1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính hiện đại trong tiểu thuyết sống mòn của nam cao

102 1,4K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính hiện đại trong tiểu thuyết sống mòn của Nam Cao
Tác giả Nguyễn Sỹ Thiết
Người hướng dẫn TS. Lê Thanh Nga
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 572 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học, chủ nghĩa hiện đại là “phạm trù văn học sử và nghệ thuật học do giới nghiên cứu văn học, mỹ học Liên Xô trước 1991 đề xuất và luậnchứng nh

Trang 1

Để hoàn thành cuốn luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

TS LÊ THANH NGA - người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi kể từ khi nhận Đề tài cho đến khi Luận văn được hoàn thành.

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn và Khoa Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến với gia đình, các bạn và những người thân thiết đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập.

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Nguyễn Sỹ Thiết

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu tính hiện đại trong Sống mòn của Nam Cao 9

1.1 Giới thuyết về khái niệm hiện đại và tính hiện đại 9

1.1.1 Các quan niệm về hiện đại 9

1.1.2 Quan niệm của tác giả luận văn về tính hiện đại 12

1.1.3 Quan điểm tiếp cận vấn đề tính hiện đại trong Sống mòn của Nam Cao 13

1.2 Những tiền đề xã hội - thẩm mỹ cho sự xuất hiện tính hiện đại trong Sống mòn của Nam Cao 16

1.2.1 Bối cảnh xã hội 16

1.2.2 Tính hiện đại biểu hiện trong văn học nghệ thuật 1932 – 1945 19

1.2.3 Tính hiện đại trong tư tưởng của Nam Cao qua sáng tác của ông giai đoạn trước cách mạng 22

1.3 Một số vấn đề chung vê Nam Cao và Sống mòn 25

1.3.1 Những nét tiểu sử 25

1.3.2 Nhìn qua sự nghiệp sáng tác của Nam Cao 28

1.3.3 Sự ra đời của Sống mòn và vị trí của nó trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao 31

Chương 2: Tính hiện đại thể hiện trong Sống mòn về mặt tư tưởng - thẩm mỹ 34

2.1 Cái nhìn về đời sống 34

2.1.1 Một cuộc sống ngưng trệ 34

2.1.2 Những tâm hồn mỏi mệt 38

2.1.3 Bi kịch về sự tồn tại phi lý 41

Trang 3

2.2.2 Con người vô nghĩa 50

2.2.3 Con người cô đơn 53

2.3 Những mặc cảm về con người xã hội 57

2.3.1 Bản chất con người là một quá trình tha hoá 57

2.3.2 Những số kiếp bị đoạ đày 59

2.3.3 Sự bất lực của con người trước cuộc sống 62

Chương 3: Tính hiện đại thể hiện trên một số phương diện nghệ thuật 65

3.1 Hướng đến một cốt truyện thủ tiêu xung đột 65

3.1.1 Cốt truyện không có tình huống kịch tính 66

3.1.2 Sự kéo giãn cốt truyện 70

3.1.3 Tạo chiều sâu nội dung bằng lối kể chuyện nhẩn nha, chậm rãi 73

3.2 Một kiểu miêu tả thoát ly những ràng buộc chủ nghĩa hiện thực “cổ điển” 78

3.2.1 Khái quát hiện thực không bị chi phối bởi hình thức bản thân hiện thực 78

3.2.2 Thoát ly quy phạm của điển hình hóa chủ nghĩa hiện thực 80

3.2.3 Để tác phẩm tự bộc lộ ý nghĩa 82

3.3 Tính hiện đại thể hiện trong tổ chức trần thuật 85

3.3.1 Đề tài 85

3.3.2 Miêu tả bằng sự di động điểm nhìn 87

3.3.3 Miêu tả theo cảm quan mà không phải là ghi chép hiện thực 90

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nam Cao (1917 - 1951) là nhà văn thể nghiệm tài bút của mình trên nhiềuthể loại: thơ, truyện ngắn, truyện dài, kịch, tiểu thuyết, nhưng chỉ để lại cho đời 01

cuốn tiểu thuyết có tên: Sống mòn Trước nay, có lẽ bởi những đóng góp quan trọng

và nổi bật của Nam Cao ở khu vực truyện ngắn, nên mọi chú ý của giới nghiên cứu,

của các luận văn, luận án chủ yếu nghiêng về khu vực này Sống mòn, chính vì vậy

vẫn là một tác phẩm cần phải quan tâm hơn nữa, sao cho sự quan tâm ấy tươngxứng với tầm vóc của bản thân tác phẩm

1.2 Trên thực tế, không phải đã không có những côn trình, bài viết có đề cập

đến Sống mòn, thậm chí, có vài công trình đã động chạm đến nhiều phương diện,

chỉ ra không ít nét đặc sắc của tác phẩm Tuy nhiên, căn cứ những tư liệu mà chúngtôi có được, cho đến thời điểm này vẫn chưa có một công trình quy mô nào nghiên

cứu một cách hệ thống về Sống mòn, đặt vấn đề tìm hiểu tác phẩm bằng một luận

văn độc lập là hoàn toàn có thể

1.3 Đã có nhiều ý kiến đề cập đến những cách tân nghệ thuật, những tiến bộ

và thậm chí cả chất hiện đại trong sáng tác nói chung, và trong tiểu thuyết này nóiriêng của Nam Cao Nhưng, trong khi nêu những ý kiến đánh giá ấy, các tác giả vẫn

chưa chỉ ra thật rõ tính hiện đại biểu hiện trong Sống mòn của Nam Cao như là biểu

hiện thực sự của ý thức tự giác nghệ thuật Chính vì lẽ này, có thể vô tình chúng ta

đã bỏ qua một thành tựu của thể loại tiểu thuyết trong văn học Việt Nam hiện đại

Đặt vấn đề tìm hiểu tính hiện đại trong Sống mòn, như vậy là có lí do hết sức chính

đáng Tuy nhiên nhìn tiểu thuyết dưới góc độ tính hiện đại là chưa thấy có ở mộtcông trình nào, đặc biệt là một công trình quy mô, dài hơi Trong lúc, đối với thời

điểm hiện nay, nghiên cứu tính hiện đại trong Sống mòn nói riêng và tiểu thuyết nói

chung là một hướng đi cần thiết Đây chính là một trong những lí do cơ bản đểchúng tôi mạnh dạn khai thác đề tài dưới cái nhìn có tính hệ thống

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Trong dòng văn học hiện thực thời kỳ 1930 - 1945, Nam Cao đã tự khẳngđịnh được mình với tư cách là nhà văn luôn tìm tòi đổi mới cả về nội dung phản ánhlẫn cách thể hiện Bởi thế, trong dòng chảy văn học dân tộc dưới quỹ đạo hiện đạihóa, có lẽ Nam Cao là nhà văn được giới nghiên cứu - phê bình quan tâm nhất Lịch

sử nghiên cứu về Nam Cao ngày một dày thêm và mỗi ngày lại góp thêm một kiếngiải mới mẻ Tuyệt đại đa số các ý kiến đều thống nhất khẳng định tầm vóc vànhững đóng góp quan trọng của Nam Cao cho văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt

là trong quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ XX Tuynhiên, như chúng tôi từng nhắc đến, phần lớn các nhận xét, đánh giá ấy chủ yếu tập

trung chú ý vào khu vực truyện ngắn Những nhận xét về Sống mòn, mặc dù rất xác

đáng, quý giá, nhưng chưa nhiều

Tác giả Hà Minh Đức trong bài viết Nam Cao phê phán và tự phê phán, in trong tập Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb KHXH, 1992, đã có nhận xét thiên về nội

dung - tư tưởng Tác giả viết: “Trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nam Cao,những nhân vật trí thức nghèo thường có ý thức tự phê phán lại là bóng dáng của

chính tác giả Điền trong Giăng sáng, Hộ trong Đời thừa, Thứ trong Sống mòn đều

là những nhân vật cùng một kiểu tính cách, một loại tâm trạng Trong bản chất họ lànhững người tốt, giàu ước mơ, muốn đóng góp và trở thành người có ích cho đời

Họ coi trọng tri thức, muốn đem tri thức để cải tạo cuộc sống Nhưng trớ trêu thay

họ lại là nạn nhân của hoàn cảnh” [54; 204-205]

Tác giả Trần Đăng Suyền, 1991, công bố bài viết Thời gian và không gian trong thế giới nghệ thuật của Nam Cao trên Tạp chí Văn học, số 5, lại có những

phân tích, tìm hiểu trên phương diện nghệ thuật, tập trung ở không gian và thờigian Tác giả kết luận: Cái thời gian hằng ngày để tìm kiếm miếng ăn đã choán gần

hết những giây phút sáng tạo của Thứ trong Sống mòn Không gian trong sáng tác

của Nam Cao là không gian hướng nội, không gian nhỏ hẹp, không gian được kiếntạo trong tầm nhìn của nhân vật [54; 230]

Trang 6

Trên Báo Văn nghệ, số 145, năm 1956, nhà văn Tô Hoài viết bài Người và tác phẩm Nam Cao, trong đó tác giả bài viết - sau khi bàn đến nội dung và nghệ thuật

trong các sáng tác của Nam Cao - đã cho rằng: “Mỗi sáng tác của anh đều là tiếngnói một thái độ của ngòi bút Không ngủ gật hoặc ừ hử che màn với cuộc sống bấygiờ, là anh đã quẳng vấn đề cho bạn đọc suy nghĩ” [54; 244]

Như vậy, mặc dầu đan xen vào phân tích, tìm hiểu thế giới nghệ thuật của tácphẩm Nam Cao nói chung nhưng các tác giả đã cho thấy những đặc điểm cơ bản

của tiểu thuyết Sống mòn Theo đó, Sống mòn là tác phẩm đã đề cập đến cái đói và

miếng ăn (Nguyễn Đăng Mạnh), là tiếng nói mang dáng dấp tiếng nói của người

trong cuộc Sống mòn đã vẽ ra một không gian mang tính hướng nội rõ nét, thời

gian thì quẩn quanh xen lẫn với những việc làm tẻ nhạt, buồn chán Thái độ của

Nam Cao trong các tác phẩm, kể cả Sống mòn là khá rõ ràng, không nước đôi,

không lưỡng lự Nhà văn Nam Cao là nhà văn trung thực với chính mình, là nhà vănnghiêm nhặt, các nhân vật chính trong tác phẩm nói về người trí thức đa phần làmẫu hình của Nam Cao, là hiện thân của một khía cạnh, một phẩm chất, một tínhtình của Nam Cao Bởi thế, đa phần các tác giả nghiên cứu đều đánh giá cao tầm tưtưởng, đạo đức của người trí thức Nam Cao Đây chính là một trong những lí doquan trọng để công chúng bạn đọc ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào từ sau 1945 đềuyêu mến trang văn của Nam Cao Dĩ nhiên để chinh phục được bạn đọc với những

“con mắt tinh đời”, ngoài yếu tố tư tưởng, nhà văn còn phải biết chuyển hóa tưtưởng đó vào tác phẩm một cách nghệ thuật Các thủ pháp, biện pháp nghệ thuật mànhà văn sử dụng phải thật sự phù hợp với tư tưởng, đem lại hiệu quả thẩm mĩ cao.Các tác giả nghiên cứu khi nghiên cứu về Nam Cao cũng đã đánh giá cao Nam Cao

ở phương diện sử dụng các biện pháp nghệ thuật, đặc biệt là lối hành văn, cách kếtcấu tác phẩm, kiến tạo không gian, thời gian…

2.2 Tiểu thuyết Sống mòn được nhà văn Nam Cao hoàn thành tại làng quê Đại

Hoàng ngày 01/10/1944 Năm ấy tác giả 27 tuổi Tuy nhiên, tác phẩm này phải đến

12 năm sau, năm 1956, mới in lần đầu Điều này trên thực tế đã cho thấy những

“quan ngại” của chính tác giả đối với những vấn đề tác giả đặt ra trong tác phẩm

Trang 7

Bởi so với thời điểm hiện tại khi quyền tự do bị tước đoạt, cái đói đang hoành hànhkhắp nơi, văn học đang phổ biến với phương pháp phản ánh hiện thực theo lối cổ

điển, thì những gì nhà văn đặt ra và thực hiện trong tác phẩm Sống mòn quả là một

sự sai khác Điều này giải thích tại sao thời gian đầu khi tác phẩm được công bố, nóchưa nhận được sự hồ hởi của độc giả Mãi đến sau này, khi thực tế cuộc sống vàthực tế sáng tác nảy sinh nhiều vấn đề, người ta mới thấy những gì tác giả Nam Cao

đặt ra trong Sống mòn là cần phải nghiêm túc nhìn nhận Bởi thế, lịch sử nghiên cứu

về tiểu thuyết Sống mòn theo năm tháng ngày càng nhiều thêm

Đỗ Đức Hiểu, ở bài viết Hai không gian sống trong “Sống mòn”, nhận xét:

“Như vậy, sức năng động của Sống mòn, chính là sự xung đột giữa không gian xã

hội (“xó nhà quê” và ngoại ô Hà Nội nhem nhuốc) và không gian tinh thần, mơ ước,không gian hồi tưởng, không gian khát vọng; Thứ vào Sài Gòn, nuôi giấc mộng điPháp, đến Mác - xây Thứ học, lúc nào cũng đọc sách, đọc để mở rộng tầm mắt rakhông gian thế giới để nhìn sâu vào tâm hồn con người Thứ “sẽ đi bất cư đâu” “sẽ

ra đi”, “sẽ đi liều”; song hiện tại anh đang ở trên con tàu, mang anh về “làng mạc xoro” và “Hà Nội sẽ lùi, lùi dần”, Hà Nội “vẫn lùi” “Sống tức là thay đổi”…”

[54;178] Đặc biệt, khi bàn đến nghệ thuật tiểu thuyết kiểu tự truyện trong Sống mòn, Đỗ Đức Hiểu nhấn mạnh: “Tiểu thuyết kiểu tự truyện này gợi người đọc nhớ đến Rút xô, nhà văn Pháp đầu tiên viết tự truyện trong Tự thú , gợi nhớ đến Ghide,

nhà văn đa dạng có ảnh hưởng sâu rộng trong văn xuôi Việt Nam 1930 - 1945: “Xê

dịch”, “Bướm trắng”, “Cái đẹp thuần tuý”, “Sống là thay đổi”, và ở Sống mòn, sự

phá vỡ cái tầm thường, ái sáo mòn, cái đóng kín, cái tù hãm trong bản thân mỗingười; về một phương diện, tác phẩm Gide là văn chương của người trí thức đi tìm

bản thân mình trên con đường vô tận Sống mòn gây xáo lộn, gây tình trạng bất ổn

trong tâm tư con người, nó hé mở cuộc sống tự do, chân chính của người trí thức”[54; 181]

Phong Lê trong Đọc lại và lại đọc Sống mòn đã đề cập đến một số vấn đề của Sống mòn trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật: “Sống mòn” không chỉ là

một tiểu thuyết hướng nội như cách ta hiểu lâu nay Đó cũng chính là một tiểu

Trang 8

thuyết rất tài năng trong các khả năng hướng ngoại Đọc Sống mòn ta thấy thật là

sắc sảo bút pháp Nam Cao trong khắc hoạ đời sống khách quan của hiện thực, quanhững chân dung và tính cách con người; qua bức tranh sinh hoạt ở một vùng ngoại

ô Hà Nội Đó là thế giới nhân vật nơi một cái trường tư và chung quanh ngôi trường

tư đó - nơi kiếm sống của hai nhà giáo Thứ, San với Đích Oanh là đồng nghiệp và làngười chủ cái trường Cái thế giới được mở rộng dần ra, từ người gần gũi nhất là

Mô, anh loong toong làm đủ mọi thứ việc của trường và của những người chủ

trường…”[54;189] Đặc biệt, khi bàn đến không gian, thời gian của tác phẩm, tác

giả khẳng định: “Tôi chưa quen lắm cái thao tác phân tích không gian, thời giannghệ thuật vốn đang rất được ưa chuộng hiện nay Tôi chỉ nêu một số cảm nhận rất

đơn giản về ba không gian sống chủ yếu của nhân vật Sống mòn Đó là gian ở nơi

nhà trường, gian ở nhà ông Học và gian nhà của Thứ ở quê Gian ở nơi nhà trườngvới những buổi sáng tràn ngập ánh nắng, gắn với ước vọng và sự lụi tắt dần nhữngước nguyện cải tạo cái trường Gian nhà ông Học thường xuyên trong tối ẩm, đểgắn bó và mở rộng thêm những chiêm nghiệm của hai nhà giáo về cuộc sống lầmthan của lớp người ngoại ô Và gian nhà quê gắn với biết bao kỷ niệm sầu tủi củamột đôi vợ chồng trẻ qua nhanh tuổi thanh xuân, và cả môt đại gia đình không lúcnào hết lo âu vì túng đói.” [54;194]

Trong bài Bút pháp tự sự đặc sắc trong “Sống mòn”, Nguyễn Ngọc Thiện đã

có một cách nhìn tập trung khá đầy đủ về Sống mòn từ đề tài, cốt truyện và một số

thủ pháp nghệ thuật (lối kể chuyện, người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, sự vận

động tâm lý v.v ) Tác giả khẳng định: “Cái độc đáo của giọng văn trong Sống mòn

không phải là tự làm mình làm mẩy, uốn éo giả tạo, lên gân, căng mình ra trong cái

thói đạo đức giả, mà là hàm chứa một nỗi đau nội tại, một lời trách cứ thâm trầm, một sự dăn vặt vì tin rằng cái nhân bản và lương tâm không phải là một điều gì xa

lạ, phải cưỡng bức mới có thể tiếp nhận nổi

Đọc Nam Cao, nhiều lúc cứ phải thảng thốt giật mình: tác giả ít đề cập đếnnhững biến cố trọng đại, mà đi sâu vào thế giới vi mô của đời sống bên trong,những điều nhỏ nhặt trong sinh hoạt gia đình, những cái rất vạch vãnh, đời thường

Trang 9

Nhưng sự phán xét lại nghiêm cẩn trong chính những điều nho nhỏ đó, từ đó có thểrút ra được những bài học đạo đức, luân lý sâu xa Qua những trang viết Nam Caothấy hiện rõ hình ảnh về con đường, về quá trình tìm tòi căng thẳng, vật vã đầy ưu

tư của con người lương thiện hướng về chân lý, công bằng, cái cao cả và điều lành,với một tinh thần nhân ái độ lượng”.[54;184]

Các tác giả đã đánh giá cao đóng góp của Nam Cao đối với văn học Việt Namgiai đoạn 1930 - 1945 trên các bình diện nội dung và nghệ thuật Hầu hết các nhậnxét đều tập trung ở việc nhìn nhận tác phẩm đã vẽ ra một bức tranh quẩn quanh,không đáng sống, làm mòn mỏi những kiếp người Các tác giả nghiên cứu đều chỉ

ra rằng, Sống mòn là tác phẩm về đề tài người trí thức, Nam Cao đã thông qua

người trí thức để phản ánh về một xã hội ở đó quyền sống của con người bị chèn ép,miếng cơm manh áo đã trở thành nỗi ám ảnh ngay cả đối với người trí thức Các ý

kiến đánh giá về Sống mòn đa phần tập trung phân tích ở nhân vật Thứ - nhân vật

trung tâm, điển hình trong tác phẩm Ở Thứ toát lên tất cả những sự bần cùng, bứcbối, những bức bách mà con người không thể chịu đựng được nổi Cuộc sống thìngưng trệ, mọi hành động diễn ra cứ quanh quẩn, đơn điệu, nhàm chán Không gian

để nhân vật hoạt động thì cũng lặp đi lặp lại, hơn nữa, đó còn là không gian thiếu sựsống, một không gian không hứa hẹn sự tươi sáng trở lại Thông qua việc phân tíchcác nhân vật trong tác phẩm, đặc biệt là nhân vật Thứ, phân tích các bình diện nghệthuật khác, các tác giả đã đánh giá cao ngòi bút sắc sảo, tài năng của Nam Cao,đánh giá Nam Cao là tác giả đã đem đến một cách tiếp cận mới về hiện thực với tầm

tư tưởng vượt thời đại

Như vậy, chúng ta nhận thấy, các bài viết dầu dành toàn bộ dung lượng để nói

về Sống mòn hay chỉ nói đến Sống mòn trong quá trình phân tích toàn bộ tác phẩm

Nam Cao đều đã chỉ ra được các đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết trên bình diện nộidung - tư tưởng và các biện pháp nghệ thuật được sử dụng Các bài viết đã chỉ ra từ

đề tài, nội dung, tư tưởng tác phẩm, nghệ thuật xây dựng không - thời gian, nghệthuật sử dụng ngôn ngữ, tạo dựng cốt truyện, cách thức trần thuật… Nói chung là

gần như các đặc điểm cơ bản của Sống mòn đều đã được nhìn nhận, phân tích Tuy

Trang 10

nhiên, nhìn tiểu thuyết này dưới góc độ tính hiện đại với sự nghiên cứu tập trung, cótính hệ thống, vẫn chưa thấy có Nhận thấy khoảng trống đó, chúng tôi mạnh dạntriển khai đề tài với mong muốn tìm hiểu và xác lập một cách có hệ thống, đầy đủ

các biểu hiện của tính hiện đại trong tiểu thuyết Sống mòn Một số kết luận, kết quả

phân tích, tìm hiểu của chúng tôi, bởi vậy, tất yếu sẽ có sự tương đồng nhất định vớikết quả nghiên cứu của những người nghiên cứu trước

3 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính hiện đại

trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao.

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

- Xác định vị trí của Sống mòn trong sự nghiệp của Nam Cao;

- Làm rõ được tính hiện đại trong tiểu thuyết Sống mòn thể hiện trên phương

diện nội dung

- Làm rõ được tính hiện đại trong tiểu thuyết Sống mòn thể hiện trên phương

diện nghệ thuật

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu hình thức,

- Phương pháp phân tích, chứng minh,

- Phương pháp nghiên cứu văn hóa, lịch sử,

- Phương pháp so sánh

6 Đóng góp của luận văn

Thực hiện luận văn với đề tài Tính hiện đại trong tiểu thuyết Sống mòn, chúng

tôi xác định có những đóng góp sau:

- Nghiên cứu một cách hệ thống tính hiện đại trong Sống mòn của Nam Cao;

- Việc nghiên cứu đề tài này có thể làm tài liệu tham khảo cho những ngườiquan tâm nghiên cứu Nam Cao, đặc biệt là giáo viên ở trường THPT

Trang 11

7 Cấu trúc luận văn

Tương ứng với nhiệm vụ, mục đích đề ra, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tàiliệu tham khảo, luận văn của chúng tôi gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận nghiên cứu tính hiện đại trong Sống mòn của Nam Cao Chương 2 Tính hiện đại thể hiện trong Sống mòn về mặt tư tưởng, thẩm mỹ.

Chương 3 Tính hiện đại thể hiện trên một số phương diện nghệ thuật

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ NGHIÊN CỨU

TÍNH HIỆN ĐẠI TRONG SỐNG MÒN CỦA NAM CAO

1.1 Giới thuyết về khái niệm hiện đại và tính hiện đại

1.1.1 Các quan niệm về hiện đại

Hiện đại là một khái niệm ngày nay hay được nhắc đến trong đời sống, trongkhoa học kĩ thuật… và trong văn học nghệ thuật Trước khi xác định khái niệm hiệnđại và tính hiện đại trong văn học, cần phải xác định một cách sáng rõ khái niệmhiện đại nói chung Có nhiều định nghĩa, nhiều cách giải thích về khái niệm hiệnđại Tuỳ vào nhiệm vụ, mục đích cụ thể và tính chất xã hội của thời điểm đưa ra sự

lí giải, các quan niệm về hiện đại, bên cạnh sự thống nhất, cũng có những điểm khácnhau nhất định

“Hiện đại”, trước hết là một khái niệm thường được dùng để chỉ một giai đoạncủa lịch sử tương ứng với những tiến bộ khoa học kĩ thuật và sự hình thành một cơcấu xã hội mới, và gắn liền với sự lên ngôi của chủ nghĩa tư bản với ý thức hệ tưsản Người ta thường coi thời kì hiện đại bắt đầu từ cách mạng Tư sản pháp (1789),

có người đẩy cái mốc đánh dấu sự ra đời của thời hiện đại từ cách mạng Tư sản Anh(1649) hay xa hơn nữa là Cách mạng Tư sản Hà Lan (1566) Ngày nay, có ý kiếnmuốn đưa thời hiện đại lùi lại với cái mốc cách mạng tháng Mười Nga (1917).Nhưng, dẫu là cách lựa chọn nào thì trong các mốc ấy, cũng như các định nghĩa,khái niệm, chúng ta có thể hiểu, khái niệm hiện đại theo nghĩa thông thường, trướchết là chỉ một thời đại lịch sử

Ở các nước phương Tây, chủ nghĩa hiện đại (modernism) là thuật ngữ có nộihàm rộng và biến động, bao quát cả xã hội học, văn hoá học, sử học… Nó có nguồngốc từ việc các đức cha của giáo hội Thiên chúa giáo gọi các xã hội đa thần giáo(trước Thiên Chúa giáo) ở Địa Trung Hải là cũ, cổ xưa (anticuus), phân lập với thếgiới Thiên Chúa giáo là modernus

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, chủ biên, Nxb Đà Nẵng, 2000, Tr 438) thì hiện đại có hai nghĩa:

Trang 13

1 Thuộc về thời đại ngày nay (ví dụ: Lịch sử hiện đại; âm nhạc hiện đại; văn học Việt Nam hiện đại…).

2 Có áp dụng những phát minh, những thành tựu mới nhất của khoa học kĩ

thuật ngày nay (ví dụ: Nền công nghiệp hiện đại; thiết bị hiện đại, những công trình kiến trúc hiện đại…)

Về khái niệm hiện đại trong văn học, cũng đã tồn tại nhiều cách hiểu khácnhau Trước nay có một cách quan niệm về văn học nghệ thuật hiện đại, là tất cảnhững tác phẩm văn học thuộc về thời hiện đại Khi sử dụng khái niệm hiện đại này,

dĩ nhiên là xuất phát từ sự định danh để phân biệt với phạm trù văn học trung đại

Vì vậy nói văn học hiện đại Việt Nam thường gợi ý niệm về văn học thế kỉ XX đếnsau này, trong khi văn học trung đại là văn học chủ yếu được viết ở thế kỉ XIX trở

về trước Cũng còn một cách hiểu khác về khái niệm hiện đại trong văn học nghệthuật, đặc biệt khi khái niệm này được gắn với từ “chủ nghĩa” Theo Lại Nguyên Ân

trong 150 thuật ngữ văn học, chủ nghĩa hiện đại là “phạm trù văn học sử và nghệ

thuật học do giới nghiên cứu văn học, mỹ học Liên Xô (trước 1991) đề xuất và luậnchứng nhằm mô tả và nhận định một loạt hiện tượng văn học nảy sinh ở châu Âu vàcác nước phương Tây thế kỉ XX” [2; 67-68] với hàm nghĩa chỉ chung các trào lưuvăn học nghệ thuật ra đời trước hoặc sau thế chiến thứ nhất, như chủ nghĩa biểuhiện, chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa đa đa, chủ nghĩa siêu thực chủ nghĩa trừu tượng.Chủ nghĩa hiện đại được những người đề xuất khái niệm này xem như một hệ thốngthẩm mĩ - nghệ thuật có quy mô toàn thế giới với những đặc điểm mang tính cộngđồng về xã hội - văn hoá và thế giới quan triết học

Ở Việt Nam, Vũ Ngọc Phan là một trong những người đưa ra cách hiểu khá

sớm về khái niệm hiện đại Trong Nhà văn hiện đại Việt Nam (1941) ông viết:

“Các nhà văn hiện đại mà tôi sẽ nói đến sau này là những nhà văn có những tác phẩm xuất bản trong khoảng ba mươi năm gần đây” [57; 11) Như vậy, có nghĩa là

Vũ Ngọc Phan hiểu khái niệm hiện đại là những nhà văn mà sự nghiệp nổi lên từđầu thế kỷ XX Và, theo cách hiểu này chúng ta có thể nhận thấy rằng Vũ NgọcPhan quan niệm về các nhà văn hiện đại theo sự phân kỳ văn học, theo mốc thời

Trang 14

gian (Trung đại – Cận đại – Hiện đại) Sau đó mấy năm, trong bài viết Sự tiến triển của văn học Việt Nam hiện đại (Tạp chí Tiên phong số 3, in lại trong Sưu tập trọn bộ Tiên phong, Nxb Hội Nhà văn, 1996, [58;127] ông vẫn giữ nguyên cách hiểu như

vậy

Đào Duy Anh, trong Việt Nam văn hoá sử cương cũng coi văn học hiện đại là

phần văn học dùng chữ quốc ngữ mà đến thế kỷ XX mới trở nên phổ biến và phát

triển mạnh Hoặc khi làm Biểu liệt kê tác giả tác phẩm cho cuốn Việt Nam văn học

sử yếu, Dương Quảng Hàm đã chia văn học Việt Nam theo các thế kỷ và kết thúc bằng mục Hiện đại - thế kỷ XX (Bản của Nxb Bốn phương [25; 275-278).

Ở Việt Nam những năm gần đây, từ khi đất nước đổi mới, mở cửa hội nhậpvới thế giới đã nảy sinh nhiều vấn đề, nhiều ý kiến, quan niệm bàn luận xung quanhkhái niệm hiện đại, và trên thực tế, các quan niệm cũng chưa có sự thống nhất tuyệtđối Có người cho rằng, tất cả tác phẩm tiêu biểu của một dân tộc đều là tác phẩmhiện đại của dân tộc mình trong thời điểm đó, và có những mặt cho đến nay vẫn cònhiện đại Lại có người hiểu tính hiện đại chỉ được biết đến với những tác phẩmtrong thế kỷ XX, khi văn chương có sự giao lưu giữa các dân tộc trên thế giới Một

số người nói đến tính hiện đại của văn chương là để chỉ các sản phẩm văn chươngđược sản xuất từ Mỹ và phương Tây những năm gần đây Dẫu sao thì từ "hiện đại"luôn đi liền với sự mới mẻ và có giá trị, là tiêu biểu cho những gì tiên tiến nhất củathời đại

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong bài viết Tìm nghĩa khái niệm hiện đại đăng trên Tạp chí văn học (Số 1, 2002) sau khi trình bày những cách hiểu khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau về khái niệm hiện đại, tác giả đã trình bày

một cách gián tiếp về khái niệm hiện đại như sau: “Chúng tôi không đủ trình độ đểtìm hiểu hai chữ hiện đại dưới góc độ từ nguyên học, nhất là xác định được khởiđiểm mà từ này lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, trước khi truyền sang Việt Nam,song có thể mạnh bạo dự đoán: Hiện đại chỉ được dùng nhiều từ cuối thế kỷ XIX,

nó gắn liền với một giai đoạn bột phát của sự tiếp xúc Đông Tây, khi mà người châu

Á (mà gần với ta nhất là Trung Hoa) bắt đầu có ý thức được rằng dù bản thân từng

Trang 15

có truyền thống văn hoá lâu đời, song hiện đang ở giai đoạn trì trệ, bế tắc, có nhiềuphương diện có thể gọi là cổ hủ lạc hậu Vậy cái lối làm kinh tế cũng như vănchương nghệ thuật mới mẻ, đáng gọi là xứng với thời buổi ngày nay (hiện đại) phải

là gắn liền với phương Tây, và trở nên hiện đại (hiện đại hoá) là làm theo mẫu hìnhphương Tây Từ đầu thế kỷ khi đề ra yêu cầu xây dựng nền văn hoá mới, các tác giảVăn minh tân học đã nghĩ như vậy Mà khi làm công việc ghi nhận thành tựu nhữngnăm từ đầu thế kỷ XX trở đi, các tác giả Vũ Ngọc Phan, Đào Duy Anh, DươngQuảng Hàm cũng nghĩ như vậy Nếu xưa kia, cái để ông cha ta đối chiếu là vănhọc Trung Hoa, thì ngày nay, cái để con người đầu thế kỷ trông vào học tập là cáchlàm văn hoá, cách nghĩ của người phương Tây Đây đó hai chữ Âu hoá có bị hiểusai và việc này đã có người mang ra chế giễu, song nhìn chung nó được dùng rấtnghiêm chỉnh, và giả định một sự học hỏi tích cực với tất cả bản lĩnh dân tộc vữngchãi, chứ không phải là học đòi theo lối nô lệ” [55; 2]

Trở lên, chúng tôi đã dẫn trích một số quan niệm, khái niệm về thuật ngữ hiệnđại Nhìn chung, vẫn còn những điểm khác nhau giữa một số quan niệm, song, cóthể thấy rằng, ở vấn đề cơ bản nhất, các quan niệm đều có những nét chung, đấy là

sự chú ý đến tính hiện tại, hay sự tiến bộ trong khi xem xét nội hàm khái niệm

1.1.2 Quan niệm của tác giả luận văn về tính hiện đại

Trong khi trình bày các cách hiểu về khái niệm hiện đại, chúng tôi hết sức chú

ý đến các định nghĩa coi hiện đại như là một khái niệm để chỉ sự tiến bộ Trong mộtgóc nhìn cụ thể, chúng tôi tán thành điểm này Trên thực tế, thật khó có thể địnhnghĩa hiện đại là một thời kì, một giai đoạn hay một trào lưu… trong mọi trườnghợp phát ngôn Vì lẽ, đã có những lúc, từ hiện đại được đưa sử dụng như một ngầm

ý so sánh nào đó Điểm này cũng đã từng được nhắc đến

GS Trần Văn Đoàn, công trình lí luận về khái niệm hiện đại, đã chỉ ra rằng:

"hiện đại" (modemus) không phải là sản phẩm của thời hiện đại Thuật ngữ này xuấthiện vào cuối thế kỉ thứ năm, nhằm chỉ những người Kito giáo, để phân biệt vớinhững người La Mã và những kẻ ngoại đạo Sau đó, "hiện đại" còn được lần lượtgán cho giai đoạn Phục Hưng vào cuối thế kỉ XII trong thời kì Charles Đại đế, và

Trang 16

một lần nữa, gắn với "cuộc xung đột giữa cổ đại và hiện đại" vào thế kỉ XVII ởPháp, chứ không phải là chỉ thế kỉ XIX "như chúng ta thừa nhận một cách mơ hồ".Theo H.R.Jauss, "hiện đại" nhằm chỉ sự phân biệt hiện tại khỏi quá khứ Cũng theoTrần Văn Đoàn thì hiện đại bao gồm:

1 Thái độ phản ứng lại cái truyền thống nảy sinh từ sự bất mãn với quá khứ vàthể hiện sự khát khao về một tương lai tốt đẹp hơn, khi tri thức cũ không giải thíchmột cách thoả mãn những bí mật của vũ trụ và sự tồn tại của con người;

2 Thể hiện tinh thần của một thời đại nhất định;

3 Như là một hình thức về một thời đại liên kết nó với quá khứ cổ xưa, đểthấy nó như là kết quả của một sự chuyển biến từ cái cũ đến cái mới

Tìm hiểu các quan niệm về hiện đại, chúng tôi cũng đã chỉ ra các cách hiểukhác nhau về nó Đó là vấn đề hiện đại trong đời sống nói chung và trong văn họcnghệ thuật nói riêng Tuy nhiên các quan niệm hiện đại được các nhà nghiên cứuvăn học, văn hóa quan niệm nó có sự khác nhau Khác nhau về sự phân chia và cáchhiểu Đó là căn cứ vào mốc thời gian lịch sử, căn cứ vào ký tự (chữ quốc ngữ), căn

cứ vào nội dung tư tưởng v.v Nhưng xét cho cùng thì những quan niệm này cũng

đã làm cho chúng ta hiểu được phần nào về thuật ngữ hiện đại trong đời sống cũngnhư trong văn học Và, đây cũng là một vấn đề rất quan trọng giúp chúng tôi tìmhiểu và nghiên cứu đề tài này

Tán thành cách giải thích của Trần Văn Đoàn và căn cứ vào thực tiễn sinhđộng của việc sử dụng khái niệm “hiện đại”, chúng tôi quan niệm “tính hiện đại” cóthể dùng để chỉ một sự tiến bộ, một sự mới mẽ nào đó thuộc về cốt lõi của sự vật,hiện tượng trong tương quan với một sự vật, hiện tượng khác Nói cách khác, tínhhiện đại là những khả năng mà sự vật, hiện tượng… vượt thoát khỏi tầm vóc sẵn cócủa “đồng loại”, để đạt đến một trình độ nào đó, có thể là mới mẻ hơn Tính hiệnđại là tinh thần của cái mới

1.1.3 Quan điểm tiếp cận vấn đề tính hiện đại trong Sống mòn của Nam Cao

Từ quan niệm về tính hiện đại nêu trên, chúng tôi hiểu tính hiện đại của mộttác phẩm nằm ở chỗ khả năng mang đến cái mới cho văn học, đặc biệt là khả năng

Trang 17

làm mới thể loại Khi đặt vấn đề nghiên cứu tính hiện đại trong Sống mòn của Nam

Cao là chúng tôi muốn nhìn nhận những khả năng ấy của chính tác phẩm Trong

phần mở đầu, chúng tôi đã có dịp nhắc đến những cái mới mẻ tự thân của Sống mòn, đồng thời cũng đã nhắc đến những đánh giá, những nhận xét về cái mới trong

tác phẩm Tuy nhiên, như thế là chưa đủ

Một thực tế vẫn thường xảy ra là mỗi tác phẩm văn học sở dĩ tồn tại và khẳngđịnh được thì bản thân nó phải mang đến những nét mới mẻ, phải mang đến nhữngphát hiện nào đó Trong một hệ thống thể loại, các tác phẩm có thể mang những đặcđiểm thống nhất, đồng nhất loại thể nhưng chắc chắn có sự khu biệt nào đó, có thể

là ở tư tưởng, có thể là ở thủ pháp miêu tả Ví dụ, trước Nam Cao, nhiều nhà văn đãthành công trong việc miêu tả tính cách, số phận nhân vật thông qua miêu tả ngoạihình, lời nói, hành động (ở khu vực truyện ngắn chẳng hạn), thì đến nhà văn này,đóng góp của ông lại là khả năng miêu tả tính cách, số phận nhân vật từ những trangphân tích tâm lí sắc sảo Người ta miêu tả cái nghèo của người nông dân thì ông

khoét thật sâu vào cái đói Với Sống mòn cũng vậy, thực sự so với các tiểu thuyết

được viết trước đó, Nam Cao đã thể hiện được những điểm độc đáo của riêng mình,

từ lựa chọn đề tài, cách thể hiện cốt truyện, nhân vật

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại bằng những đóng góp về đề tài, về thủ pháp trong khuôn khổ những nguyên tắc, những quy phạm của bản thân thể loại, thì đấy

là một điểm đáng quý Những cách tân như vậy không thiếu trong văn học ViệtNam bất cứ giai đoạn nào Sở dĩ chúng tôi không đặt vấn đề nghiên cứu những cách

tân, những cái mới của Sống mòn, vì nếu như thế, mới là chỉ đánh giá những đóng góp của Sống mòn ở mức độ là các thủ pháp, biện pháp nghệ thuật, và đó là sản

phẩm của những thao tác

Khi đặt vấn đề nghiên cứu tính hiện đại của Sống mòn là chúng tôi muốn nhìn

thấy ở đó không chỉ một thao tác, mà là một ý thức khắc khoải có tính triết lí về mặtthể loại Thậm chí sau khi tìm hiểu kĩ những tín hiệu nghệ thuật cuả tác phẩm,chúng ta có thể thấy ở đó manh nha một khát vọng vượt thoát về phương pháp sáng

tác Hay nói cách khác, với Sống mòn, ngòi bút của Nam Cao đã có những biểu hiện

Trang 18

vượt ra khỏi khuôn khổ của chủ nghĩa hiện thực cổ điển (chủ nghĩa hiện thực thế kỉXIX), mà chính ông cùng nhiều tác giả khác cùng thời như Ngô Tất Tố, NguyễnCông Hoan, Nguyên Hồng đã tuân thủ những quy phạm của nó và đạt được nhiềuthành tựu, trên cả những nỗ lực phản ánh các nội dung xã hội và những đóng góp vềnghệ thuật.

Đặt vấn đề nghiên cứu tính hiện đại trong Sống mòn của Nam Cao, vì vậy là

đặt vấn đề tìm hiểu tinh thần hiện đại trong tác phẩm này, từ đó khẳng định nhữngđóng góp thực sự của ông cho thể loại tiểu thuyết trên cả hai bình diện nội dung vàhình thức Tuy nhiên, ở đây chúng tôi cũng không đặt vấn đề tìm hiểu chủ nghĩa

hiện đại trong tiểu thuyết này, vì, mặc dầu có những chỗ có thể Sống mòn đã đạt

đến trình độ như vậy, như trong nhận thức, cảm nhận về tình thế tồn tại của conngười, trong cảm quan về đời sống, những độc đáo trong việc thể hiện những cảmnhận, cảm quan ấy Song, xét về mọi nhẽ, có thể thấy được rằng đã có những dấuhiệu của tiểu thuyết hiện đại (theo cách hiểu ngày nay, để phân biệt với tiểu thuyết

hiện thực cổ điển) xuất hiện trong Sống mòn, nhưng, đưa tác phẩm vào danh sách

các tiểu thuyết hiện đại như vậy vẫn có phần nào khiên cưỡng

Bàn về tính hiện đại của tác phẩm này, vì thế, nghĩa là phân tích, lí giải những

nỗ lực của nó trong việc phủ nhận trên một số bình diện những quy phạm thẩm mĩcủa chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX để tạo ra những quy phạm thẩm mĩ mới, phùhợp với khát vọng nhận thức, khám phá thực tại và làm mới thể loại khi nó đã đạtđến trình độ mẫu mực và có thể khựng lại Tuy nhiên, những biểu hiện ở cấp độ nàychỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện xã hội - thẩm mĩ nhất định, khi bản thânnhững nỗ lực của nhà văn được hậu thuẫn bởi nhiều điều kiện khác của xã hội, củatriết học và bản thân văn học, bản thân thể loại mà anh ta thành công trên đó Vì vậymọi vấn đề sẽ được xem xét trong bối cảnh xã hội, văn hoá, văn học Trong quátrình nghiên cứu vấn đề, hiển nhiên tác giả luận văn cũng sẽ có thao tác so sánh

Sống mòn với một số tiểu thuyết khác cùng thời, trong và ngoài nước để thấy được,

dù ở một góc nhìn hẹp và có thể có nhiều chỗ chưa thoả đáng, tính hiện đại của nó

Trang 19

1.2 Những tiền đề xã hội - thẩm mỹ của sự xuất hiện tính hiện đại trong

Sống mòn của Nam Cao

1.2.1 Bối cảnh xã hội

Bất cứ một sự đổi mới nào trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, nhất là nhữngđổi mới để dẫn đến kết quả là sự xuất hiện tính hiện đại, hiểu theo nghĩa là khước từnhững quy phạm thẩm mĩ hiện tại để tìm đến và xác lập những quy phạm thẩm mĩmới đều phải xuất phát từ một nền tảng nhất định về mặt xã hội Trong sự thànhcông của nhiều tác giả của văn học phương tây ở việc giã từ một số quan niệm, quyphạm của chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX để xác lập vị thế của nền tiểu thuyết hiệnđại, ta đều thấy có sự tham gia của các yếu tố, của những điều kiện xã hội có tínhbước ngoặt Chúng ta đã biết, sự xuất hiện của các nhà văn hiện đại như M.Proust,F.Kafka, và kể cả những G.G.Marquez về sau đều được chuẩn bị một tiền đề xãhội thẩm mĩ hết sức kĩ lưỡng Sự xuất hiện của Kafka là kết quả của những biếnđộng xã hội với các cuộc chiến tranh thế giới khốc liệt để lại biết bao hậu quả nặng

nề với 90 triệu người chết và 60 triệu người bị thương; sự phân chia thế giới thànhhai cực đối lập, tạo những hố sâu ngăn cách giữa các quốc gia, dân tộc và conngười; sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật và sự nghiệt ngã của chế độ toàntrị dẫn đến cảm nhận về nỗi cô đơn, nhỏ bé và bất lực của những cá nhân, cá thể; làkết quả của những suy nghiệm có tính thơ về con người được tổng kết trong nhữngtrường phái triết học nhân sinh hiện đại Sự xuất hiện của Marquez là sản phẩm củanhững cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trong đời sống khu vực Mĩ La tinh, củanhững ấn tượng về nền văn hoá Mĩ La tinh với những bí mật chưa được khám phá.Bên cạnh đó là những cách tân sôi nổi hầu khắp các lĩnh vực của nghệ thuật, văn học

Với trường hợp Sống mòn của Nam Cao, sự xuất hiện những đặc điểm mà

chúng tôi gọi là tính hiện đại, tất nhiên cũng được chuẩn bị một cách khá chu đáonhững tiền đề xã hội - thẩm mĩ, dẫu có thể chưa được đầy đủ như các nhà văn hiệnđại khác như đã nêu trên Tuy nhiên, những gì đã có cũng hoàn toàn có thể là cơ sở

để Nam Cao có được những tiếng nói hiện đại của chính mình

Trang 20

Về mặt xã hội Có thể thấy, khi viết Sống mòn, Nam Cao đã sống và viết trong

một xã hội hết sưc ngột ngạt, tù túng với những bất hạnh không phải chỉ là của mỗicon người, mà của cả xã hội, cả dân tộc Chúng ta biết, xã hội Việt Nam nửa đầu thế

kỉ XX là một thứ xã hội lộn xộn, nhốn nháo với bao ngang trái, bất công, một xã hộihỗn loạn không mang lại niềm tin cho bất cứ ai Điều này đã được phản ánh mộtcách da diết trong sáng tác của Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn CôngHoan, Trương Tửu và cả bản thân các sáng tác của Nam Cao Con người bị đẩyđến tận đáy sâu của sự nghèo đói về vật chất, sự áp bức tận cùng về mặt tinh thần.Hẳn Nam Cao đã phải chứng kiến rất nhiều những cái chết, nhất là chết đói, cảnhnhững người nô lệ bị chửi rủa, bị đánh đập Tâm trạng bất an của mỗi con người có

lẽ càng được tô đậm thêm với những thất bại của các cuộc nổi dậy để chống lại sự

áp bức của ngoại bang, và kéo theo những thất bại ấy, hiển nhiên là những vếtthương, những cái chết Sau phong trào cần vương và các cuộc khởi nghĩa theo kiểuyêu nước cũ đã vừa thất bại, còn để lại trong lịch sử những chấn thương sâu sắc lànhững sự kiện mà hẳn Nam Cao phải biết đến, là cuộc cách mạng Tư sản do nhómNguyễn Thái Học chủ trương với mười hai chiến sĩ nhất loạt bị đưa lên đoạn đầuđài, chưa kể những cái chết trong đàn áp, bắt bớ; rồi sự bùng nổ và thất bại của caotrào cách mạng 1930 – 1931 để tiếp đó là khủng bố trắng - sự kiện mà Tố Hữu đã có

lần mô tả là “ máu đầm mặt đất/ Chật Côn Lôn, Lao Bảo, Sơn La” (Theo chân Bác) Tiếp đó nữa là thời kì thoái trào của cách mạng với sự im lặng lui vào bí mật

của Đảng cộng sản, rồi phong trào dân chủ Một sự kiện có lẽ tác động sâu sắc hơnnữa đến tâm hồn nhạy cảm của Nam Cao là chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ vớihàng chục triệu người chết, hàng chục triệu người bị thương và kết quả mà đất nướcông phải chịu trực tiếp là sự xuất hiện của người Nhật Và chính bản thân nhà văncũng đã trực tiếp chịu hậu quả của nó khi trường tư mà ông đang dạy đã phải đóngcửa để lấy cơ sở làm chỗ nuôi ngựa cho quân đội Nhật Với một thống kê chưa đầy

đủ trên đây, chúng ta cũng có thể thấy được thời đại của Nam Cao, không chỉ còn

có vấn đề cái nghèo đói, sự áp bức về mặt vật chất, thể chất mà rõ ràng đã có sựkhủng hoảng đến tận cùng trong đời sống tinh thần của con người với một không

Trang 21

khí tối tăm, u ám, ngột ngạt Và chúng tôi tin rằng, trước tình thế bi đát của lịch sử,trước thảm trạng thân phận của con người, là nhà văn nhạy cảm và luôn có nhữngkhát vọng tìm tòi, cống hiến, Nam Cao hẳn đã cảm nhận được một cách sâu sắc sựbấp bênh của kiếp người, và đó là những nhận thức có tính chất triết học, không hềcảm tính, ông cũng sẽ cảm thấy sự bất an không còn là tâm trạng của riêng ông, củariêng tầng lớp ông, mà đã trở thành một thứ tâm trạng chung, một thứ trạng thái tinhthần của cả cộng đồng Tất cả những điều đó sẽ thể hiện trong nhiều trang viết của

ông, đặc biệt là trong Sống mòn Đấy là những cơn đói vật vã, sự tha hoá đến tột độ

của con người, là thứ không gian làng quê hay đô thị với vẻ u ám tĩnh lặng và mỏimệt, là những cuộc đi trong âm thầm bóng tối, là chuyến tàu trễ nải, mỏi mệt Trongthế giới ấy, ta sẽ thấy hiện lên hình ảnh những người nông dân bị bần cùng hoá đếncái đói như một ám ảnh khủng khiếp, bị đẩy vào chỗ tha hoá đến mức trở thành quỷdữ; những văn sĩ, trí thức câm lặng trong sự thui chột của tài năng và khát vọng,những con người sống phấp phỏng, bất an trong nỗi cô đơn và kiếp lưu đày

Trong một xã hội như thế, rõ ràng có không ít nguyên cớ để Nam Cao tìm đếnđược những tư tưởng mới, cái nhìn mới về con người và xã hội Và cái nhìn ấy sẽchỉ có thể cụ thế hoá trên văn bản nghệ thuật bằng con đường tìm đến những khámphá mới mẻ về tư tưởng và nhận thức thẩm mĩ về sự phản ánh, khái quát xã hội củavăn học Những nội dung xã hội hình thành trên cơ cở những cảm quan ấy về hiệnthực sẽ không dễ gì phô bày trong khuôn khổ kinh nghiệm thẩm mĩ của thế kỉ XIX,

sẽ hối thúc một người như Nam Cao tìm đến một lối nói mới

Là một người chịu khó học hành, dù chủ yếu là quá trình tự học và luôn luôn

có khát vọng nhận thức được những vấn đề sâu xa nhất của con người và thế giới,

đã thể hiện rất rõ trong các công trình sáng tạo của mình, Nam Cao có thể cũng đãtiếp xúc được những vấn đề của triết học nhân sinh hiện đại, một số trường pháinghiên cứu, sáng tạo văn học nghệ thuật hiện đại Chúng tôi đưa ra phán đoán này,

và mong có được phần nào đó chính xác, bởi chúng tôi nhận thấy, trong cùng thờiđại, cùng thế hệ, không ít nhà văn không chỉ quan tâm, mà còn quan tâm sâu sắc, và

có sự hiểu biết nhất định về những điều này Trong các trang viết của Vũ Trọng

Trang 22

Phụng, trong các trang viết (kể cả sáng tác và nghiên cứu) của Nguyễn Bách Trương Tửu đã mang dấu hiệu của những nhận thức có được các triết thuyết haytrường phái nghiên cứu – phê bình văn học hiện đại như là chủ nghĩa Freude, Jung

Khoa-Và nếu điều phán đoán này có thật, thì hẳn rằng vốn liếng mà Nam Cao có được

trước khi viết được những trang giàu tính hiện đại trong Sống mòn sẽ trở nên đầy

đặn và chắc chắn

1.2.2 Tính hiện đại biểu hiện trong văn học nghệ thuật 1932 – 1945

Một vấn đề đặt ra trong việc nghiên cứu tính hiện đại trong văn học Việt Nam

trong giai đoạn 1932 – 1945, cũng như việc nghiên cứu tính hiện đại trong Sống mòn, là phải phân biệt rạch ròi khái niệm hiện đại, với tư cách là một danh từ, để chỉ

một phạm trù văn học dưới cái nhìn lịch sử và một bên, hiện đại trong “tính hiệnđại”, là một tính từ, để chỉ những hiệu quả (đôi khi là hành động) bứt phá Văn họcViệt Nam 1932 – 1945, không phải bàn cãi, chắc chắn đã thuộc phạm trù văn họchiện đại, hội tụ đầy đủ phẩm chất của văn học hiện đại (theo nghĩa phân biệt với vănhọc trung đại, không phải theo nghĩa là các trường phái xuất hiện trong thế kỉ XXnhư tiền phong, vị lai, đa đa, siêu thực ) Tuy nhiên, đã có nhiều công trình nghiêncứu chỉ ra, và được phần lớn người quan tâm chấp nhận, rằng văn học giai đoạn nàychủ yếu vẫn đang mang trong mình những đặc điểm của “văn học hiện đại”, tứckhoảng nửa sau thế kỉ XIX phương Tây Có nghĩa rằng, nó chủ yếu mang diện mạocủa trào lưu lãng mạn và trào lưu hiện thực (phê phán) Để chứng minh cho điềunày, chúng ta có thể viện dẫn các tác giả như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, LưuTrọng Lư, Nguyễn Bính và rất nhiều tác giả khác được nhắc đến trong các côngtrình sưu tập thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 Về văn xuôi, đó là các trường hợp củaNhất Linh, Khái Hưng, Lan Khai

Trong khi nghiên cứu những đặc trưng chủ yếu của văn học hiện đại Việt Namtrong khoảng thời gian nửa đầu thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu lâu nay chủ yếu vẫnkhẳng định những thành tựu của nó trong quan hệ mật thiết với những thành tựu củachủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn phương Tây thế kỉ XIX Từ đó, có thểthấy những đặc điểm quan trọng và phổ biến nhất của văn học giai đoạn này là: 1,

Trang 23

với các trường hợp thuộc trào lưu lãng mạn, bao gồm các nhà thơ mới và chủ yếucác cây bút văn xuôi tự lực văn đoàn, nội dung tư tưởng quan trọng nhất vẫn là khátvọng về một đời sống giải phóng cá nhân dựa trên cơ sở cảm nhận sâu sắc về cáitôi, có gốc gác từ ý thức dân chủ như một hệ quả tất yếu của sự xâm nhập chủ nghĩa

tư bản và tư tưởng tư sản; bên cạnh đó là sự nhận thức về tình thế đáng chán củathực tại và ý thức chối bỏ bằng cách thoát li nó Về mặt hình thức thể hiện, đó làviệc tìm đến với câu thơ điệu nói trong thơ, sự xúc cảm bằng cảm xúc cá nhân trựctiếp, trần thế và việc đánh giá thế giới bằng cái trục trung tâm, hạt nhân là conngười Không phải tự nhiên mà không ít người ca tụng một cách chính xác câu thơcủa Xuân Diệu “tháng giêng ngon như một cặp môi gần” - một câu thơ đã làmnghiêng lệch, thậm chí đảo lộn cả nhận thức, tư tưởng thẩm mĩ truyền thống, ở chỗ,thay vì lấy thiên nhiên làm trung tâm, chuẩn mực cho sự đánh giá, thì các nhà thơmới đã ngộ ra được rằng, chính con người chứ không phải ai, và không phải cái gìkhác Với văn xuôi lãng mạn, đấy là ý thức đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân,những nỗ lực chống lại lễ giáo, giáo điều, với cốt truyện thoát li kiểu đầu cuối tuyếntính của tiểu thuyết chương hồi, bằng việc khơi sâu vào tâm lí nhân vật Với vănhọc hiện thực, đó là những nỗ lực phê phán xã hội thông qua sự vạch trần bộ mặtđương thời và tiếng nói bênh vực cảm thông với những thân phận bị chà đạp Vềhình thức nghệ thuật, đó là việc xây dựng được hoàn cảnh điển hình, tính cách điểnhình với nhiều con đường khác nhau Và quan trọng là văn học hiện thực chịu sựchi phối sâu sắc của khoa học thế kỉ XIX, đặc biệt là triết học duy vật biện chứng Tuy nhiên, trong tình hình đó, chúng ta có thể thấy trong sáng tạo của một sốnhà văn đã bộc lộ những dấu hiệu của sự tiếp cận ý thức nảy sinh phía sau lịch sửhiện đại (thế kỉ XIX), và những nhận thức ấy có phần nào đó rất gần với cái mànhiều người vẫn coi là chủ nghĩa hiện đại sau này Trong tiểu thuyết của Vũ Trọng

Phụng, chúng ta đã gặp được những tư tưởng triết học của F.Reude Ở Số đỏ, Làm

đĩ và một số phóng sự, chúng ta thấy họ Vũ có những nỗ lực cắt nghĩa tình cảm,

tính cách của con người từ góc nhìn bệnh lí, tính dục, mà có ý kiến cho là đã tiếpthu tư tưởng của học thuyết phân tâm Ví dụ như cái cách đốc tờ Trực Ngôn lí giải

Trang 24

về tính dục bằng cách chỉ tay vào đôi gà đang thực hiện hành động tính giao, haynhững giấc mơ ướt át, những điều nghe thấy lén lút và căn bệnh nghiện tình dục của

Huyền trong Làm đĩ Hay trong sáng tác của Trương Tửu, chúng ta cũng có thể bắt

gặp cách cắt nghĩa, lí giải thực trạng tâm lí nhân vật và hiện thực đời sống từ nhữnggóc nhìn chịu sự chi phối của phân tâm học, như việc miêu tả hình ảnh Liêu (và cảSâm), nhất là Liêu, với những cơn mơ dục tình, để rồi những cơn mơ ấy góp phầnkhiến nhân vật nhanh chóng tiến tới cuộc sống sa đoạ trong chốn ăn chơi (xin xem

thêm: Trương Tửu, Thanh niên S.O.S, in trong Trương Tửu Tuyển tập văn xuôi,

Nxb Lao Động – Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009) Theo chúng tôi,

sự chi phối của tư tưởng này là có thật, mặc dù Trương Tửu đã cố ý hay vô tình nétránh điều đó bằng việc cho rằng “chỉ tại xã hội” khi cắt nghĩa nguyên nhân của sự

sa đoạ ấy Ngay trong sáng tác của Nam Cao, ở Chí Phèo, Nửa đêm chúng ta cũng

có thể nhìn thấy sự vượt qua chủ nghĩa hiện thực trong một chừng mực nào đó Có

ý kiến cho rằng trong sáng tác của ông đã xuất hiện yếu tố tự nhiên chủ nghĩa.Hiện tượng tìm đến những quy phạm phẩm mĩ mới hơn, xa dần những quyphạm thẩm mĩ của thời đại cũng đã xảy ra trong các nhà thơ mới Đó đây, người ta

đã thấy sự xuất hiện, mặc dù mức độ đậm nhạt khác nhau, dấu hiệu của các trườngphái thơ phía sau thơ lãng mạn, như là tượng trưng, siêu thực Thay vì những khátvọng bày tỏ, chia sẻ bằng những câu thơ đằm thắm dễ đi vào lòng người bằngnhững hình ảnh gần gũi, tự nhiên, thế tục, người ta cũng thấy trong thơ mới nhữngbài thơ được viết bằng bút pháp tượng trưng, nghĩa là có thể chỉ cảm nhận, hiểu biết

về nó trong sự suy tưởng, bằng những hình ảnh gián tiếp, gián cách, hay những câuthơ giàu tính suy tưởng của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp,Nguyễn Xuân Sanh, Bích Khê, Đinh Hùng Thậm chí có những tác giả đã chạm đếnchủ nghĩa siêu thực, họ nói cách nói của, không phải Rimbeau, Verlaine, Malarménữa, mà họ nói theo cách của Apolinaire Cho đến nay, vẫn không ít người phân

vân với câu thơ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà của Nguyễn Xuân Sanh.

Trong nghiên cứu, lí luận phê bình văn học, chúng ta cũng thấy được sự xâmnhập của các trào lưu hiện đại Tư tưởng “nghệ thuật vị nghệ thuật” đã được Hoài

Trang 25

Thanh chủ xướng, phổ biến và những tư tưởng của Hoài Thanh và những ngườicùng nhóm ngày càng sáng tỏ trong cuộc tranh luận với nhóm Hải Triều chủ trương

“nghệ thuật vị nhân sinh” Trong khi bàn về nghệ thuật, Hoài Thanh đã không cònquan tâm nhiều đến xem xét chức năng tải đạo (quan niệm truyền thống phươngĐông), vai trò “tấm gương” (cách nói của Balzac), mà ông muốn nghệ thuật phảiđược sống là chính nó, tự làm đẹp giá trị của nó, phục vụ nó trước và trong khi nghĩđến những chuyện khác Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa đã khước từ lối phê bình

ấn tượng truyền thống mà ngay nhà phê bình lỗi lạc cùng thời là Hoài Thanh cũngchưa chịu thoát ra, để tìm đến lối phê bình khoa học trong quan niệm văn chương làmột khoa học Thành công và điểm đóng góp của Trương Tửu có thể thấy ngaytrong thái độ này Trong công việc nghiên cứu cụ thể, tác giả cũng đã dồn nhiềucông sức nghiên cứu, vận dụng những lí thuyết phê bình, nghiên cứu văn học - nghệthuật phi truyền thống để mong nhận chân các giá trị văn học, như là vận dụng phântâm học để nghiên cứu Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương Có phần cực đoan và nôngnổi - thứ cực đoan và nông nổi của kẻ mở đường, nên những kết quả nghiên cứu củaTrương Tửu đôi khi không thuyết phục được đông đảo người tiếp nhận, nhưng rõràng cái ý thức mà tác giả này đã có là rất đáng được ghi nhận

1.2.3 Tính hiện đại trong tư tưởng của Nam Cao qua sáng tác của ông giai đoạn trước cách mạng

Trước khi bước vào tìm hiểu tính hiện đại trong Sống mòn của Nam Cao, và

trong hệ thống tư tưởng hiện đại của văn học Việt Nam trước năm 1945, thiết nghĩkhông thể thử tìm hiểu, nhận diện một cách bao quát về tính hiện đại thể hiện trongsáng tác nói chung của ông trong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám Đây làphần tạo ra cái nhìn ban đầu trước khi tiếp cận với những điều sẽ nói trong phần nộidung trọng tâm của luận văn

Khi nghiên cứu sáng tác của Nam Cao trước cách mạng, nhiều nhà nghiên cứu

đã chỉ ra những đóng góp của Nam Cao cho văn học bằng tư duy độc đáo, mới mẻhứa hẹn những điểm khai phá mới trong tư tưởng so với một số nhà văn cùng thời

Ở đây chúng tôi lưu ý trước hết đến điểm mới trong sự lựa chọn đề tài

Trang 26

Nam Cao viết trên nhiều đề tài phổ biến mà các nhà văn hiện thực cùng thờihoặc trước ông ít lâu đã từng khai phá, như đề tài nông dân, đề tài những người tiểu

tư sản thành thị Về cơ bản, những đề tài này là không mới Về nông dân, NamCao không phải mới so với Ngô Tất Tố, về đề tài thị dân, ông cũng không mới sovới Nguyễn Công Hoan hay Trương Tửu, mặc dù ông cũng có những đóng gópquan trọng mà chúng tôi sẽ nhắc tới dưới đây Cái mới trong lựa chọn đề tài củaNam Cao là sự lựa chọn người trí thức để làm đối tượng miêu tả Nam Cao chọn, vàkiên trì với đề tài này Đó là một nét nổi bật có thể nói đến trong sự nghiệp của ông.Quan tâm đến số phận người trí thức nghĩa là quan tâm đến những trạng thái, đờisống tinh thần tiêu biểu của xã hội, đó là một sự lựa chọn mang tính hiện đại.Nhưng tính hiện đại dễ thấy và có thể khẳng định hơn cả lại không phải ở bản thân

sự lựa chọn ấy, mà là trong cách triển khai cụ thể đề tài Nam Cao đành rằng cũngnhư một số nhà văn khác, quan tâm đến đời sống, số phận trí thức trước hết ở nỗikhốn khó về vật chất, nỗi khổ nhục của những con người bị cầm áo ghì sát đất Ôngcũng miêu tả những Thứ, Điền, Hộ với những nghèo túng triền miên với những bấthạnh của những con người bình thường Song, hơn thế, Nam Cao thể hiện cái nhìnmang tính hiện đại của mình khi nghiền ngẫm về thân phận người trí thức ở đờisống tinh thần của họ Cũng như một số nhà văn khác trên thế giới, Nam Cao đãcảm thấy được trong đời sống của tầng lớp này bi kịch của những con người đầykhát vọng, đầy năng lực nhưng không có cơ hội giải phóng khát vọng ấy, năng lực

ấy Đấy là một Hộ trong Đời thừa, Điền trong Trăng sáng, Thứ, San, Oanh, Đích trong Sống mòn Ở đây, tác giả, bằng sự nhạy cảm tuyệt vời đã cảm thấy được thân

phận đời thừa, thân phận nhỏ bé, cô đơn của con người trong một xã hội đầy nhữngtrầm luân, biến loạn Những mặc cảm thân phận về con người như vậy đã đượckhắc hoạ một cách da diết trong các tác phẩm viết về đề tài trí thức, nhất là trong

Sống mòn mà chúng tôi sẽ tiếp tục bàn đến nhiều hơn trong các phần tiếp theo của

luận văn

Một điểm có thể khẳng định nữa trong tư tưởng của Nam Cao, là khi viết vềthân phận con người nói chung, ông không chỉ dừng lại ở việc phản ánh những cái

Trang 27

bên ngoài, mà cố gắng đi sâu tìm hiểu, khám phá những nét bản chất nhất của vấn

đề Chính vì vậy, chúng ta mới có những tác phẩm, không chỉ viết về cái nghèo, màcòn, và quan trọng hơn là viết về cái đói - một thứ đói khắc khoải, tê tái Khi nhàvăn viết nhiều về cái đói, nghĩa là anh ta đã nhìn thấy được cái nhu cầu thiết cốtnhất của con người Chính vì điểm này mà không ít người coi Nam Cao là nhà văncủa cái đói, đặc biệt là cái đói của người nông dân Khi viết về nông dân, tư tưởnghiện đại của Nam Cao đặc biệt thể hiện ở chỗ ông luôn cố gắng khoan sâu vào bikịch tinh thần Đến đây chúng tôi xin nhắc lại một ý mà các nhà nghiên cứu đều đãchỉ ra khi bàn đến Nam Cao, bàn đến Chí Phèo: không chỉ viết về cái nghèo, cái đói,không chỉ viết về nỗi khổ nhục phải chịu áp bức, bóc lột điều quan trọng là NamCao biết nhìn vào sự tha hoá của Chí Nếu hình dung trở lại quá trình trượt dốc củaChí Phèo, với những khắc khoải khát vọng trở lại làm một con người với những ước

mơ giản dị và bé nhỏ, hoặc, hình dung quá trình lưỡng phân của Chí Phèo, chúng tavẫn có thể không khỏi ngạc nhiên vì những phát hiện ấy Nếu không có một quansát tỉ mỉ và xuất phát từ cái nhìn hiện đại bằng những cảm nhận có chiều sâu về conngười, ở một góc tư duy phảng phất ý vị triết học nhân sinh thì không thể phát hiện

ra bi kịch của những người nông dân đáng thương như Chí Phèo Mà thực ra cũngkhông phải là Chí Phèo, là người nông dân, mà là bi kịch con người nói chung trong

sự áp bức của chế độ toàn trị Một điểm hiện đại nữa là ý thức theo đuổi, nhìn nhậncuộc sống, con người như một cuộc tha hoá lớn lao Thực ra, nhìn thấy viết vềnhững biểu hiện tha hoá là điều mà hầu hết tất cả các nhà văn của chủ nghĩa hiệnthực trên thế giới, cũng như các nhà văn hiện thực trước 1945 ở Việt Nam cùnglàm Nhưng mức độ đánh giá, nhìn nhận sự tha hoá ấy có những điểm khác nhau.Nghiên cứu văn học thế giới, chúng tôi nhận thấy hầu hết các nhà văn hiện thực chủnghĩa thế kỉ XIX chủ yếu miêu tả sự tha hoá ở hiện tượng, do sự tác động của môitrường, hoàn cảnh cụ thể như đói nghèo, như lòng tham lam, thói ích kỉ trong khibàn chung về nỗi thống khổ của con người Nhưng kiên trì với sự tha hoá như làmột đối tượng miêu tả độc lập thì có lẽ phải đến các tác phẩm của chủ nghĩa hiệnđại, như Kafka, Marquez, Cao Hành Kiện Cũng như vậy trong văn học Việt Nam

Trang 28

trước 1945, các nhà văn khác thường chỉ miêu tả sự tha hoá ấy trong tình thế khốnquẫn của con người như một hiện tượng xuất hiện trước sức tấn công của nhu cầu,của hoàn cảnh, thì chúng tôi nhận thấy, Nam Cao cũng đã tiếp cận sự tha hoá với tưcách là một đối tượng miêu tả trực tiếp trong sự kiên trì, bền bỉ Ông coi sự tha hoánhư là một nét bản chất, một thuộc tính của sinh tồn Nhân vật của Nam Cao, vìvậy, từ nông dân, tiểu thương đến trí thức vẫn thường phải đối mặt với quá trình thahoá không thể cưỡng nổi Sự tha hoá ấy không chỉ ở lòng tham, ở tính lưu manh, ởnhững khát vọng tầm thường, mà là ở quá trình tầm thường hoá có hệ thống, cóchiều sâu Sự tha hoá ấy đôi khi nằm trong cả cái cảm giác mệt mỏi, ở thái độ đầuhàng trước hoàn cảnh, nói chung là sự suy tàn trong đời sống tinh thần.

Như vậy, Nam Cao là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực, là nhà văn của dòngvăn học hiện thực trong văn học Việt Nam trước 1945, xuất sắc Trước hết và trênhết là như thế Nhưng ông đã sớm bộc lộ những cảm quan mang tính hiện đại về thếgiới và con người Điều đó làm nên tính hiện đại trong tư tưởng của ông thể hiệntrong các sáng tác trước cách mạng Tháng tám 1945

1.3 Một số vấn đề chung về Nam Cao và Sống mòn

1.3.1 Những nét tiểu sử

Nam Cao – Nguyễn Hữu Tri (29 - 10 - 1917) Ông sinh tại làng Đại Hoàngthuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã HòaHậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) trưởng thành trong một gia đình trung nông.Cha là Trần Hữu Huệ (1895) làm nghề chạm trổ và cắt thuốc bắc, mẹ là Trần ThịMinh (1897) làm nông và dệt vải

Là anh cả của một gia đình đông anh em (bốn em trai, ba em gái) nhưng chỉmột mình Nam Cao được ăn học chu đáo Năm 1922 ông bắt đầu sự nghiệp học tậpcủa mình tại trường tư ở làng, sau đó ông học tiếp bậc Tiểu học và Thành Chung ởthành phố Nam Định Do ốm đau bệnh tật nên đầu năm 1935, Nam Cao từ NamĐịnh về quê để chữa bệnh và cũng vào năm này, ngày 02 - 10 - 1935 ông lập giađình, vợ là Trần Thị Sen, sinh năm 1917 là người phụ nữ làm nông và dệt vải Nam

Trang 29

Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với văn chương đầu tiên vìmục đích mưu sinh Năm 18 tuổi vào Sài Gòn giúp việc cho một hiệu may.

Sài Gòn cũng là nơi khởi nguồn cho sự nghiệp sáng tác của ông Năm 1936ông bắt đầu viết văn, làm thơ, viết kịch và cùng từ đây các tác phẩm của ông đượcđăng báo với các bút danh Nguyệt, Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê Truyện ngắn

Cảnh cuối cùng và Hai cái xác lần đầu tiên ra mắt công chúng cũng vào năm 1936.

Năm 1938 Nam Cao bị ốm nặng do bệnh tim và tê thấp nên ông phải trở raBắc tự học và thi đỗ bằng Thành chung, sau đó ông nhận dạy học ở trường tư thụcCông Thanh, Thụy Khuê, Hà Nội

Năm 1940, Nhật vào Đông Dương, trường Công Thanh bị Nhật chiếm hữubuộc ông phải thôi dạy học và tiếp tục sự nghiệp sáng tác

Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc vào tháng 4 - 1943, cũng trong năm

này Nhà xuất bản Cộng Lực in tập truyện ngắn Nửa đêm của ông, các sáng tác tiếp theo xuất hiện rất nhiều trên Tiểu thuyết thứ bảy Tháng 10 - 1944 Nam Cao hoàn thành tiểu thuyết Chết mòn (sau đổi là Sống mòn) Ông còn có các truyện dài Ngày lụt, Cái miếu Ông bán cho các nhà xuất bản nhưng đến nay không giữ được bản thảo.

Tháng 8 - 1945 Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, đượcbầu làm Chủ tịch xã

Năm 1946 Nam Cao được điều động công tác ở Hội văn hóa cứu quốc tại Hà

Nội, thư ký tòa soạn tạp chí Tiên phong của Hội, sau đó ông gia nhập đoàn quân

Nam tiến với tư cách là phóng viên

Ra Bắc, Nam Cao về hoạt động ở sinh quán, công tác ở ty văn hóa Hà Nam,

làm báo Giữ nước và Cờ chiến thắng của Hà Nam Năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc làm phóng viên báo Cứu quốc, phụ trách Tạp chí Cứu quốc, thư ký tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc, phụ trách lớp huấn luyện chính trị cho địa phương

Nam Cao được kết nạp Đảng vào cuối năm 1947, ông sống và hoạt động ở

Bắc Cạn, tiếp tục viết Nhật ký Ở rừng và các sáng tác in trên Tạp chí văn nghệ

Trang 30

Năm 1948-1949 Nam Cao đi thực tế ở vùng đồng bằng, năm 1949 Nam Cao

từ đồng bằng trở lên chiến khu Việt Bắc, ông tham dự lớp Nguyễn Ái Quốc ở Việt

Bắc, phụ trách phần văn nghệ trong Tạp chí và báo Cứu quốc.

Tháng 5-1950 Nam Cao nhận công tác tại Tòa soạn Tạp chí văn nghệ, cơ quan

của Hội Văn nghệ Việt Nam và trong thời gian này ông được chỉ định làm ủy viênTiểu ban Văn nghệ Trung ương, cũng trong thời gian này ông tiếp tục viết tiểu

thuyết in trên các Tạp chí văn nghệ.

Năm 1951 Nhà xuất bản Văn nghệ - Việt Bắc in tập truyện ký Chuyện biên giới và kịch bản Đóng góp của Nam Cao Ban tuyên huấn Bộ Tư lệnh liên khu Việt

Bắc đã lựa chọn những truyện tiêu biểu của ông làm tài liệu học tập và thảo luậntrong quân đội

Ngày 23 - 9 - 1951 Nam Cao cùng Nguyễn Huy Tưởng dự Hội nghị văn nghệliên khu Ba, rồi hai ông cùng vào khu Bốn Khi trở ra, Nam Cao tham gia đoàncông tác thuế nông nghiệp vào vùng địch hậu khu Ba Ông có ý định kết hợp lấythêm tài liệu cho cuốn tiểu thuyết đang thai nghén Nhưng rồi, Nam Cao và đoàncông tác bị địch phục kích Ngày 30 - 11 - 1952 Nam Cao anh dũng hy sinh ở MưỡuGiáp, Hoàng Đan, tỉnh Ninh Bình, hài cốt của ông được đặt tại nghĩa trang GiaViễn, Ninh Bình

Cùng với những đóng góp to lớn của mình, Nam Cao được Đảng và Nhà nước

ta phong tặng nhiều danh hiệu cao quý

Nam Cao là nhà văn, liệt sỹ đã được nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ ChíMinh về văn học nghệ thuật đợt một năm 1996 Cũng trong năm 1996 một đườngphố ở Hà Nội được mang tên Nam Cao, và một số thành phố lớn khác cũng cóđường mang tên ông như: Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Đà Nẵng;Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai; Thành phố Rạch Giá, Tỉnh Rạch Giá và một

số địa phương khác

Vào ngày 18-1-1998 hài cốt của ông được chuyển về quê hương tại “Vườnhiện thực Nam Cao” ở Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam do chương trình của Hội liênhiệp câu lạc bộ UNESCO Việt Nam và Hội nhà văn phối hợp thực hiện

Trang 31

Cuộc đời lao động nghệ thuật vì lý tưởng nhân đạo, lý tưởng cách mạng và sự

hy sinh anh dũng của Nam Cao mãi là tấm gương cao đẹp của một nhà văn - chiến sỹ

1.3.2 Nhìn qua sự nghiệp sáng tác của Nam Cao

Với một thời gian sáng tác không dài nhưng Nam Cao đã để lại một số lượngtác phẩm đồ sộ Chúng ta có thể chia sự nghiệp sáng tác của Nam Cao làm hai giaiđoạn, trước và sau Cách mạng tháng Tám

Trước Cách mạng tháng Tám: Sáng tác của Nam Cao với hai đề tài chính:Cuộc sống của người tri thức tiểu tư sản nghèo và cuộc sống của người nôngdân ở quê hương Dù viết về đề tài nào thì điều mà Nam Cao quan tâm trước tiên vàday dứt đau đớn là tình trạng con người bị thoái hoá, bị xói mòn về nhân phẩm,thậm chí bị huỷ diệt cả nhân tính trong cái xã hội phi nhân đạo đương thời Tiếngkêu cứu khẩn thiết Hãy cứu lấy con người đang bị xã hội thực dân phong kiến đẩyvào tình trạng mất nhân tính

Ở đề tài người trí thức tiểu tư sản: Các tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến:

- Những truyện không muốn viết (1942 )

Nhà văn đặc biệt đi sâu vào những bi kịch tâm hồn của họ, qua đó, đặt ranhững vấn đề có ý nghĩa xã hội vượt ra khỏi phạm vi của đề tài Đó là tấn bi kịchdai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của người trí thức, những người ý thức một cáchsâu sắc về giá trị sự sống, của nhân phẩm Họ luôn ôm ấp hoài bão lớn về một sựnghiệp tinh thần nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và nhiều áp lực khác của xã hội

chết mòn về tinh thần đời sống tinh thần, Đời thừa là một trong những tác phẩm

tiêu biểu

Trang 32

Nam Cao xây dựng các tác phẩm đó nhằm mục đích phê phán sâu sắc xã hội phinhân đạo đã bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người đồng thời đã thể hiện tinhthần tự đấu tranh bên trong của người tri thức tiểu tư sản trung thực cố vươn lên mộtcuộc sống đẹp đẽ, thực sự có ý nghĩa xứng đáng là cuộc sống con người.

Sáng tác về đề tài người nông dân: Là nhà văn sinh ra ở làng quê, Nam Cao cótấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương, đặc biệt là sự gắn bó ân tình sâu nặng,hiểu biết sâu sắc hoàn cảnh của người nông dân nghèo khổ ở quê hương Nhữngtrang viết của ông thấm đẫm tình người, lòng người vì ông là người sống gần gũi vàhiểu rõ hơn ai hết về cuộc sống và nổi khổ của họ

Nam Cao để lại chừng hai chục truyện ngắn có giá trị về đề tài người nôngdân, đáng chú ý là:

và nhân phẩm của con người bất hạnh bị xã hội đẩy vào tình cảnh đầy nhục nhã đó

(Chí Phèo, Một bữa no).

Viết về những người nông dân bị lưu manh hoá, nhà văn đã kết án sâu sắc xãhội tàn bạo đã tàn phá cả thể xác và linh hồn người nông dân lao động, đồng thờicũng phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện đẹp đẽ của họ ngay trong khi họ

bị vùi dập mất cả hình người, tính người Chiều sâu mới mẻ của ngòi bút hiện thực

và nhân đạo của Nam Cao chính là ở chỗ đấy

Ông luôn có ý thức "tìm ra cái bản chất tốt của người nông dân nghèo thường

bị che lấp, ẩn dấu trong vẻ ngoài xấu xí thô kệch” Trong một số tác phẩm, Nam

Trang 33

Cao đã vạch ra nỗi khổ cùng cực của người nông dân, lên án những thế lực tàn bạo

đã chà đạp lên quyền sống của con người và điều quan trọng là Nam Cao đã cho

độc giả thấy được bản chất đẹp đẽ, cao quý trong hồn họ (Lão Hạc, Một Đám cưới).

Sau cách mạng tháng Tám, Nam Cao là một trong số ít nhà văn đã đến vớiCách mạng, từ đầu 1948 ông đã được kết nạp vào Đảng Ông tham gia Hội Văn hóacứu quốc, tích cực hoạt động Cách mạng và kháng chiến, tự nguyện đem ngòi bútphục vụ nhân dân, phục vụ cuộc kháng chiến Nam Cao được xem là một trongnhững cây bút tiêu biểu nhất trong những áng văn đầu cuộc kháng chiến chống

Pháp Thời kỳ này ông viết nhiều tác phẩm có giá trị như Nhật ký ở rừng (1948) Chuyện biên giới (1950) đặc biệt là truyện ngắn Đôi mắt Thông qua sự phê phán

một nghệ sỹ có đôi mắt lệch lạc trong việc nhìn người nhìn đời, có lối sống trưởnggiả, nhởn nhơ lạc lõng giữa cuộc kháng chiến sôi nổi của cả dân tộc và khẳng địnhmột nghệ sỹ mới, dứt khoát từ bỏ cái cũ, lối sống cũ và quyết tâm cách mạng hoá từ

quần chúng hoá sinh hoạt trở thành người chiến sỹ trên mặt trận “Đôi mắt” xứng

đáng là một tuyên ngôn nghệ thuật của lớp văn chương nghệ sỹ tiểu tư sản đi theokháng chiến

Ngoài viết văn, ông còn làm thơ, viết kịch (Đóng góp, 1951) và biên soạn sách địa lý cùng với Văn Tân (Địa dư các nước châu Âu 1948); Địa dư các nước châu Á, châu Phi (1949); Địa dư Việt Nam (1951).

Trong nền văn xuôi hiện đại nước ta, Nam Cao là nhà văn có tài năng xuất sắc

và có phong cách nghệ thuật độc đáo Ngòi bút Nam Cao vừa tỉnh táo, sắc lạnh, vừanặng trĩu suy nghĩ vừa đằm thắm yêu thương Văn Nam Cao vừa thấy sự chân thựcvừa thấm đượm ý vị triết lý và trữ tình Ông có sở trường diễn tả, phân tích tâm lýcon người hết sức thân tình và thấu đáo

Ngôn ngữ của Nam Cao sống động, uyển chuyển, tinh tế, gần lời ăn tiếng nóicủa quần chúng, nhân dân Nam Cao đã góp phần quan trọng vào việc cách tân nềnvăn xuôi Việt Nam theo hướng hiện đại hoá

Phải nói rằng dù viết về đề tài nào, viết trước Cách mạng hay sau Cách mạng,vấn đề đặt ra trong các tác phẩm của ông là đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý

Trang 34

tới hoạt động bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của những hoạt độngbên ngoài - Đây là phong cách rất độc đáo của Nam Cao Ông luôn quan tâm tới đờisống tinh thần của con người, luôn hứng thú khám phá "con người trong con người".Nam Cao luôn xem vấn đề xây dựng tâm lý nhân vật trở thành trung tâm của

sự chú ý, là đối tượng trực tiếp của ngòi bút Nam Cao Thậm chí ông thường viết vềnhững cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh Từ cái sự tầm thường quen thuộc trong đời sốnghàng ngày của "Những truyện không muốn viết", tác phẩm của Nam Cao làm nổibật vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệthuật Cách xây dựng hoàn cảnh, nhân vật đã tạo cho văn Nam Cao có một giọngđiệu riêng, buồn thương, chua chát, dửng dưng lạnh lùng mà đầy thương cảm, nhânbản đằm thắm tình thương yêu

Với sự nghiệp văn chương với chỉ mười năm cầm bút, Nam Cao cũng kịp để

lại cho đời một khối lượng sáng tác khá đồ sộ Toàn tập Nam Cao gồm 1400 trang

được hoàn thiện năm 1999, phải nói đây là điều rất đáng tự hào đối với nhà văn nóiriêng và nền văn học nước nhà nói chung

1.3.3 Sự ra đời của Sống mòn và vị trí của nó trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao

Sống mòn được Nam Cao hoàn thành vào những tháng cuối cùng của năm

1944 (1 - 10) tại làng quê Đại Hoàng, lúc đó ông chưa đầy 30 tuổi, nghĩa là sau khi

ông đã viết Chí Phèo, đã từng được biết đến nhưng vẫn chưa phải là cây bút thực sự

tên tuổi, nghĩa là, hình như cái khát vọng về một sự nghiệp văn chương có thể đượcông ôm ấp từ lâu vẫn chưa thể thực hiện được, nghĩa là sau bao nhiêu năm bôn bakiếm sống bằng nhiều nghề, ở nhiều không gian khác nhau để nếm trải cái nhọcnhằn của một viên chức thuộc địa, của một giáo khổ trường tư, và sau cả thời gian

mà trường học cuối cùng ông dạy học, nếm trải cái tủi hổ của một kẻ thất thế, thấtnghiệp Có lẽ điều này sẽ chi phối một cách mạnh mẽ đến sáng tác của ông, và nhất

là của Sống mòn, cũng như những dấu ấn lưu đày, những dấu ấn của sự cô đơn và

mệt mỏi đã đi suốt cuộc đời của Kafka, Camus vào chính tác phẩm của họ Cuốinăm 1944, cũng là những năm đen tối nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại, khi người

Trang 35

Nhật đã vào Việt Nam và thậm chí với sự xuất hiện của họ, Nam Cao cũng bị liênlụy bằng sự kiện mất việc Cuối năm 1944 cũng là năm mà cuộc chiến tranh thế giớithứ hai đã đến thời kì quyết liệt để bước vào giai đoạn hạ màn, nghĩa là những tintức về chiến sự, về số người chết, số người thương vong đã có thể tác động mộtcách sâu sắc vào trí não con người, góp phần làm mờ tối thêm đời sống tinh thầnvốn đã u ám của họ, Nam Cao có thể là không ngoại lệ Nếu điều đó có thật, chúng

ta có thể hình dung Sống mòn phần nào đó là sản phẩm trực tiếp của nhận thức về

tình thế hết sức bi đát của thực tại Và trong tư tưởng ấy, trong tâm thế ấy, nó đãđược viết bằng một sự nếm trải, một sự chiêm nghiệm đầy day dứt, đầy lo ấu trongmột thời đại lo âu

Tuy nhiên, bởi chưa phải là một cây bút nổi tiếng, và có thể bởi cả lối viết đầy

tính hiện đại mà Sống mòn chưa được nhà in nào in ấn, phát hành vì không sinh lợi cho nhà xuất bản (ngay với Chí Phèo, một tác phẩm thuộc hàng đỉnh cao của tác giả, khi đưa in, chủ bút cũng phải đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi với mục đích câu

khách, điều đó phải chăng phần nào phản ánh tâm lí tiếp nhận chung là không thuậnlắm với những tác phẩm ít gay cấn, với một lối viết nhẹ nhàng mà trễ nải)

Sống mòn viết xong năm 1944 nhưng mãi đến 1965 mới được in lần đầu,

ngoài những lí do trên cũng có thể vì lý do kiểm duyệt Tính từ 1960 về trước chúng

ta khó hình dung Nam Cao là một “cây” tiểu thuyết như các cây bút quen thuộc NgôTất Tố, Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyên Hồng v.v Quả là may mắn khi bản thảo

Chết mòn còn giữ được trong ba lô Tô Hoài, Sau này (1956) mới được ra mắt bạn đọc dưới tên Sống mòn Đây là điều hạnh phúc lớn đối với Nam Cao cũng như

những độc giả yêu mến và ngưỡng mộ ông

Sống mòn lâu nay có phần được hiểu như là một tiểu thuyết nội tâm, thậm chí như là một tự truyện nói như vậy không có nghĩa là Sống mòn kém giá trị khi so

với các tiểu thuyết khác Cái mới, cái hiện đại trong tư tưởng, nghệ thuật của NamCao là ở chỗ, cho đến ngày nay mặc dù thời thế đã đổi khác nhưng chúng ta vẫnthấy đâu đó Thứ, Đích, San và những con người quanh họ vẫn thấy quen thuộc và

gần gũi Tiếp nhận tác phẩm Sống mòn, người đọc cũng như các nhà nghiên cứu

Trang 36

đều đánh giá cao về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm qua cách thể hiệnđầy tài năng của nam Cao.

Nói về vị trí của Sống mòn chúng tôi xin được trích dẫn ý kiến đánh giá của Giáo sư Phong Lê trong bài tổng kết Hội thảo về Nam Cao nhân kỷ niệm 75 năm sinh, vào tháng 12 - 1992, Giáo sư đã dành một đoạn ngắn cho Sống mòn như sau:

“Một bút pháp tự sự độc đáo; một chủ nghĩa hiện thực tâm lý nghiêm ngặt;một cảm quan hiện thực nhìn từ sâu, nhìn từ trong; một khát vọng nhân văn đượcchiêm nghiệm và đúc rút từ bản thân, và từ trong gã, hắn, y; một khả năng khámphá và dự báo; một cách khái quát giàu sức chứa và sức mở đã đem lại cho thiêntiểu thuyết may mắn còn sót lại và cũng là có một không hai này những giá trị cóthể nói là ổn định, là trường tồn Đây là cuốn tiểu thuyết không có cốt, không cótruyện, không có gay cấn và ly kỳ; bối cảnh truyện chỉ là sinh hoạt của mấy nhàgiáo dạy tư, nhưng sao lại có sức gắn đến thế với cả cuộc đời rộng lớn; cái tiếng thìthầm của tác phẩm lại có sức ám ảnh đến thế đối với nhiều lớp người trong hànhtrình cuộc đời, giữa bao thăng trầm của lịch sử Cuốn tiểu thuyết tách ra một lốiriêng giữa bao nhiêu kiểu, dạng giống nhau hoặc khác nhau, từ văn xuôi lãng mạnsang văn xuôi tả chân – xã hội; và trong khi trung thành đến từng chi tiết của đờiriêng và tràn ngập những chuyện đời tư, trong khi hội nhập được hai mặt tươngphản của sống và chết, của sự sống và cái chết, trong một định ngữ mòn lại nóiđược bao nhiêu điều vừa tủn mủn vừa lớn lao của nhân thế”

Trang 37

Cuộc sống ngưng trệ được hiểu là nó không có sự náo động, không có sự biếnchuyển tiến bộ dường như mọi cảnh vật, mọi hoạt động của con người, xã hội nó

có sự cùng quẫn, bế tắc, không lối thoát Cuộc sống ngưng trệ được đề cập đếntrong văn học (1930 - 1945) rất rõ, điều đó được thể hiện trong Thơ mới, tiểuthuyết, truyện ngắn v.v

Huy Cận, trong một bài thơ, đã viết:

“Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu

Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người

Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười

Môi nhắc lại có ngần ấy chuyện”

Một tác giả khác viết:

“Ngậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trong ngày tháng ngần qua ”

Nhớ rừng (Thế Lữ)

Lời con hổ ở rừng bách thú cũng là những trăn trỡ, suy tư của một tầng lớpngười đang sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời Một cuộc sốngtrói buộc, bế tắc và cùng cực không lối thoát

Trang 38

Một cuộc sống nhỏ nhoi, khát vọng đang cháy bổng trong tâm hồn con người

trong thời đại này nó cũng được in dấu trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch

Lam Đó là cảnh đợi tàu đêm của hai chị em Liên cứ diễn ra hàng ngày Đợi tàu,không đơn giản là một việc làm bình thường, vô nghĩa, mà sau nó là một vấn đề

mang tính nhân văn cao cả Đó là đợi ánh sáng, niềm tin và tương lai Đọc Hai đứa trẻ của Thạch Lam tạo cho chúng ta một cảm giác buồn chán, lạnh lùng và tẻ nhạt,

cốt truyện được tác tạo dựng nên trong một không gian và thời gian u ám, ảm đạmvới những việc làm vụn vặt của những con người nhỏ bé

Ta thấy, mỗi nhà văn đều có cách nhìn nghệ thuật về tình hình đời sống hiệnthực riêng; với Nam cao, ông luôn quan tâm đến quan điểm của mình trước khi cầmbút Viết cho ai? Viết cái gì và viết như thế nào? Nam Cao đã ý thức được nhiệm vụnặng nề trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật, đó là người nghệ sỹ chân chính khôngchỉ vì mưu sinh, nhà văn đã cảm nhận hiện thực từ phía bên trong, trong con mắtnhà văn mỗi hiện tượng đơn lẻ, bình thường đều nói đến cái chung, cái phổ quát

Đời thừa chúng ta không chỉ đơn thuần thấy được chuyện vợ chồng cãi vã, thậm chí

là đánh đập nhau mà đằng sau đó là những tư tưởng, suy nghĩ triết lý giàu tính nhânvăn “kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm đạp lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỷ

Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình” Nhân vật Chí Phèo trongtác phẩm cùng tên của Nam Cao cũng không đơn thuần là thằng say rượu, rạch mặt

ăn vạ, chửi bới, la hét mà đằng sau đó là một vấn đề rất con người, đó là vấn đềmuốn khẳng định quyền làm người của chính mình, là khát vọng muốn làm ngườilương thiện: tao muốn làm người lương thiện! Ai cho tao làm người lương thiện?Những câu hỏi của Chí thể hiện một giá trị nhân văn sâu sắc!

Sống mòn, cái nhìn nghệ thuật về cuộc sống hiện thực mà nhà văn hướng tới

không còn là cái xã hội như giai đoạn trước, mà là cái bên trong - thể hiện sở trường

mổ xẻ, phanh phui những mờ đục, khuất tối trong tính cách nhân vật Sống mòn còn

miêu tả những sự giằng xé nội tâm, những ngờ vực, tự thú, tự lên án mình để hướngtới một cuộc sống cao đẹp cho xứng với con người Thứ đã hối hận với việc làm củamình đối với vợ: “Chỉ ngay sau lúc tát vợ xong, nỗi tức dận trút ra rồi, y đã nghĩ

Trang 39

ngay rằng Liên có thể bị oan uổng lắm Và ngay lúc ấy, giữa lúc nghiến răng vàkhóc lóc, y đã như biết rằng y không thể bỏ Liên Y đã nghĩ đến tự tử Y đã nghĩđến đi xa Y đã nghĩ đến sách Y đã nghĩ đến đi chơi Y vẫn thấy rằng không cóLiên, chắc đời y khổ lắm Lại chính ngay lúc ấy, lúc y nguyền rủa và đau đớn, ynhận ra rằng y yêu Liên đến bực nào Y ngồi nhớ lại những cách Liên ăn ở với y từtrước đến nay”[54; 155]

Giáo sư Hà Minh Đức (trong Mấy vấn đề Văn học, Nxb Văn nghệ, H, 1956), đã

có những khám phá mới về Sống mòn, ông nhấn mạnh: “Tiêu biểu nhất cho hoàn cảnh được miêu tả tập trung, điển hình là hoàn cảnh trong Sống mòn Sống mòn được

tạo nên bằng những cảnh đời tẻ nhạt, ngưng động, tù hảm Thời gian thay đổi rấtchậm, không gian thu hẹp dần Những ước mơ của nhân vật dần trở thành xa xôi, ảotưởng, ngoài tầm với và nhân vật phải trở về với một hiện tại mờ xám, thảm buồn”.Trở lại vấn đề, chúng ta thấy phần lớn trong sáng tác của Nam Cao (Đời thừa,Chí Phèo, Lão Hạc ) cuộc sống đều có cái gì đó ngưng trệ, tẻ nhạt, những biếnđộng, biến cố chỉ mang tính nhất thời Vì vậy, không gian thường là không gianlàng quê, hay một căn phòng; thời gian buổi trưa tỉnh lặng, đêm Nếu có cái gì đókhuấy động, náo nhiệt thì cũng chỉ là tiếng chửi của kẻ say hoặc vài tiếng chó sủa

Vậy, vấn đề cuộc sống ngưng trệ trong tiểu thuyết Sống mòn thể hiện ở đâu? Đó là

trong sự vận hành của cuốc sống, xuyên suốt tác phẩm không có ai làm một việc gì

to tát, tất cả đều xúi xó và dường như thế giới đứng im Thứ, San và Oanh là mộtgiáo viên, cái nghề mà ngày nay được xem là cao quý nhưng ở thời điểm bấy giờcũng không được xem là trọng vọng, có giá trị Tất cả chỉ vì cuộc sống nghèo khổ,cùng quẫn dẫn đến sự tầm thường vô vị trước mọi con người và cuộc đời Mô làmnhững việc vụn vặt trong trường, nấu nướng, giặt giũ Gia đình ông Học làm nghềđậu phụ kiếm sống và nhiều người làm những công việc khác như kéo xe, nấu ăn,may vá suốt ngày v.v Từ những công việc “không kiếm ra nhiều tiền” như vậy,khiến con người trở nên nhỏ bé, vô vị và dẫn đến một cuộc sống bế tắc, ngưng trệxuyên suốt tác phẩm

Trang 40

Cuộc sống ngưng trệ trong Sống mòn còn được biểu hiện trong thời gian,

không gian và trong hành động của con người Một trong những nét đặc sắc nghệthuật trong sáng tác của Nam Cao là đã tạo ra một không gian nghệ thuật hàngngày, các nhân vật dường như bị giam hảm, tù túng trong những lo âu, từ miếng ăn,

thuốc men và sự đối xử v.v Các nhân vật trong Sống mòn dường như phải quay

cuồng một cách tuyệt vọng trong cái vòng luẩn quẩn của lối sống mòn về tinh thần,vật chất Thời gian hàng ngày để tìm kiếm miếng ăn đã cướp đi những giây phútsáng tạo, những suy nghĩ về tương lai tốt đẹp của con người Có lần Thứ đã thốt lên:

“Kiếp chúng mình tức lạ! Sao mà cái đời nó tù túng, nó chật hẹp, nó bần tiện thế!Không bao giờ dám nhìn cao một tý Chỉ những lo ăn, lo mặc Hình như tất cảnguyện vọng, tất cả mong ước, tất cả những mong ước của đời chúng mình, chỉ làmỗi ngày hai bữa Bao nhiêu tài trí, sức lực, lo tính đều chỉ dùng vào việc ấy Khổ

sở cũng vì thế, nhục nhã cũng vì thế, mỏi mòn tài năng, trí óc, giết chết những mongmuốn tốt đẹp, những hy vọng cao xa cũng vì thế nốt”[54; 140]

Không gian trong sáng tác của Nam Cao trước hết là vùng nông thôn, nhữngcăn nhà, những con đường nơi thôn quê Thành phố cũng được hiện ra, cũng được

nhắc đến nhưng nó chỉ được thoáng qua như một cái gì đó xa lạ Ở Sống mòn cuộc

sống ngưng trệ được khắc rõ nét trong không gian của một phòng trọ, trường học vàrộng hơn nữa là không gian quê nhà Không gian thành phố là nơi Thứ, San vàOanh gửi gắm biết bao nhiêu ước mơ hoài bão nhưng rồi họ phải thất vọng, chếtmòn, chết dần Những ước mơ đó cuối cùng như một quy luật buộc họ phải về quêhương đem theo cả sự nghèo đói và hơn nữa là vấn đề suy sụp về tinh thần lẫn thểxác Không gian nông thôn, làng quê là nơi cho họ những ước mơ khát vọng về mộtcuộc sống tươi đẹp nhưng rồi lại đưa họ về với nó, về với sự cô đơn, nhỏ bé, trì trệ,ngưng động không lối thoát

Nhân vật trong Sống mòn có ước mơ, hoài bão, có học hành nhưng họ không

thể nào hành động được để đạt được những gì mình mong muốn, thậm chí những gì

họ xây dựng nên cũng bị vùi dập Đó là việc Đích, Oanh thành lập trường tư, đó là

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1981), “Nhìn chủ nghĩa hiện thực trong sự vận động lịch sử”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn chủ nghĩa hiện thực trong sự vận động lịch sử”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1981
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
3. Bakhtin.M (1998), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin.M
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1998
4. Bakhtin.M. (2006), “Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ” (Phạm Vĩnh Cư dịch), Văn học nước ngoài, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ” (Phạm Vĩnh Cư dịch)," Văn học nước ngoài
Tác giả: Bakhtin.M
Năm: 2006
5. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
6. Brewster.D - Burrell.J.A (2006), Tiểu thuyết hiện đại (Dương Thanh Bình dịch), Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Brewster.D - Burrell.J.A
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2006
7. Nam Cao (1998), Sống mòn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống mòn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1998
8. Nam Cao (1998), Truyện ngắn tuyển chọn, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn tuyển chọn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1998
9. Nam Cao (1999), Về tác giả tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tác giả tác phẩm
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
10. Đào Ngọc Chương, “Tiểu thuyết - Những vấn đề thi pháp (từ một cái nhìn so sánh)”, www.hcmussh.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết - Những vấn đề thi pháp (từ một cái nhìn so sánh)
11. Nguyễn Văn Dân (1996), “Kafka với cuộc chiến chống phi lí”, Văn học nước ngoài, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kafka với cuộc chiến chống phi lí”," Văn học nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 1996
12. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
13. Nguyễn Văn Dân (2002), Văn học phi lí, Nxb Văn hoá thông tin – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phi lí
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2002
14. Nguyễn Văn Dân, “Con đường phát triển của kỹ thuật tiểu thuyết”, http://lethieunhon.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường phát triển của kỹ thuật tiểu thuyết
15. Đỗ Đức Dục (1971), “Suy nghĩ về sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam”, Tạp chí văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Năm: 1971
16. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
17. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
18. Đặng Anh Đào (1993), “Sự tự do của tiểu thuyết - một khía cạnh thi pháp”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tự do của tiểu thuyết - một khía cạnh thi pháp”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1993
19. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Phương Tây hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
20. Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoành Khung (1998), Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoành Khung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w