Tuy nhiên do tính đặc thù của từng vùng trồng của Hà Nội cùng với kỹ thuật và kinh nghiệm trồng, chăm sóc không hợp lý, sự phát sinh phát triển của sâu bệnh hại, sự thay đổi về môi trườn
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
**********************
VŨ THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG BƯỞI DIỄN TRÊN ĐẤT ĐỒI
GÒ HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐOÀN VĂN LƯ
HÀ NỘI, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả và số liệu nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng hoặc công bố bởi các công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đoàn Văn Lư, người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn chỉnh luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS Cao Văn Chí và các đồng chí tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây có múi đã giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình tôi thực hiện đề tài tại Trung tâm nghiên cứu phát triển cây
có múi
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong bộ môn Rau Hoa Quả, khoa nông học, Ban đào tạo sau đại học, Học viện nông nghiệp Việt Nam đã giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đõ nhiệt tình của Lãnh đạo và cán bộ Trung tâm phát triển cây trồng đã tạo điều kiện thuận lợi và động viên tôi để tôi thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn thành khóa học thạc sỹ nông nghiệp
Tôi xin gửi lời cám ơn tới một số bà con nông dân tại huyện Chương Mỹ đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả người thân, bạn bè luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày … tháng 3 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hằng
Trang 5MỤC LỤC
1.5.1 Những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng trên cây có múi trên thế giới 17
Trang 62.4.2 Chỉ tiêu theo dõi 29
3.1 Điều tra, đánh giá về tình hình sản xuất cây bưởi trên địa bàn huyện Chương
3.1.1 Điều tra, đánh giá về tình hình sản xuất cây bưởi trên địa bàn TP Hà Nội 32
3.1.2 Điều tra, đánh giá về tình hình sản xuất cây bưởi trên địa bàn huyện
và tình hình sâu bệnh hại trên cây bưởi Diễn tại những độ cao khác nhau
3.2.4 Sức sống hạt phấn của các cây bưởi Diễn ở các độ cao khác nhau trên
3.2.5 Tỷ lệ đậu quả của các cây bưởi Diễn ở các độ cao khác nhau của huyện
3.2.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây bưởi Diễn tại các
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất,
3.3.1 Nghiên cứu sử dụng chế phẩm phun qua lá đến năng suất, chất lượng
3.4.1 Ảnh hưởng của công thức bón phân đến năng suất và các yếu tố cấu
Trang 73.4.2 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến thành phần cơ giới và chất
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.4 Diện tích, năng suất, sản lượng cây ăn quả từ năm 2011-2014 của
3.8 Đặc điểm hình thái của cây Bưởi diễn tại các độ cao khác nhau tại
3.12 Sức sống hạt phấn của các cây bưởi Diễn ở các độ cao khác nhau trên
3.14 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các cây bưởi Diễn ở
3.15 Thành phần cơ giới của quả bưởi Diễn ở các độ cao khác nhau của
3.16 Đặc điểm quả của các cây bưởi Diễn ở các độ cao khác nhau của vùng
3.17 Chỉ tiêu chất lượng quả bưởi Diễn tại các độ cao khác nhau của huyện
Trang 93.18 Mức độ sâu bệnh hại cây Bưởi diễn tại các độ cao khác nhau tại huyện
3.19 Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng
3.20 Ảnh hưởng của công thưc phân bón lá đến thành phần cơ giới và chất
3.21 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến các yếu tố cấu thành năng
3.22 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến thành phần cơ giới và chất
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1 Đặc điểm thái lá của 3 công thức bưởi Diễn tại các độ cao khác nhau
3.5 Thành phần cơ giới của các cây bưởi Diễn ở các độ cao khác nhau trên
3.6 Hàm lượng đường tổng số và hàm lượng % chất khô của các công
Trang 118 QSEAP Dự án “ Nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông
nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học”
9 FAO Food and agriculture Organization
(Tổ chức nông nghiệp và lương thực)
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây Bưởi (Citrus grandis (L) Osbeck) là cây ăn quả được trồng ở nhiều vùng trên cả nước và tạo nên loại quả đặc sản cho từng vùng sinh thái riêng như bưởi Diễn, bưởi Năm Roi, bưởi Đoan Hùng, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch, Mỗi loại có hương vị đặc trưng của mỗi vùng miền của đất nước Cây bưởi đang trở thành cây ăn quả có ưu thế trong sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu bưởi là thế mạnh trong sản xuất quả của mỗi vùng kinh tế
Bưởi Diễn là một loại quả đặc sản, một loại cây ăn quả chủ lực đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho người nông dân Hà Nội
Với gần 2.500 ha được trồng ở nhiều huyện thuộc khu vực ngoại thành như Từ Liêm, Hoài Đức, Đan Phượng, song trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, diện tích được chuyển đổi trồng bưởi Diễn không ngừng gia tăng, đặc biệt tại vùng đất đồi gò thuộc các huyện ngoại thành Hà Nội
Tuy nhiên do tính đặc thù của từng vùng trồng của Hà Nội cùng với kỹ thuật và kinh nghiệm trồng, chăm sóc không hợp lý, sự phát sinh phát triển của sâu bệnh hại, sự thay đổi về môi trường nên bưởi Diễn trồng ở các vùng của Hà Nội nói chung và vùng bưởi trồng trên đất đồi gò hiện nay có năng suất, chất lượng không đồng đều, có chiều hướng giảm, đặc biệt vấn đề chất lượng quả và hiện tượng mất mùa trên bưởi Diễn, tại các vùng trồng bưởi Diễn liên tục xảy ra hiện tượng rụng hoa, rụng quả non, quả sinh trưởng phát triển kém Vì vậy, tuy diện tích sản xuất trên vùng đất đồi gò có tăng nhưng năng suất, chất lượng và giá trị hiệu quả kinh tế lại không tăng và không ổn định, đây chính là vấn đề bức xúc lớn không chỉ với người trồng bưởi Diễn mà với tất cả các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan khoa học và các nhà khoa học từ Trung ương đến địa phương
Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng bưởi Diễn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn góp phần nâng cao thu nhập cho người sản xuất, bảo vệ và phát triển vùng sản xuất bưởi Diễn, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sinh thái đô thị bền vững
Trang 132 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở điều tra hiện trạng và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng bưởi Diễn trên vùng đất đồi gò huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá hiện trạng sản xuất cây bưởi Diễn tại vùng đất đồi gò huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Khảo sát và đánh giá đặc điểm nông sinh học của cây bưởi Diễn trồng trên các địa hình vườn khác nhau của vùng đất đồi gò huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật (bón phân qua đất, phun các chế phẩm qua lá, bao bảo vệ quả) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng bưởi Diễn
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học:
Việc nghiên cứu hiện trạng, đánh giá hiện trạng sản xuất cây bưởi Diễn và các biện pháp kỹ thuật trên vùng đất đồi gò huyện Chương Mỹ TP Hà Nội nhằm góp phần trong công tác định hướng vùng trồng, chọn đất thích hợp cũng như tìm
ra quy trình canh tác phù hợp với vùng trồng
Việc nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá, phân bón tổng hợp và biện pháp bao quả bưởi làm cơ sở để xây dựng kỹ thuật thâm canh tăng năng suất, chất lượng quả bưởi Diễn
3.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của để tài làm cơ sở để làm tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, tư vấn và hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây bưởi Diễn cho vùng đất đồi gò huyện Chương Mỹ, góp phần nâng cao diện tích, năng suất, chất lượng quả bưởi Diễn trên địa bàn huyện
Trang 144 Đối tượng và giới hạn của đề tài
- Đối tượng: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên vườn cây bưởi Diễn có tuổi
9 năm tuổi, nhân giống bằng phương pháp ghép mắt tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây có múi và hộ gia đình tại Thị trấn Xuân Mai TP Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Đề tài thực hiện thời gian từ tháng 3/2014 đến tháng 5/2015
Giới hạn của đề tài: Đề tài nghiên cứu nhằm xác định một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất chất lượng bưởi Diễn trên vùng đất đồi gò huyện Chương Mỹ TP Hà Nội
Trang 15CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cây Bưởi được trồng nhiều ở các vùng sinh thái khác nhau, xong trên thực
tế hiện nay diện tích trồng cây Bưởi manh mún nhỏ lẻ, chủ yếu được trồng theo hướng tự phát, cây giống, độ tuổi, chất lượng giống chưa được đảm bảo nên sản phẩm quả không đồng đều về hình dạng, màu sắc và kích thước Người nông dân chưa áp dụng đúng kỹ thuật về kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, sơ chế, bảo quản vì vậy chất lượng quả chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường (Boun Keua Vongsalath, 2005)
Do mỗi vùng trồng có tính chất đất, khí hậu, kỹ thuật canh tác, nhân giống khác nhau có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng vì vậy có ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và thương hiệu quả Bưởi Diễn Vấn đề đặt
ra hiện nay là làm thế nào để cây Bưởi diễn có năng suất, chất lượng cao và vẫn giữ được thương hiệu loại quả đặc sản Hà Nội do đó vấn đề nghiên cứu hiện trạng và ảnh hưởng của điều kiện trồng trọt cũng như những biện pháp kỹ thuật tác động đến cây là vấn đề được các nhà nông, khoa hoc quan tâm
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Bưởi các yếu tố khí hậu thời tiết trong vườn có ảnh hưởng lớn đến nhịp điệu ra lộc, cành, ra hoa, đậu quả dến khả năng thoát nước, hô hấp không chỉ ở bộ phận trên mặt đất mà còn
cả bộ rễ của cây Những nghiên cứu về tác động của môi trường sống dến cây đã được nghiên cứu một phần song chưa đầy đủ
Sự tham gia của các chất điều hòa sinh trưởng, tùy vào loại đất mà chúng
có thể tham gia vào các hoạt động như: quá trình ra lá, ra hoa, đậu quả, phát chồi, tăng trưởng chiều cao, Nền nông nghiệp hiện đại công nghệ cao đã và đang trở thành xu hướng tích cực sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng như một giải pháp nhằm điều tiết quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất và cả chất lượng quả của cây (Hoàng Minh Tuấn và Nguyễn Quang Thạch, 1993; Hoàng Minh Tấn và cộng sự, 2000)
Trang 16Trong quá trình sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất thì các chất dinh dưỡng có vai trò quan trọng với cây trồng, các chất này có sẵn trong đất và được người trồng cung cấp cho cây qua đất, người trồng cũng có thể cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây bằng việc phun qua lá Biện pháp này có tác dụng
bổ sung nhanh một vài yếu tố cho cây nhằm hạn chế kịp thời tác động xấu do thiếu chúng gây ra (Lê Văn Tri và cộng sự, 1990)
1.2 Nguồn gốc, vị trí phân loại cây Bưởi
Hiện nay, cây có múi là một trong những loại cây ăn quả chủ yếu và được trồng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt tại các nước Đông Nam Á, cây có múi được cho là cây trồng chủ lực (Mung, 2008)
Đông Nam Á là một trung tâm quan trọng hàng đầu về sự đa dạng cây ăn quả Trong số hơn 12.000 loài ở vùng này thì có nhiều loài cho quả ăn được (Wikipedia, 2014)
Về phân loại thực vật: Cây bưởi có tên khoa học là: Citrus grandis
(L).Osbeck hoặc Citrus maxima Merr thuộc họ cam: Rustaceae.Họ
phụ: Aurantioideae.Chi: Citrus
Theo sơ đồ phân loại cây có múi của Swingle (1948) thì bưởi và bưởi chùm là hai loài khác nhau trong cùng một chi Citrus, tuy vậy bưởi đơn và bưởi chùm có mối quan hệ chặt chẽ Theo Webber, 1967 bưởi chùm xuất hiện ở Barbados (Tây Ấn Độ) Năm 1930, Macfadyen đã phân bưởi chùm thành một
loài mới và lấy tên là Citrus paradisi Macf (Hoàng Thị Sản, 2006; Wikipedia,
2014a)
Bưởi (Citrus grandis): quả to nhất trong các loài cam quýt, có vị chua
hoặc ngọt, bầu có từ 13- 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều Hiện nay giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi và được trồng chủ yếu ở các nước Nhiệt đới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam … Việt Nam có rất nhiều giống bưởi ngon nổi tiếng như bưởi Năm Roi, bưởi Da Xanh, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch, Phú Diễn, bưởi Đoan Hùng …
Bưởi chùm (Citrus paradisi): được đánh giá là dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citirus grandis) vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi nhưng là
Trang 17nhỏ hơn, eo lá cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ Bưởi chùm cho những giống ít hạt như Duncan, phần lớn các giống bưởi chùm có hạt
đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép Quả bưởi chùm là món ăn tráng miệng được ưa chuộng ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ mỏng bên ngoài rồi để cùi cắt thành các lát nhỏ dung sau bữa ăn Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng ở bang Florida Mỹ chiếm 70% sản lượng bưởi chùm của cả thế giới (Lang, 1977)
Một số giống bưởi được trồng chủ yếu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bưởi (Citrus grandis) có thể tìm thấy ở tất cả các tỉnh trong
cả nước Do bưởi dễ lai với nhau và với các giống cây có múi khác, đồng thời từ lâu đời nhân dân có thói quen trồng bằng hạt nên bưởi là một trong những loài có
sự đa dạng di truyền rất lớn Nhiều giống có những phẩm vị cũng như chất lượng rất ngon được người dân chọn lựa mang về trồng đã trở thành các giống đặc sản của mỗi vùng miền Một số giống trồng phổ biến ở các địa phương với mục đích sản xuất hàng hóa là:
Bưởi Đoan Hùng
Trồng nhiều ở huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ, trên đất phù sa ven sông
Lô và sông Chảy Có 2 giống được xem là tốt đó là bưởi Tộc sửu xã Chi Đám và bưởi Bằng Luân xã Bằng Luân Bưởi Bằng Luân quả hình cầu hơi dẹt, khối lượng quả trung bình 0,7 - 0,8 kg, vỏ quả màu vàng hơi xám nâu, tép múi màu trắng xanh, mọng nước, thịt quả hơi nhão, vị ngọt nhạt, độ brix từ 9 - 11%, tỷ lệ phần ăn được 60 - 65% Quả thu hoạch vào tháng 10, tháng 11 Quả có thể để lâu sau khi thu hái
Trang 18Bưởi Tộc Sửu quả to hơn, khối lượng quả trung bình 1 - 1,2 kg Thịt quả ít nhão hơn bưởi Bằng Luân, song vị cũng ngọt nhạt và có màu trắng xanh Thời gian thu hoạch sớm hơn bưởi Bằng Luân chừng 15 - 20 ngày
Bưởi Diễn
Trồng nhiều ở xã Phú Diễn, Phú Minh huyện Từ Liêm Hà Nội Bưởi Diễn
có thể là một biến dị của bưởi Đoan Hùng Quả tròn, vỏ quả nhẵn, khi chín màu vàng cam, khối lượng trung bình quả từ 0,8 - 1 kg, tỷ lệ phần ăn được từ 60 - 65%, số hạt trung bình khoảng 50 hạt, múi và vách múi dễ tách rời nhau Thịt quả màu vàng xanh, ăn dòn, ngọt, độ brix từ 12 - 14 Thời gian thu hoạch muộn hơn bưởi Đoan Hùng, thường trước tết nguyên đán khoảng 15 - 20 ngày
Bưởi Đỏ (Bưởi Đào)
Giống này có nhiều dạng khác nhau Quả có 2 dạng hình cầu hơi dẹt và thuôn dài, khối lượng trung bình từ 1 - 1,2 kg, khi chín cả vỏ quả, cùi và thịt quả đều có màu đỏ gấc, vỏ quả nhẵn có nhiều túi tinh dầu mùi thơm Buởi Đỏ thường thu hoạch muộn vào tháng 1,2 dương lịch (tháng 12 âm lịch) để trưng bày ngày tết do vậy thịt quả thường bị khô, vị ngọt hơi chua Giống điển hình là: Bưởi đỏ
Mê Linh trồng nhiều ở huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc, bưởi gấc ở vùng Đại Hoàng - Nam Định, Hoài Đức - Hà Tây và một số tỉnh trung du miền núi phía bắc, bưởi Xiêm Vang ở tỉnh Vĩnh Cử - Đồng Nai
Bưởi Thanh Trà
Vùng bưởi Thanh Trà có diện tích khoảng 165,2 ha, được trồng chủ yếu trên đất phù sa được bồi dọc theo sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, thuộc các xã: Thuỷ Biều, Hương Long, Kim Long (thành phố Huế); Hương Hồ, Hương Thọ, Hương An, Hương Vân, thị trấn Hương Trà (huyện Hương Trà); Dương Hoà, Thuỷ Bằng, Thuỷ Vân (huyện Hương Thuỷ); Phong Thu, Phong An, Phong Sơn, Phong Hoà và thị trấn Phong Điền (huyện Phong Điền)
Bưởi Thanh Trà là giống bưởi ngon có tiếng của Cố Đô Huế Quả nhỏ, hình quả lê, khối lượng quả trung bình từ 0,6 - 0,8 kg, vỏ mỏng dễ bóc, khi chín màu vàng xanh, tép nhỏ mọng nước nhưng ăn dòn ngọt Thịt quả mịn, đồng nhất, màu vàng xanh, tỷ lệ phần ăn được từ 62 - 65%, độ brix 10 - 12% Thời gian thu hoạch vào tháng 9 dương lịch
Trang 19Bưởi Biên Hoà
Vùng trồng nổi tiếng là ở cù lao Phố và cù lao Tân Triều trên sông Đồng Nai Quả to, hình quả lê, vỏ dày, cùi xốp trắng, múi dễ tách, ăn dòn, ngọt dôn dốt chua Khối lượng quả trung bình từ 1,2 - 1,5 kg, tỷ lệ phần ăn được trên 60% Thời vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch
Bưởi Năm Roi
Là giống bưởi ngon nổi tiếng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là bưởi Năm Roi trồng trên đất phù sa ven sông Hậu ở huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long Diện tích bưởi Năm Roi khoảng 10.000 ha với sản lượng 60.000 tấn/năm Quả hình quả lê, khối lượng quả trung bình từ 1 - 1,4 kg, khi chín vỏ có màu vàng xanh, thịt quả màu xanh vàng, mịn, đồng nhất Múi và vách múi rất đễ tách,
ăn dòn, ngọt hơi dôn dốt chua, đặc biệt là không có hạt mẩy, chỉ có hạt lép nhỏ li
ti Tỷ lệ phần ăn được trên 55%, độ brix từ 9 - 12% Thời vụ thu hoạch bắt đầu
từ tháng 9 dương lịch
Bưởi Da Xanh
Bưởi Da Xanh có nguồn gốc từ ấp Thanh Sơn, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre nhưng lại được trồng nhiều nhất tại xã Mỹ Thạnh An, thị xã Bến Tre Bưởi Da Xanh ăn ngọt, ráo nước, không hạt hoặc rất ít hạt, vỏ mỏng, thịt quả màu đỏ sẫm, độ Brix từ 10 - 13% Khối lượng quả trung bình từ 1,2- 1,5
kg, tỷ lệ phần ăn được trên 54% Giống bưởi Da Xanh là giống mới được tuyển chọn và biết đến cách đây khoảng chục năm, song do chất lượng ngon, giá cao gấp 3 - 3,5 lần các giống bưởi khác, cho trái quanh năm nên diện tích trồng giống bưởi này tăng rất nhanh, riêng huyện Mỏ Cày hiện tại có 400 ha, nhưng 5 năm tới diện tích sẽ tăng 1200 ha và toàn tỉnh Bến Tre sẽ có 4000 ha bưởi Da Xanh vào năm 2010 (hiện tại đã có 1.544 ha) (cây có múi và xoài; 2005)
Bưởi đường Lá Cam
Trồng nhiều ở tỉnh Đồng Nai huyện Vĩnh Cửu Hiện nay ở các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long cũng phát triển trồng nhiều giống bưởi này Quả hình quả lê thấp, khối lượng quả trung bình từ 1,1 - 1,4 kg Vỏ quả khi chín màu xanh vàng, thịt quả màu vàng nhạt, đồng nhất, múi và vách múi rất dễ tách, vị ngọt, độ brix
Trang 20từ 9 - 12% Tỷ lệ phần ăn được trên 50% Thời vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch
Bưởi đường Hương Sơn
Trồng nhiều ở vùng thung lũng hai sông Ngàn Phố và Ngàn Sâu thuộc hai huyện Hương Sơn và Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh Hai giống điển hình là bưởi Phúc Trạch (Hương Khê) và bưởi đường Hương Sơn Lá và quả bưởi đường Vinh đều to hơn bưởi Đoan Hùng, vỏ mỏng hơn, ngọt và khô hơn bưởi Đoan Hùng
Bưởi Lông Cổ Cò
Là giống bưởi đặc sản của huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Quả bưởi có dạng hình quả lê, bên ngoài có lớp lông trắng mịn sờ tay vào hơi nhám, lớp lông này sẽ rụng dần khi quả chín Quả chín vỏ có màu xanh vàng, vỏ mỏng, cùi hồng, thịt quả màu vàng đỏ, múi dễ tách, vị ngọt chua nhẹ, độ Brix 10-11%, khá nhiều nước, mùi thơm, ít hạt (5 - 30 hạt/quả) Khối lượng quả trung bình 0,9 - 1,4 kg Hiện nay diện tích bưởi Lông Cổ Cò của huyện Cái Bè vào khoảng 1.700 ha
1.3 Tình hình sản xuất Bưởi trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất Bưởi trên thế giới
Hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng 13 - 14 triệu tấn cây có múi, gồm
cả 2 loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis), chiếm 5,4 - 5,6%
tổng sản lượng cây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á và tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines vv (FAO, 2014)
Ở Trung Quốc, bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan Theo một số tài liệu mới đây cho rằng: các loại cây ăn quả có múi ở Trung Quốc phát triển mạnh hơn so với các lọai cây ăn quả khác Năm 1989, diện tích bưởi ở Trung Quốc là 49.186 ha, sản lượng là 21,8 vạn tấn Tuy nhiên đến năm 2008, riêng bưởi Sa Điền cũng có diện tích tới 30.000 ha, sản lượng 750.000 tấn (Cục Nông nghiệp Quảng Tây, 2008) Ở Phúc Kiến, bưởi Quan Khê cũng đạt tới diện tích 40.000 ha
và sản lượng 20.000 tấn (Cục Nông nghiệp, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc
Kiến, 2009)
Trang 21Tại Thái Lan bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh miền trung, một phần miền bắc và miền đông Năm 1987 Thái Lan trồng 1.500 ha bưởi cho sản lượng 76.275 tấn với giá trị 28 triệu đôla Mỹ (Trần Thế Tục, 1995)
Đến năm 2012, diện tích bưởi ở Thái lan khoảng 99.700 ha và sản lượng khoảng 1.280.000 tấn, bao gồm cả bưởi chùm (nguồn: Faostat, 2014)
Philippines là một nước sản xuất nhiều bưởi Trong tập đoàn cây có múi, bưởi chiếm tới 33% (quýt chiếm 44% và cam 11%) Năm 2012, Philippines có 20.827 ha Cam quýt, sản lượng 178.507 tấn (Faostat, 2014)
1.3.2 Tình hình sản xuất Bưởi ở Việt Nam
Theo các tác giả Trần Thế Tục nước ta có 3 vùng trồng cây có múi chủ yếu là (Trần Thế Tục, 1997):
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: ở đây có một tập đoàn cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam sành, cam giấy, bưởi, quýt, quất Các giống được ưa chuộng và trồng hiện nay là cam sành, cam mật, bưởi năm roi, bưởi Long Tuyền Theo thống kê năm 1999 diện tích cây có múi ở Đồng bằng sông Cửu Long là 41.267ha bằng 61,16% diện tích cây ăn quả có múi cả nước Năng suất bình quân tương đối cao trong đó bưởi đạt 7,4 tấn/ha
- Vùng Bắc Trung bộ: theo thống kê năm 1999 diện tích cây có múi toàn vùng là 7.743 ha với sản lượng 22.661 tấn Trong vùng này có hai vùng bưởi đặc sản đó là bưởi Thanh Trà của Huế, bưởi Phúc Trạch của Hương Khê Với ưu việt của mình, diện tích bưởi Phúc Trạch ngày được mở rộng Trong năm 2006, diện tích trồng bưởi Phúc Trạch lên đến 1.600ha, trong đó có khoảng 950ha đã cho quả, sản lượng quả bình quân những năm gần đây đạt 12-15 nghìn tấn/năm Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc: cây có múi ở vùng này được trồng
ở những vùng đất ven sông, suối như sông Hồng, sông Lô, sông Gấm, sông Chảy Hiện chỉ còn một số vùng tương đối tập trung là Bắc Sơn, Bắc Quang (Đỗ Đình Ca, 1995), riêng cây bưởi ở vùng này có 474 ha chiếm 17,5% diện tích cây
có múi với giống bưởi Đoan Hùng ngon nổi tiếng Mặc dù diện tích quả có múi ở nước ta khá lớn, song lại chưa có số liệu thống kê cụ thể nào về diện tích trồng các loại quả có múi, trong đó có bưởi Tuy vậy cũng dễ dàng nhận thấy rằng ở nước ta bưởi được trồng ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước, và có nhiều vùng sản
Trang 22xuất tập trung nổi tiếng tới hàng trăm hecta như: vùng bưởi Đoan Hùng - Phú Thọ (khoảng 300 ha), bưởi Diễn - Hà Nội (riêng xã Phú Diễn có khoảng 53 ha với 600 hộ trồng, xã Thượng Mỗ huyện Hoài Đức diện tích bưởi Diễn khoảng
125 ha), Phúc Trạch - Hà Tĩnh (1.250 ha), Thanh Trà - Thừa Thiên Huế (165,2 ha), Biên Hòa - Đồng Nai vv…, đặc biệt là vùng bưởi Đồng bằng sông Cửu long (theo Boun Keua Vongsalath, 2005)
Bưởi ở Việt Nam chủ yếu để ăn tươi và hiện tại sản xuất Bưởi ở nước ta vẫn chưa đủ cung cấp cho nhu cầu thị trường trong nước Gần đây có một số công ty như Hoàng Gia, Đông Nam đã có hoạt động như đầu tư sản xuất, áp dụng các biện pháp quản lý theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP-Good Agricultural Practices) đăng ký thương hiệu một số giống Bưởi ngon như: Năm roi, Phúc Trạch, Da xanh, với mục đích xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Tóm lại: cây có múi nói chung và bưởi nói riêng là loại cây ăn quả quan trọng không chỉ về giá trị dinh dưỡng mà cả về hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần so với cây trồng khác Việc phát triển trồng bưởi ở những vùng có điều kiện phát triển cũng như bảo tồn và phát triển mở rộng hơn nữa ở các vùng bưởi truyền thống là định hướng chiến lược của nhiều địa phương trong cả nước trong
đó có vùng bưởi Diễn Hà Nội
1.4 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây bưởi
1.4.1 Đặc điểm sinh trưởng thân, cành
Sinh trưởng cành của cây có múi nói chung và bưởi nói riêng phụ thuộc vào tuổi cây, điều kiện môi trường và kỹ thuật chăm sóc Nhìn chung những cây trẻ chưa cho quả sinh trưởng của cành (phát sinh lộc) thường xảy ra quanh năm, nghĩa là một năm thường có nhiều đợt cành xuất hiện Khi cây trưởng thành đã cho quả thì thường chỉ có 4 đợt lộc trong năm, đó là lộc xuân, lộc hè, lộc thu và lộc đông Ở những vùng khô hạn, hoặc rét sớm thì chỉ có 3 đợt lộc xuân, hè và thu, không có lộc đông (Lý Gia Cầu, 1993)
- Lộc xuân: xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm Số lượng cành xuân thường nhiều, chiều dài cành tương đối ngắn Thường cành xuân là cành ra hoa và cho quả nên gọi là cành quả (Ngô Hồng Bình, 2004; Domingo, 2007)
Trang 23- Lộc hè: xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm, thường xuất hiên không tập trung, sinh trưởng không đều, cành thường to, dài, đốt thưa Cành hè là cành sinh dưỡng có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cành quả và là cành mẹ của cành thu Tuy nhiên nếu cành mùa hè nhiều sẽ dẫn tới sự cạnh tranh dinh dưỡng đối với quả và có thể gây rụng quả nghiêm trọng, do vậy cần phải cắt tỉa
để lại một số lượng cành thích hợp (Ngô Hồng Bình, 2004; Domingo, 2007)
- Lộc thu: xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, mọc đều và nhiều hơn cành mùa hạ Cành thu thường mọc từ cành mùa xuân không mang quả và phần lớn từ cành mùa hè, có vai trò quan trọng trong việc mở rộng tán, tăng cường khả năng quang hợp của cây và là cành mẹ của cành xuân, do vậy
số lượng và chất lượng của cành thu có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng cành xuân, cành mang quả của năm sau (Ngô Hồng Bình, 2004; Domingo, 2007)
- Lộc đông: xuất hiện vào tháng 11 và tháng 12 hàng năm, đợt cành này ít, cành ngắn, lá vàng xanh Nếu xuất hiện nhiều sẽ làm tiêu hao dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phân hoá mầm hoa của cành quả (Ngô Hồng Bình, 2004; Domingo, 2007)
1.4.2 Đặc tính sinh lý ra hoa đậu quả
Hoa bưởi là hoa chùm hoặc tự bông Nụ, hoa bưởi to hơn so với cam quýt Tràng hoa có từ 3 - 5 cánh tách biệt, cánh hoa có từ 3 - 6 cánh, dầy có mầu trắng Nhị đực có từ 22 - 47 cái, nhụy cái có một do các bộ phận đầu nhụy, vòi nhụy và bầu nhụy cấu tạo thành Đầu nhụy thường to, cao hơn bao phấn Với cấu tạo này bưởi được coi là cây thụ phấn, khai hoa dễ dàng Hoa bưởi từ khi nở đến khi tàn khoảng hơn một tháng, khả năng ra hoa của bưởi rất cao, tuy nhiên tỷ lệ đậu quả lại thấp (1-2%) Thời điểm ra hoa của mỗi giống là khác nhau và phụ thuộc vào thời tiết của từng năm ( Lý Gia Cầu, 1993; Domingo, 2007) Quá trình ra hoa của bưởi trải qua các giai đoạn:
1.4.2.1 Cảm ứng và phân hoá hoa
Ở một số cây trồng, một quang chu kỳ tới hạn hoặc xử lý xuân hoá hoặc là
cả hai điều kiện trên sẽ tạo ra một chất kích thích ra hoa giả định nào đó Chất này gây ra sự biến đổi một chiều trong tế bào của mô phân sinh đỉnh từ việc
Trang 24quyết định cho quá trình hình thành và phát triển về cấu trúc của lá cũng như quy định cấu trúc của hoa Cảm ứng ra hoa của phần lớn thực vật liên quan đến sự cảm nhận của một số cơ quan đối với những tín hiệu từ môi trường: độ dài ngày, khủng hoảng nước, nhiệt độ xuân hoá Những điều kiện này giúp cây sản sinh ra một chất kích thích ra hoa giả định nào đó hoặc làm tăng tỷ lệ chất kích thích ra hoa/chất kìm hãm ra hoa Những sản phẩm có tính kích thích ra hoa này sau khi được tạo ra sẽ chuyển đến tế bào đích trong các đốt của mô phân sinh đỉnh (Bernier, 1981) Tuy nhiên một hợp chất chính xác có vai trò như một chất kích thích ra hoa vẫn chưa được xác định rõ ràng (Lang, 1977)
Cảm ứng ra hoa có thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: sự có mặt của một số chất kích thích ra hoa, sự tích luỹ sản phẩm quang hợp (Bernier, 1993)
Có thể ở từng loài thực vật, quá trình ra hoa được kích thích bởi một yếu tố cảm ứng ra hoa khác nhau Với cây bưởi quá trình hình thành hoa diễn ra khi xuất hiện yếu tố hoạt hoá cho sự sinh trưởng của chồi đỉnh và sự có mặt của yếu tố cảm ứng hình thành hoa
Cảm ứng ra hoa bắt đầu với sự ngừng sinh trưởng sinh dưỡng trong mùa đông - thời kỳ sinh trưởng không rõ ràng ở vùng á nhiệt đới hoặc thời kỳ khô ở vùng nhiệt đới (Domingo, 2007) Nhìn chung trên cây trưởng thành, sự sinh trưởng chồi ngừng lại và tốc độ sinh trưởng rễ giảm khi nhiệt độ giảm vào mùa đông mặc dù nhiệt độ không dưới 12,50C Trong thời kỳ này các lộc sinh dưỡng phát triển khả năng ra hoa Vì thế, sự cảm ứng liên quan đến việc định hướng chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang tạo các chùm hoa Stress do lạnh và nước
là những nhân tố cảm ứng chính, với độ lạnh là nhân tố chính ở vùng có khí hậu á nhiệt đới và nước ở vùng có khí hậu nhiệt đới Nhiệt độ dưới 250C trong nhiều tuần là cần để cảm ứng lộc hoa với số lượng đáng kể Trên đồng ruộng, cần có thời
kỳ khô hạn kéo dài hơn 30 ngày để một số lượng lộc hoa có cảm ứng ra hoa đáng
kể (Frederick, 1998; H.Harold, 1957) Hiện nay việc gây hạn nhân tạo đã được sử dụng như là một phương tiện để xúc tiến sự cảm ứng ra hoa ở cây có múi nói chung và bưởi nói riêng, ngay ở nước ta vùng đồng bằng Sông Cửu Long nông dân trồng cây ăn quả cũng thường sử dụng biện pháp xiết nước để kích thích cho cây ra hoa theo ý muốn
Trang 251.4.2.2 Sự ra hoa
Sự ra hoa xảy ra sau khi cảm ứng và phân hoá hoa khi có nhiệt độ và độ
ẩm đất thích hợp Nhiệt độ ngưỡng tối thiểu cho ra hoa là 9,40C hoặc thấp hơn đáng kể nhiệt độ tối thiểu cho sinh trưởng sinh dưỡng Trên cây có múi thường
có 5 loại cành hoa: (i) cành hoa không có lá mọc từ chồi sinh trưởng từ vụ trước; (ii) cành hỗn hợp có một vài hoa và lá; (iii) cành hỗn hợp có nhiều hoa và một vài lá; (iv) cành hỗn hợp có một vài hoa và nhiều lá; và (v) chồi sinh dưỡng chỉ
có lá Những cành có tỷ lệ hoa, lá cao như loại (iv) có tỷ lệ đậu quả và giữ được
tỷ lệ quả đến thu hoạch cao nhất Tuy nhiên, lá mới hình thành 4-6 tuần sau ra hoa có thể làm giảm sự đậu quả (Domingo, 2007)
Hoa bưởi mọc thành chùm kiểu xim, thường các hoa ở phía gốc chùm nở trước sau đó lần lượt đến các hoa ở giữa và đỉnh chùm nở sau, hoa đỉnh chùm sẽ nở cuối cùng Kích thước hoa nhìn chung giảm từ hoa nở đầu tiên đến hoa cuối cùng Do vậy hoa thứ hai tính từ đỉnh chùm hoa thường nhỏ nhất nhưng lại có tỷ lệ đậu quả cao nhất trên chùm hoa Hoa nở muộn sinh trưởng nhanh hơn và bền hơn hoa nở sớm (Domingo, 2007)
Các yếu tố có liên quan nhất đến sự nở hoa là hydrat cacbon, hormon, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng Cơ sở của hydrat cacbon có tác động đến sự nở hoa là khi khoanh vỏ làm tăng cảm ứng ra hoa, tăng khả năng đậu quả Sự ảnh hưởng của hormon tới ra hoa bưởi cũng đã được nghiên cứu sâu trong nhiều năm Một số nghiên cứu sử dụng hormon nội sinh với chồi cây bưởi và được đánh giá bằng mức độ ra hoa Dinh dưỡng của cây liên quan trực tiếp và gián tiếp đến sự ra hoa của cây bưởi Hàm lượng N trong lá cao, đặc biệt đối với cây non gây ra sự sinh trưởng sinh dưỡng mạnh và ức chế sự ra hoa Ngược lại, hàm lượng N trong lá thấp kích thích ra hoa sớm Tuy nhiên cây thiếu N nghiêm trọng thì ra ít hoa Người ta đã nghiên cứu thấy rằng nên duy trì hàm lượng N trong lá
ở mức tối ưu khoảng 2,5 - 2,7% sẽ tạo ra số hoa vừa phải và cho tỷ lệ đậu quả và năng suất cao nhất Nitơ ở dạng amôn có thể trực tiếp ảnh hưởng đến ra hoa thông qua điều khiển hàm lượng amôn và polyamine trong nụ hoa Stress nước
và nhiệt độ thấp làm tăng hàm lượng amôn trong lá và sự ra hoa (Domingo, 2007; Frederick, 1998)
Trang 261.4.2.3 Quá trình thụ phấn và đậu quả
Hầu hết các loài cây có múi thương mại không cần thụ phấn chéo Tuy nhiên một số loài lấy hạt hoặc để kích thích sinh trưởng của bầu nhuỵ đối với những giống quả không hạt (quả điếc - parthenocarpic) thì cần có sự thụ phấn bổ sung
Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả thụ phấn do trực tiếp ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của ống phấn Tốc độ nảy mầm và sinh trưởng của ống phấn để chui vào vòi nhuỵ đưa tinh tử vào thụ tinh cho tế bào trứng rất thích hợp trong khoảng nhiệt độ từ 25 - 300C và bị giảm xuống hoặc ức chế hoàn toàn
ở nhiệt độ thấp < 200C (Domingo, 2007; Frederick, 1998)
Sự đậu quả, rụng quả và cuối cùng là năng suất quả bị ảnh hưởng bởi một
số yếu tố sinh lý và môi trường Các giống cây có múi nói chung và bưởi nói riêng ra rất nhiều hoa khoảng 100.000 - 200.000 hoa trên một cây trưởng thành, tuy nhiên chỉ 1-2% số hoa đậu quả cho thu hoạch số còn lại bị rụng đi (Domingo, 2007) Ngoài những hoa, quả rụng do không được thụ phấn, thụ tinh thì rất nhiều quả non khác phải rụng bớt đi, người ta gọi là rụng quả sinh lý Thường có 2 lần rụng quả sinh lý: lần rụng đầu tiên xảy ra từ khi nở hoa cho đến 3 - 4 tuần sau nở hoa; lần hai xảy ra vào tháng 5 khi quả có đường kính từ 0,5 – 2,0 cm (Domingo, 2007) Rụng quả sinh lý là sự rối loạn liên quan đến sự cạnh tranh hydrat cacbon, nước, hormon và các chất trao đổi chất khác giữa các quả non, tuy nhiên vấn đề này rõ nhất lại là do tác động của các stress, đặc biệt là nhiệt độ cao và thiếu nước, người ta đã chứng minh được rằng khi nhiệt độ không khí trên 400C và ẩm độ giảm xuống dưới 40% có thể gây rụng quả hàng loạt (dẫn theo Domingo, 2007)
Từ năm 1989-1990 tác giả Trần Đăng Thổ – Lý Gia Cầu đã tiến hành quan sát sơ bộ quy luật ra hoa, quả của bưởi Sa Điền ghép trên gốc bưởi chua có tuổi từ 9 đến 10 tuổi Theo các tác giả thì số nụ rụng chiếm 21,6% tổng số hoa, số hoa rụng chiếm 78,6% tổng số hoa Thời gian rụng hoa tương đối ngắn, tập trung trong giai đoạn từ khi hoa nở đến 13 ngày sau Giai đoạn rụng quả sinh lý kéo tương đối dài Thời kì rụng quả sinh lý lần thứ nhất bắt đầu từ ngày 10-14 sau khi hoa nở rộ Thời kì này, quả rụng mang theo cuống, đường kính cắt ngang của quả nhỏ hơn 1cm Thời gian tuy ngắn song ở thời kì này số quả rụng lại rất lớn, ước
Trang 27tính khoảng 72% tổng số quả non rụng Rụng quả sinh lý lần 2 bắt đầu sau rụng quả lần thứ nhất đến 60 ngày sau khi hoa nở rộ Quả rụng lần này không mang cuống Tỷ lệ rụng ước đạt 16,9% tổng số quả rụng, trong đó 9% quả có đường kính dưới 1cm rụng vào giai đoạn từ ngày thứ 14-20 sau khi nở rộ, 5,2% số quả
có đường kính từ 1-3cm rụng vào giai đoạn từ ngày 21 đến ngay 25 sau hoa nở
rộ 2,7% số quả có đường kính từ 3-5cm rụng vào giai đoạn từ ngày 30-60 ngày sau nở rộ Từ nghiên cứu trên cho thấy: 81% quả non rụng lúc đường kính quả chưa đạt 1cm, vì vậy tác giả cho rằng để giữ quả thì vấn đề then chốt là tác động vào giai đoạn rụng quả sinh lý lần thứ nhất Giữ được quả đạt tới đường kính 5cm là có thể yên tâm (Lương Thị Kim Oanh, 2011)
Những nghiên cứu cho thấy rằng thời gian nở hoa cũng có liên quan tới tỷ
lệ đậu quả Hoa nở sớm có tỷ lệ đậu quả thấp hơn nhiều so với hoa nở muộn Nở hoa vào nhiệt độ thấp đầu mùa sẽ làm giảm sinh trưởng của ống phấn nên tỷ lệ đậu quả thấp Ngoài ra, quả sinh ra trên những cành hoa không lá hoặc có lá chét thì tỷ lệ đậu cũng kém và nhiệt độ quá cao > 400C gây ra sự rụng quả (Ngô Hồng Bình, 2004; Domingo, 2007)
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: khả năng đậu quả của các giống khác nhau là khác nhau, có giống chỉ có thể đậu quả khi có sự thụ phấn chéo (bưởi Pyriform và bưởi chùm Yubileinyi), có giống có khả năng tự thụ phấn Hoàng Bích Liễu – Trạm nghiên cứu cây ăn quả Quảng Đông Trung Quốc chứng minh rằng: Khi bưởi Sa Diền giao phấn với bưởi chua thì tỷ lệ đậu quả nâng từ 1,99% lên 25% (Lương Thị Kim Oanh, 2011)
Nghiên cứu sự đậu quả của bưởi ở Thái Lan các tác giả thấy rằng: tỷ lệ đậu quả khi tự thụ phấn rất thấp (từ 0-2,8%) nhưng khi giao phấn giữa các giống thì tỷ lệ đậu quả tăng từ 9-24%
Vị trí kết quả cũng được các tác giả theo dõi Đối với cây trẻ, đại đa số quả thường ở dưới tán cây, và ở bên trong tán trên các cành quả mùa xuân khi cây dần lớn tuổi vị trí này được chuyển lên phía trên và ra ngoài tán Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong kĩ thuật cắt tỉa cho cây bưởi
Trang 281.5 Những nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh và kỹ thuật bao quả trên cây
có múi
1.5.1 Những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng trên cây có múi trên thế giới
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây có múi nói chung và bưởi nói riêng ở các quốc gia trên thế giới Nhìn chung các vấn
đề về dinh dưỡng cho cây được đề cập một cách khá toàn diện, trong đó những vấn đề về vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng, ảnh hưởng và mối quan hệ của chúng tới từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cũng như năng suất, chất lượng sản phẩm
Theo H Harold (1957) có ít nhất 12 nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cần được bón, đó là: đạm, lân, kali, magiê, canxi, lưu huỳnh, đồng, kẽm, mangan, bo, sắt và molipden Nghiên cứu thấy rằng trong thời kỳ ra hoa cây huy động nhiều đạm từ lá về hoa, cây hút dinh dưỡng quanh năm nhưng hút mạnh vào thời kỳ nở hoa cũng như khi cây ra đọt mới (tương ứng vào tháng 3-4 và tháng 7-9) (The Citrus Industry, 1973)
Theo H Harold (1957) thấy rằng số lượng đạm và kali trong quả không ngừng tăng lên đến khi quả lớn và chín, còn lân và magiê cũng tăng nhưng chỉ tăng đến khi quả lớn bằng nửa (1/2) mức lớn nhất sau đó không đổi, canxi tăng đến 1/3 giai đoạn đầu tiên Tỷ lệ: đạm, lân, kali ở nhiều loại quả có múi thay đổi
ít, thường là N: P2O5: K2O = 3: 1: 4
Thiếu đạm lá bị mất diệp lục và bị vàng đều, thiếu nghiêm trọng cành bị ngắn lại, mảnh, lá vàng, nhỏ dễ bị rụng, quả ít Tuy nhiên thiếu đạm chỉ ảnh hưởng đến độ lớn của quả chứ không ảnh hưởng đến đặc điểm quyết định phẩm chất quả, chỉ có chất khô hoà tan bị giảm đôi chút Dạng đạm phổ biến dùng là amôn sunfat Tuy nhiên đối với đất kiềm hoặc chua nhiều tốt nhất nên dùng các loại phân có gốc nitrat, như vậy sẽ ít bị mất đạm và tránh ảnh hưởng chua của gốc sunfat và nitrat còn thúc đẩy sự hút magiê ở đất thiếu magiê (Rene, 1990; The Citrus Industry, 1973)
Hiếm khi thấy tình trạng thừa lân ở đất nặng vì đất này có khả năng giữ lân mạnh, chỉ ở đất nhẹ nếu bón lân liên tục sẽ gây hiện tượng thừa lân Thừa lân gây
Trang 29tình trạng thiếu kẽm (hiện tượng gân xanh lá vàng) một bệnh sinh lý khá phổ biến ở cam quýt (The Citrus Industry, 1973; Brian, 1992)
Trường hợp thiếu kali sẽ làm quả nhỏ nhưng lá vẫn không có triệu chứng
gì, thiếu trong thời gian dài, lá mới bị dày và nhăn nheo, vùng giữa các gân lá bị mất diệp lục và sau đó có các vết chết khô, khi thiếu trầm trọng đầu đọt bị rụng,
lá bị chết khô, cây thường bị chảy gôm, quả thô, phẩm chất kém Bón kali sunfat thích hợp hơn kali clorua vì phần lớn các giống đều mẫn cảm với clorua quá cao Kali-magiê sunfat (Patenk kali) rất thích hợp vì có 10% MgO cùng với 30% K2O Theo một số tác giả nghiên cứu tại Pháp với năng suất 20 tấn quả/ha cam quýt lấy từ đất 50 kgN, 15kgP2O5 và 50kg K2O Trong 18 tấn quả cam quýt đã lấy từ đất 21kgN, 5kg phosphorus, 41kg Kali, 19kg Calcium, 3,5kg Mg, 2,3kg Sulfua, 45g B, 50g Fe, 90g Cu, 13g Mn và 13g Zn (Vũ Công Hậu, 1996)
Bổ sung dinh dưỡng cho cây có thể dựa vào nhiều căn cứ, tuy nhiên thông thường hiện nay người ta dựa vào 3 căn cứ chính: chuẩn đoán dinh dưỡng lá, phân tích đất và dựa vào năng suất
Bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng lá được thiết lập trên 4 nguyên tắc
cơ bản là: chức năng của lá, quy luật bù hoàn giảm dần, chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng và sự đối kháng ion Dựa trên 4 nguyên tắc này Reuther và Smith đã xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng của lá gồm 5 cấp: thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa Dựa vào thang chuẩn này người ta thường xuyên phân tích lá để biết được có cần hay không cần phải bón phân (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, 1993)
Ở Brazin tỷ lệ bón N:P:K = 1:0,5:1 hoặc N:P:K = 1:0,3:1; ở Aghentina, liều lượng bón phân cho cam Valencia được khuyến cáo là N:P2O5:K2O:MgO theo tỷ lệ 2:1:1:0,5 với 400g N/cây/năm (Vũ Công Hậu, 1996)
1.5.2 Những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng trên cây có múi ở Việt Nam
Ở Việt Nam nhìn chung còn rất ít nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng riêng cho cây bưởi
Theo Phạm Văn Côn (2004) cho biết: cây ăn quả cũng như cây trồng nói chung cần hút chất dinh dưỡng từ đất và từ phân bón để tạo ra sản phẩm thông
Trang 30qua quá trình quang hợp Nếu thiếu dinh dưỡng hoặc các chất dinh dưỡng không cân đối làm cho cây sinh trưởng kém dẫn tới giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm Nếu thừa dinh dưỡng làm cho cây sinh trưởng quá mạnh cũng làm giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm đồng thời còn gây ô nhiễm môi trường đất nước và không khí Vì vậy, trước tiên cần phải nắm vững nhu cầu dinh dưỡng
của từng loại cây (Cây có múi và xoài, 2005)
Về phẩm chất quả bao gồm hình dạng, kích thước quả, cấu trúc vỏ, độ nhẵn và mầu sắc vỏ hoặc phẩm chất bên trong đặc chưng bằng nhiều yếu tố như lượng dịch quả, tổng số chất hoà tan và độ chua được quyết định bởi việc bón phân Nhận xét một cách tổng quát là bón nhiều N sẽ làm cấu trúc vỏ ngoài xấu, quả nhỏ, chất lượng quả giảm Ảnh hưởng của N còn tuỳ thuộc vào từng nền đất trồng, ở những chân đất mầu mỡ ảnh hưởng của việc bón N không được thể hiện
rõ Trong điều kiện P dễ tiêu thấp, việc thừa N càng tỏ ra có ảnh hưởng xấu đến chất lượng quả Mức bón K cao làm tăng độ lớn trung bình của quả và độ dày vỏ quả Bón K không làm ảnh hưởng đến năng suất của cây nhưng lại ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ các loại trái (theo độ lớn) Bón nhiều K thì quả to, vỏ dày, chín muộn, mầu sắc quả xấu, các hợp chất tan trong dịch quả thấp Ngược lại nếu bón K thấp tạo
ra quả nhỏ, chín sớm, mầu sắc đẹp, các chất tan trong dịch quả cao, axit thấp
Về phương pháp bón: Hiện nay có hai cách bón chính: (Nguyễn Văn Uyên, 1995; Nguyễn Hạc Thúy, 2001; Vũ Hữu Yêm và cộng sự , 2006)
+ Bón trực tiếp vào đất: đây là cách bón phổ biến, đầu tiên người ta đào một rãnh xung quang tán có độ sâu 30-45cm sau đó giải đều phân và lấp hố Bón theo cách này luôn kết hợp với tưới nước
+ Phun phân qua lá: cách bón này dựa trên nguyên lý lá cây có thể hấp thụ được các nguyên tố dinh dưỡng và chuyển hoá nó thành năng lượng nuôi cây Sử dụng phân bón lá khá phổ biến ở nhiều nước trồng cây có múi và áp dụng trong các trường hợp sau: đất nghèo dinh dưỡng, đất khô hạn, bộ rễ kém phát triển Khi
sử dụng phân bón lá cần lưu ý hoà tan hoàn toàn phân trong nước, nguồn nước sử dụng phải là nước không có axit hoặc không có kiềm
Trang 31Về lượng phân bón
Tuỳ theo từng loại đất đai, giống, tình hình sinh trưởng của cây mà quyết định số lượng phân bón cho thích hợp Về cơ bản các loại phân N, P và K cần được cung cấp cho cây đầy đủ, bên cạnh đó phân hữu cơ và các loại vi lượng cũng cần được bổ sung để đạt được năng suất cao Các tác giả Vũ Mạnh Hải, Đỗ Đình Ca, Đoàn Thế Lư, Phạm Văn Côn và CS đề nghị lượng bón cho mỗi
cây/một năm như sau: (Cây có múi và xoài, 2005)
Lượng phân bón cho bưởi
Kaliclorua (kg)
Phân hữu cơ (kg)
Lần 2: Sau đậu quả 6 - 8 tuần bón 1/3 N + 1/2 K2O
Lần 3: Trước khi thu hoạch 1 - 2 tháng bón 1/2 K2O còn lại
Lần 4: Sau khi thu hoạch bón toàn bộ lượng P2O5 + 1/3 phần N còn lại + toàn bộ lượng phân hữu cơ
Trang 32Các nghiên cứu cũng cho thấy việc bón phân hữu cơ, nhất là phân chuồng rất quan trọng trong canh tác cây có múi, vì góp phần làm tơi xốp đất, giữ được dinh dưỡng lâu hơn và hạn chế những bệnh ở rễ
Nghiên cứu hiệu quả của một số loại phân bón cho bưởi Năm Roi cho thấy: Bón phân hữu cơ đã cải thiện độ chua, làm tăng dinh dưỡng của đất, làm tăng phẩm chất trái sau tồn trữ 30 ngày Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân và kali đến năng suất và phẩm chất bưởi Đường lá cam tại Vĩnh Cửu - Đồng Nai cho thấy: khi bón 800N: 500 P2O5: 700 K2O (g/cây/năm) cho năng suất cao và chất lượng tốt nhất (Phạm Thị Hương, 2007)
Cây có múi muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần phải cung cấp đầy đủ
và cân đối các chất vi lượng cũng như đa lượng
Đỗ Đình Ca, Vũ Việt Hưng nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón, tưới nước đến khả năng ra hoa, đậu quả của bưởi Phúc Trạch từ 2003 - 2004 cho thấy bón 800g N: 400g P2O5 : 600g K2O + phun phân bón lá Grown ba lá xanh cho năng suất cao nhất, song về hiệu quả kinh tế thì công thức bón 500g N + 250g P205+ 375g K20 + phun phân bón lá cho hiệu quả cao hơn Kết quả này cũng được ghi nhận khi tiến hành thí nghiệm đối với bưởi Thanh Trà tại Hương Vân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2006 – 2008 (Đỗ Đình Ca và Cs, 2008) Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển bưởi Da xanh ra hoa theo ý muốn kết luận: có thể bón cho mỗi cây 200g phân NPK, tưới nước đẫm, sau 1 tuần dùng kéo cắt khoảng 70% lá trên cành chỉ chừa lại phần ngọn, khoảng
25 ngày sau trên vết cắt sẽ xuất hiện chồi non, chính những chồi này mang những mầm hoa và cho quả (Phạm Thị Hương, 2007)
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Hương (2007) cho thấy Pomior là loại phân bón lá tốt, có thể bón bổ sung cho vườn ươm cây ăn quả để nâng cao tỷ lệ ghép sống, rút ngắn thời gian cây con trong vườn ươm và nâng cao chất lượng cây giống của vải, nhãn, xoài Nên phun Pomior ở nồng độ 0,4%, 10 ngày một lần trước khi ghép một tháng đến khi cây con đạt tiêu chuẩn xuất vườn Phun Pomior ở nồng độ 0,4% ướt đẫm mặt lá với khoảng cách 10-20 ngày/1 lần sau khi hoa tàn đến khi quả ngừng lớn trên cây Bưởi diễn có tác dụng cải thiện các
Trang 33đợt lộc và tăng năng suất quả Trong đó phun 10 ngày 1 lần có tác dụng cải thiện cao hơn hẳn so với 20 ngày/1 lần
Nhìn chung hướng nghiên cứu là tìm ra loại phân, công thức bón và thời gian bón thích hợp cho năng suất, chất lượng cao nhất, không gây ô nhiễm môi trường và đảm bảo vệ sinh an toàn sản phẩm
Trung tâm khuyến nông Hà Nội đã tổng kết các kết quả thí nghiệm xây dựng mô hình áp dụng các tiến bộ kỹ thuật đồng bộ trong thâm canh Bưởi diễn tại huyện Từ Liêm và huyện Sóc Sơn Kết quả thu được cho thấy việc bón phân phối hợp các nguyên tố N:P:K với phân chuồng một cách hợp lý kết hợp cắt tỉa cành sau thu hoạch, quản lý và phòng trừ dịch hại triệt để đã có tác dụng tăng năng suất và cải thiện chất lượng quả một cách rõ rệt (Trung tâm khuyến nông
Hà Nội, 2004)
Tất cả các nghiên cứu trên là những cơ sở cho việc bón phân và sử dụng phân bón một cách hợp lý đối với cây có múi Tuy nhiên trên thực tế việc ứng dụng các nghiên cứu có kết quả còn phụ thuộc rất nhiều vào các yêú tố khác nhau, trong đó giống và điều kiện thời tiết, khí hậu từng vùng có vai trò rất quan trọng và
do vậy việc thí nghiệm để tìm ra các công thức bón thích hợp với từng đối tượng, từng vùng sinh thái trồng trọt vẫn cần phải được tiến hành thường xuyên
1.5.3 Những nghiên cứu về biện pháp bao quả
Bao quả là một biện pháp kỹ thuật được áp dụng phổ biến đối với tất cả các loại cây ăn quả, là một giải pháp kỹ thuật trong hệ thống phòng trừ sâu, bệnh tổng hợp IPM, ngăn ngừa sâu bệnh tấn công, hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và làm đẹp mã quả Đối với cây có múi nói chung và bưởi nói riêng, bao quả có những lợi ích trực tiếp như sau:
- Bao quả chống được sâu, ruồi đục quả, ngài chích hút và bệnh hại quả, nhờ đó hạn chế dùng thuốc sâu, bệnh
- Bao quả giúp hình thức bên ngoài bóng đẹp, đồng đều, ít bị rám bởi nắng, không bị trầy xước do gió bão hay một số nguyên nhân khác
Trang 34- Do bao quả hạn chế sâu bệnh, ít dùng thuốc bảo vệ thực vật nên đây là một trong nhưng kỹ thuật để sản xuất quả có múi an toàn theo GAP Đồng thời có thể áp dụng tốt cho những vườn du lịch sinh thái, nuôi trồng thuỷ sản dưới mương
Người ta khuyến cáo rằng: trước khi bao quả phải tỉa bỏ quả nhỏ, kém phát triển bên cạnh, những cành lá cản trở quanh cuống quả, phun thuốc trừ sâu, nấm bệnh trên quả sau một ngày mới tiến hành bao quả Khi bao quả phải buộc chặt miệng bao Thường bao quả vào thời điểm sau khi quả rụng sinh lý, khoảng
45 ngày sau khi đậu quả và nên tháo túi trước khi thu khoảng 15 – 20 ngày để cho quả lên mã trở lại trạng thái tự nhiên Tuy nhiên, hiệu quả của việc bao quả phụ thuộc vào từng loại quả, thời điểm bao và vật liệu bao, đặc biệt là thời điểm bao vì liên quan đến sự phát sinh phát triển của sâu, bệnh hại, sự sinh trưởng và phát triển của quả Bao sớm quả còn non có thể làm rụng quả và ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của quả, ngược lại bao muộn, sâu, bệnh đã đẻ trứng hoặc nhiễm vào quả sẽ không có tác dụng, do vậy việc bao quả phải căn cứ vào điều kiện sinh thái khí hậu cụ thể của từng địa phương để xác định thời điểm bao quả thích hợp Theo Phạm Hồng Sơn (2006), bao quả bằng các vật liệu giấy báo và bao xi măng đều cho kết quả tốt, tỷ lệ sâu bệnh trên quả giảm rõ rệt
1.6 Những nghiên cứu về sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ
Sâu bệnh hại Cam quýt là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm quả, giảm hiệu quả kinh tế Vì vậy, công tác bảo
vệ thực vật cần được tiến hành thường xuyên, kịp thời, hiệu quả Với xu thế sản xuất cây ăn quả theo tiêu chuẩn GAP thì việc lựa chọn một hệ thống canh tác phòng trừ dịch hại là hết sức quan trọng Trong đó quản lý dịch hại tổng hợp IPM
là một giải pháp tốt hiện nay
Trên cây có múi nói chung có khá nhiều loại sâu bệnh hại, đặc biệt có những bệnh rất nguy hiểm gây hủy diệt hàng loạt như bệnh tristeza, greening ở Nhật Bản đã ghi nhận 240 loài côn trùng và nhện hại Tại 14 tỉnh miền Nam Trung Quốc đã ghi nhận 489 loài chân khớp gây hại trên cam, Đài Loan có 167 loài; Malaysia có 174 loài Trong lĩnh vực bảo vệ thực vật trên cây có múi đã phát triển khá nhiều các biện pháp phòng trị hiệu quả Tuy nhiên, những biện
Trang 35pháp phòng trừ hiệu quả mà không làm tổn hại đến môi trường và chất lượng sản phẩm vẫn còn đang tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, đặc biệt cho từng đối tượng cây trồng cụ thể (Tình hình sản xuất và kỹ thuật trồng Bưởi tại tỉnh Phúc Kiến, 2009)
Một số nước có kỹ thuật sản xuất cây ăn quả có múi tiên tiến như úc, Hàn Quốc, đã áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại trên cây có múi trên cơ sở sử dụng dầu khoáng PSO (để phòng trừ tập đoàn chích hút, sâu vẽ bùa ) nhằm bảo vệ tập đoàn ký sinh, thiên địch trên các vườn quả, hạn chế ô nhiễm môi trường
Có khá nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam về các đối tượng sâu bệnh hại trên cây có múi trong những năm qua Các công trình đã tập trung nghiên cứu một số đối tượng gây hại quan trọng trên cây có múi
- Về sâu bệnh hại: Cây bưởi Diễn có 13 loại sâu hại và 10 loại bệnh hại Trong đó, các sâu hại quan trọng là sâu vẽ bùa, rầy chổng cánh, rệp, sâu đục thân, đục cành, ruồi và ngài chích quả, nhện
- Dự án của Tổ chức lương thực và phân bón vùng Châu á Thái Bình Dương (FFTC) – Việt nam (1992-2002) và Dự án CIRAD-FLHOR (1994 – 2000) về phục hồi sản xuất CĂQ có múi ở Việt Nam đã thiết lập được bản đồ phân bố bệnh VLG; xây dựng hệ thống nhà lưới sản xuất giống CĂQ có múi sạch bệnh; phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng tạo cây sạch bệnh; chẩn đoán phân tử bệnh VLG và Virus; dịch tễ học VLG; xây dựng mô hình thâm canh và biện pháp IPM cho vườn cây sạch bệnh (Boun keua Vongsalath, 2005)
Những công trình nghiên cứu trong các năm qua mới chỉ dừng lại ở từng đối tượng gây hại cụ thể trên cây có múi, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hiện nay Cần có một nghiên cứu đồng bộ, trên cơ sở khai thác và kiểm nghiệm các kết quả nghiên cứu trước đây, nhằm xây dựng quy trình phòng trừ sâu bệnh tổng hợp trên cây có múi cho các vùng sản xuất cây có múi tập trung
Trang 36CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Cây bưởi Diễn tại vùng đồi gò huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội cây đạt 9 năm tuổi, cây giống được nhân giống bằng phương pháp ghép mắt
- Phân bón cho cây bưởi Diễn thời kỳ quả non đến khi quả bưởi Diễn chín sinh lý :
+ Phân tổng hợp con cò, tỷ lệ NPK: 13:13:13 + TE; sản phẩm của Công ty Nông nghiệp sài gòn con nai vàng
+ Phân NPK Văn điển, tỷ lệ NPK: 16:6:16; sản phẩm của Công ty phân lân Văn Điển
+ Phân tổng hợp đầu trâu, tỷ lệ NPK: 16:16:8:13S; sản phẩm của Công ty phân bón Bình Điền
+ Bortrac: thành phần chủ yếu là Bo, sản phẩm của công ty Yara phosyn LTD (Anh Quốc)
+ Super Grow: sản phẩm của Công ty Ba Lá Xanh
+ Siêu kali - Bo: Sản phẩm của Công ty phân bón Việt Thành
+ Agriseeds - MB1: Sản phẩm của Công ty TNHH Agriseeds
- Túi bao quả bưởi Diễn: Túi bao quả bưởi chuyên dụng nhập từ Trung Quốc
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có múi, xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Thời gian: Từ tháng 4/2014 đến tháng 5/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá hiện trạng sản xuất cây bưởi Diễn tại vùng đất đồi gò huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Khảo sát, đánh giá đặc điểm nông sinh học của cây bưởi Diễn trên các
độ cao khác nhau của vùng đất đồi gò huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Trang 37- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuất đến năng suất, chất lượng quả bưởi Diễn (biện pháp sử dụng phân bón lá, phân bón tông hợp, biện pháp bao quả)
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra, thu thập các thông tin về hiện trạng giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc tại các hộ sản xuất bưởi Diễn tại vùng đồi gò huyện Chương Mỹ bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ
- Tình hình chăm sóc và quản lý vườn bưởi của vùng gò đồi: Điều tra trên 3
xã trồng bưởi chủ yếu của huyện và tiến hành điều tra 30 hộ đại diện
2.4.1.2 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây bưởi trồng trên các vị trí độ cao khác nhau của vườn đồi gò huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong năm 2014
- Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây bưởi Diễn, cây đạt 9 năm tuổi, được trồng bằng cây ghép với gốc ghép là cây bưởi Chua Thí nghiệm được
bố trí trên đất đồi gò của hộ nông dân: Nguyễn Đức Thọ thuộc khu Chiến Thắng
TX Xuân Mai huyện Chương Mỹ TP Hà Nội với 3 công thức sau:
CT1: Bưởi trồng ở 1/3 phía chân đồi
CT2: Bưởi trồng ở 1/3 giữa đồi
CT3: Bưởi trồng ở 1/3 phía đỉnh đồi
Mỗi công thức nghiên cứu 20 cây về đặc điểm hình thái, sinh trưởng cành, thời gian ra hoa, sức sống hạt phấn, tỷ lệ đậu quả, các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng quả
Chăm sóc thí nghiệm đồng đều theo quy trình của hộ nông dân đã được
Sở nông nghiệp và PTNT Hà Nội tập huấn và hướng dẫn
Trang 382.4.1.3 Nghiên cứu sử dụng chế phẩm phun qua lá đến năng suất, chất lượng quả bưởi Diễn
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) trên vườn cây
9 tuổi, với 5 công thức, mỗi công thức 3 cây, 3 lần nhắc lại Tổng số cây thí nghiệm là 45 cây Thí nghiệm gồm 5 công thức như sau:
CT1 Nước lã, không sử dụng chất điều tiết sinh trưởng (đối chứng) CT2: Sử dụng chế phẩm phun qua lá Bortrar
CT3: Sử dụng chế phẩm phun qua lá Super Grow CT4: Sử dụng chế phẩm phun qua lá Siêu kaly – Bo CT5: Sử dụng chế phẩm phun qua lá Agriseeds – MB1 Thời gian sử dụng: Phun sau khi quả bưởi Diễn có đường kính đường kính 4-5cm, sau đó cứ 2 tuần phun 1 lần vào sáng sớm hay chiều mát
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Chăm sóc thí nghiệm đồng đều theo quy trình của Trung tâm nghiên cứu
và phát triển cây có múi
2.4.1.4 Nghiên cứu sử dụng phân tổng hợp bón thúc quả trên cây bưởi Diễn
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) trên vườn cây
9 tuổi, với 4 công thức, mỗi công thức 3 cây, 3 lần nhắc lại Tổng số cây thí nghiệm là 36 cây
CT1: Nền + bón theo tập quán của dân (ĐC)
CT2: Nền + Phân NPK Văn Điển, tỷ lệ NPK 16:6:16 (6 kg/cây)
CT3: Nền + phân tổng hợp đầu trâu, tỷ lệ NPK 16:16:8:13S (6 kg/cây) CT4: Nền + Phân tổng hợp con cò, tỷ lệ NPK 13:13:13+ TE (6 kg/cây)
(Theo tập quán của người dân: 270g P 2 O 5 + 368g N + 290g K 2 O Tất cả các công thức đều được bón chung trên nền 50kg phân chuồng + 1kg vôi bột/cây)
Trang 39+ Lần 3: 2kg - Bón thúc quả lớn và cành thu (vào tháng 8 - 9)
(Cách bón: Bón theo tán cây hoặc có thể hoà nước tưới) 2.4.1.5 Nghiên cứu thời điểm bao quả nhằm nâng cao năng suất và giá trị thương phẩm của bưởi Diễn
Thí nghiệm gồm 5 công thức:
Công thức 1: bao quả vào thời điểm 40 ngày sau tắt hoa
Công thức 2: bao quả vào thời điểm 50 ngày sau tắt hoa
Công thức 3 : bao quả vào thời điểm 60 ngày sau tắt hoa
Công thức 4 : bao quả vào thời điểm 70 ngày sau tắt hoa
Công thức 5 : Đối chứng - Không bao quả
Thí nghiệm được bố trí với 5 công thức theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) trên vườn cây có độ tuổi 9 năm tuổi, mỗi công thức 03 cây với 03 lần nhắc lại (tổng số cây cần cho thí nghiệm là 45 cây)
Cây tham gia thí nghiệm được chăm sóc theo quy trình kỹ thuật của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có múi
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Trang 40CT 5 CT 1 CT 2 CT 3 CT 4
2.4.2 Chỉ tiêu theo dõi
2.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây bưởi Diễn trên các độ cao
khác nhau của vùng đất đồi gò huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Chiều cao cây (cm): Đo bằng thước dài, đặt một đầu sát mặt đất đo đến điểm cao nhất của tán cây
Đường kính tán (cm): Đo bằng thước dây, đo hình chiếu tán cây theo hướng Đông - Tây, Nam - Bắc, sau đó lấy giá trị trung bình
Chiều cao thân chính: Đo bằng thước dây, dùng thước đặt một đầu ở sát mặt đất đến điểm phân cành đầu tiên
Đường kính thân chính (cm): Đo bằng thước Palme ở vị trí cách mặt đất 5 cm,
Số cấp cành: đếm số cấp cành hiện có trên cây
Chiều cao phân cành (cm)
Đo chiều dài lá (cm)
Thí nghiệm về sức sống của hạt phấn, chọn lọc khi điều kiện thời tiết >
180C, không mưa Lấy phấn ở những hoa đầy đủ, không dị hình, dị dạng và mới
nở vào thời gian từ 9-10h sáng Xác định sức sống hạt phấn bằng phương pháp nhuộm màu KI-I Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ hạt phấn bình thường (%), tỷ lệ hạt phấn lép (%)
Thời gian ra nụ, bắt đầu nở hoa, kết thúc nở hoa: Theo dõi toàn vườn ở từng khu vực, thời gian bắt đầu khi 10% số cây đạt, kết thúc khi 90% số cây đạt