm cho thị trờng xuất khẩu của Hồng Kông gặp nhiều trở ngại, năm 1974, kim ngạch xuất khẩu của Hồng Kông giảm 7% so với trớc, công nghiệp đình đốn thị trờng chứng khoán chao
đảo, cổ phiếu sụt giá đến chóng mặt Trong khi đó nền kinh tế các nớc phát triển có dấu hiệu suy thoái, buộc các nớc này phải tăng cờng các biện pháp bảo vệ mậu dịch, do đó hàng hoá xuất khẩu của Hồng Kông gặp nhiều khó khăn Mặt khác các nớc Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Thái Lan bắt đầu phát triển công nghiệp nhẹ và hớng vào xuất khẩu, Hồng Kông đứng vào tìnhtrạng "tiến thoái lỡng nan"
Trớc tình hình đó, sự lựa chọn duy nhất để tiếp tục phát triển của Hồng Kông là phải chuyển nền kinh tế theo hớng đa nguyên hoá và quốc tế hoá
Đa nguyên hoá kinh tế bao gồm đa nguyên hoá công nghiệp và cơ cấu kinh
tế Đa nguyên hoá trong công nghiệp đã tạo ra các sản phẩm có lãi cao để đốiphó với chính sách bảo hộ thị trờng của các nớc Âu- Mỹ Đa nguyên hoá về thị trờng để tăng cờng sức cạnh tranh; đa nguyên hoá về kinh tế đã tạo ra cácngành trụ cột cho nền kinh tế Hồng Kông đó là việc từ bỏ vai trò trụ cột của ngành công nghiệp dệt - may mà tập trung vào các ngành công nghiệp có hàm lợng kỹ thuật cao nh điện tử, chất dẻo, hoá chất, đồ gia dụng, cơ khí
Trang 9và xuất khẩu ra khắp thế giới, áp dụng khoa học - kỹ thuật vào các ngành công nghiệp truyền thống.
Sau khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, ngành mậu dịch chuyển khẩu của Hồng Kông phát triển rất nhanh Cùng với nó là việc chú trọng pháttriển hàng hải và ngân hàng, chính quyền Hồng Kông đã cho thành lập một mạng lới ngân hàng và rất nhiều chi nhánh ở nớc ngoài, thậm chí ngân hàng nớc ngoài cũng đợc cấp giấy phép thành lập ở Hồng Kông Hệ thống ngân hàng đã giúp cho quá trình thanh toán quốc tế đợc thuận lợi, góp phần thúc
đẩy hoạt động thơng mại quốc tế và các giao dịch ngoại hồi ở Hồng Kông Ngợc lại chính sự gia tăng của các hoạt động thơng mại đã tạo điều kiện cho ngân hàng có thể phát triển mở rộng và hiện đại hoá các hoạt động dịch vụ nhờ vào lệ phí thu đợc từ các hoạt động thơng mại Hệ thống tài chính thực
sự phát triển đã phần nào bù đắp những thiếu hụt thơng mại do xu hớng bảo
vệ mậu dịch đang phát triển, nhờ vậy mà mậu dịch đối ngoại vẫn không ngừng tăng lên Bên cạnh đó hoạt động dịch vụ du lịch cũng đợc chú trọng phát triển, năm 1980 Hồng Kông đón 2,4 triệu khách tham quan, đến năm
1995 con số đó là 9,8 triệu ngời, Hồng Kông đã thành công trong việc thiết lập một nền kinh tế theo hớng đa nguyên hoá
1.2.1.4 Từ "đa nguyên hoá" kinh tế sang "thay đổi cơ cấu" kinh tế
(1984 - 1997).
Giai đoạn này, kinh tế Hồng Kông gặp khá nhiều thăng trầm: đầu thập kỷ
80 kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái Những đối thủ thơng mại của Hồng Kông liên tiếp thắt chặt các biện pháp thơng mại để bảo vệ thị trờng Hồng Kông lại gặp khó khăn lớn về xuất khẩu, nhất là các mặt hàng của ngành công nghiệp chế tạo
Song rất may mắn, năm 1984 hai nớc Trung- Anh đã tiến hành đàm phán
và ký kết tuyên bố chung về vấn đề trao trả Hồng Kông Ngời Hồng Kông vàcác thơng gia nớc ngoài đã nhìn thấy hớng phát triển của Hồng Kông trong t-
ơng lai, vì thế đã tiến hành đầu t kinh doanh mạnh hơn, nền kinh tế Hồng Kông lại đợc phục hồi và phát triển
Tuy nhiên, giai đoạn phát triển của kinh tế Hồng Kông kéo dài không lâuNăm 1989 nền kinh tế Hồng Kông lại rơi vào tình trạng chao đảo do đồng đô
la Hồng Kông tăng mạnh so với đồng đô la Mỹ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá Hồng Kông trên thị trờng Bên cạnh đó hàng loạt các
Trang 10trung tâm xuất khẩu khu vực nổi lên nh Singapo, Thợng Hải, Kualalămpơ Hồng Kông buộc phải tìm cho mình một lối thoát, mở ra hớng đi mới cho nền kinh tế thông qua các hoạt động thơng mại và đầu t ra bên ngoài mà chủ yếu là Trung Quốc lục địa, sau đó là Inđônêxia, Đài Loan, Singapo, Thái Lan, Việt Nam Phía Hồng Kông cung cấp máy móc, thiết bị, vốn, công nghệ kỹ thuật còn phía các đối tác cung cấp nhà xởng và lao động Với cách làm này Hồng Kông đã khai thác triệt để giá nhân công rẻ và các chi phí khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho ngành dịch vụ phát triển.
Từ một nơi mà hoạt động kinh tế chủ yếu thông qua hoạt động mậu dịch, chuyển khẩu, các ngành công nghiệp nhẹ giờ đây Hồng Kông đã hớng đầu
t ra bên ngoài tận dụng những u thế về nguyên vật liệu, lực lợng lao động, thuế quan Sự chuyển dịch này đã làm cho kinh tế Hồng Kông thoát khỏi tình trạng trì trệ kéo dài, tính cạnh tranh đợc nâng cao Đồng thời việc
chuyển đổi từ cơ cấu kinh tế tổng thể từ công nghiệp chế tạo sang dịch vụ đã làm cho nền kinh tế Hồng Kông phát triển rất mạnh mẽ
Nh vậy, nhìn vào chặng đờng phát triển kinh tế Hồng Kông 50 năm qua,
ta thực sự cảm thấy đáng khâm phục vì những gì mà Hồng Kông đã đạt đợc Hồng Kông ngày nay đã có một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế thế giới Trong suốt 48 năm (1947- 1994) GDP Hồng Kông tăng từ 1.535 tỉ HKDlên 1019.228 tỉ HKD tức là 664 lần Trong 30 năm (1966 - 1996) mức tăng trởng kinh tế của Hồng Kông bình quân hàng năm là 7,5%, thu nhập bình quân tính theo đầu ngời tăng từ 668 USD lên 23.019 USD tăng 34 lần
Hồng Kông là một trung tâm thơng mại lớn của khu vực và thế giới Tổng kim ngạch mậu dịch năm 1989 tăng 410 lần so với năm 1947, năm
1994 tổng khối lợng xuất khẩu của Hồng Kông đạt 314 tỉ USD đứng thứ 7 thế giới Năm 1995, với tổng kim ngạch là 362 tỉ USD và năm 1996 là 380 tỉ USD Hiện Hồng Kông có khối lợng mậu dịch đứng thứ 5 thế giới sau EU,
Mỹ, Nhật, Canađa
Hồng Kông còn là một trung tâm tài chính quốc tế quan trọng Nhờ có chính sách tài chính cởi mở với bên ngoài hệ thống pháp luật hoàn thiện, thông tin phát triển, môi trờng kinh doanh thuận lợi nên Hồng Kông đã mau chóng nổi tiếng là một trung tâm tài chính quan trọng trên thế giới Nếu
nh cuối năm 1994, Hồng Kông mới có 573 ngân hàng và tổ chức tài chính
đặt văn phòng, thì đến năm 1996 đã có tới 8.456 công ty nớc ngoài đặt trụ sở,
Trang 11văn phòng đại diện ở Hồng Kông, hơn 800 công ty đa quốc gia mở văn phòng đại diện chính thức hoặc văn phòng khu vực tại đây Vì vậy Hồng Kông đã trở thành một trong năm trung tâm tài chính thế giới (New York, London, Pari, Tokyo, và Hồng Kông), trở thành một trong bốn con rồng của châu á với một nền kinh tế đợc đánh giá là năng động nhất thế giới.
1.2.2 thực trạng về chính trị.
Thuyết "để mặc họ làm" (Laissez-faire) mà chính quyền Anh đã áp dụng
đối với nền kinh tế Hồng Kông đã biến Hồng Kông trở thành một nơi có nền kinh tế tự do nhất thế giới Tuy nhiên đối với chính trị thì chính phủ Anh không thể làm nh thế mà thực hiện chính sách "thuộc địa tự trị" (crown colonies) đối với Hồng Kông Với chế độ này, ngời đứng đầu Hồng Kông là một quan toàn quyền (hay tổng đốc), là ngời thay mặt Nữ hoàng Anh nắm toàn bộ quyền cai trị Hồng Kông, có quyền lực rất lớn chỉ "đứng sau thợng
đế" Dới dinh toàn quyền có năm cơ quan:
1 Cơ quan t vấn: gồm có cục hành chính và cục lập pháp Quan toàn quyền là chủ tịch cục hành chính, đồng thời là chủ tịch cục lập pháp
2 Cơ quan hành chính: gồm ti bố chánh và bộ máy hành chính trực thuộc (hơn 10 vạn viên chức)
3 Cơ quan t pháp: gồm ti án sát và toà án các cấp
4 Cơ quan giám sát: gồm sở liêm chính
5 Cơ quan quân sự: chủ yếu gồm bộ t lệnh quân đội Anh đóng tại Hồng Kông
Trong các cơ quan trên thì cơ quan t pháp có tính độc lập tơng đối (chịu trách nhiệm trớc pháp luật, toàn quyền không đợc can thiệp); cơ quan quân
sự đặt dới sự chỉ huy của Bộ Quốc Phòng Anh Còn các cơ quan t vấn, hành chính và giám sát đều đặt dới quyền cai quản trực tiếp của quan toàn quyền
Do địa bàn hẹp và do muốn quyền lực tập trung ở cấp cao, nên ở Hồng Kông không thiết lập các cấp chính quyền địa phơng Chỉ có "cục thị chính", "cục thị chính khu vực" và "hội đồng khu" nhng cả ba tổ chức đó đều không phải
là các cấp chính quyền, "cục thị chính" là tổ chức dịch vụ văn hoá, y tế cho
c dân thành phố, "cục thị chính khu vực" là tổ chức dịch vụ văn hoá y tế cho
c dân ở khu Tân Giới, còn "hội đồng khu" là cơ quan có tính chất t vấn để c dân tham gia ý kiến vào công việc trong khu của mình Thành viên của ba tổ chức này đều không phải do dân bầu ra mà do cấp trên chỉ định
Trang 12Trung tâm quyền lực hành chính là: "Hội nghị giữa quan toàn quyền và cục hành chính" Cục hành chính thờng họp mỗi tuần một lần, do quan toàn quyền triệu tập, các thành viên do quan toàn quyền chỉ định Trong cuộc họp các "nghị viên" có thể tự do phát biểu ý kiến của mình, nhng không có biểu quyết, mà quyết định cuối cùng do quan toàn quyền đa ra, "nghị viên" nào không nhất trí với quyết định của quan toàn quyền thì chỉ có thể yêu cầu ghi
ý kiến của mình vào biên bản Biên bản cuộc họp sẽ đợc gửi về London.Quyền lập pháp ở Hồng Kông cũng nằm trong tay quan toàn quyền "Cụclập pháp" cũng chỉ là cơ quan t vấn về lập pháp của quan toàn quyền "cục lậppháp" tranh luận thông qua các đạo luật, nhng cuối cùng phải đợc quan toàn quyền phê chuẩn và ban bố Nữ Hoàng Anh có quyền bác bỏ các đạo luật đã dợc quan toàn quyền phê chuẩn " Cục lập pháp" còn có chức năng thảo luận,giám sát việc chi ngân sách, chất vấn các chính sách của chính quyền và các vấn đề công chúng quan tâm Trớc năm 1985 toàn bộ thành viên của "cục lậppháp" đều do chỉ định, từ sau năm 1985 mới bắt đầu có một số thành viên do dân cử Trong số 60 thành viên của "cục lập pháp" khoá 1991-1995 có 39 thành viên do dân cử, 3 thành viên đơng nhiệm và 18 thành viên do quan toànquyền chỉ định
Nếu đối chiếu với nguyên tắc "tam quyền phân lập" trong hệ thống nhà nớc TBCN, thì ta thấy quyền hành pháp và quyền lập pháp không "phân lập"
mà đều thống nhất tập trung trong tay quan toàn quyền Đó là do chính phủ Anh muốn thông qua một chính quyền độc tài do quan toàn quyền đứng đầu
để nắm chắc và giữ vững sự ổn định của Hồng Kông và những mục tiêu ngoại giao, thơng mại và quân sự
Nền chính trị của Hồng Kông còn có một hệ thống tổ chức t vấn chính trịrất rộng rãi Quan toàn quyền độc tài quyết định mọi vấn đề, nhng trớc khi đa
ra quyết định đều tranh thủ sự đóng góp ý kiến rộng rãi của các quan t vấn Một số học giả Hồng Kông cho rằng đặc điểm của nền chính trị Hồng Kông
là độc tài của toàn quyền cộng với dân chủ của cơ quan t vấn Về khách quan, chế độ chính trị đó đã bảo đảm sự ổn định chính trị và sự phát triển kinh tế của Hồng Kông trong hơn một nửa thế kỷ qua Trong thời kỳ quá độ trớc khi Trung Quốc tiến hành khôi phục chủ quyền, tình hình chính trị HồngKông xuất hiện những vấn đề mới Toàn quyền cuối cùng của Hồng Kông là Christopher Patten đã "cải cách dân chủ" để thay đổi một số thể chế chính trị
Trang 13ở Hồng Kông trớc ngày Trung Quốc khôi phục chủ quyền nhng đã thất bại trớc sự phản đối của chính phủ Trung Quốc.
Ngày 19-12-1984 tại Bắc Kinh (Trung Quốc) Thủ tớng Trung Quốc Triệu
Tử Dơng và Thủ tớng Anh M Thatcher đã chính thức ký "tuyên bố chung Trung - Anh" Đây là kết quả trong suốt cả hai bên Trung - Anh tích cực xúc tiến các cuộc tiếp xúc, trao đổi hết sức căng thẳng và phức tạp Tuyên bố chung Trung - Anh cùng với "Luật cơ bản khu hành chính đặc biệt Hồng Kông" đã cam kết rằng sẽ để Hồng Kông để hởng quyền tự trị cao độ, duy trìchế độ chính trị, pháp luật hiện hành và vốn sống vốn có trong"50 năm
không thay đổi" Việc thực hiện chủ quyền của chính phủ Trung Quốc đối với Hồng kông chủ yếu là vấn đề quốc phòng và ngoại giao
"50 năm không thay đổi" là một cách nói Sự vật luôn thay đổi, không có gì là bất biến, mà vấn đề là thay đổi nh thế nào" {19-52} Chính phủ Trung Hoa cam kết duy trì thể chế chính trị và lối sống của Hồng Kông "50 năm không thay đổi" có nghĩa là cam kết để Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông
đợc hởng một qui chế tự trị và lâu dài Chính phủ trung ơng không áp đặt thể chế và lối sống mới, để Hồng Kông tiếp tục ổn định và phồn vinh Điều đó không những phù hợp với nguyện vọng của riêng Hồng Kông mà còn rất quan trọng với lợi ích của cả Trung Quốc Nhng nh vậy không có nghĩa là nền chính trị và lối sống của Hồng Kông "sẽ đợc ớp lạnh trong 50 năm" {19-52} Xã hội Hồng Kông sẽ luôn thay đổi: "50 năm chỉ là cách nói về sự lâu dài chứ không phải là một định lợng thời gian cụ thể"
1.2.3 tình hình văn hoá xã hội.
Với chính sách tự do rộng rãi về kinh tế, văn hoá xã hội, Hồng Kông trở thành nơi hội tụ rất nhiều các yếu tố về văn hoá, xã hội của rất nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới Chính sách đó đã biến Hồng Kông trở thành một
"đô thị quốc tế lớn" về văn hoá, xã hội
1.2.3.1 tình hình xã hội.
ở Hồng Kông, c dân Trung Quốc đại lục (mà chủ yếu là ngời Quảng
Đông, Thợng Hải ) chiếm số đông với với 96% tổng số dân Hồng Kông, ngoài ra còn ngời Anh, Philippin, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Mỹ, Canađa, Pakittan, Bănglađét, Xrilanca, Thái Lan, Việt Nam Trong số ngời Hoa ở Hồng Kông thì một nửa đợc sinh ra và lớn lên ở Hồng Kông, số còn lại là
Trang 14sinh ra ở Đại Lục di c sang Phần lớn ngời Hoa có quốc tịch Anh, số còn lại mang cả hai quốc tịch.
Về phân bố dân c: Hồng Kông đợc coi là nơi có mật độ dân c cao vào loại hàng đầu thế giới, năm 1991 mật độ dân c trên 1km² là 5.385 ngời Sở dĩHồng Kông có mật độ dân số cao nh vậy là do ngời ở các nơi khác di c tới rất
đông Mật độ dân c phân bố đông nhất là ở bán đảo Tân Giới (41,9%) và CửuLong (35,8%) còn lại là ở Hồng Kông (22%) và các đảo nhỏ khác
Về tháp tuổi dân c ở Hồng Kông, ngày càng có hiện tợng trẻ hoá dân số Năm 1941, dân số Hồng Kông mới chỉ có 1.639.337 ngời, tỉ lệ tăng trởng bình quân mỗi năm là 6,65%; đến năm 1991 dân số Hồng Kông đã tăng lên 5.647.114 ngời, song tỉ lệ tăng trởng lại giảm xuống 0,6% Vì vậy tỉ lệ độ tuổi từ 0 đến 14 tuổi có chiều hớng giảm dần Trong khi đó tỉ lệ số ngời ở độ tuổi lao động từ 15 - 64 tuổi lại ngày càng tăng: "năm 1961 là 56,4%; năm
1981 chiếm 68,6%; năm 1991 là 70,4%"{5 - 49} Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tợng trẻ hoá dân số ở Hồng Kông là do một lực lợng lớn thanh niên ở
độ tuổi lao động từ các nơi khác đến Hồng Kông tìm việc làm đặc biệt là từ Trung Quốc Đại Lục; nguyên nhân thứ hai là do tỉ lệ sinh từ cuối thập niên
50 đầu thập niên 60 tơng đối cao, song cuối thập niên 60 tỉ lệ lại giảm dần Hồng Kông từ trớc tới nay đã trở thành miền đất hứa cho lực lợng lao động từcác nơi khác đến tìm việc làm và hiện tợng trẻ hoá dân số Tuy là gánh nặng
về việc làm song lại là lợi thế to lớn cho Hồng Kông trên con đờng phát triển kinh tế
Về tín ngỡng và tôn giáo: Hồng Kông vốn dĩ là một "đô thị quốc tế", chính vì thế đây là nơi dung hợp rất nhiều tôn giáo và tín ngỡng trên thế giới,hiện nay Hồng Kông có khoảng hơn 10 loại tôn giáo khác nhau nh phật giáo,thiên chúa giáo, cơ đốc giáo, hồi giáo, ấn độ giáo, đạo do thái, đạo chính thống Nga Với số lợng tín đồ lên tới hàng triệu ngời, trong đó phật giáo có hơn 600 tín đồ, đạo giáo 10.000 tín đồ, thiên chúa giáo và cơ đốc giáo mặc dù du nhập muộn hơn nhng đã có số lợng rất đông đảo: thiên chúagiáo có 260.000 tín đồ, cơ đốc giáo là 240.000 tín đồ Hồi giáo có số lợng tín đồ là 50.000 và rất nhiều các tôn giáo khác nhng có số lợng rất hạn chế
Điều đặc biệt là, tất cả các tôn giáo kể trên đều không có quê hơng ở Hồng Kông, mà là sự du nhập qua quá trình mở cửa tự do và giao lu kinh tế Các tín đồ đến Hồng Kông với chỉ một mục đích là kinh doanh, buôn bán chứ
Trang 15không có mục đích chính trị Từ chính sách mở cửa tự do, phóng khoáng về kinh tế của chính quyền Hồng Kông đã làm cho các tín đồ của các tôn giáo sống với nhau khá hữu hảo, không có mâu thuẫn tôn giáo Các tín đồ và Hồng Kông sống bính đẳng và tự do vì thế nó đã lôi cuốn rất nhiều các tín đồthuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi Điều đó chứng tỏ rằng tôn giáo ở Hồng Kông
có một sức sống rất mãnh liệt trong quảng đại quần chúng nhân dân
1.2.3.2 Đời sống văn hoá ở Hồng Kông.
Hồng Kông là mảnh đất hứa của sự hội tụ, giao thoa văn hoá thế giới Khó có mảnh đất nào trên thế giới lại có những đặc trng tiêu biểu của sự kết hợp hài hoà giữa văn hoá Đông - Tây Nhìn lại lịch sử ta thấy rằng Hồng Kông trớc đây vốn chịu ảnh hởng của văn hoá Quảng Đông và văn hoá TrungNguyên, những nền văn hoá đậm chất á đông, đến thời kì cận - hiện đại, cùng với quá trình xâm lợc của thực dân Anh thì văn hoá phơng Tây bắt đầu xâm nhập và thẩm thấu trong lòng xã hội Hồng Kông Chính vì thế mà khó
có thể khái quát đợc bản sắc văn hoá Hồng Kông bởi vì nó rất "phơng Tây"
và cũng rất "phơng Đông", rất hiện đại và cũng rất truyền thống
Có thể nói văn hoá Hồng Kông là nền văn hoá "mở cửa tự do", là nơi giao thoa giữa hai nền văn hoá Đông - Tây Nói cách khác, văn hoá Hồng Kông là nền văn hoá đa nguyên đợc hình thành từ sự hoà trộn với nền văn hoá khác Đặc trng đó càng đợc phát huy bởi một chính sách không can thiệpkhá cởi mở và tự do của chính quyền Hồng Kông ở Hồng Kông, ngời dân
có quyền tự do về ngôn luận, văn hoá, sáng tác, tín ngỡng văn hoá bên ngoài cũng đợc tự do du nhập vào Hồng Kông Một mảnh đất Hồng Kông nhỏ bé mà có tới 70 tờ báo hàng ngày với hơn 600 loại tạp chí, 200 NXB, nhiều đài phát thanh và truyền hình của chính quyền và t nhân Ngoài ra còn
có tới hơn 100 quốc gia trên thế giới đặt cơ quan thông tấn
Mặc dù có một vài sự quản lý nhất định từ chính quyền nhng tự do báo chí và các phơng tiện thông tin khác ở Hồng Kông đợc đánh giá là cao nhất thế giới Hàng ngày ngời ta có thể nhận đợc từ Hồng Kông mọi nguồn tin và mọi sự bình luận về các sự kiện trong nớc và quốc tế Hồng Kông thực sự trở thành một trong những nền văn hoá mở cửa tự do nhất thế giới hiện nay
1.3 chính sách của nớc chnd trung hoa đối với hồng
kông
Trang 161.3.1 Lập trờng cơ bản của chính phủ CHND Trung Hoa
ớc Bắc Kinh"vào ngày 24-10-1860 Điều ớc này lúc đầu gọi là "Nghị định
th-" bổ sung cho Hiệp ớc Nam Kinh.Theo điều ớc này nhà Thanh phải nhờng vĩnh viễn cho Vơng Quốc Anh phần phía Nam bán đảo Cửu Long
Nh vậy từ năm 1840 đến năm 1898 đế quốc Anh lợi dụng sự đớn hèn củaTriều đình nhà Thanh đã chiếm đợc toàn bộ Hồng Kông gồm bán đảo Hơng Cảng, bán đảo Cửu Long và vùng Tân Giới Về danh nghĩa thì bán đảo Cửu Long và hòn đảo Hơng Cảng thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của Vơng quốc Anh Song sau năm 1949 cách mạng Trung Quốc thành công, nớc CHND Trung Hoa ra đời, đã lên tiếng phản đối không thừa nhận tính pháp lý của cáchiệp định mà triều đình nhà Thanh đã ký với nớc đế quốc Chính vì thế mà chính phủ Trung Hoa đã kiên quyết sẽ khôi phục lại chủ quyền của Hồng Kông vào một thời điểm thích hợp nhất Quan điểm này đã đợc sự hoan nghênh cuả d luận quốc tế và trong nớc Với quyết tâm đó, tháng 9 năm 1982hai nớc Trung - Anh đã chính thức ngồi vào đàm phán về vấn đề Hồng Kông
Về phía Anh, đơng nhiên không dễ dàng bỏ đi một mảnh đất giàu có, một nguồn lợi nhuận kếch xù mà Vơng quốc Anh đang nắm quyền thống trị
Trang 17Phía Anh cho rằng: Hồng Kông có tính chất nh là một đặc khu, nên chủ quyền và quyền quản trị có thể tách riêng Điều đó có nghĩa là phía Anh muốn sau khi trao trả chủ quyền, thì quyền quản trị Hồng Kông vẫn do ngời Anh nắm giữ Thủ tớng Anh lúc đó là bà M.Thatcher đã tuyên bố: "sự phồn vinh của Hồng Kông hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự quản trị của Anh quốc, nếu bây giờ thực hiện hoặc tuyên bố sự thay đổi lớn về quyền cai trị Hồng Kông thì chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng mất lòng tin và không thể đảm bảo sự phồn vinh của Hồng Kông" Bà Thatcher còn nói: "Nếu hai chính phủ Trung
- Anh có thể đi đến một thoả thuận về quyền quản trị tơng lai của Hồng Kông mà quốc hội Anh có thể chấp nhận và ngời dân Hồng Kông có thể tin cậy thì chính phủ Anh quốc có thể xem xét vấn đề chủ quyền" Thực chất phía Anh đang muốn đổi chủ quyền lấy quyền quản trị Hồng Kông
Về phía Trung Quốc, rõ ràng không thể chấp nhận đề nghị từ phía chính phủ Anh Trớc sau chính phủ Trung Quốc luôn giữ vững lập trờng của mình Trong bài nói chuyện tại buổi tiếp Thủ tớng Anh M.Thatcher vào tháng 9-
1982, thủ tớng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã khẳng định: "Lập trờng cơ bản của chúng tôi đối với vấn đề Hồng Kông rõ ràng, trong đó chủ yếu có ba vấn đề: Một là, vấn đề chủ quyền; Hai là, sau năm 1997, Trung Quốc dùng phơng thức gì để quản lý Hồng Kông; Ba là, chính phủ hai nớc Trung Quốc
và Anh phải thơng lợng ổn thoả làm sao để Hồng Kông trong 15 năm, từ nay
đến 1997 không có xáo động lớn" {25-19}
Về vấn đề chủ quyền, Đặng Tiểu Bình khẳng định: "Thẳng thắn mà nói chủ quyền không phải là vấn đề có thể thoả thuận đợc Hiện nay thời cơ đã chín muồi, cần phải khẳng định rõ : Năm 1997 Trung Quốc sẽ thu hồi Hồng Kông tức là Trung Quốc sẽ thu hồi không chỉ có Tân Giới mà cả đảo Hồng Kông, Cửu Long" {25-19}
Đặng Tiểu Bình đã khẳng định chắc chắn về lập trờng của phía Trung Quốc, rằng việc khôi phục chủ quyền của Hồng Kông là điều chắc chắn không thể bàn cãi, ông Đặng còn khẳng định việc khôi phục sẽ tiến hành vào năm 1997
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sẽ thu hồi Hồng Kông bằng phơng thức nào
và sau khi thu hồi sẽ áp dụng chính sách gì đối với Hồng Kông Phía Trung Quốc khẳng định: "Chỉ có hai phơng thức: Một là phơng thức hoà bình, hai làphơng thức không hoà bình áp dụng phơng thức hoà bình để giải quyết vấn
Trang 18đề Hồng Kông phải nghĩ tới tình hình thực tế của Hồng Kông, của Trung Quốc và của Anh quốc" {12-51} Đơng nhiên sau khi thu hồi không thể áp dụng một chính sách XHCN đối với Hồng Kông, mà phải có một chính sách
đều đợc cả ba bên chấp nhận (Trung Quốc, Anh, Hồng Kông) Chính sách đóchỉ có thể là: "một nớc hai chế độ" cho phép Hồng Kông tiếp tục thực hiện chế độ TBCN giữ nguyên vị trí cảng tự do và trung tâm tài chính quốc tế.Với chủ trơng và quyết tâm sắt đá của phía Trung Quốc Cuộc đàm phán Trung - Anh đợc bắt đầu từ ngày 23-9-1982 đến ngày 19-12-1984 trải qua hàng chục vòng đàm phán gay go và quyết liệt, cuối cùng cả hai bên đều thống nhất đi đến ký kết tuyên bố chung Trung - Anh Với những nội dung
cụ thể nh sau:
- Công việc ngoại giao, quốc phòng do chính phủ trung ơng quản lý, khu hành chính đặc biệt Hồng Kông đơc hởng quyền tự trị cao độ, gồm quyền quản lý hành chính, quyền lập pháp, quyền t pháp và quyền chung thẩm
- Luật pháp hiện hành về cơ bản không thay đổi
- Chính quyền khu hành chính đặc biệt Hồng Kông gồm những ngời bản
Trang 19tan đi bầu không khí ảm đạm bao trùm lên nền kinh tế Hồng Kông trong những năm 1980 Đồng thời mở ra một hớng mới cho sự phát triển toàn diện của Hồng Kông.
1.3.2 Thành công của chính sách "Một nớc hai chế độ".
"Một nớc hai chế độ" là phơng châm chiến lợc quan trọng của Đảng và chính phủ Trung Quốc để giải quyết vấn đề Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nớc Chính sách "một nớc hai chế
độ" là một quá trình lịch sử, đồng thời có nội dung phong phú và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Nó đợc đánh giá là một trong những thành tựu nổi bật trong
25 năm cải cách - mở cửa của Trung Quốc áp dụng chính sách "một nớc haichế độ" vào Hồng Kông Thủ tớng Đặng Tiểu Bình đã khẳng định: "Chính sách của chúng tôi là thực hiện" Một quốc gia hai chế độ" Cụ thể là: Trong một nớc CHND Trung Hoa đại lục với hơn 1 tỉ nhân khẩu theo chế độ
XHCN, còn Hồng Kông thực hiện chế độ TBCN"{25-68} Tức là sau năm
1997 khi Trung Quốc thu hồi Hồng Kông thì chế độ xã hội, kinh tế hiện hành của Hồng Kông không thay đổi, phơng thức sống không thay đổi, địa vịcảng tự do và địa vị trung tâm tài chính, mậu dịch quốc tế của Hồng Kông cũng không thay đổi
Rõ ràng chính sách "một nớc hai chế độ" (one country two systems) có nội dung cơ bản là dới tiền đề của một Trung Quốc, chủ thể quốc gia kiên trì chế độ XHCN Hồng Kông là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc, duy trì chế độ TBCN trong một thời gian dài Nớc CHND TrungHoa là chính phủ duy nhất đại diện cho toàn Trung Quốc "Hai chế độ" của chính sách "Một nớc hai chế độ có thể cùng tồn tại lâu dài và cùng phát triển
ở Trung Quốc do hiến pháp qui định thành lập khu hành chính đặc biệt" 66}
{10-Chính sách "một nớc hai chế độ" là một thành công lớn, một sáng kiến lịch sử Trên thực tế, dới sự chỉ đạo của chính sách "một nớc hai chế độ", chính phủ Trung Quốc đã lần lợt khôi phục chủ quyền cho Hồng Kông, Ma Cao Đáng nói là, với chính sách này không chỉ thực hiện đợc nguyện vọng thống nhất đất nớc của nhân dân Trung Quốc, mà quan trọng hơn nó vẫn duytrì đợc sự ổn định và phát triển về kinh tế, xã hội của Hồng Kông Ngay sau khi trở về với Trung Quốc Đại Lục (1-7-1997) Hồng Kông chịu ảnh hởng bởicuộc khủng hoảng tiền tệ châu á Song Hồng Kông vẫn duy trì đợc địa vị
Trang 20trung tâm tiền tệ quốc tế, trung tâm mậu dịch, vận tải, thông tin, du lịch Làmột trong những khu vực có sức cạnh tranh lớn nhất thế giới Chính sách
"Một nớc hai chế độ" là một nhân tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho sự ổn
định và phát triển của Hồng Kông sau năm 1997
1.3.3 Luật cơ bản khu hành chính đặc biệt Hồng Kông và
điều kiện phát triển sau năm 1997.
Sau khi Trung Quốc và Anh ký kết tuyên bố chung năm 1984 tại Bắc Kinh về việc Anh sẽ trao trả chủ quyền Hồng Kông cho Trung Quốc đúng thời hạn vào tháng7 năm 1997, năm1990 Quốc hội Trung Quốc đã thông qua
bộ "Luật cơ bản về đặc khu hành chính Hồng Kông của CHND Trung Hoa" (gọi tắt là "Luật cơ bản")
"Luật cơ bản" của Trung Quốc giành nhiều điều khoản quy định về phạm
vi hoạt động đối ngoại của Hồng Kông sau năm 1997 trên cơ sở kết hợp giữa luật pháp Trung Quốc với luật pháp quốc tế đang thực thi tại Hồng Kông Mục đích lập pháp chủ yếu của "Luật cơ bản" là xác định chủ quyền quy thuộc để quản lý Hồng Kông về chính trị, quốc phòng, đồng thời duy trì sự phồn vinh, ổn định của Hồng Kông về kinh tế, phục vụ lợi ích kinh tế của Trung Quốc
Căn cứ vào nội dung của "Luật cơ bản", hãy xem Trung Quốc kế thừa và sửa đổi quyền hạn đối ngoại của Hồng Kông sau năm 1997 nh thế nào ?
- Quyền lực đặc khu hành chính đặc biệt Hồng Kông trong các điều ớc quốc tế
"Luật cơ bản" quy định rõ đặc khu hành chính Hồng Kông là một khu vực hành chính địa phơng của Trung Quốc, không có t cách pháp luật độc lậptrong quan hệ đối ngoại Các quyền hạn đặc thù về quan hệ đối ngoại của Hồng Kông sẽ do chính phủ Trung ơng quy định trên cơ sở chủ quyền quốc gia
Điều 151 của "Luật cơ bản" quy định: "Đặc khu hành chính đặc biệt Hồng Kông với danh nghĩa Hồng Kông Trung Quốc đợc phép đơn phơng duy trì và phát triển quan hệ; ký kết và thực hiện các hiệp nghị với các nớc, các khu vực, các tổ chức quốc tế liên quan trong các lĩnh vực kinh tế, mậu dịch, tiền tệ, vận chuyển đờng biển, thông tin, văn hoá, thể dục thể thao
Điều đáng lu ý là, trong 480 điều ớc quốc tế đa phơng hoặc song phơng
mà Hồng Kông và Anh cùng tham gia trớc năm 1997 thì có một số điều ớc
Trang 21Trung Quốc cha tham gia Vậy Trung Quốc giải quyết vấn đề này nh thế nào?
Điều 153 của "Luật cơ bản" quy định: "Những hiệp định quốc tế mà CHND Trung Hoa cha tham gia nhng đã áp dụng ở Hồng Kông thì Hồng Kông vẫn tiếp tục thực hiện" Điều đó có nghĩa là phần lớn các điều ớc quốc
tế và các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, thông tin thể thao Trong 306 điều ớc đa phơng đã áp dụng ở Hồng Kông trớc năm 1997 sẽ vẫn đợc Trung Quốc cho phép Hồng Kông kế thừa sau năm 1997 Tuy vậy sẽ có một số điều ớc quốc
tế Trung Quốc cha tham gia (mặc dù Hồng Kông đã tham gia) nhng Trung Quốc sẽ yêu cầu Hồng Kông ngừng thực hiện Đó là các điều ớc quốc tế liên quan đến vấn đề chủ quyền, chính sách ngoại giao và quốc phòng.Ví dụ nh
"Công ớc biển", "Công ớc khu tiếp giáp lãnh hải", "Công ớc thềm lục địa"
đ-ợc nhiều nớc ký kết năm 1958 nhng Trung Quốc cha phê chuẩn, chắc chắn Trung Quốc sẽ không cho phép Hồng Kông tiếp tục tham gia
Ngoài ra, để duy trì phồn thịnh kinh tế của Hồng Kông phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc không yêu cầu Hồng Kông phải tuân thủ một số hiệp định quốc tế mà Trung Quốc đã tham gia ký kết Chính phủ Trung Quốc sẽ căn cứ vào tình hình và nhu cầu thực tế của Hồng Kông
sẽ quyết định có áp dụng ở Hồng Kông hay không Các nhà bình luận quốc
tế cho rằng, đây là tính toán khôn khéo, thực dụng của Chính phủ Trung Quốc vì hiện tại giữa Trung Quốc và Hồng Kông tồn tại sự cách biệt khá lớn
về kinh tế xã hội, chế độ pháp luật
- Quyền hạn của đặc khu hành chính Hồng Kông đối với các tổ chức quốc tế
Khoản 1, điều 152 của "Luật cơ bản" quy định: "Đối với các tổ chức
quốc tế và Hội nghị quốc tế do các quốc gia có liên quan tới đặc khu hành chính Hồng Kông, thì đặc khu hành chính Hồng Kông có thể cử đại biểu tham gia sau khi đợc Chính phủ Trung ơng và tổ chức quốc tế đó cho phép"
Điều này cho thấy, sau năm 1997, Hồng Kông không đợc phép độc lập tham gia các tổ chức quốc tế hoặc hội nghị quốc tế mà hội viên là các quốc gia
Khoản 2, điều 152 của "Luật cơ bản" quy định: "Đặc khu hành chính
Hồng Kông có thể dùng danh nghĩa Hồng Kông Trung Quốc "tham gia các
tổ chức quốc tế hoặc Hội nghị quốc tế mà hội viên không phải là các quốc gia " Điều này cho thấy, sau năm 1997 đặc khu hành chính Hồng Kông đợc
Trang 22hởng quyền tự trị nhất định nhng phải phục tùng sự thống nhất nhà nớc dới danh nghĩa "Hồng Kông Trung Quốc".
Khoản 3, điều 152 của "Luật cơ bản" cũng quy định "Những tổ chức
quốc tế mà trớc đây Trung Quốc tham gia và Hồng Kông cùng tham gia với hình thức nào đó, Chính phủ Trung Quốc sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết
để Hồng Kông tiếp tục đợc tham gia với hình thức thích hợp"
Khoản 4, điều 152 của "Luật cơ bản" còn quy định: "Những tổ chức quốc
tế mà Trung Quốc cha tham gia nhng trớc đó Hồng Kông đã tham gia, Chínhphủ Trung ơng sẽ căn cứ theo nhu cầu để Hồng Kông đợc tiếp tục tham gia với hình thức thích hợp"
Tóm lại, sau tháng 7 năm 1997, căn cứ vào lợi ích quốc gia của mình,
Trung Quốc sẽ xem xét lại t cách của Hồng Kông trong các tổ chức quốc tế
và Hội nghị quốc tế mà Hồng Kông đã tham gia trớc năm 1997 Có thể nhận thấy khá rõ là, với t tởng thực dụng, việc gì có lợi cho lợi ích quốc gia, TrungQuốc sẽ tạo đủ điều kiện và cơ sở pháp lý để Hồng Kông tiếp tục tham gia Ngợc lại, việc gì không có lợi cho lợi ích quốc gia, Trung Quốc đã lắc đầu thìHồng Kông phải phục tùng quyết định của Chính phủ Trung ơng
- Quyền hạn của đặc khu hành chính Hồng Kông trong việc trao đổi cơ quan đại diện với các nớc liên quan
Điều 156 của "Luật cơ bản" quy định: "Đặc khu hành chính Hồng Kông
có thể căn cứ vào nhu cầu mở văn phòng kinh tế mậu dịch chính thức hoặc bán chính thức ở nớc ngoài và báo cáo cho Chính phủ Trung ơng phê duyệt"
Do điều 151 của "Luật cơ bản" đã cho phép Hồng Kông lấy danh nghĩa
"Hồng Kông Trung Quốc" tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ độc lập với các nớc, các khu vực, các tổ chức quốc tế hữu quan về các lĩnh vực kinh tế, mậu dịch, tiền tệ, văn hoá, thể dục thể thao Vì vậy, sau năm 1997 về
nguyên tắc các cơ quan đại diện Hồng Kông ở nớc ngoài sẽ tiếp tục tồn tại, chỉ sửa đổi tên gọi thành "Hồng Kông Trung Quốc" (HongKong – ChiNa) với chức năng chủ yếu là xử lý vấn đề kinh tế, mậu dịch… nhằm tạo dựng nên một bức tranh
Về việc các cơ quan đại diện nớc ngoài tại Hồng Kông sau năm 1997 có tồn tại hay không? Điều 157 của "Luật cơ bản" quy định: "Những nớc có quan hệ ngoại giao chính thức với CHND Trung Hoa đã đặt cơ quan lãnh sự hoặc các cơ quan đại diện chính thức khac ở Hồng Kông có thể đợc duy trì Những nớc cha thiết lập quan hệ ngoại giao với CHND Trung Hoa mà có
Trang 23quan hệ lãnh sự hoặc cơ quan đại diện chính thức ở Hồng Kông, sẽ căn cứ theo tình hình cụ thể tiếp tục duy trì hoặc chuyển thành cơ quan đại diện bán chính thức.Những nớc cha đợc CHND Trung Hoa thừa nhận, chỉ đợc phép lập cơ quan phi chính phủ tại Hồng Kông".
Với quy định "co dãn" này của Trung Quốc, hiện đang tồn tại hai vấn đề:
Một là: Trung Quốc sẽ căn cứ vào quan hệ tốt hay xấu với các nớc có
quan hệ ngoại giao với Trung Quốc để quyết định cho phép cơ quan lãnh sự hoặc các cơ quan đại diện chính thức khác của các nớc đó mặc nhiên tiếp tục tồn tại ở Hồng Kông sau tháng7 năm 1997 hoặc phải kèm theo điều kiện đối
đẳng với Trung Quốc Ví dụ: Trung Quốc đã yêu cầu Nhật Bản muốn duy trì Tổng lãnh sự quán ở Hồng Kông sau năm 1997 thì phải cho phép Trung Quốc đối đẳng mở thêm một Tổng lãnh sự quán tại Nhật Bản
Hai là : Các cơ quan đại diện chính thức hoặc bán chính thức tại Hồng
Kông của các nớc có quan hệ ngoại giao với Đài Loan sẽ đứng trớc nguy cơ
bị Trung Quốc yêu cầu đóng cửa cơ quan đại diện hoặc phải chuyển sang hình thức cơ quan phi chính phủ Hiện nay có 13 nớc châu Phi, Mỹ La Tinh
có quan hệ ngoại giao với Đài Loan đang gặp khó khăn
Chính vì thế, xét từ góc độ luật pháp và tập quán quốc tế, việc Trung Quốc thu hồi chủ quyền Hồng Kông vào tháng 7 năm 1997 là thực tế rõ ràng không ai có thể đảo ngợc đợc Điều này đã đợc Chính phủ Anh và Chính phủ Trung Quốc thoả thuận ký kết trên các văn bản phù hợp với luật pháp quốc
tế Phía Trung Quốc cũng sử dụng hệ thống luật pháp hiện hành do quốc hội thông qua thể hiện bằng bộ "Luật cơ bản về khu hành chính đặc biệt Hồng Kông của CHND Trung Hoa" để tiếp quản Hồng Kông với mục đích duy trì
sự phồn vinh về kinh tế của Hồng Kông phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc
Về lĩnh vực ngoại giao của Hồng Kông phía Trung Quốc có những quy định rất linh hoạt và chặt chẽ Một mặt, Trung Quốc cho phép Hồng Kông sau năm 1997 tiếp tục duy trì các mối quan hệ với các nớc các khu vực, các tổ chức quốc tế Mặt khác Trung Quốc cũng tận dụng mặt pháp lý trong vấn đề
đối ngoại của Hồng Kông xung quanh việc duy trì các cơ quan đại diện của nớc ngoài ở Hồng Kông là một thứ vũ khí có hiệu lực để nâng cao vai trò quốc tế của Trung Quốc
1.4 quan hệ đối ngoại của hồng kông đối với một số nớc
khu vực trên thế giới.
Trang 241.4.1 Tổng quan về quan hệ đối ngoại của Hồng Kông sau
năm 1997.
Sau khi Hồng Kông trở về với Trung Quốc, quan hệ về các mặt kinh tế, thơng mại, quân sự, ngoại giao với các nớc trong khu vực và trên thế giới
có những thay đổi phù hợp với tình hình mới
Hồng Kông từ sau năm 1997 đến nay vẫn là một trung tâm tài chính,
th-ơng mại, giao thông, du lịch đối với khu vực châu á - Thái Bình Dth-ơng và thế giới, Hồng Kông vẫn là cửa ngõ buôn bán của Trung Quốc với thế giới bên ngoài Các nớc trên thế giới cũng coi Hồng Kông là khâu trung chuyển trong buôn bán với Trung Quốc Xu thế của nền kinh tế thế giới thế kỷ XXI
sẽ là trí tuệ hoá và toàn cầu hoá Điều này đang là u thế của Hồng Kông, xuấtphát từ một vùng lãnh thổ đất không rộng, ngời không đông, tài nguyên thiênnhiên lại khan hiếm Nền kinh tế Hồng Kông chủ yếu dựa vào kinh tế trí tuệ
vị vậy Hồng Kông sẽ vẫn dựa vào khoa học, kỹ thuật cao, tập trung phát triểntài chính và dịch vụ Công nghiệp Hồng Kông chuyển dần vào nội địa Trung Quốc, Hồng Kông trở thành silicon Vally của Trung Quốc
Bên cạnh đó, với u thế chiến lợc của mình, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, Hồng Kông vẫn là một trung tâm quốc tế về tài chính, thơng mại là nơi lựa chọn của thế giới trong các ngành kinh doanh Hồng Kông với một môi trờng thơng mại thoáng, cơ sở hạ tầng linh hoạt, hiện đại và một khung luật rõ ràng, cởi mở, Hồng Kông trở thành thành phố tốt nhất trên thế giới cho các hoạt động kinh doanh, buôn bán Năm 1997 đã có hơn 366.000 ngời từ các lục địa đến Hông Kông để kinh doanh, buôn bán Các tổ chức quốc tế độc lập coi Hồng Kông là nơi tự do nhất trên thế giới để cho các công ty nớc ngoài hoạt động Hồng Kông vẫn áp dụng mức thuế thu nhập thấp nhất thế giới nh hồi trớc năm 1997 Tất cả những điều này đã biến HồngKông trở thành một địa điểm lý tởng nhất cho các hoạt động kinh doanh
1.4.2 Quan hệ đối ngoại của Hồng Kông với các nớc và khu vực trên thế giới.
Sau ngày 1-7-1997, khi Hồng Kông trở về với đất mẹ Trung Quốc, một vấn đề mà d luận quốc tế quan tâm là chính quyền Trung Quốc sẽ thực hiện chính sách gì để đảm bảo hoạt động kinh tế của t bản nớc ngoài Trên thực tế,hai năm kiên cố tính pháp lý cao nhất là "Tuyên bố chung Trung - Anh" và
"Luật cơ bản về Hồng Kông" đã rất quan tâm đến vấn đề này Trong bản
Trang 25"Tuyên bố chung Trung - Anh" hai bên có thoả thuận: "Quyền lợi kinh tế củaAnh và các nớc khác ở Hồng Kông sẽ đợc chiếu cố" Trong luật cơ bản về Hồng Kông cũng đã giành hẳn một chơng 7 gồm bảy điều từ điều 150 đến
điều 157 qui định về công tác đối ngoại của Hồng Kông Về cơ bản phía Trung Quốc vãn duy trì quan hệ đối ngoại của Hồng Kông đặc biệt là về kinh
tế từ trớc năm 1997 Điều đó đã làm cho các nhà đầu t yên tâm và tìm thấy sựphát triển mới ở Hồng Kông sau ngày trở về với Trung Quốc
*Trong quan hệ với nớc Anh.
Lẽ đơng nhiên, Anh là nớc quan tâm nhiều nhất đến sự kiện 1-7-1997 bởivì Hồng Kông với tính u việt của một nền kinh tế mở cửa rất tự do, một vị trí trung chuyển quốc tế quan trọng, là trung tâm tài chính, mậu dịch của khu vực và thế giới Hàng năm đã đem về cho Vơng quốc Anh một lợi nhuận không nhỏ Hồng Kông thực sự trở thành "Viên ngọc Viễn Đông" của Vơng quốc Anh Hồng Kông còn là nơi mà t bản Anh rất quan tâm vì tính đến trớc năm 1997" Anh có khoảng trên 1000 công ty hoạt động tại Hồng Kông, đầu
t của Anh ở đây khoảng 3,5 tỉ USD đứng sau Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và
Đài Loan" {16- 5} Cũng có tài liệu cho rằng đầu t của Anh vào Hồng Kông
là lớn nhất với khoảng 26,5 tỉ USD Riêng thị trờng chứng khoán, các nhà t bản Anh có cổ phần lên đến 840 tỉ HKD tơng đơng với 109 tỉ USD đứng đầu thị trờng chứng khoán Hồng Kông
Cho đến nay nớc Anh vẫn chiếm 25 - 30% tổng FDI vào Hồng Kông và trên thực tế, sau ngày 1-7-1997 ngời Anh vẫn giành đợc sự u ái nhất định đối với vấn đề Hồng Kông Chính phủ Anh đã đầu t 30 triệu bảng để xây dựng trụ sở đại diện của Anh tại Hồng Kông điều đó thể hiện sự khẳng định rằng:
Sự ổn định của Hồng Kông vẫn là mối quan tâm hàng đầu của Anh quốc nhằm bảo vệ các quyền lợi kinh tế và chính trị của Anh tại đây
Nhìn chung, sau hơn một thế kỷ chiếm đóng Hồng Kông, t bản Anh đã khống chế toàn bộ nền kinh tế Hồng Kông, giữ u thế trong hoạt động kinh tế
ở đây, chiếm vị trí trong những ngành kinh tế quan trọng nhất nh tài chính, bảo hiểm, nhà đất, thông tin, giao thông Đồng thời đóng vai trò quan trọng trong các ngành ngoại thơng, công nghiệp chế tạo, hàng hải, hàng không
Ưu thế này đã đem lại đặc quyền đặc lợi cho t bản Anh, đa đến những món lợi kếch xù, làm giàu cho t bản Anh Sau khi trao trả chủ quyền của Hồng Kông cho Trung Quốc, cùng với xu thế toàn cầu hoá trong kinh tế thế giới, t
Trang 26bản Anh tại Hồng Kông vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ của t bản ngời Hoa,
t bản Nhật Bản và t bản Mỹ T bản ngời Hoa ở Hồng Kông ngày càng chiếm
u thế trong các ngành chế tạo, nhà đất, ngoại thơng, dịch vụ ăn uống
Về vấn đề chính trị, xã hội ở Hồng Kông sau năm 1997 cũng đợc hai bênTrung Quốc và Anh quốc quan tâm Hơn một thế kỷ, ngời Anh cai trị Hồng Kông, đã tạo cho Hồng Kông một nền kinh tế tự do nhất thê giới, một chính sách văn hoa xã hội cởi mở Điều đó đã thu hút một lực lợng khá đông t bản Anh đầu t kinh doanh ở Hồng Kông Trên thực tế ngời Anh c trú ở Hồng Kông chiếm một số lợng đông thứ hai sau ngời Hoa Suốt một thời gian dài, với sự du nhập của văn hoá phơng Tây, xã hội Hồng Kông mang mầu sắc ÂuChâu rất đậm nét Đặc biệt Hồng Kông có một nền giáo dục hiện đại nhất thếgiới, các trờng đại học có trình độ tơng đơng với các trờng đại học ở Anh,
Mỹ, Nhật Bản ở Hồng Kông, tiếng Anh rất phổ biến, nó đợc sử dụng trongcác công việc hành chính Ngời Hồng Kông đã quen với hình ảnh Nữ hoàng Anh trên huy hiệu và lá cờ của Anh quốc Quan trọng hơn, một số đảng phái chính trị ở Hồng Kông đợc nuôi nấng trong bầu sữa nóng của t bản Anh, vấn
đề đặt ra là sẽ giải quyết những vấn đề đó nh thế nào sau ngày 1-7-1997 cho
ổn thoả, nghĩa là làm sao cho Hồng Kông không xẩy ra những sáo trộn lớn sau ngày trở về với Trung Quốc
Trong bài nói chuyện với Thủ tớng Anh bà M.Thatcher Thủ tớng Đặng Tiểu Bình đã khẳng định: "Về việc duy trì sự phồn vinh của Hồng Kông, chúng tôi mong đợc sự hợp tác của nớc Anh, nhng nói nh vậy không có nghĩa
là có sự quản lý của nớc Anh" Một nền kinh tế phát triển, cần phải dựa trên
sự ổn định về tình hình chính trị và xã hội Mối quan hệ biện chứng đó đã
đ-ợc hai nớc Trung - Anh ý thức một cách sâu sắc Trong tình hình đó, sau ngày 1-7-1997 hai chính phủ Trung - Anh cần phải tăng cờng mối quan hệ giải quyết triệt để vấn đề Hồng Kông Thực tế là từ sau năm 1997 đến nay hai bên Trung - Anh hay Hồng Kông - Anh đã xúc tiến các cuộc gặp ngỡ Một vấn đề nổi lên là làm sao để cho tình hình chính trị ở Hông Kông không
bị xáo trộn và tạo điều kiện cho t bản Anh tiếp tục đầu t vào Hồng Kông
Sự tích cực trong quan hệ đối ngoại giữa "Hồng Kông - Trung Quốc" với Anh quốc đã đem đến sự ổn định về chính trị tạo đà cho sự phát triển mạnh
mẽ về kinh tế từ sau năm 1997 đến nay
*Trong quan hệ với Mỹ.
Trang 27Bên cạnh Anh, Mỹ cũng có mặt ở Hồng Kông từ rất sớm và có vị trí nhất
định trọng kinh tế Hồng Kông Kể cả khi Anh và Trung Quốc ký tuyên bố chung, Mỹ đã nhanh chóng tăng cờng sự có mặt của mình ở Hồng Kông Ng-
ời Mỹ trở thành cộng đồng nớc ngoài lớn nhất ở đây với gần 50.000 ngời Hơn 1200 công ty Mỹ có văn phòng tại Hồng Kông với số vốn đầu t là 14 tỉ USD Mỹ có tới 50 tỉ USD gửi trong các ngân hàng Hồng Kông Là bạn hàngthứ hai của Hồng Kông, hàng năm Mỹ xuất siêu sang lãnh thổ này gần 7 tỉ USD và đa tới đây gần 1 triệu khách du lịch Tính chất Mỹ ngày càng nổi rõ trong mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội của Hồng Kông Ngời Hồng Kông ăn bánh hamberger, mua hàng Disney, xem truyền hình Mỹ, chơi cricket Trong giới tri thức Hồng Kông, số ngời đợc đào tạo tại Mỹ nhiều hơnvới số đợc đào tạo tại Anh, Nhật
Đối với Mỹ,giá trị của Hồng Kông phải ở chỗ nó là cảng nớc sâu, mà giá trị là ở chỗ Hồng Kông là "thủ đô phơng Tây" trong lòng Trung Quốc Mỹ coi Trung Quốc là đối thủ chính tiềm tàng trong việc cạnh tranh địa vị cờng quốc số 1 ở châu á -Thái Bình Dơng trong thế kỷ tới Do vậy Hồng Kông có thể đợc sử dụng để kiềm chế và làm mất ổn định Trung Quốc.Vấn đề Hồng Kông còn đợc Mỹ dùng để gây sức ép với Trung Quốc trong việc Trung Quốc xin gia nhập WTO, hay đợc Mỹ sử dụng trong các cuộc tranh cử Tổng thống ở Mỹ
*Trong quan hệ với Nhật Bản.
Với Nhật Bản, từ những năm 1980, t bản Nhật đã tăng cờng thâm nhập vào Hồng Kông Ngời Nhật đầu t chủ yếu vào các ngành điện tử, điện khí, chế tạo đồng hồ Trong hoạt động tài chính, ngời Nhật có nhiều cổ phần trong các ngân hàng Hồng Kông và Hồng Kông đợc Nhật sử dụng nh một khâu quan trọng nối liền hoạt động của họ ở NewYork, London và Trung Quốc lục địa Trong tơng lai, vị trí của Nhật Bản ở Hồng Kông có lẽ chỉ sau Trung Quốc lục địa và Mỹ
*Trong quan hệ với các nớc Đông Nam á.
Quan hệ kinh tế - thơng mại giữa Hồng Kông và các nớc Đông Nam á sau khi Hồng Kông trở về với Trung Quốc vẫn tiếp tục phát triển Hồng Kông đầu t nhiều vào các nớc Đông Nam á và ngợc lại, các nớc nh Singapo, Malaisia, Inđônêsia, Philippin, Thái Lan… nhằm tạo dựng nên một bức tranh đều có đầu t vào Hồng Kông với mức độ khác nhau Về thơng mại, Hồng Kông vừa buôn bán trực tiếp với các
Trang 28nớc Đông Nam á, vừa đóng vai trò chuyển khẩu trong buôn bán giữa các nớc
Đông Nam á với nớc thứ 3
Sau khi Hồng Kông trở về với Trung Quốc, vai trò chuyển khẩu ngày càng lớn, đặc biệt sẽ có càng nhiều những mặt hàng do các doanh nghiệp Hồng Kông kinh doanh tại lục địa Trung Quốc, chuyển qua Hồng Kông để xuất khẩu sang các nớc Đông Nam á
Có thể nói, triển vọng quan hệ kinh tế - thơng mại giữa Hồng Kông và các nớc trong khu vực và trên thế giới khá sáng sủa và ngời ta có thể hy vọngrằng Hồng Kông sẽ trở thành viên ngọc sáng lấp lánh trên vũ đài kinh tế khu vực và thế giới trong thế kỷ XXI
1.5 Chính sách đối nội của Hồng Kông.
Ngày 8-10-1997, trong bản báo cáo của mình ông Đổng Kiến Hoa đã đa
ra phân tích bối cảnh kinh tế quốc tế, khu vực và kinh tế Trung Quốc lúc bấy giờ để làm nổi bật những điều kiện rất thuận lợi với Hồng Kông "Hồng Kôngthật may mắn Chúng ta có những điều kiện vô cùng thuận lợi Chúng ta có nền tự trị cao độ do "một nớc hai chế độ" mang lại; có nguồn dự trữ tài chính rất hùng hậu; có hệ thống xã hội, và một hệ thống kinh tế vận hành rất nhịp nhàng; có một hệ thống pháp luật rất hoàn hảo; có vị trí địa lý là cửa ngõ phía Nam của tổ quốc; có vị trí là Trung tâm tiền tệ, thơng mại, vận tải quốc
tế có bối cảnh quốc gia đang phát triển với tốc độ cao ".{6-2}
Trên cơ sở những u thế sẵn có và những vấn đề còn tồn tại, chính quyền Hồng Kông lúc bấy giờ đã vạch ra một chiến lợc phát triển đầy lạc quan, với những nội dung chính nh sau:
- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển công nghiệp lên phía Bắc Chính quyền Hồng Kông cho rằng mô hình kinh tế hiện nay bao gồm công nghiệp
và dịch vụ chỉ có thể thu nhập ở mức thấp, không còn phù hợp với sự phát triển lâu dài của Hồng Kông Một mặt do mức sống ở Hồng Kông cao,
không còn có thể dựa vào u thế lơng thấp để cạnh tranh với các đối thủ quốc
tế và khu vực nữa Mặt khác, nếu hạ thấp thu nhập của c dân để nâng cao sức cạnh tranh thì sẽ là không thực tế, không bảo vệ đợc lợi ích chung của c dân Hồng Kông "Chuyển công nghiệp lên phía Bắc đó chính là bàn tay vô hình chỉ cho chúng ta đi Công nghiệp cũng nh dịch vụ đều phải phát triển theo h-ớng sinh lợi cao Đó là con đờng giải quyết triệt để vấn đề một bộ phận dân còn nghèo" [6-2]
Trang 29Chính quyền đặc khu khuyến khích các doanh nghiệp phát triển theo ớng sinh lợi cao, Hồng Kông giàu hơn nữa hay không còn tuỳ thuộc vào các doanh nghiệp có sinh lợi nữa hay không Muốn vậy, phải tạo ra một môi tr-ờng sống để các doanh nghiệp có điều kiện nâng cấp kinh doanh, đào tạo ra một đội ngũ nhân tài bản địa, cũng nh thu hút chất xám từ bên ngoài nhằm mục đích đó, Hồng Kông sẽ tiếp tục kiện toàn chế độ pháp trị, hoàn thiện môi trờng kinh tế thị trờng tự do, phát triển nền văn hoá cao và lành mạnh.
h Giải quyết việc làm cho những ngời mất việc làm do chuyển đổi cơ cấu kinh tế Tăng cờng công tác đào tạo, đào tạo lại và tạo việc làm thích hợp chomỗi ngời dân Giải quyết thoả đáng vấn đề tăng dân số với tốc độ cao 2%/ năm
- Chính quyền Hồng Kông thi hành một số chính sách để hỗ trợ khuyến khích các doanh nghiệp đầu t kinh doanh Duy trì hệ thống thuế, vốn rất nhẹ, giản đơn và ổn định Chính quyền giữ cho tỉ lệ lạm pháp ở mức thấp (trên dới5%) Thành lập hội đồng các doanh nghiệp quy mô nhỏ (chiếm 98% tổng số doanh nghiệp, chiếm 2/3 tổng số lao động ở Hồng Kông) chuyên trách giúp
đỡ các loại hình doanh nghiệp về vốn và thị trờng
- Chính quyền Hồng Kông đặc biệt quan tâm phát triển ngành ngân hàng tiền tệ, vốn có một vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Hồng Kông mấy năm nay Hiện nay Hồng Kông là trung tâm ngân hàng lớn thứ 5 trên thế giới, là thị trờng chứng khoán lớn thứ 6 thế giới, đồng thời là một thị trờng bảo hiểm và thị trờng quản lý tiền tệ chủ yếu ở châu á Chính quyền Hồng Kông tỏ ra rất lạc quan và đặt nhiều hy vọng vào việc phát triển ngành ngân hàng tiền tệ
- Chính quyền Hồng Kông chủ trơng những biện pháp cần thiết để khắc phục tình trạng ngành du lịch đang giảm sút Ngành du lịch Hồng Kông có
số nhân viên chiếm 12% tổng số lao động, thu nhập từ ngành kinh doanh du lịch chiếm 10% GDP - là ngành thu nhiều ngoại tệ nhất cho Hồng Kông, nh-
ng trong thời gian qua ngành du lịch Hồng Kông bị suy giảm nhiều Để khắc phục chính quyền Hồng Kông đã tài trợ cho hiệp hội du lịch Hồng Kông 100triệu HKD để tăng cờng các hoạt động củng cố, phát triển ngành kinh doanh thu nhiều lợi nhuận này
- Chính quyền Hồng Kông đặc biệt chú trọng phát triển các ngành kỹ thuật mới, kỹ thuật cao và nhất là sinh lợi nhiều, lấy việc sinh lợi nhiều làm
Trang 30tiêu chuẩn quan trọng nhất Để đạt đợc mục đích đó, việc chuyển dịch cơ cấukinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành nói riêng đều coi trọng mục đích sinh lợi nhanh vững chắc.
- Về mặt đời sống xã hội: Ngay sau ngày thành lập Đặc khu hành chính Hồng Kông, chính quyền mới cũng đề ra một loạt các chủ trơng, chính sách, biện pháp để giữ vững sự ổn định và phát triển, tạo cho c dân Hồng Kông một môi trờng sống ngày càng tốt hơn Kế hoạch dự định mỗi năm xây dựng trên 85.000 nhà ở, có kế hoạch 5 năm về việc cấp đất xây nhà Năm 1998, ngân sách giáo dục tăng 7,6% so với năm 1997 Tăng cờng việc giáo dục lịch
sử, văn hoá Trung Quốc, thay thế cho việc giảng dạy lịch sử văn hoá Anh