1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình giai cấp xã hội ở châu âu thời kỳ hậu trung đại dưới tác động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

61 953 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình giai cấp xã hội ở châu Âu thời kỳ hậu trung đại dưới tác động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
Người hướng dẫn Ths. Phan Hoàng Minh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 206,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ giai cấp trong xã hội từ xa đến nay có nhiều chuyển biến phứctạp, chúng tôi mạnh dạn chọn mảng đề tài về sự chuyển biến giai cấp trong xãhội phong kiến dới tác động của quan hệ s

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Tr ờ n g Đ ại h ọ c V i n h

Khoa Lịch sử

===  ===

Đề tài:

Sự chuyển biến tình hình giai cấp ở Châu Âu

trong thời hậu kỳ trung đại dới tác động của quan hệ

sản xuất t bản chủ nghĩa

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

GV hớng dẫn: Ths Phan Hoàng Minh

SV thực hiện: Nguyễn Thị Bích Thủy

Lớp: 40B - Lịch sử

Vinh, 4/2003

=  =

Trang 2

Từ trớc đến nay đã có rất nhiều học giả trong và ngoài nớc nghiên cứu

về CNTB Các nhà nghiên cứu tập trung vào đi sâu tìm hiểu sự phát triển kinh

tế, chính trị, xã hội ở các nớc trong quan hệ sản xuất TBCN Ngày nay, kinh

tế TBCN vẫn đang giữ vai trò to lớn trong nền kinh tế toàn cầu, song quan hệgiai cấp trong xã hội t bản vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần đợc quan tâm nghiêncứu Quan hệ giai cấp có nhiều chuyển biến lớn ngay từ khi mầm mống sảnxuất TBCN xuất hiện, ảnh hởng lớn đến toàn bộ đời sống xã hội

Quan hệ giai cấp trong xã hội từ xa đến nay có nhiều chuyển biến phứctạp, chúng tôi mạnh dạn chọn mảng đề tài về sự chuyển biến giai cấp trong xãhội phong kiến dới tác động của quan hệ sản xuất TBCN Nghiên cứu mảng đềtài này chúng tôi không có tham vọng đa ra những phát hiện mới mẻ mà chỉ

đặt ra mục đích thông qua việc nghiên cứu sẽ củng cố kiến thức, góp phầngiảng dạy tốt môn lịch sử thế giới và tiếp tục nghiên cứu các vấn đề về quan

hệ sản xuất TBCN sau khi tốt nghiệp ra trờng

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Sự chuyển biến tình hình

giai cấp của Châu Âu trong thời kỳ trung đại dới tác động của quan hệ sản xuất TBCN" làm luận văn tốt nghiệp.

Trang 3

 lịch sử vấn đề:

Nghiên cứu về CNTB không phải là một vấn đề mới mẻ Đây là một vấn

đề đợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm, do vậy đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này

Trớc hết phải kể đến các công trình nghiên cứu của C.Mác, Ăngghen vàLênin Trong nhiều tác phẩm của Mác nh "Bàn về các xã hội tiền t sản", "Tbản" đã phân tích các mối quan hệ sản xuất CNTB, phân tích những mảng:

về t liệu lao động, về sự phân hoá giai cấp, đấu tranh giai cấp C.Mác rấtquan tâm nghiên cứu sự phân hoá giai cấp dới tác động của quan hệ sản xuấtTBCN C.Mác cũng là ngời đa ra định nghĩa về giai cấp t sản và giai cấp vôsản Trong cuốn "Sự phát triển của CNTB ở Nga", Lênin đã khái quát về sựphát triển của Nga dới tác động của quan hệ sản xuất TBCN, trong đó Lênin

có đề cập đến sự phân hoá sâu sắc trong bộ phận nông dân ở Nga đã diễnranh thế nào Hay trong tác phẩm "Lịch sử phát triển kinh tế của các nớc"(ngoài Liên Xô), F.Ia.Pôlianxki có đề cập đến các nớc và sự chuyển biến vềkinh tế, chính trị, xã hội của các nớc Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, TrungQuốc trong thời kỳ TBCN Tác phẩm "Đại cách mạng Pháp 1789" củaA.Manfrét đã phân tích tình hình nớc Pháp trớc và sau khi diễn ra cuộc cáchmạng A.Manfrét cũng đã phân tích khá kỹ sự phân hoá giai cấp trong xã hộiPháp

Ngoài ra còn một số các nghiên cứu của nhiều học giả khác cũngnghiên cứu về CNTB Các công trình trên đã khái quát đợc sự phân hoá giaicấp ở nhiều nớc trên thế giới Các công trình này đã chỉ ra sự phân hoá giaicấp từ quan hệ lãnh chúa - nông nô ở thời kỳ phong kiến với các tầng lớp nhlãnh chúa phong kiến, nông dân lệ thuộc, nông dân tự do, lệ nông và nông nôchuyển sang quan hệ giữa giai cấp t sản và vô sản, trong đó lãnh chúa phongkiến sau một thời gian tiến hành kinh doanh đã trở thành những nhà t sản, cònnông dân, lệ nông, nông dân tự do, nông nô bị tớc đoạt t liệu sản xuất củamình rồi dần dần trở thành những ngời làm thuê, sau đó trở thành những ngờivô sản và cuối cùng tập hợp thành giai cấp vô sản

Để nâng cao hiểu biết về CNTB và sự phân hoá của các giai cấp xã hộiphong kiến dới tác động của quan hệ sản xuất TBCN, chúng tôi nghiên cứu đềtài này

Trang 4

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi dựa chủ yếu vào các công trình nghiêncứu củacác học giả trong và ngoài nớc Do điều kiện thời gian hạn chế, nănglực nghiên cứu có hạn và khả năng tiếp cận t liệu còn yếu cho nên không tránhkhỏi những sai sót, hạn chế Rất mong nhận đợc sự chỉ bảo, góp ý, bổ sungcủa các độc giả quan tâm Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Trên cơ sở tìm hiểu vấn đề về: Sự chuyển biến tình hình giai cấp ở Châu

Âu thời hậu kỳ trung đại dới tác động của quan hệ sản xuất TBCN

Với đề tài này, đối tợng nghiên cứu chính là sự chuyển biến giai cấp xãhội từ quan hệ lãnh chúa - nông nô sang quan hệ t sản - vô sản dới tác độngcủa quan hệ sản xuất TBCN

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là quan hệ giai cấp xã hội ở thời hậu kỳtrung đại khi quan hệ sản xuất TBCN đã hình thành

 Phơng pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiếp cận với một số công trìnhnghiên cứu về các vấn đề thuộc quan hệ sản xuất TBCN, trên cơ sở đó phântích, tổng hợp và sử dụng phơng pháp hệ thống, lôgic lịch sử để tìm ra quátrình phân hoá giai cấp xã hội ở Châu Âu nói chung và Tây Âu nói riêng dớitác động của quan hệ sản xuất TBCN

Trang 5

Gồm 3 chơngChơng 1: Vài nét về tình hình giai cấp xã hội thời kỳ phong kiến.

1.1 Những nét chung

1.2 Quan hệ giai cấp trong xã hội phong kiến ở một số nớc

Châu Âu

Chơng 2: Những nét cơ bản về sự ra đời quan hệ sản xuất TBCN

2.1 Sự tan rã của chế độ phong kiến và quá trình ra đời quan hệ

sản xuất TBCN

2.2 Sự xuất hiện giai cấp mới dới tác động của quan hệ sản

xuất TBCN

Chơng 3: Tình hình giai cấp xã hội Châu Âu thời hậu kỳ trung đại

d-ới tác động của quan hệ sản xuất TBCN

Trang 6

Chế độ phong kiến đó là một hình thái kinh tế xã hội trong đó có haigiai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân Giai cấp

địa chủ phong kiến chiếm hầu hết ruộng đất trong xã hội, còn giai cấp nôngdân thì bị mất ruộng đất nên phải cày cấy ruộng đất của địa chủ, do đó bị giaicấp đia chủ bóc lột bằng địa tô và các hình thức cỡng bức siêu kinh tế khác

ở Tây Âu trong quá trình phong kiến hoá diễn ra nhanh chóng, tiêu biểu

là ở vơng quốc Phơrăng Dới triều đại Mênôvanhgiêng và Camôlanhgiêng, quátrình phong kiến hoá ở vơng quốc Phơrăng diễn ra mạnh mẽ trên hai mặt: Mộtmặt là ngày càng có nhiều nông dân tự do phá sản bị cớp đoạt mất ruộng đất,biến thành những nông dân lệ thuộc; một mặt khác quan hệ sản xuất phongkiến dần dần đợc xác lập dựa trên sự phát triển của chế độ sở hữu ruộng đấtphong kiến Chính trên cơ sở đó, hai giai cấp cơ bản của xã hội phong kiến đãdần dần hình thành

Trớc hết là nói đến giai cấp phong kiến: Khi ngời Giécmanh đặt chânlên lãnh thổ của đế quốc La Mã, họ không tịch thu ruộng đất của tất cả các địachủ mà họ chỉ thi hành biện pháp này đối với những kẻ nào chống lại họ Do

đó các địa chủ này vẫn giữ đợc tài sản Nhng họ không còn kinh doanh các

điền trang theo lối cũ của chủ nô trớc kia nữa mà đã thay đổi hình thức bóc lột

đối với nô lệ và lệ nông Bọn này dần dần phong kiến hoá hoà lẫn vào hàng

Trang 7

ngũ giai cấp phong kiến Do bộ phận thứ hai của giai cấp phong kiến gồm

đám thân binh của nhà vua, các tùy tòng thân cận, các bá tớc đứng đầu cáckhu vực hành chính, các tăng lữ cao cấp Vì là chỗ dựa chủ yếu của vơngquyền nên bọn này đợc nhà vua ban cấp cho rất nhiều ruộng đất và có chức vị.Giữa họ và nhà vua đã thiết lập nên hai mối quan hệ chằng chéo lên nhau rất

đặc biệt Một đằng với t cách là những bề tôi của vua họ có nghĩa vụ phảitrung thành với nhà vua và chấp hành mọi mệnh lệnh của vị thủ lĩnh tối caotrong vơng quốc Nhng ruộng đất nhà vua ban cấp cho họ thực chất là một thứtiền lơng để trả cho họ Một đằng với t cách là những thân thuộc của một tônchủ, vì ruộng đất của chủ nên họ có bổn phận thi hành mọi nghĩa vụ gắn liềnvới đất phong và chấp hành mọi mệnh lệnh của tôn chủ Dới thờiCarôlanhgiêng, do việc mở rộng chế độ phân phong nên chế độ thần thuộccàng phát triển mạnh, lôi cuốn toàn bộ giai cấp phong kiến vào trong mốiquan hệ đó Họ tạo nên một hệ thống đẳng cấp trong nội bộ giai cấp phongkiến theo kiểu kim tự tháp: Trên cùng là nhà vua, dới là các quý tộc phongkiến lớn, dới nữa là phong kiến hạng vừa và cuối cùng là kỵ sĩ Không nhữngthế, mối quan hệ này ngày càng chiếm u thế lấn áp cả mối quan hệ thứ nhất.Tới khi đế quốc Saclơmanhơ tan rã, quyền lực của nhà vua suy yếu, chế độthân thuộc từ chỗ là một công cụ trong tay nhà vua nhằm củng cố vơng quyền

đã biến thành công cụ trong bọn đại phong kiến, chống lại nhà vua, phục vụcho việc mở rộng và tăng cờng thế lực của chúng

Các vua của triều đại Carôlanhgiêng đã không nhìn thấy cái hậu quả taihại đó hay sao mà lại đi làm một việc nh thế ?

Cần thấy rằng chính sách phân phong của các triều vua Carôlanhgiêng

là do tình thế xã hội lúc ấy bắt buộc Khi thực hiện không bao giờ nhà vuanghĩ rằng chính sách ấy sẽ phản lại mình, nhằm ràng buộc họ, vì kèm theomột số điều kiện khi có lệnh

Đứng về mặt quân sự mà xét thì bất cứ một nhà nớc nào cũng đều phải

có trong tay một lực lợng vũ trang, lúc này nông dân tự do bị phá sản hàngloạt, không có khả năng gánh vác nghĩa vụ quân dịch, nhất là kỵ sĩ nên họ tìmcách trốn tránh Nhà vua phải trông cậy vào tầng lớp khá giả, phong cấp đất

đai để tạo thêm thuận lợi cho họ, nhng cũng đồng thời động viên nhà vua cácthần thuộc trực tiếp phải đến tập trung dới cờ của nhà vua, còn các thần thuộc

Trang 8

gián tiếp thì đi tìm thần thuộc trực tiếp của mình Bằng biện pháp đó, nhà vua

đã tạo nên một tầng lớp quân nhân nhà nghề, có quyền lợi gắn chặt với nhàvua, trở thành một chỗ dựa vững chắc cho nhà vua, đồng thời giải quyết đợcnạn khủng hoảng quân số theo tôn chủ của họ Nhà vua nắm họ qua các tônchủ, tức nhà vua đã mở rộng thêm hàng ngũ giai cấp phong kiến, cơ sở của v-

ơng quyền, tạo nên một khối liên minh về chính trị và quân sự trong nội bộgiai cấp phong kiến, có thể đàn áp một cách hiệu quả sự phản kháng của họ

Từ nay đám thần thuộc này sẽ trở thành những tay chân của nhà vua, giúp nhàvua cai trị những thần dân sống trong phạm vi lãnh địa của chúng Nếu xảy ramột cuộc bạo động nào của nông dân thì do mối quan hệ liên minh giữa tônchủ với thần thuộc giai cấp phong kiến sẽ dễ dàng huy động đợc một lực lợngquân đội đủ khả năng để trấn áp

Nhng trên thực tế, nhà vua chỉ có thể bắt thần thuộc của mình phải phụctùng, khi nào vơng quyền suy yếu, thế lực của bọn đại phong kiến ngày càngmạnh, lấn át cả nhà vua Kể từ thời Lu-y Môđao trở đi (814), hành động bấtphục tùng của bọn phong kiến lớn đối với nhà vua không còn là một việc hạnhữu nữa Những chức vụ trong chính quyền mà nhà vua trao cho bọn chúngnay trở thành cha truyền con nối Không những thế, chúng còn biến luôn cảkhu vực hành chính do chúng đứng đầu thành lãnh địa riêng Nhà vua hầu nhkhông có khả năng điều động thuyên chuyển hoặc thay thế chúng bằng mộtngời khác Trên những lãnh địa riêng này, bọn quý tộc phong kiến lớn đã trởthành những ông vua con có đầy đủ quyền và những lãnh địa riêng của chúngthực chất là những quốc gia thu nhỏ lại

Giai cấp lãnh chúa hay còn gọi là giai cấp quý tộc phong kiến là giaicấp ít đợc học văn hoá nhng lại có tinh thần thợng võ cao Họ lấy việc chiến

đấu làm nghề nghiệp, lấy săn bắn thi võ làm trò tiêu khiển, lấy việc đấu kiếmlàm biện pháp giải quyết những xích mích và mâu thuẫn Sau khi hình thànhgiai cấp quý tộc phong kiến ở Phơng Tây là một giai cấp đóng kín Họ yêucầu phải mãi mãi giữ gìn sự thuần khiết của dòng máu quý tộc, do đó nhữngcuộc hôn nhân giữa quý tộc và những ngời thuộc giai cấp khác đều bị cấm

Giữa các chúa phong kiến thờng xảy ra chiến tranh, chủ yếu nhằm mục

đích cớp đoạt đất đai và tài sản, mở rộng quy mô và thế lực của nhà vua, nênchúng tự giành lấy quyền tuyên chiến hoặc nghị hoà, chúng xem chiến tranh

Trang 9

nh là biện pháp tốt nhất để giải quyết các mâu thuẫn xã hội, đồng thời còn làphơng tiện để làm giàu Tất cả bọn chúng dù lớn hay nhỏ tên nào cũng đợc vũtrang từ đầu đến chân, để trong chiến đấu có thể hạn chế đợc thơng vong Nếugặp một đối thủ mạnh hơn, chúng lui vào các lâu đài phong kiến có hào sâu, t-ờng cao để phòng ngự, nếu chẳng may bị bắt làm tù binh thì dùng tiền chuộcmạng Cuối cùng mọi tai hoạ chiến tranh đều trút lên đầu nông dân lao động.Chính họ là những ngời phải đóng tiền chuộc mạng cho chúa phong kiến.Chính họ là đối tợng cớp bóc của bọn chúng trong các cuộc chiến tranh, hoamàu của họ bị phá hoại, sản xuất bị đình trệ.

Nếu những ngời nông dân này không chịu an phận có những hành vichống đối thì lãnh chúa sẽ đa họ ra xét xử tại tòa án riêng của lãnh chúa, vì từkhi viên quan đứng đầu một khu vực hành chính của vơng quốc biến vùng đóthành một lãnh địa riêng thì đồng thời hắn cũng biến luôn những thần dân củanhà vua thành thần dân của hắn Việc nắm giữ quyền t pháp trong tay đã giúpchúng dễ dàng nô dịch những nông dân còn giữ đợc tự do và bắt các nông dân

lệ thuộc phải cúi đầu phục tùng Ngoài ra, những vụ xét xử còn đem lại cholãnh chúa hàng năm một khoản thu nhập khá lớn nhờ những món tiền phạt vànhững vụ tịch thu tài sản

Quyền đúc tiền đem lại cho lãnh chúa một nguồn lợi không phải là nhỏ.Tiền do các lãnh chúa đúc bao giờ cũng có một kim lợng ít hơn kim lợng củatiền nhà vua Khoản chênh lệch rơi vào tay các lãnh chúa Thậm chí chúngcòn đúc cả tiền giả để tiêu

Mỗi khi chúa đất ra khỏi nhà đến một làng phụ thuộc nào đó thì nhândân ở đây phải cung ứng cho lãnh chúa và đoàn tùy tùng đủ mọi thứ mà chúng

đòi hỏi Đó là quyền lu túc của chúa phong kiến Thực tế đây chỉ là việc hợppháp hoá những hành động ăn cớp trắng trợn và công khai của giai cấp phongkiến mà thôi Một sử liệu đơng thời là "Những kỳ tích của thành Bơnoa" có kểlại việc bá tớc Pari là chứng tỏ đã thực hiện quyền lu túc của y tại một làng

nh sau: Để thỏa mãn tính tham lam của chúng, bọn tùy tòng của bá tớc đó đãvào trong làng sục sạo, vơ vét đủ mọi thứ mà chúng tìm đợc, chúng đem tất cảnhững thứ ăn cớp đợc về chất đống trong nhà thờ Trong khi những nông dânnghèo này cắn răng chịu đói thì chúng sửa soạn một bữa tiệc linh đình, cả lũ

ăn đến nứt bụng không hết

Trang 10

Thơng nhân và khách bộ hành đi qua lãnh địa của chúa phong kiến đềuphải nộp thuế cầu, thuế vận chuyển hàng hoá Chúa phong kiến mở chợ để thuthuế và tự giành lấy một số độc quyền nh: Quyền u tiên đợc bán trớc mọi ngờimột số sản phẩm do lãnh địa sản xuất nhng tiêu thụ không hết; cấm nhân dântrong vùng tự ý xay bột, ép nho, nớng bánh ở một nơi nào khác những cơ sởsản xuất đã có của lãnh chúa Tất nhiên khi sử dụng họ phải nộp thuế cho lãnhchúa Ngoài ra, chúa phong kiến còn đa ra nhiều thứ thuế khác đối với nôngdân Mỗi thứ quyền đều đem lại cho chúa phong kiến một nguồn lợi và đềuxâm phạm tới một khoản thu nhập của nhân dân.

Trong xã hội phong kiến, nông dân là giai cấp cơ bản đông đảo Tuyhọ

đều là những ngời trực tiếp sản xuất nhng ở trong các lãnh địa phong kiến thìcác lãnh chúa phong kiến muốn biến nông dân trở thành các tá điền nhằmbiến họ trở thành những ngời lệ thuộc vào chúa phong kiến, sản xuất và nộp tôcho các chúa phong kiến, trong khi đó nhà vua thì lại muốn giải phóng họkhỏi thân phận tá điền nhằm mục đích biến nông dân trở thành lực lợng trựctiếp sản xuất trên các mảnh ruộng "quân điền" (ruộng của nhà vua) Chính vìvậy, lúc này nông dân trở thành một lực lợng bị cả hai thế lực đua nhau xâu

xé, bóc lột hết sức thậm tệ ở vào địa vị của những ngời nông dân thì nhữngngời nông dân lệ thuộc trong một lãnh địa không nhất loạt giống nhau mà chialàm ba loại: lệ nông, nông dân nửa tự do, nông dân lệ thuộc và nông nô

Sở dĩ có việc vua muốn giải phóng nông dân để đa họ vào sản xuấtruộng đất của nhà vua, còn chúa phong kiến thì lại biến họ thành tá điền nhằmphục vụ cho lợi ích của mình, và cuối cùng thì nông dân trở thành lực lợng bịhai thế lực cùng xâu xé mà không phải đợc giải phóng đó là do xã hội phongkiến lúc bấy giờ quan hệ giữa nhà vua và lãnh chúa phong kiến là quan hệ

"phong quân bồi thần" Quyền sở hữu ruộng đất tối cao toàn vơng quốc làthuộc về hoàng đế hay vua, vua ban cho các đại thần, đại thần là bồi thần củavua, vua là phong quân Đại thần lại ban cấp cho các quan lại dới quyền mình,quan lại lại ban cấp cho những ngời tùy thuộc, kỵ sĩ Ngời trên là phogn quâncủa ngời dới, ngời dới là bồi thần của ngời trên, lập thành một hệ thống

"phong quân bồi thần" Nhng theo giao ớc phong kiến thì bồi thần của phongquân nào chỉ phục tòng phong quân ấy, không chịu tuân lệnh ngời khác dù làquốc vơng, nên thời đó có câu ngạn ngữ: "Bồi thần của bồi thần ta, không phải

Trang 11

là bồi thần của ta" Chính vì vậy dẫn đến tình trạng chúa phong kiến có nhữnghành động đi ngợc với ý muốn của nhà vua.

Buổi đầu đại đa số nông dân lệ thuộc là lệ nông Họ cha truyền con nối

bị cột chặt vào mảnh ruộng của lãnh chúa, không đợc quyền rời bỏ ruộng đất

đi nơi khác

ở thời kỳ này vẫn còn tồn tại một số nô lệ Họ chia thành hai loại: Mộtloại là những đầy tớ nuôi trong nhà của lãnh chúa ở ngay trong trang viên đểsản xuất những thứ cần thiết cho đời sống của lãnh chúa nh: thợ kim hoàn, thợ

đóng xe Họ không có tài sản riêng, mọi thứ do họ sản xuất ra đều thuộcquyền sở hữu của lãnh chúa Loại thứ hai là những nô lệ đợc cấp ruộng đất,không đợc phép thoát ly để đi nơi khác Về nguyên tắc họ cũng nh loại nô lệnói trên, họ bị xem nh một thứ tài sản của lãnh chúa có thể bị đem bán: mọitài sản của họ đều bị coi là thuộc quyền sở hữu của chủ Nhng trên thực tế họ

có tài sản riêng Trong số thu hoạch của họ, ngoài phần phải trích ra để nộpcác khoản tô thuế phong kiến, còn bao nhiêu họ đợc giữ lại để chi dùng Nhvậy là địa vị của họ so với ngời nô lệ xa kia đã đổi khác rất nhiều Họ đã trởthành hoặc trên con đờng biến thành nông nô

- Nông dân nửa tự do là những ngời ở vào địa vị trung gian giữa nô lệ

và nông nô Thờng họ là những ngời sống dới sự bảo hộ của một chúa phongkiến có thế lực

Tơng ứng với các loại nông dân lệ thuộc kể trên, những ruộng đất củalãnh chúa cấp cho mỗi loại nông dân đều có một tên gọi riêng: đất lệ nông, đấtnông nô, đất nửa tự do Tuy nhiên nhiều khi sự tơng ứng ấy đã bị đảo lộn, đấtnông nô hoặc đất nửa tự do lại do lệ nông canh tác

Tất cả những loại nông dân lệ thuộc đều phải làm lao dịch và nộp tô chochúa phong kiến Trong số họ, nông nô làg những ngời ở vào địa vị xã hộithấp kém nhất, bị bóc lột nặng nề nhất Với quá trình phát triển của chế độphong kiến, phần lớn nông dân lệ thuộc đã dần dần bị biến thành nông nô Do

đó hàng ngũ nông nô ngày càng đông đảo và trở thành một bộ phận cơ bảncủa giai cấp nông dân

- Ngời nông dân bị lệ thuộc vào chúa phong kiến về mặt thân thể và

ruộng đất Hộ bị đời đời cột chặt vào ruộng đất không có quyền bỏ đi nơi

Trang 12

khác Nếu chúa phong kiến chuyển nhợng luôn cả những nông nô sống trênnhững ruộng đất ấy Vì là ngời lĩnh canh ruộng đất của lãnh chúa nên nông nôphải lao dịch không công và nộp địa tô cho chủ Thờng thờng mỗi tuần ngờinông nô phải làm lao dịch 3 ngày trên phần đất do lãnh chúa trực tiếp quản lý.

Có nơi nông nô phải dành một nửa thời gian sản xuất để làm lao dịch cho lãnhchúa Ngoài ra hàng năm còn phải nộp tô bằng hiện vật do lãnh chúa, ví dụ:thóc lúa, bột mì, rợu, gà, vịt, trứng hoặc một số sản phẩm thủ công nghiệp do

họ làm ra Đối với những loại nông dân lệ thuộc khác không phải là nông nôthì số ngày lao dịch và khoản tô bằng hiện vật nộp cho chúa phong kiến đợcgiảm nhẹ hơn

Vì ngời nông nô còn lệ thuộc vào chúa phong kiến về mặt thân thể nênphải nộp thuế thân cho chúa phong kiến Khi nông nô lấy vợ, lấy chồng họphải nộp cho chúa phong kiến thuế kết hôn Con cái ngời nông nô nếu muốnthừa kế tài sản của cha cũng phải nộp cho chúa đất một khoản gọi là thuế kếthừa Bởi vì trên danh nghĩa, mọi thứ tài sản của nông nô đều bị coi là củalãnh chúa Chính vì ngời nông nô ở vào địa vị thấp kém nh vậy nên chúaphong kiến có thể bắt họ làm lao dịch và đóng góp vô hạn độ

Tuy nông nô cha hoàn toàn mất tự do, tức là còn gia đình riêng và một

ít tài sản riêng, chủ không có quyền giết hại họ, nhng họ lại bị lệ thuộc vàolãnh chúa về mặt thân thể Họ không đợc tự tiện rời bỏ ruộng đất mà chủ giaocho Nông nô không có quyền tự do kết hôn, những cuộc kết hôn của họ phải

đợc lãnh chúa đồng ý nếu không họ sẽ bị xử phạt nặng nề Nếu nữ nông nô lấychồng thuộc lãnh chúa khác thì phải nộp một khoản tiền gọi là "tiền ngoạihôn", con cái của họ sau khi sinh ra phải chia đều cho hai lãnh chúa Lãnhchúa có quyền đánh đập, hành hạ nông nô miễn là không nguy hiểm đến tínhmạng của họ

Mặc dù nông nô bị bóc lột nặng nề nh vậy nhng so với những ngời nô lệcủa xã hội cổ đại thì thân phận của họ còn khá hơn Ngời nông nô của thờitrung cổ đã có nhà cửa, công cụ sản xuất và kinh tế gia đình riêng Do đó họ

có hứng thú trong sản xuất và có thể tạo ra một năng suất lao động mà ngời nô

lệ trong xã hội trớc không có khả năng làm nổi Mặc dù ách áp bức bóc lộtcủa chế độ phong kiến nặng nề và tàn bạo nhng so với chế độ nô lệ cổ đại thìvẫn là một bớc tiến của lịch sử

Trang 13

Trong giai cấp nông dân chỉ có một số rất nhỏ là còn giữ đợc tự do vềmặt thân thể Họ không phải nộp cho chúa phong kiến các khoản nghĩa vụ cóliên quan tới thân nhân của những ngời không có tự do về thân thể Họ chỉ lệthuộc vào chúa phong kiến về mặt t pháp, đôi khi về mặt ruộng đất Họ cóquyền rời bỏ ruộng đất để đi nơi khác, có quyền tự do kết hôn và kế thừa disản Tuy nhiên, trong một xã hội mà quan hệ lệ thuộc cá nhân đã trở thànhphổ biến, ách áp bức của cờng quyền đã mặc sức hoành hành thì sự tự do củanông dân này sớm muộn cũng sẽ bị xâm phạm.

Vì nhà vua không còn có thể bảo vệ tính mạng và tài sản cho các thầndân trên đợc nữa - tất nhiên họ phải đi tìm một sự che chở đó ở những tên quýtộc có thế lực Nhiều nông dân tự do, có khi cả một làng đã tìm đến bọn chúnghoặc một tăng lữ cao cấp - vì giáo hội ở thời trung cổ là một tổ chức có thế lực

- xin đợc che chở Muốn vậy, những nông nô tự do này phải đem ruộng đấtcủa mình hiến cho ông chủ bảo hộ, nghĩa là họ phải chuyển quyền sở hữuruộng đất của họ cho ông chủ mới để rồi nhận lại chính mảnh ruộng ấy với tcách là một ngời lĩnh canh và có nghĩa vụ nộp tô cho chủ Một khi cơ sở kinh

tế đã mất thì quyền tự do cũng không còn nữa Họ đã từ địa vị là những ngờinông dân tự do biến thành những nông dân lệ thuộc Hành động ăn cớp và nôdịch bỉ ổi này của bọn phong kiến đã đợc che phủ dới tấm áo choàng nhuộmmàu sắc nhân đạo mang tên là "chế độ bảo hộ" (Pationage)

Nh vậy, quan hệ lãnh chúa - nông nô đợc xác lập và trở thành mối quan

hệ chủ đạo trong xã hội phong kiến

1.2 Quan hệ giai cấp trong xã hội phong kiến ở một số nớc Châu Âu.

Sự hình thành quan hệ lãnh chúa - nông nô diễn ra từ thứ kỷ V đến thế

kỷ X Và khi nền kinh tế hàng hoá bắt đầu xâm nhập thì quan hệ giữa hai giacấp này vẫn còn tồn tại một cách dai dẳng trong xã hội Châu Âu

ở vơng quốc Phơrăng thì sau khi chinh phục đợc xứ Gôlơ, ngời Phơrăng

đã chiếm đợc nhiều ruộng đất Vua Phơrăng giao một phần đất đai cho các thànhviên của công xã thị tộc cũ để thành lập công xã nông thôn, một phần đem bancấp cho các tớng lĩnh thân cận và các cơ sở của giáo hội Kitô giáo

Khi chinh phục xứ Gôlơ tầng lớp c dân đông đảo nhất là những ngờiPhơrăng tự do, họ đợc chia một phần đất cày cấy và đợc truyền từ đời này

Trang 14

sang đời khác Tuy nhiên nông dân không có quyền bán phần đất ấy, cũngkhông đợc truyền cho con gái Nếu nông dân chết mà không có ngời thừa kếthì ruộng đất phải giao lại cho công xã.

Đến đầu thế kỷ VII, công xã Maccơ tan rã, phần lớn thành viên công xãbiến thành những ngời nông dân tự do có mảnh ruộng đất riêng của mình.Ngoài những ngời nông dân Phơrăng tự do ra lúc bấy giờ còn có những ngờilao động nông nghiệp làm việc trong các trang viên của các địa chủ Về thânphận họ không thuần nhất mà bao gồm nhiều loại nh lệ nông, nông dân nửa tự

do, nô lệ Trong ba loại này, lệ nông là tầng lớp đông đảo nhất Đợc nhận mộtphần đất do chủ giao cho, họ có nghĩa vụ phải nộp tô, nộp thuế thân, phải làmlao dịch và không đợc rời ruộng đất Nô lệ làm việc trong trang viên chia làmhai loại: Loại thứ nhất gồm những đầy tớ làm các công việc hầu hạ trong nhàlãnh chúa và những ngời làm các nghề thủ công nh thợ làm bánh mì, thợ đóng

xe, thợ kim hoàn làm việc trong các xởng của lãnh chúa Họ bị coi là tài sảncủa chủ và có thể bị mua bán Loại thứ hai là những nô lệ đợc cấp ruộng đất,

họ phải nộp địa tô cho chủ và không đợc rời khỏi ruộng đất Tuy vậy, sau khinộp địa tô, số sản phẩm còn lại thuộc quyền sử dụng của họ Thế là, về danhnghĩa họ là nô lệ nhng thực chất họ đã biến thành nông nô Còn nông dân nửa

tự do là ngời có địa vị cao hơn nô lệ, nhng lại thấp hơn lệ nông Họ cũng đợcgiao một mảnh đất để canh tác và truyền mảnh đất ấy từ đời này sang đờikhác Cùng với sự phát triển của phơng thức bóc lột phong kiến, sự khác biệtgiữa ba loại lực lợng lao động nông nghiệp ấy ngày càng ít Họ dần biến thànhmột tầng lớp có thân phận giống nhau, đó là tầng lớp nông nô

Còn nông dân tự do vào đầu thế kỷ VII là tầng lớp đông đảo nhất tronggiai cấp nông dân, nhng tình hình ấy không duy trì đợc lâu Do các nguyênnhân thiên tai mất mùa, gia súc chết không canh tác đợc, phải nộp thuế khoánặng nề, phải rời ruộng đồng quê hơng để đi làm nghĩa vụ binh dịch rấtnhiều nông dân bị phá sản phải bán ruộng đất của mình Sau khi không còn tliệu sản xuất nữa, nông dân chỉ còn cách là lĩnh canh ruộng đất của lãnh chúa

để làm ăn và do đó biến thành nông dân lệ thuộc Nh vậy là cũng nh c dân lao

động bản địa, đến đây phần lớn nông dân tự do ngời Phơrăng đã biến dầnthành nông nô

Trang 15

Nông nô là tầng lớp ở địa vị trung gian giữa dân tự do và nô lệ Họ đ ợcchủ giao cho một mảnh đất để cày cấy Do cày cấy ruộng đất của lãnh chúa,nông nô phải nộp địa tô cho chủ Trong thời kỳ này hình thức địa tô đ ợc ápdụng phổ biến nhất là tô lao dịch Với loại địa tô này, mỗi tuần lễ, mỗi hộnông nô phải cử một ngời khỏe mạnh mang theo nông cụ và súc vật kéo đếnlàm việc trên ruộng đất của lãnh chúa từ 3 đến 4 ngày Thời gian còn lại,nông nô làm việc trên phần đất của mình Vào những dịp mùa màng bận rộn,mỗi gia đình nông nô, ngoài bà chủ và các cô gái đã đến tuổi lấy chồng ra,tất cả những ngời có thể lao động đợc đều phải đến làm việc trên ruộng đấtcủa chủ.

Ngoài địa tô lao dịch, nông nô còn phải làm các việc khác cho lãnhchúa nh vận chuyển, chữa nhà, chữa hàng rào, làm đờng, bắc cầu Bên cạnhnhững nghĩa vụ lao dịch đó, trong những ngày lễ, ngày tết, nông nô còn phảinộp cho chủ một số sản phẩm nh gia cầm, trứng gà có khi còn phải nộp một

ít tiền Ngoài ra nông nô còn phải nộp nhiều thứ thuế khác nh: thuế chăn giasúc, thuế kiếm củi

Tuy nông nô cha hoàn toàn mất tự do, họ vẫn có gia đình riêng và một

ít tài sản riêng, chủ không có quyền giết hại họ, nhng họ bị lệ thuộc lãnh chúa

về mặt thân thể Họ không đợc tự tiện rời bỏ ruộng đất mà chủ giao cho, hơnnữa con cháu họ cũng phải kế thừa mảnh đất ấy và phải làm nông nô cho lãnhchúa Nông nô cũng không có quyền tự do kết hôn mà phải có sự đồng ý củalãnh chúa Nh vậy, tuy nông nô không hoàn toàn mất tự do, không hoàn toàn

bị lệ thuộc vào chủ nhng thực tế thì đời sống và địa vị của họ không hơn nô lệ

để làm việc gì khác

Những ngời nông nô Pháp phải chịu đựng một chế độ tô thuế và nghĩa

vụ rất nặng nề Họ phải nộp cho chúa phong kiến tô ruộng đáat và nhiềukhoản nộp to nhỏ khác, đặc biệt là mức tô "xăng" (cens) khá nặng nề, nó cao

Trang 16

hơn mức tô "tục lệ" của Anh Nông nô Pháp đã phải chịu tới hai lần ách ápbức bóc lột về tô thuế: một nộp cho chúa phong kiến, một nộp cho nhà nớc.Ngoài ra họ còn phải nộp thuế 1/10 cho nhà thờ Đời sống nông nô đợc bảo

đảm nhng họ sống một cách cơ cực, khổ nhục, ăn uống thiếu thốn, mặc quần

áo vải thô, ở trong những túp lều tối ám khói, ở chung với gia súc

Tuy những yếu tố của kinh tế hàng hoá đã xuất hiện ở Đức, chế độphong kiến vẫn tiếp tục thống trị một cách dai dẳng kìm hãm sự phát triển củanông nghiệp, ràng buộc những lực lợng sản xuất Nông dân Tây Đức bị tô(zins) đè nặng, còn nông dân miền Đông thì phải chịu lao dịch nặng nề ởPômêrani và Mêclenbuốc, bọn địa chủ có thể bán nông dân nh bán súc vậtkéo, chế độ nông nô chuyển thành nô lệ ở một số nơi khác, việc bán nô lệ đ-

ợc ngụy trang hơn và nông nô bị bán nh vật phụ thuộc bình thờng vào phần

đất Chế độ nông nô của Đức cũng hết sức nặng nề, họ ngoài việc nộp mộtkhoản thuế lớn thì họ phải lao dịch từ 3 đến 4 ngày trong một tuần Nông dân

bị mất ruộng đất phổ biến, nông dân Đức còn phải phục vụ trong nhà bọn quýtộc, bị xét xử trớc tòa án của chủ Độc quyền săn bắn, đánh cá vẫn thuộc vềtay bọn chủ Sự chuyên quyền độc đoán kiểu quý tộc của bọn chủ đã bópnghẹt mọi sự sống ở nông thôn Đức

Vào thế kỷ XV - XVI, khi mà nhiều nớc Tây Âu vì nền kinh tế hànghoá phát triển, thuế thân đánh nặng thêm, những điều kiện làm tan rã chế độphong kiến đã bắt đầu xuất hiện với những sợi dây chằng buộc ngời nông nô

đợc nới dần, thì ở Nga vì chính sách thống trị của Mông Cổ làm ngng trệ việcphát triển kinh tế nên nền kinh tế phong kiến đã thích ứng với thị trờng chủyếu là bằng cách mở rộng đất đai cày cấy của bọn chúa phong kiến Việc đólàm cho chế độ nông nô lại đợc củng cố thêm

Việc phát triển thuế lực dịch lại cũng gắn liền với việc phổ biến và củng

cố một số hình thức chiếm hữu ruộng đất phong kiến mới, nhà nớc chỉ cho đấtnhững ngời nào đi lính Bọn địa chủ quý tộc, tập đoàn cơ sở của chế độ phongkiến đã ủng hộ chính sách trung ơng tập quyền Trên con đờng phát triển củachế độ nông nô, nhiều đạo luật để duy trì chế độ này đã ra đời nh luậtXuđépnhích của Ivan VI ban bố 1497 và 1500 chỉ cho phép nông dân ra ngoài

đất đai của chúa mỗi năm một lần; đạo dụ về "những năm cấm chỉ" nói chungcấm nông dân không đợc đi bất cứ đâu

Trang 17

Trong nớc Nga vào thế kỷ XVI - XVII nông dân ở Nga chia làmnhiều loại:

Nông dân của những t nhân và sống trên mảnh đất của tăng lữ, địa chủ.Nông dân của triều đình, tức là của nhà vua (dvortsaỹé)

Dân đen cày cấy ruộng đất của nhà nớc bị buộc vào mảnh đất (paysansala glebe)

Tất cả nông dân đều phải đóng thuế nặng cho Sa hoàng

Đời sống của nông dân thuộc những địa chủ t nhân đặc biệt cơ cực Bọnchủ đất bắt nông dân trả tô hiện vật dới hình thức sản phẩm nông nghiệp vàsản phẩm thủ công nghiệp, bắt nông dân phải làm công không cho chúng, càycấy những mảnh đất để chúng hởng hoàn toàn hoa lợi thờng rộng hơn đấtnông dân đợc tự canh Ngoài ra nông dân còn phải trả cho chủ một món trớcbằng tiền từ 50 côpếch đến 1 rúp một nông hộ

Chế độ nông nô ở Nga theo sự phân tích của Lênin thì sở dĩ tồn tại đợc

- Tình trạng kỹ thuật vô cùng cổ sơ lạc hậu vì sự quản lý kinh tế nằmtrong tay những nông dân nhỏ cơ cực nghèo khổ, thân thể bị lệ thuộc và mùchữ Điều kiện này đồng thời là hậu quả của các điều kiện trên [12 - 161]

Sự củng cố chế độ nông nô ở Nga đã đem lại sự phản đối của các tầnglớp nhân dân rộng rãi Tuy nhiên đến thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX khi mà

đã bớc sang thời kỳ cận đại thì chế độ nông nô vẫn còn tồn tại trên đất nớcNga Nông nô ở Nga lúc này chia thành hai loại: chịu lực dịch và đóng tiền

Số tiền đóng dới thời Catơrin tăng gấp đôi Muốn có tiền, nông dân phải bỏ

Trang 18

làng đi kiếm việc làm, họ trở thành thợ mộc, thợ rèn làm việc trong các x ởngthủ công,làm phu đánh xe ngựa trong các thành phố, buôn bán lặt vặt Đờisống của nông dân phải chịu lực dịch còn khổ hơn Bọn thống trị đặt ra chế độlực dịch "3 ngày", nghĩa là nông dân phải làm việc trên đất lãnh chúa 3 ngày/tuần lễ Nhiều chủ đất tăng số lực dịch đó lên Một số tên chỉ cho phép nôngdân làm trên đất mình những ngày lễ mà thôi.

Thời gian làm việc một ngày cũng không đợc quy định trong luật pháp

và hoàn toàn do chủ đất đặt ra tùy thích Thờng nông dân đi làm khi mặt trờicha lên và về nhà khi trời đã tối

Việc bán nông dân trong thời kỳ này diễn ra khá phổ biến Những chủ

đất bán nông dân không kèm theo đất, có thể bán cả gia đình hoặc cả làng.Giá bán không giống nhau tùy thuộc vào giới, tuổi, sức lực hoặc nghề nghiệp

Có trờng hợp chủ đất bán phụ nữ với giá 10 rúp/ 1 ngời, trong lúc đó quý tộcmua chó săn với giá lên tới hàng trăm, hàng ngàn rúp Bảng rao bán nông nô

đợc in trên công báo cạnh bảng rao vặt, bán súc vật và đồ cũ

Nhìn chung, đời sống của ngời nông nô trong thời kỳ phong kiến hếtsức khổ cực và cho đến khi mâu thuẫn giữa lãnh chúa và nông nô lên đến đỉnh

điểm, không thể dừng lại đợc thì nông nô đã đứng dậy khởi nghĩa Nh một

ng-ời đơng thng-ời đã viết: "Thật là nguy hiểm đến tuyệt vọng khi thấy nông nô giếtlãnh chúa và đốt lâu đài của chúa" [13 - 79]

Trong xã hội phong kiến, quan hệ giữa lãnh chúa và nông nô là quan hệhàng đầu tồn tại dai dẳng Nhng khi nền kinh tế hàng hoá xâm nhập và sự xuấthiện nền sản xuất TBCN thì quan hệ lãnh chúa - nông nô đã bắt đầu có nhữngdấu hiệu rạn nứt Cùng với sự phát triển của nền sản xuất TBCN thì chế độphong kiến đã dần tan rã, quan hệ sản xuất - phong kiến ngày càng lỗi thờitrong khi đó lực lợng sản xuất ngày càng tiến bộ với sự ra đời của hàng loạtcải tiến máy móc Cùng với nó, quan hệ lãnh chúa - nông nô cũng không cònphù hợp nữa mà đặt ra yêu cầu phải có một hình thái kinh tế - xã hội mới phùhợp hơn để thay thế Và mối quan hệ xã hội mới thay thế cho quan hệ lãnhchúa - nông nô tồn tại trong xã hội phong kiến Chính vì vậy, khi nền kinh tếhàng hoá TBCN phát triển đẩy chế độ phong kiến đi đến chỗ tan rã, quan hệlãnh chúa - nông nô dần bị quan hệ chủ - thợ thay thế Chế độ sau tiến bộ hơn

Trang 19

chế độ trớc, hình thức bóc lột theo lối địa tô lao dịch đợc thay thế bằng mộthình thức tinh vi hơn thông qua lao động của ngời làm thuê.

Nh vậy, lúc bấy giờ trong xã hội phong kiến Tây Âu đã xuất hiện giaicấp t sản với thế lực kinh tế mới, nhng lúc bấy giờ họ cha có địa vị tơng xứng

và thực chất giai cấp t sản vẫn là giai cấp bị thống trị, còn giai cấp phong kiếnvẫn tiếp tục nắm chính quyền và tìm mọi cách để kìm hãm sự phát triển củagiai cấp t sản Chính vì vậy, giai cấp t sản đã phải đứng lên chống lại giai cấpquý tộc phong kiến để giành quyền thống trị xã hội về tay mình Cuộc đấutranh của giai cấp t sản chống chế độ phong kiến ở thời hậu kỳ trung đại đợcthể hiện mạnh mẽ nhất, rõ nét nhất qua phong trào văn hoá phục hng, rồi quaphong trào cải cách tôn giáo, qua phong trào chiến tranh nông dân

Để chống lại giai cấp phong kiến thì trớc hết phải tấn công vào hệ t tởngcủa chế độ phong kiến, đại diện là giáo hội Kitô nhằm xây dựng cho giai cấp

t sản một nền văn hoá mới Và lúc bấy giờ giai cấp t sản tìm thấy trong nềnvăn hoá Hi Lạp - La Mã cổ đại những nét gần gũi với quan niệm và lợi ích củagiai cấp mình và những nét độc lập với nền văn hoá phong kiến Vì vậy, giaicấp t sản muốn khôi phục lại nền văn hoá sáng lạn của quốc gia Hi Lạp LaMã, trên cơ sở đó dùng nó làm phơng tiện đấu tranh chống văn hoá phongkiến, góp phần xây dựng một nền văn hoá mới dựa trên cơ sở nhân bản và tự

do Chính vì vậy, cuộc đấu tranh này của giai cấp t sản đợc gọi là phong tràovăn hoá phục hng Nền tảng t tởng cơ bản của văn hoá phục hng là chủ nghĩanhân văn, thực chất là đề cao con ngời (con ngời t sản) để chống lại mọi hủbại của nhà thờ Thiên chúa và bọn quý tộc phong kiến Văn hoá phục hng còn

đề cao chủ nghĩa nhân văn t sản, đề cao giá trị của con ngời, đòi quyền tự docá nhân, đòi đợc giải thoát khỏi mọi sự ràng buộc quy tắc, giáo điều, cũng nhgiải thoát khỏi sự khổ hạnh mà giáo hội Thiên chúa giáo rêu rao mà nhà cácnhà chủ nghĩa trong văn hoá phục hng còn ca ngợi tình yêu nam nữ, ca ngợitình yêu tự do, ca ngợi vẻ đẹp tự nhiên của con ngời Và văn hoá phục hng đặcbiệt đề cao khoa học tự nhiên, xây dựng một thế giới quan duy vật tiến bộ(theo giáo điều Thiên chúa giáo thì trái đất hình vuông, đó là điều vô lý), đãphá thế giới quan duy tâm thần bí của giáo hội phong kiến Tóm lại, phongtrào văn hoá phục hng là đòn tấn công công khai, mạnh mẽ, dũng cảm đầutiên của giai cấp t sản chống chế độ phong kiến suy tàn

Trang 20

Phong trào cải cách tôn giáo là đòn tấn công thứ hai đánh vào hệ t tởngcủa giai cấp phong kiến Cơ đốc giáo là hệ t tởng của chế độ phong kiếnchiếm địa vị thống trị, chi phối Tây Âu trong suốt thời kỳ phong kiến Màtrong đó giáo hội Cơ đốc không chỉ là lực lợng bảo thủ phản động mà còn cốgắng duy trì chính sách ngu dân để phục vụ cho những thủ đoạn bóc lột củachúng Giai cấp t sản coi giáo hội Thiên chúa là một thế lực kinh tế - xã hội và

là thế lực tinh thần cản trở bớc tiến của họ Vì vậy, cuộc đấu tranh chống chế

độ phong kiến đã diễn ra gay gắt trong cả lĩnh vực tôn giáo đã làm bùng lênphong trào cải cách tôn giáo ở Tây Âu Ngời khởi xớng phong trào này là mục

s Luthơ, ngời đã thừa nhận kinh thánh nhng lại phủ nhận mọi giáo điều vànhững quyết định của Giáo hoàng Luthơ chủ trơng cứu vớt con ngời bằng đứctin, với t tởng của Luthơ thì quần chúng nhân dân đã hởng ứng chống giáo hộiThiên chúa và đòi tách giáo hội Đức ra khỏi giáo hội do tòa thánh Vaticăngquản lý Không những thế, Luthơ còn đấu tranh tịch thu toàn bộ đất đai củagiáo hội đa sang cho quý tộc t sản, nhờ thế mà t tởng của Luthơ nhanh chóngtruyền sang các nớc khác

Ví dụ: Thụy sĩ nổ ra phong trào tôn giáo do Canvanh khởi xớng.Canvanh là ngời phát triển t tởng của Luthơ lên một bớc và đã đa ra một cáchgiải thích mới về thuyết định mệnh Đồng thời Canvanh đã thực sự bắt tay vàocông xã giáo hội Canvanh và cải cách tôn giáo đã đợc đông đảo nhân dân ủng

hộ và nhanh chóng lan nhanh khắp Châu Âu thế kỷ XVI mà kết quả là đã làmcho Cơ đốc giáo phân hoá thành hai giáo phái gọi là Cựu giáo và Tân giáo

Sở dĩ bùng nổ cuộc chiến tranh nông dân ở Đức là chịu ảnh hởng củaphong trào cải cách tôn giáo Nó châm ngòi nổ cho nhiều cuộc chiến tranh củanông dân, tiêu biểu là cuộc chiến tranh nông dân Đức Cuộc chiến tranh nôngdân thực chất là đòn tấn công vũ trang đầu tiên của giai cấp t sản đánh vào chế

độ phong kiến, mở màn cho một loạt cuộc cách mạng t sản trong thời kỳ cận

đại

Từ mùa xuân 1524, cuộc đấu tranh của nông dân đã diễn ra quyết liệt

mà ngời lãnh đạo kiệt xuất của phong trào này là Tômát - Munxơ T tởng củaMunxơ là chính quyền phải thuộc về nhân dân lao động, có nghĩa là nhân dânlao động phải nắm lấy quyền tổ chức quản lý xã hội Theo Munxơ, chỉ có đấutranh của quần chúng mới xoá bỏ đợc chế độ phong kiến, phải xây dựng một

Trang 21

thiên đờng giang sơn trên mặt đất Thiên đờng trên mặt đất phải là một xã hộicông bằng, không có t hữu và tất cả của cải đều của mọi ngời.

Với t tởng của Munxơ thì nông dân Đức đã nổi dậy đấu tranh quyết liệt,tạo thành một cuộc chiến tranh nông dân vĩ đại Thế nhng kết cục cuộc chiếntranh nông dân lại bị thất bại bởi lẽ giai cấp t sản Đức lúc đó cha hình thànhhẳn, còn non yếu và giai cấp vô sản Đức thì cha hình thành rõ rệt, cha có một

t tởng cách mạng triệt để soi đờng Riêng t tởng của Munxơ thì cha triệt để,còn hành động của ông thì nửa vời Tuy bị thất bại nhng cuộc đấu tranh củanông dân Đức đã giáng một đòn mạnh vào chế độ phong kiến ở Châu Âu thờihậu kỳ trung đại Đồng thời đã để lại cho đời sau những bài học quý báu, nhất

là bài học tất yếu phải có khối liên minh công nông để đảm bảo cho cáchmạng thắng lợi

Tóm lại: ở Châu Âu nói chung và ở Tây Âu nói riêng, với sự phát triển

của kinh tế hàng hoá TBCN nó đã đẩy sự phân hoá xã hội diễn ra một cáchnhanh chóng hơn bao giờ hết

Trang 22

ớc khác Những tiền đề lịch sử của sự tan rã chế độ phong kiến và của sự ra

đời của CNTB bằng đầu hình thành từ thời trung đại khi mà sự thống trị của

hệ thống phong kiến còn đầy đủ và hình nh là vĩnh hằng Từ thế kỷ XIII - XV,

ở các nớc Tây Âu ngời ta thấy xuất hiện các yếu tố của sự giải thể đang ănmòn dần chế độ phong kiến Xuất phát điểm là từ mối mâu thuẫn giữa haihình thức sở hữu phong kiến và công xã ở sơ kỳ trung đại, đó là mâu thuẫnchính, và cuộc đấu tranh giữa hai mặt của nó đã kết thúc bằng thắng lợi củalãnh địa phong kiến ở giai đoạn phát triển của chế độ phong kiến, bản thâncông xã nông nô hoá đã trở thành một yếu tố của tổ chức kinh tế lãnh địa và bịbọn quý tộc lợi dụng để "chia đều các phần đất" củng cố chế độ "đảm phụ phúdịch" (những ngời nông nô phải đảm nhiệm các nhiệm vụ lao dịch, thậm chí

đi làm trong quân đội của các lãnh chúa)

Song, sự tan rã của công xã đã kéo theo tình trạng biệt lập của nền kinh

tế nông dân và sự tăng cờng của chế độ sở hữu nhỏ Mâu thuẫn giữa chế độ sởhữu phong kiến và chế độ sở hữu nông dân nổi lên hàng đầu Bọn quý tộc c ớpbóc nông dân, bắt họ chịu lao dịch và tô hiện vật nặng nề, sử dụng rộng rãi sựcỡng bức siêu kinh tế, nhng vẫn không thể nào thủ tiêu đợc mâu thuẫn đó.Năng lực hoạt động kinh tế của ngời nông nô đã là tiền đề của việc nộp tô

đúng hạn và hoàn thành lực dịch phải làm Do đó bọn phong kiến phải chấpnhận sự tồn tại của chế độ sở hữu tiểu nông mà những ngời nông nô bảo vệ.Vào cuối thế kỷ XII khi các thành thị bắt đầu hng khởi, mâu thuẫn đó lại lancả sang thành thị Với vũ khí trong tay, những ngời thị dân đã bảo vệ sự độc

Trang 23

lập của chế độ sở hữu nhỏ và đã thoát khỏi tình trạng nông nô Kết cấu sảnxuất hàng hoá nhỏ hình thành ở dạng thủ công nghiệp phờng hội, chế độ sởhữu của ngời thợ cả phờng hội và của thơng nhân thành thị tơng đối đảm bảo,

đạt đợc tính độc lập của nó ở thành thị thời trung đại, cái gọi là tầng lớp ợng lu ra đời và sát nhập với các quý tộc phong kiến Chính các phờng hộicũng phần nào bị phong kiến hoá

th-Trong chính sách của phờng hội, xu hớng đẳng cấp bộc lộ hết sức rõ rệt.Những quy chế của phờng hội mang tính chất bình quân Những truyền thốngcông xã đợc phục hồi khá rõ rệt ở nông thông trung đại

Song, những quy luật phát triển của nền sản xuất hàng hoá thì khôngthể biến đổi đợc Và từ thế kỷ XIV - XV, ngời ta thấy bắt đầu xuất hiện những

xu hớng TBCN trong nền sản xuất hàng hoá TBCN ở các thành thị Tây Âu.Một mặt các "thợ bạn vĩnh viễn" ra đời, mặt khác các thợ cả giàu có xuất hiện.Tất cả những điều đó đợc thể hiện cả trong các luật lệ phờng hội và đã dẫn đến

sự kì thị đối với thợ bạn và thợ học việc ở đây, các quy luật kinh tế vốn cócủa nền sản xuất hàng hoá phát huy tác dụng và trên cơ sở chế độ sở hữu nhỏ

đã nảy sinh chế độ sở hữu lớn Những chủ thầu và cả những chủ công trờngthủ công ra đời Hiện tợng thợ cả bóc lột "thợ bạn vĩnh viễn" trở thành có hệthống Các hình thức sản xuất TBCN ra đời ở các thành thị ý và Nêđeclan,những hình thức khác nhau của công trờng thủ công TBCN xuất hiện ngay từthế kỷ XIV - XV Chế độ sở hữu phong kiến giờ đây đã đối lập với chế độ sởhữu TBCN Những hình thức sản xuất phủ định các nguyên lý cơ bản của cácchế độ phong kiến không thể nào ngăn cản đợc CNTB nảy sinh và chuẩn bịcho sự thắng lợi của một hình thái kinh tế xã hội khác

Những mầm mống của CNTB xuất hiện ngay từ thế kỷ XIV - XV vàchúng là kết quả tất yếu của một quá trình lịch sử tự nhiên khi mà nhữngmâu thuẫn của chế độ phong kiến phát triển đến đỉnh cao Nh ng chúng chỉ

có thể phát triển rộng rãi vào những thế kỷ XVI - XVIII khi mà quá trình tanrã của chế độ phong kiến diễn ra đặc biệt nhanh chóng và sự phát triển củanhững lực lợng sản xuất hết sức không phù hợp với hệ thống quan hệ sảnxuất trì trệ Trong thời kỳ này, hàng loạt các phát minh tiến bộ ra đời thúc

đẩy sản xuất phát triển nh cải tiến guồng nớc, cải tiến khung cửi, sa quay sợi,cũng nh các thuốc nhuộm khác nhau đợc đa về từ Phơng Đông xa xôi, hay

Trang 24

những phát minh trong việc chế tạo đại bác và súng tay nó có ý nghĩa rấtquan trọng vì các loại vũ khí này đã làm thay đổi ph ơng thức của cuộc chiếntranh Giờ đây những thành lũy trớc kia đợc coi là rất chắc chắn của các lãnhchúa phong kiến có thể bị đạn của chúng bắn thủng Nh vậy các loại vũ khínày kết hợp với sự tiến bộ trong khai mỏ, luyện kim và in ấn là ph ơng tiệnquan trọng đảm bảo cho sự thắng lợi của CNTB đối với chế độ phong kiến và

về sau nó đảm bảo cho sự thắng lợi của các nớc Tây Âu trong việc chinhphục thuộc địa

Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nó tạo đà cho nền kinh tếhàng hoá phát triển Nền sản xuất hàng hoá phát triển ở các thành thị đã phục

vụ cho chế độ phong kiến rất lâu dài, bên cạnh vai trò của thơng nhân và cácchủ cho vay nặng lãi, thì ở thành thị trung đại đã xuất hiện cái gọi là "tầng lớpthợng lu" và nó sáp nhập với các quý tộc phong kiến hoá Trong chính sáchcủa phờng hội, xu hớng đẳng cấp hoá bộc lộ hết sức rõ rệt Việc xuất hiện các

"thợ bạn vĩnh viễn" và "thợ cả giàu có" dẫn đến giai cấp t sản nông thôn hìnhthành và các trang trại TBCN xuất hiện ở vài nớc (nh ở Anh chẳng hạn) ngaybọn quý tộc cũng bắt đầu t sản hoá Sự cớp đoạt đối với giai cấp nông nhâncàng đẩy mạnh thêm sự tan rã của chế độ phong kiến, CNTB đã bắt đầu pháttriển ở nông nghiệp Nh vậy, trong giai đoạn quá độ từ chế độ phong kiến sangCNTB, quy luật tơng ứng giữa quan hệ sản xuất và trình độ của lực lợng sảnxuất đã tự vạch lấy đờng đi của mình

ở Tây Âu thời hậu kỳ trung đại đã diễn ra phong trào phát kiến địa lý,nhiều châu lục mới đã đợc phát hiện, cùng với quá trình đó là sự cớp bócthuộc địa đã đem cho Châu Âu một khối lợng vàng bạc, hàng hoá và nô lệ.Theo nhà sử học Đetberơ thì trong khoảng từ năm 1493 đến đầu thế kỷ XVI, l-ợng vàng ở Châu Âu tăng từ 550.000 kg lên tới 1.192.000 kg Đó chính lànhững nguồn vốn đầu tiên của quá trình tích lũy nguyên thủy Định nghĩa vềquá trình tích lũy t bản nguyên thủy, Mác viết: "Quá trình tạo ra quan hệTBCN không thể là cái gì khác hơn là một quá trình tách rời giữa ngời lao

động khỏi quyền sở hữu điều kiện lao động của anh ta, quá trình một mặt thìbiến t liệu sản xuất và t liệu sinh hoạt của xã hội thành t bản, và mặt khác biếnnhững ngời sản xuất trực tiếp thành những ngời lao động làm thuê Do đó, cáigọi là tích lũy ban đầu chẳng qua chỉ là một quá trình lịch sử tách rời ngời sản

Trang 25

thị trờng thế giới ra đời và những quy chế thuộc thời trung đại của thơngnghiệp mất hết cơ sở kinh tế Ngời ta đòi hỏi một khối lợng lớn hàng hoá,trong lúc đó thủ công nghiệp phờng hội của sản xuất công nghiệp trở thànhmột vật vô nghĩa T bản lớn đợc hình thành và có thể đợc ứng dụng trong côngnghiệp Song, những đặc quyền của phờng hội giờ đây đógn vai trò phản động,

đã ngăn trở điều đó Thơng nhân trở thành chủ công trờng, còn chủ cho vaynặng lãi thì trở thành chủ ngân hàng

Ngoài sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, quá trình tích lũy t bảnnguyên thủy là điều kiện dẫn đến xuất hiện quan hệ sản xuất TBCN

Thực chất, tích lũy t bản nguyên thủy đợc thực hiện bằng nhiều biệnpháp, trong đó tàn bạo nhất là phong trào rào đất cớp ruộng ở Anh và việc cớpbóc thuộc địa Do nghề dệt len dạ phát triển mạnh, nhu cầu về lông cừu tăng

và giá lông cừu tăng vọt nên bọn chúa phong kiến đã ra sức cớp đoạt ruộng đấtcủa nông dân để biến thành đồng cỏ chăn cừu Bọn chúa đất đã tiến hànhkhoanh những vùng rộng lớn trong đó bao gồm cả ruộng, nhà cửa của nôngdân và cả những vùng đất hoang, rừng rú, ao hồ mà nông dân sử dụng để biếnthành khu vực chăn nuôi lấy lông bán ra thị trờng kiếm lời

Phần lớn những ngời nông dân bị mất ruộng trở thành những ngời đilang thang, ăn mày hoặc thành kẻ cớp Để biến những ngời này thành côngnhân làm thuê cho các chủ xởng, nhà nớc ở Tây Âu đã cho ra đời các đạo luậtmang tính cỡng bức, tiêu biểu là ở Anh

Năm 1495, chính phủ Anh ra lệnh xử phạt ngời lang thang ăn xin 3ngày tù giam với bánh mì và nớc lã

Năm 1530, chính phủ Anh quy định chỉ cấp giấy phép đi ăn xin chonhững ngời già cả, những ngời còn khỏe mạnh ăn xin bị phạt đòn và bỏ tù

Năm 1535, chính phủ Anh quy định nếu bắt đợc ngời ăn xin lần thứ hai

sẽ bị cắt tai, lần thứ ba sẽ bị xử tử

Năm 1547 quy định kẻ nào không chịu lao động bị xử phạt làm nô lệcho ngời tố giác Nếu trốn hai tuần sẽ bị phạt làm nô lệ suốt đời và bị thíchdấu nung đỏ lên trán với chữ "nô lệ" (slave), nếu tái phạm sẽ bị tử hình

Cớp bóc tài nguyên và sức ngời ở thuộc địa là biện pháp tàn bạo trongtích lũy t bản ban đầu

Trang 26

Sau khi các châu lục mới đợc phát hiện, ngời Tây Âu đua nhau chiếmthuộc địa thị trờng ở Châu Mỹ - Phi - á, vơ vét vàng bạc, săn bắt ngời da đenlàm nô lệ, chôn vùi họ trong các hầm mỏ, đồn điền, biến Châu Phi thành vùngcấm để săn bắt, buôn bán ngời da đen.

Thực chất của quá trình tích lũy t bản nguyên thủy đó là việc tập trungvốn vào tay một số ngời lao động để biến thành họ lao động làm thuê Mác đãchỉ ra rằng: Sự phát hiện các nguồn vàng bạc ở Châu Mỹ, việc nô dịch và chônsống c dân địa phơng trong các hầm mỏ, sự chinh phục và cớp bóc vùng Đông

ấn Độ, việc biến Châu Phi thành cấm địa săn ngời da đen - đó là bình minhcủa kỷ nguyên sản xuất TBCN Rồi tiếp theo là cuộc "chiến tranh thơngnghiệp" giữa các dân tộc Châu Âu Mác đã chỉ ra rằng: "Các nhân tố khácnhau của sự tích lũy nguyên thủy đã đợc phân phối theo một trình tự lịch sửliên tục giữa các nớc sau: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp và Anh ởnớc Anh cuối thế kỷ XVII, các nhân tố đó hợp nhất lại một cách hệ thốngtrong chế độ thuộc địa, chế độ quốc trái, chế độ thuế khoá hiện đại và chế độbảo hộ Những phơng pháp đó lại do chính quyền nhà nớc, nghĩa là bạo lực cótính chất xã hội, tập trung và có tổ chức, sử dụng để đẩy nhanh quá trình biếnphơng thức sản xuất phong kiến thành phơng thức sản xuất TBCN và rút ngắngiai đoạn quá độ lại Bạo lực là bà đỡ cho bất kỳ một xã hội nào khi nó thainghén trong lòng một xã hội mới Bản thân bạo lực là tiềm năng kinh tế

Vào thế kỷ XVI - XVII, sự phát triển của CNTB ở hàng loạt các nớcTây Âu đã diễn ra rầm rộ ở Hà Lan và Anh nó giành đợc địa vị vững chắc ở

ý, Tây Ban Nha, Pháp nó đã ăn sâu, mọc rễ Thậm chí nó còn thiên di sang cảBắc Mĩ Nhng sự phát triển của CNTB ở giai đoạn này không vợt ra ngoài giớihạn của thời kì công trờng thủ công

Công trờng thủ công t bản chủ nghĩa ra đời và trở thành một hiện tợngphổ cập của thế kỷ XVII Những công trờng này đợc dựng lên ở các thành thịven biển và không chịu tác động của những quy chế phờng hội Dùng một l-ợng t bản lớn các thơng nhân đã dựng lên chúng Song các chủ công trờng thủcông xuất thân từ các thợ cả phờng hội, từ những ngời trực tiếp sản xuất Chonên, Mác đã phân biệt hai con đờng nảy sinh công trờng thủ công là công tr-ờng thủ công phân tán và công trờng thủ công tập trung, nhng trong đó cácchủ thầu và thơng nhân vẫn giữ vai trò quyết định Trong lịch sử công nghiệp

Trang 27

Châu Âu, bản thân giai đoạn công trờng thủ công gắn chặt với mọi biến cốcủa sự tích của sự tích luỹ nguyên thủy của t bản Mác viết: "Hệ thống thuộc

địa, quốc trái, ách thuế khoá, chế độ bảo hộ, chiến tranh thơng mại tất cảnhững loại con cháu của giai đoạn công trờng thủ công đã lớn vọt lên trongthời thơ ấu của đại công nghiệp" [6 - 170]

Về quan hệ kinh tế hệ thống công trờng thủ công đã vợt ra khỏi thủcông nghiệp phờng hội thời trung đại Ngời ta đã có thể sản xuất ra hàng loạt.Năng xuất lao động tăng lên rất nhiều Điều này sở dĩ đạt đợc là do có sự hợptác một khối lợng lớn sức lao động trong cùng một xởng và có sự phân cônglao động tỉ mỉ Có khâu đợc ngời ta sử dụng cả máy móc Chủ nghĩa t bảncông trờng thủ công đã tạo nên sự phát triển của lực lợng sản xuất và đẩynhanh hơn nữa sự tan rã của chế độ phong kiến Trong thời kì t bản công trờngthủ công diễn ra trong khoảng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII và là giai đoạnchuẩn bị cho sự toàn thắng của CNTB

ở nông thôn cũng xuất hiện cho những tiền đề phát triển CNTB Sau khitính hạn chế của nền kinh tế tự nhiên trong lãnh địa phong kiến bị thủ tiêu, thìmột chân trời mở rộng ra cho thành thị ảnh hởng đến nông thôn Nh mọi ngờibiết ở gian đoạn trung đại cổ điển, nền kinh tế tự nhiên là đặc trng của hìnhthức sản xuất phong kiến Sự tiêu vong của nó vào thời kì trung đại đã làm yếu

đi địa vị kinh tế của chế độ phong kiến Sự chuyển biến từ lực dịch sang tô,ban đầu là tô hiện vật sau sang tiền, có nghĩa là hệ thống phong kiến đã mất đinhững chức năng sản xuất của mình và biến thành một cơ cấu ăn bám thuầntuý

Vào thế kỷ XIV - XV, quá trình xoá bỏ chế độ nông nô xảy ra ở Anh,Nêđeclan và một phần ở Pháp Do đó sản xuất t bản chủ nghĩa xâm nhập vàolĩnh vực nông nghiệp

Sự phát triển mạnh của công trờng thủ công đòi hỏi hai nguồn nguyênliệu dồi dào, thị dân và thợ thủ công tăng nhanh nên nhu cầu lơng thực, thựcphẩm càng lớn Điều đó làm cho nông nghiệp phát triển theo hớng sản xuấthàng hóa cung cấp cho nông nghiệp Sản xuất t bản chủ nghĩa trong nôngnghiệp biểu hiện dới những hình thức sau:

Những trang trại phú nông tham gia sản xuất hàng hóa, một ít nông dântrở nên giàu có, số này tìm cách mở rộng trang trại rồi tìm các nông dân bị

Trang 28

phá sản vào làm việc Vậy là những trang trại ấy trở thành xí nghiệp nôngnghiệp mang tính chất TBCN (lúc đầu những ngời trong gia đình phú nôngcùng tham gia làm việc trong các trang trại nh vậy) Hay những trang trại của

địa chủ phong kiến sử dụng sức lao động của những ngời làm thuê thay chonông dân lệ thuộc để phát triển sản xuất hàng hóa Nh vậy, phơng thức bóc lột

đã mang tính chất t bản chủ nghĩa Hoặc trại ấp của t bản nông nghiệp nằmtrong lãnh địa của các chúa phong kiến do thuê đợc đất bọn t sản nông nghiệp,thuê công nhân nông nghiệp vào làm việc và bóc lột khoản giá trị thặng d lớn

Do việc thay đổi sử dụng ruộng đất và ngời lao động, cơ cấu giai cấp ởnông thôn cũng thay đổi Quan hệ lãnh chúa - nông nô trớc đây đợc thay thay

đổi bằng quan hệ "lãnh chúa - chủ trại ấp - công nhân nông nghiệp" Địa tô

mà chủ trại ấp phải nộp cho lãnh chúa cũng không còn mang tính chất phongkiến nữa mà mang tính chất TBCN, vì nó đợc trích ra từ giá trị thặng d mà chủtrại ấp bóc lột đợc của công nhân nông nghiệp

2.2 Sự xuất hiện giai cấp mới dới tác dụng của quan hệ sản xuất TBCN.

Cùng với sự tích lũy t bản nguyên thủy và xuất hiện nền sản xuấtTBCN, hai giai cấp mới đã ra đời, đó là t sản và giai cấp vô sản

Giai cấp t sản là giai cấp của nhà t bản sở hữu t liệu sản xuất xã hội và

sử dụng lao động làm thuê

Bàn về nguồn gốc và quá trình hình thành giai cấp t sản trong tuyênngôn của Đảng Cộng sản chỉ rõ: "Từ những nông nô trung cổ nảy ra những thịdân các thành thị đầu tiên, từ c dân thành thị này nảy sinh ra những phần tử

đầu tiên của giai cấp t sản [8 - 78]

Giai cấp vô sản đợc hình thành trong quá trình hình thành ra giai cấp vôsản

Trong nông nghiệp: Giai cấp vô sản là những công nhân làm thuê và bịmất t liệu sản xuất của mình, buộc phải bán sức lao động để kiếm sống trongcác công trờng thủ công

Trong nông nghiệp: Những ngời nông dân bị tớc đoạt ruộng đất, bị cỡngbức làm thuê và trở thành vô sản

Các Mác đã chỉ rõ: "Việc tớc đoạt và xua đuổi dân ở nông thôn ra khỏi

Trang 29

ở thành thị ngày càng nhiều những con ngời vô sản hoàn toàn đứng ngoài ờng hội" [6 - 328].

ph-Giai cấp công nhân làm thuê xuất hiện vào nửa sau thế kỷ XIV, songlúc đó mới chỉ là bộ phận ít ỏi trong c dân, họ là việc trong các công trờng thủcông do đó lực lợng còn non yếu Họ bị bóc lột tàn tệ, làm việc đến 15 giờmột ngày, tiền lơng ít ỏi lại hay thờng bị cớp đoạt nên công nhân thờng nổidậy đấu tranh, tiêu biểu là cuộc đấu tranh của công nhân in ở Liông (Pháp)vào năm 1539 và đến 1574 mới bị dập tắt

Nh vậy, những tiền đề trên đã đa đến sự ra đời của chủ nghĩa t bản ởTây Âu thời kì trung đại CNTB ra đời nó đánh dấu một bớc tiến trong lịch sửxã hội loài ngời, nó làm tan rã dần quan hệ sản xuất phong kiến và thay vào đó

là một quan hệ mới phù hợp hơn

Nói tóm lại, CNTB mới ra đời đã tỏ ra hơn hẳn chế độ phong kiến vềmọi mặt và nó tác động to lớn về tình hình giai cấp xã hội ở Tây Âu thời hậu

kỳ trung đại

Trang 30

ơng 3:

Tình hình giai cấp xã hội ở châu âu thời hậu kì trung đại

d-ới tác động của quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa

Về nguồn gốc và quá trình hình thành giai cấp t sản thì tuyên ngôn

Đảng Cộng sản viết: "Từ khi những nông nô thời trung cổ đã nảy sinh ranhững thị dân các thành thị đầu tiên, từ dân c thành thị này đã nảy sinh ranhững phần tử đầu tiên của giai cấp vô sản" [6 - 541]

ở Tây Âu thời kỳ hậu trung đại, giai cấp t sản vốn là những ngời thợ cả

đứng đầu phờng hội, là những thơng nhân, chủ ngân hàng hay nhà buôn lớn,

họ nắm trong tay t liệu sản xuất chính về công thơng nghiệp, bóc lột côngnhân Thành phần của t sản hết sức phức tạp Họ có thể là quý tộc thành thịtrung cổ đã từng nắm chính quyền thành thị, họ liên minh với vua để chống lạilãnh chúa phong kiến, thiết lập quốc gia trung ơng tập quyền và đợc nhà vuachuyên chế che chở, bảo hộ trong hoạt động kinh doanh Họ cũng có thể là th-

ơng nhân, chủ công xởng thủ công, bọn chủ thầu, bọn cho vay nặng lãi, thợthủ công tự do, cả ngời làm công mới giàu lên Họ còn có thể là quý tộc mớitức là quý tộc phong kiến kinh doanh ruộng đất theo kiểu t bản chủ nghĩa, quýtộc t sản hóa Nhng nói chung, giai cấp giàu có chỉ trở thành t sản khi họchiếm đoạt lấy t liệu sản xuất chính và sức lao động của công nhân Trongthời kỳ hậu trung đại, để có vốn kinh doanh và mở rộng sản xuấi làm giàu,

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. F.Ăngghen (1956). Tuyển tập <tập 1>. NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: F.Ăngghen
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1956
2. Chiêm Tế (1970). Lịch sử thế giới cổ đại. Tủ sách ĐHSP, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Tác giả: Chiêm Tế
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1970
3. V.I.Lênin (1899). Sự phát triển của chủ nghĩa t bản ở Nga. NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của chủ nghĩa t bản ở Nga
Nhà XB: NXB Sự thật
4. Lơng Ninh (1999). Những nền văn minh thế giới. NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn minh thế giới
Tác giả: Lơng Ninh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1999
5. Các Mác (1975). T bản <quyển 1, tập 1>. NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T bản
Tác giả: Các Mác
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1975
6. Các Mác (1975). T bản <quyển 1, tập 3>. NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T bản
Tác giả: Các Mác
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1975
7. Các Mác (1970). Các xã hội tiền t bản. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xã hội tiền t bản
Tác giả: Các Mác
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1970
8. Các Mác. Những hình thức có trớc sản xuất TBCN. TTKHKT - số 1.Viện Sử học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hình thức có trớc sản xuất TBCN
9. Các Mác - Ăngghen (1962). Tuyển tập <tập 1>. NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Các Mác - Ăngghen
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1962
10. Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Văn ánh - Đỗ Đình Hằng - Trần Văn La (1999). Lịch sử thế giới trung đại. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại
Tác giả: Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Văn ánh - Đỗ Đình Hằng - Trần Văn La
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
11. Nguyễn Khắc Thân (1996). CNTB đơng đại - mâu thuẫn và vấn đề.NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNTB đơng đại - mâu thuẫn và vấn đề
Tác giả: Nguyễn Khắc Thân
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1996
12. F.Ia.Pôlianxki (1978). Lịch sử kinh tế các nớc (ngoài Liên Xô). Thời kỳ TBCN. NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kinh tế các nớc (ngoài Liên Xô). Thời kỳTBCN
Tác giả: F.Ia.Pôlianxki
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1978
13. Vũ Dơng Ninh - Nguyễn Văn Hồng - Mai Bạch Tuyết (1986). Lịch sử cận đại thế giới. NXB ĐH và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sửcận đại thế giới
Tác giả: Vũ Dơng Ninh - Nguyễn Văn Hồng - Mai Bạch Tuyết
Nhà XB: NXB ĐH và THCN
Năm: 1986
14. Tủ sách ĐHSP Hà Nội (1962). Lịch sử thế giới trung cổ <tập 1, 2>.NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung cổ
Tác giả: Tủ sách ĐHSP Hà Nội
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1962
15. Tủ sách ĐHSP Hà Nội (1962). Lịch sử thế giới trung cổ. Chế độ phong kiến mạt kỳ. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung cổ. Chế độ phongkiến mạt kỳ
Tác giả: Tủ sách ĐHSP Hà Nội
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1962

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sự chuyển biến tình hình giai cấp ở Châu Âu - Tình hình giai cấp xã hội ở châu âu thời kỳ hậu trung đại dưới tác động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
chuy ển biến tình hình giai cấp ở Châu Âu (Trang 1)
Cuối cùng ta xét tình hình của loại hộ bậc trung (hộ gieo trồng từ 10 - 25 đêxiatin). Loại hộ này có thu nhập bằng tiền về nông nghiệp là 191 rúp, mỗi hộ ở loại này có 3,2 súc vật cày kéo, đáng lẽ phải có 4 con mới "đủ bộ" - Tình hình giai cấp xã hội ở châu âu thời kỳ hậu trung đại dưới tác động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
u ối cùng ta xét tình hình của loại hộ bậc trung (hộ gieo trồng từ 10 - 25 đêxiatin). Loại hộ này có thu nhập bằng tiền về nông nghiệp là 191 rúp, mỗi hộ ở loại này có 3,2 súc vật cày kéo, đáng lẽ phải có 4 con mới "đủ bộ" (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w