1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính dân tộc trong văn học qua quan niệm và thơ xuân diệu trước 1945

81 884 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính dân tộc trong văn học qua quan niệm và thơ Xuân Diệu trước 1945
Tác giả Lê Thị Nhung
Người hướng dẫn Lê Văn Tùng, Giảng viên chính
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn, Văn học Việt Nam hiện đại
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 197,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đội ngũ những tên tuổi đã làm rạng danh một thời Thơ mới nh:Thế Lữ, Lu Trọng L, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Xuân Diệ

Trang 1

Trờng đại học vinh

Khoa Ngữ văn

==========

Lê Thị Nhung

tính dân tộc trong văn học qua quan niệm và thơ xuân diệu trớc 1945

Khoá luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành: Văn học Việt nam hiện đại

Vinh, 5/ 2007

Mục lục.

Trang

A Phần mở đầu .4

I Lý do chọn đề tài 4

II Lịch sử vấn đề 5

III Phơng pháp nghiên cứu 7

IV Phạm vi giới hạn của đề tài 7

V Nhiệm vụ nghiên cứu 7

Trang 2

VI Cái mới của đề tài 8

B Phần: Nội dung Chơng I: Khái niệm tính dân tộc và tính dân tộc Việt Nam trong văn học 9

I Tính dân tộc 9

II Tính dân tộc Việt Nam trong văn học 12

1 Nhìn chung về tính dân tộc Việt Nam trong văn học 12

1.1 Tính dân tộc thể hiện rõ trong văn học dân gian 12

1.2 Tính dân tộc trong văn học Trung đại 14

2 Nhìn chung về tính dân tộc trong Thơ mới (1932 - 1945) 18

Chơng II: Tính dân tộc trong văn học từ quan niệm của Xuân Diệu 21

I Văn học dân tộc Việt phải có “Tính dân tộc” 21

II Tính dân tộc trong văn học không phải là một hiện tợng đứng yên, bất biến mà là một hiện tợng lịch sử có phát triển biến đổi 30

CHƯƠNG iii: TíNH dân tộc trong thơ Xuân Diệu trớc 1945 .35

I Đề tài chất liệu 35

1 Đề tài thiên nhiên 35

2 Đề tài sự sống, tuổi trẻ và tình yêu 38

3 Chất liệu thi ca 42

II Cảm hứng, t tởng 42

1 Cái đẹp của thiên nhiên đất nớc Việt Nam 43

2 Vẻ đẹp tâm hồn, tâm lý, cá tính, tình cảm của con ngời 46

III Hình thức thể hiện 51

1 Ngôn ngữ 51

2 Thể thơ 55

IV Truyền thống và hiện đại trong “Tính dân tộc” của thơ Xuân Diệu 59

C Phần kết luận 61

Th mục tham khảo 62

Trang 3

Lời mở đầu.

Trong phong trào Thơ mới (1932 - 1945), Xuân Diệu nổi lên nh một gơngmặt sáng giá nhất, là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới Đã có nhiềucông trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Xuân Diệu

Chọn đề tài: “Tính dân tộc trong văn học qua quan niệm và thơ Xuân Diệutrớc 1945” là một việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian cho nênchắc chắn chúng tôi còn nhiều thiếu sót

Khoá luận tốt nghiệp này mong đợc đóng góp một phần nhỏ bé của mìnhvào sự nghiệp nghiên cứu Xuân Diệu - một nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáovào bậc nhất của thơ lãng mạn Việt Nam

Xin đợc ghi ơn thầy giáo: Lê Văn Tùng - giảng viên chính khoa Ngữ văn, làngời đã hết lòng hớng dẫn tôi thực hiện khoá luận này

Xin đợc ghi ơn tập thể các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, trờng Đại học Vinh

đã hết lòng giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chơng trình học tậptrong suốt khoá học

Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi nhiều mặt để cóthể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Vinh, Ngày 1 tháng 5 năm 2007 Sv: Lê Thị Nhung

Trang 4

Xa nay ngời ta vẫn thờng chia “Thơ mới” thành ba dòng thơ đi song songvới nhau trong suốt cả mời năm vận mệnh của nó: Dòng thơ chịu ảnh hởngnhiều của cổ thi và thơ Đờng tiêu biểu là Huy Thông, trong chừng mực nào đó

là Huy Cận…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhDòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhNguyễn Bính, Nguyễn Nhợc Pháp, Anh Thơ…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh và dòng thơ thứ ba: chịu ảnh h-ởng nhiều nhất của thơ phơng Tây đặc biệt là thơ Pháp hiện đại, có hai đại diệntiêu biểu: Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử Vì vậy kể từ khi Xuân Diệu đến giữa làngthơ, ngời ta đã cảm nhận đây là nhà thơ mới nhất, cũng là “Tây” nhất trong Thơmới Hoài Thanh từng nói đến cái cảm nhận đầu tiên trong “Thi nhân ViệtNam”: “Ngời đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rèkhông muốn làm thân với con ngời có hình thức phơng xa ấy.”[2 - 128]

Vậy phải chăng trong thơ Xuân Diệu tính dân tộc quá mờ nhạt hoặc bị ảnhhởng phơng Tây lấn át? Trong ý thức và quan niệm của Xuân Diệu lẽ nào ông

đã rời bỏ bản sắc tâm hồn Việt, lẽ nào ông đã hoàn toàn Tây hoá? Quan niệmcủa ông về Tính dân tộc trong văn học ra sao? Thơ của ông biểu hiện Tính dântộc nh thế nào? Đề tài này trớc hết để chúng tôi tự giải đáp những câu hỏi trên.Mặt khác, khi văn học Việt Nam hiện đại bớc vào cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉXXI, xu hớng hội nhập với văn học thế giới càng nổi bật Chủ trơng mở cửa, đổimới đã tạo điều kiện cho các giá trị văn hoá văn học từ phơng Tây và khắp thế

Trang 5

giới tràn vào Việt Nam Đã biết hội nhập hoá là một đặc trng của văn học hiện

đại, nhng hiện đại hoá, hội nhập hoá nếu không khéo có thể đánh mất Tính dântộc trong văn học Để giữ gìn bản sắc dân tộc trong văn học ngày nay, việc tìmhiểu Tính dân tộc qua quan niệm và thơ Xuân Diệu là việc làm có ý nghĩa gópphần vào mục tiêu “xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dântộc” nh đờng lối của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra

II Lịch sử vấn đề.

Xuân Diệu một hiện tợng điển hình, một nhà thơ tiêu biểu của phong tràoThơ mới Trong đội ngũ những tên tuổi đã làm rạng danh một thời Thơ mới nh:Thế Lữ, Lu Trọng L, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Xuân Diệu nổilên nh một gơng mặt sáng giá nhất của phong trào Thơ mới (vào những năm

1936 - 1939), một vận mệnh thơ ca tiêu biểu cho thế hệ thi nhân “tiên chiến” kểcả giai đoạn trớc và sau cách mạng Không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu đợccoi: “Là ngời đã đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mới nhất”(Vũ NgọcPhan), là ngời phát ngôn đầy đủ nhất cho t tởng cá nhân trong phong trào Thơmới Thơ Xuân Diệu không triền miên sầu mộng nh Lu Trọng L, không ấp ủnhiều giấc mộng chinh phu nh Thế Lữ, hay những hoài vọng xa xăm nh HuyThông

Lần đầu tiên trên thi đàn “Cái tôi” tiểu t sản của xuân Diệu mạnh dạn bày

tỏ những tâm t thầm kín, những cảm xúc yêu đơng tuôn trào, những khát vọng

đợc hởng thụ không dứt không nguôi hoa thơm trái ngọt của cuộc đời trần thế.Trong sự chào đón nhiệt liệt của các nhà phê bình danh tiếng nh Hoài Thanh

“Xuân Diệu mới nhất trong các nhà Thơ mới” Lần đầu tiên những tình cảmnồng cháy, tha thiết đến rạo rực của một thế hệ tuổi trẻ khao khát một cuộc

sống mới, muốn vợt qua khỏi sự tù đọng, lụi tàn của xã hội cũ…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhđể sống, đểyêu, để khẳng định bản ngã Một nhà thơ lãng mạn nhng lại có những cảm nhận

cụ thể về nỗi buồn thế hệ và đau đớn xót xa về nỗi đời cơ cực…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Một nhà thơ ítnhắc đến ngày xa và mai sau “kể chi chuyện trớc với ngày sau” và tin vào

“duyên đẹp hôm nay sẽ tốt lành”, nhng lại chịu nhiều buồn tủi trong cuộc đờihiện tại Một nhà thơ yêu đơng đến đắm say sự sống và khao khát giao cảm với

đời nhng luôn bắt gặp sự “hờ hởng”, “vô tình” của ngời đời Chính vì vậy màtấm lòng Xuân Diệu, thơ Xuân Diệu càng hấp dẫn với bạn đọc Các nhà nghiêncứu, phê bình từ trớc đến nay đều tập trung khẳng định sức sống mảnh liệt trongthơ Xuân Diệu: “Đó là một tâm sự nồng nàn, kín đáo, một linh hồn rạng rỡ vàsay mê đằm thắm, một ngời sinh ra để mà sống…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh”(Thế Lữ) [18 - 8] Một hồnthơ “say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt,

Trang 6

muốn tận hởng một cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng nh khi buồn,ngời đều nồng nàn và tha thiết” (Hoài Thanh) [18 - 19] Một nhà thơ của “niềmkhao khát giao cảm với đời” (Nguyễn Đăng Mạnh) [18 - 173] Một nhà thơ đợcxem là “Hoàng tử của thi ca hiện đại”.(Đoàn Thị Đặng Hơng) [18 - 126].Những đánh giá đó cho ta thấy vị trí là “Cây đại thụ” của Xuân Diệu trong nềnvăn học Việt Nam hiện đại.

Qua việc khảo sát những công trình nghiên cứu và thơ Xuân Diệu chúngtôi thấy cha có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về đề tài “Tính dântộc trong văn học qua quan niệm và thơ Xuân Diệu trớc 1945” Nhng trongnghiên cứu các phơng diện khác của thơ Xuân Diệu đã có một số ý kiến bàn vềvấn đề này

Trong “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh nhận xét về Xuân Diệu: “Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý tới những ý tứ ngời đã mợn trong thơ Pháp Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của diệu thơ, một cái gì rất Việt Nam đã quyến rũ ta”[2 - 105]

Vơng Trí Nhàn trong bài viết “Xuân Diệu và một quan niệm cởi mở vềtính dân tộc” cho rằng: “Chúng ta sẽ gặp ở đây một cách hiểu khá rộng rãi củaXuân Diệu: ông không nghĩ tính cách dân tộc là một cái gì nhất thành bất biến.Ngợc lại từ kinh nghiệm riêng của một ngời làm việc ông bảo chúng ta phải mởcửa, phải biết tiếp nhận Có những cách nói ban đầu khó nghe rồi dần dần sẽquen Chừng nào còn là ngời Việt Nam, những cái chúng ta viết sẽ là văn chơngViệt Nam Không phải chỉ có một lối “giản dị”, “chân quê” mới là dân tộc nhngời ta đã nghĩ”[2 - 257]

Nh vậy cha có một công trình nào thực sự đi sâu vào tìm hiểu về “Tính dântộc trong văn học qua quan niệm và thơ Xuân Diệu trớc 1945” Tất cả chỉ lànhững nhận xét có tính chất lẻ tẻ, rải rác, tản mạn Tuy nhiên đó là những gợi ý

để chúng tôi đi sâu nghiên cứu về đề tài này một cách tập trung, hệ thống hơn

III Phơng pháp nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành bằng các phơng pháp vàcách thức sau đây:

- Dựa vào những căn cứ lí luận để khảo sát phạm trù Tính dân tộc trongvăn học

- Những ý kiến phát biểu của Xuân Diệu về “Tính cách An Nam”, trongvăn học, là những quan điểm có tính chất lí luận giúp cho việc đối chiếu vớisáng tác của ông để tìm “Tính dân tộc” qua quan niệm và thơ của ông

Trang 7

- Phơng pháp phân tích tổng hợp: khi nghiên cứu về đề tài này chúng tôi đãxác định “Tính dân tộc” qua quan niệm và thơ của Xuân Diệu trớc 1945 qua haitập thơ: “Thơ thơ”(1938) và “Gửi hơng cho gió”(1945).

- Phơng pháp miêu tả và so sánh: trên cơ sở thống kê, phân loại, khoá luận

đi vào miêu tả các biểu hiện của tính ân tộc qua quan niệm và thơ của XuânDiệu Đồng thời khoá luận cũng tiến hành so sánh nhà thơ Xuân Diệu qua cácthời kì khác nhau và đối chiếu với các nhà thơ khác để thấy đợc nét đặc trng củaXuân Diệu về “Tính dân tộc”

IV Phạm vi giới hạn của đề tài.

- Khi nghiên cứu quan niệm của Xuân Diệu về “Tính dân tộc” trong vănhọc, ta quan tâm đến những bài viết có tính chất lí luận, phê bình văn học cuatác giả trớc 1945

- Nghiên cứu hai tập thơ: “Thơ thơ”(1938) và “Gửi hơng cho gió”(1945) đểchứng minh “Tính dân tộc” trong thơ Xuân Diệu trớc 1945

V Nhiệm vụ nghiên cứu.

Đề tài này nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính sau:

- Lý giải đợc khái niệm “Tính dân tộc” trong văn học nói chung và trongquan niệm của Xuân Diệu nói riêng

- Chứng minh thơ Xuân Diệu không chỉ hiện đại, chịu ảnh hởng nhiều củathơ phơng Tây, đặc biệt là thơ tợng trng Pháp mà trong thơ Xuân Diệu cònmang đậm “Tính dân tộc” Việt Nam

VI Cái mới của đề tài.

So với những công trình đi trớc, đây là một đề tài đi sâu khảo sát “Tính dântộc” cả trong quan niệm và thơ Xuân Diệu trớc 1945, đặc biệt chứng minh dùXuân Diệu là nhà thơ mới nhất, “Tây” nhất nhng ông vẫn là nhà thơ dân tộcViệt Nam

Trên cơ sở đó, khoá luận có thể giúp cho giáo viên giảng dạy văn học ở ờng phổ thông có điều kiện tìm hiểu sâu hơn về quan niệm, về thơ Xuân Diệu

tr-để nâng cao hiệu quả giảng dạy, giúp cho việc thẩm bình, đánh giá thơ XuânDiệu tốt hơn, thấy đợc những đặc sắc trong thơ ông, góp phần nghiên cứu “Tínhdân tộc” trong văn học nói chung

Trang 8

có thể phân biệt đợc với dân tộc khác “Tính” ở đây chúng ta hiểu rộng ra, hiểutheo cách hiểu của các nhà Thơ mới; chỉ tính chất, bản sắc của dân tộc ViệtNam Nói tóm lại trong “Tính dân tộc” gồm có ba yếu tố: một là có quan hệ đếnlợi ích cơ bản, lâu dài của dân tộc, độc lập tự do, an ninh và hoà bình; hai là tínhnhân dân, nhân dân là ngời làm nên lịch sử dân tộc, sáng tạo ra tất cả của cải đểnuôi sống xã hội; ba là không làm hại đến đời sống, hạnh phúc và danh dự củadân tộc khác Quan niệm “Tính dân tộc” của Xuân Diệu bao gồm nhiều mặt, đadạng và phong phú Tuy nhiên nó thể hiện cái nhìn mới mẻ, sâu sắc, tiến bộ củaXuân Diệu về “Tính dân tộc” trong văn học Tìm hiểu những bài phê bình, đánhgiá của ông về “Tính dân tộc” chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.

Xung quanh vấn đề “Tính dân tộc” đã có nhiều định nghĩa khác nhau:Tác giả: Lê Đình Kỵ, trong cuốn “Các phơng pháp nghệ thật” đã cho rằng

“Tính dân tộc thể hiện trớc tiên là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ vốn là đặc trng chủyếu của một dân tộc”

Tác giả: Thành Duy, trong cuốn “Về tính dân tộc trong văn học” đã đa ra

định nghĩa về tính dân tộc: “Tính dân tộc là một phạm trù mỹ học, nó gắn liềnvới quan niệm về cái đẹp của mỗi dân tộc nhất định Do đó những yếu tố tâm

lý, đạo dức, tình cảm, nếp nghĩ, phong tục tập quán…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhvà nói chung là hình tháibiểu hiện của tính dân tộc bao giờ cũng gắn liền với những điều kiện lịch sử xã

Trang 9

hội cụ thể Tính dân tộc đồng thời là một phạm trù lịch sử, nó không chỉ gắnliền với điều kiện lịch sử xã hội cụ thể mà nó còn biến đổi và phát triển khôngngừng”[1 - 78].

Nhóm tác giả: Trần Đình Sử, Phơng Lựu, Nguyễn Xuân Nam trong cuốngiáo trình “Lí luận văn học” (tập 1) đa ra một cách hiểu khác về tính dân tộc:

“Tính dân tộc của văn nghệ là tổng hoà mọi đặc điểm độc đáo chung cho cácsáng tác của dân tộc” [4 - 149]

Nhóm tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn “Từ

điển thuật ngữ văn học” đã định nghĩa: “Tính dân tộc là một phạm trù t tởngthẩm mỹ chỉ mối liên hệ khăng khít giữa văn học và dân tộc, thể hiện qua tổngthể những đặc điểm độc đáo tơng đối bền vững chung cho các sáng tác của mộtdân tộc đợc hình thành trong quá trình phát triển lịch sử và phân biệt với vănhọc của các dân tộc khác”[7 - 233]

Chúng tôi liệt kê một số định nghĩa về tính dân tộc và thấy rằng một địnhnghĩa nào cũng cha thâu tóm đợc mọi đặc điểm của một hiện tợng, mọi khíacạnh của một vấn đề Để hiểu rõ hơn sự phong phú đa dạng của vấn đề tính dântộc, chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu những đặc điểm của nó

Tính dân tộc thể hiện trên hai phơng diện nội dung và hình thức Nhà vănNga Gôgin đã nói rất chí lí: “Tính dân tộc chân chính không ở chỗ miêu tả cái

áo Xarapan mà ở trong tinh thần dân tộc Nhà thơ vẫn có thể là nhà thơ dân tộcngay cả khi ông ta miêu tả một thế giới hoàn toàn khác lạ, nhng nhìn nó bằngcon mắt của dân tộc mình, nhân dân mình, cảm thấy và phát biểu theo lối mà

đồng bào ông đang cảm thấy và phát biểu”

Về mặt nội dung, dễ dàng nhận thấy trớc hết tính dân tộc biểu hiện trong

sự phản ánh “màu sắc” dân tộc của thiên nhiên, của đời sống vật chất và tinhthần, của xã hội Đọc sáng tác của một dân tộc ta nh sống cuộc sống của dântộc đó với những đặc điểm của một thế giới riêng Tuy nhiên tính dân tộc củavăn học không chỉ biểu hiện ở những vật thể, đờng nét, màu sắc có thể nắm bắt

đợc Nội dung căn bản của tính dân tộc là ở tinh thần dân tộc, thể hiện ở tínhcách dân tộc và cái nhìn của dân tộc đó đối với cuộc đời Đó là những yếu tố t-

ơng đối bền vững đợc hình thành và phát triển trong những hoàn cảnh địa lí vàcon đờng phát triển lịch sử riêng của dân tộc, là một sản phẩm chính thể biểuhiện một phức hợp liên kết các phẩm chất nhất định Chẳng hạn lòng thơng ngờicủa ngời Việt Nam gắn với đức hi sinh, lòng kiên nhẫn Nhà thơ Bungari

Đimitrôva trong “Ngày phán xử cuối cùng” có nhận xét: “Đất nớc Việt Nam đãcho tôi gặp gỡ với lòng kiên nhẫn Có lẽ đó là gơng mặt thực nhất của con ng-

Trang 10

ời…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Lòng kiên nhẫn mạnh hơn sức mạnh vì chính nó làm cho sức mạnh trởthành bất lực”.

Về mặt hình thức, tính dân tộc biểu hiện trên nhiều yếu tố:

Phơng tiện ngôn ngữ: chủ yếu sử dụng tiếng Việt - chữ viết của dân tộc.Tuy nhiên có sử dụng tiếng nớc ngoài, chữ viết của nớc ngoài nhng đợc dân tộchoá nh về: vần, đối, luật bằng trắc, âm điệu, nhịp điệu…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Sự phong phú uyểnchuyển giàu nhạc điệu của tiếng Việt góp phần quan trọng tạo nên kho tàng dân

ca kì diệu của dân tộc cũng nh nhiều kiệt tác của Trần Hng Đạo, Nguyễn Trãi,Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hơng…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Điệu cò lả và nhiều điệu hátdân ca khác là chất liệu không thể thiếu đợc đối với nhiều nhà thơ, nhà văn Câytre Việt Nam, bến nớc sân đình, cây đa, dòng sông, con đò…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhlà những khungcảnh thiên nhiên góp phần tạo nên nhiều áng văn nhiều câu thơ hay đặc sắc.Nhân vật: con ngời của dân tộc đó thành nhân vật chủ yếu của văn học Cóthể có trờng hợp nhân vật có tên tuổi nớc ngoài nhng yếu tố con ngời qua hìnhthức nhân vật ấy vẫn là con ngời của dân tộc đã sản sinh ra nền văn học của nó,

nh “Truyện Kiều”(Nguyễn Du) Cốt truyện: xây dựng trên những vấn đề đờisống của thực tiễn của dân tộc, dựa trên những xung đột xã hội và t tởng củalịch sử một dân tộc, có thể mợn một cốt truyện (Truyện Kiều, Lục Vân Tiên)nhng vẫn nói về những vấn đề của cuộc sống dân tộc

Chất liệu của văn học: mang tính đặc thù của mỗi dân tộc (kể cả những tácphẩm vay mợn chất liệu bên ngoài) vẫn có thể nhìn rõ màu sắc dân tộc trongcách thể hiện chất liệu ấy

Tính dân tộc của văn học mang nội dung lịch sử và phải đợc xem xét theoquan điểm lịch sử Nó đợc hình thành trong cả một quá trình lâu dài mà nhữngcái mốc quan trọng là sự hình thành dân tộc và sự vận dụng ngôn ngữ dân tộclàm ngôn ngữ văn học ở Việt Nam bắt đầu từ Nguyễn Trãi trở đi tiếng Việtmới dần trở thành ngôn ngữ văn học, đánh dấu bớc phát triển quan trọng củatính dân tộc trong văn học Việt Nam Trong suốt quá trình phát triển, tính dântộc không ngừng đợc phong phú thêm bởi sự tiếp thu tinh hoa văn hoá nớcngoài Thơ ca Việt Nam vốn a vần lng và hình thức tự sự trờng thiên đợc phongphú thêm bởi thơ Nôm và Phú nôm chịu ảnh hởng từ thơ Phú của văn học Hán.Tiếp thu thơ phơng Tây, thơ ca giàu thêm với thể thơ tự do và thể tám chữ chiakhổ Vì vậy, một sáng tác văn học có tính dân tộc cao phải vừa kế thừa đợctruyền thống văn học dân tộc vừa đổi mới và có đóng góp vào sự phát triển củatruyền thống ấy

Trang 11

Xét về mặt sáng tác thì tính dân tộc chi phối mọi phơng diện sáng tác củatoàn bộ các trào lu văn học Nhng đến lợt cá nhân nhà thơ, nhà văn, tính dân tộcbiểu hiện trong tác phẩm của họ một cách độc đáo khác nhau.

II Tính dân tộc Việt Nam trong văn học.

1 Nhìn chung về tính dân tộc Việt Nam trong văn học.

Truyền thống cao quý và lâu đời nhất của nhân dân ta, sức mạnh kì diệucủa sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc trong bốn ngàn năm là chủ nghĩa yêu nớc;chính truyền thống ấy đã thể hiện sức mạnh Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam, làhạt nhân quyết định tính dân tộc độc đáo Việt Nam Điều đó đợc thể hiện rõtrên con đờng phát triển của văn học Việt Nam

1.1.Tính dân tộc thể hiện rõ trong văn học dân gian.

Tính dân tộc là động lực, là nguồn sống tinh thần của nhân dân lao động.Chính kho tàng văn học dân gian phong phú đó đã nuôi dỡng ý thức dân tộc,phát huy những tình cảm tốt đẹp lâu đời của nhân dân ta, “Nó có mặt ở mọi ngõngách, trong tận hang cùng ngõ hẻm, đi vào từng nhà, từng ngời Nó đi vào lòngngời một cách tự nhiên, trở thành máu thịt, thành nếp sống, thành lời ăn tiếngnói, thành t tởng tình cảm của mỗi ngời Việt Nam Nó vừa là ngọn nguồn làmnảy sinh cuộc sống tinh thần của nhân dân ta, vừa là món ăn tinh thần khôngthể thiếu của mỗi ngời Việt Nam”[1 - 189]

Trong mỗi câu ca dao đều có phần máu thịt của ngời dân Việt, thể hiện rõnhất sự rung động trong trái tim và trong tâm hồn của mỗi ngời dân; ở đó tathấy rõ tâm hồn chất phát, hồn nhiên đợc nảy nở mà không bị ràng buộc bởinhững tục lệ cũng nh những hình thức phô diễn cầu kì Những câu ca dao thậtmộc mạc, dễ hiểu, giản dị nhng xúc tích, những câu hò điệu hát thật phóngkhoáng, tự nhiên thể hiện rõ nhất, sâu sắc nhất cõi lòng sâu kín, tế nhị, thuầntuý dân tộc của con ngời Việt Nam

Qua ca dao ta có thể tìm thấy vẻ đẹp của dân tộc từ non sông gấm vóc,rừng vàng biển bạc, đồng ruộng phì nhiêu, cỏ cây xanh tơi…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Là một ngời dânViệt Nam đặc biệt là ngời dân xứ Nghệ ai ai đều nhớ câu ca dao:

Đờng vô xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ

Một xứ Nghệ riêng biệt có non xanh nớc biếc, tất cả đều đẹp, đều nên thơ

Đặc biệt, ca dao là nơi nhân dân gửi gắm tâm sự, tình cảm của mình, haynhững việc làm gắn liền với nền nông nghiệp trồng lúa nớc:

Rủ nhau xuống biển mò cua

Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

Trang 12

Em ơi chua ngọt đã từng

Non xanh nớc bạc xin đừng quên nhau

Hình ảnh con cua, quả mơ…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh là những sản phẩm giản dị, bình thờng màmỗi ngời dân Việt Nam đều quen thuộc và gần gũi Qua đó tác giả muốn gửigắm tình cảm, nhắn nhủ đến mỗi ngời lòng thuỷ chung trong tình yêu, dù khókhăn trắc trở thì “xin đừng quên nhau” Bốn câu thơ ngắn gọn nhng đã làm nênmột đặc điểm riêng biệt, một nét riêng biệt nhất mà chỉ có trong ca dao ViệtNam

Hay những sản phẩm khiêm tốn nh: râu tôm, ruột bầu đã đi vào trong cadao:

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

Những động từ “chan”, “húp”, “gật” gần gũi thân thuộc trong cuộc sốngsinh hoạt hằng ngày với mỗi ngời dân Việt Nam Tất cả những hình ảnh, những

động từ quen thuộc ấy đều đợc nhân dân gửi gắm qua ca dao, làm cho ca daomang đậm bản sắc dân tộc Việt, sự tinh tế của tâm hồn ngời Việt Nam

Văn học dân gian gắn bó tình thơng con ngời Việt Nam, trong tình nghĩa

Một dân tộc luôn bị ngoại xâm đe doạ, khát vọng chiến thắng ngoại xâm,

đợc thể hiện qua hình tợng nhân vật Thánh Gióng Mới ba tuổi Gióng đã ý thức

đợc phải đứng dậy dẹp giặc cứu nớc, mang lại cuộc sống yên bình cho nhândân Làm đợc điều ấy chỉ có “Thánh Gióng” ở Việt Nam

Hay một môi trờng thiên nhiên khắc nghiệt, khát vọng muốn chinh phụcthiên nhiên đã đợc nhân dân ta gửi gắm qua thần thoại “Sơn Tinh Thuỷ Tinh”.Tác giả dùng những hình tợng, hình ảnh gần gũi với mỗi ngời dân Việt Nam đểgửi gắm tâm t tình cảm, khát vọng của con ngời Đó là sức mạnh, là ý chí khônggì lay chuyển đợc Văn học dân gian vừa là vũ khí, vừa là tiếng nói tâm tình củanhân dân lao động Đồng thời là cơ sở, là nền tảng của nền văn học Trung đạiViệt

1.2 Tính dân tộc trong văn học Trung đại.

Trang 13

Dòng văn học viết của nớc ta ra đời và trở thành một dòng văn học riêngbắt đầu từ thế kỉ thứ X, gắn liền với sự ra đời của thời đại phong kiến xây dựngquốc gia độc lập Đó là thời kì thử thách bản lĩnh dân tộc Việt Nam trớc âm muxâm lợc của các thế lực ngoại bang, là thời kì phát triển của dân tộc ta Đó cũng làthời kì phát triển rực rỡ của nền văn hoá Đại Việt, biểu thị sức mạnh của dân tộc takhông chỉ trên lĩnh vực chính trị, quân sự mà cả trên lĩnh vực văn học Nhà văn ViệtNam trung đại phần lớn là nho sỹ, đẳng cấp này chịu ảnh hởng trực tiếp của hệ ýthức phong kiến thâm nhập từ bên ngoài vào (chủ yếu là nho giáo) Khi tiếp nhận

ảnh hởng của nho giáo, nhà văn - nho sĩ Việt Nam đã lựa chọn và sáng tạo cáchhiểu những nội dung t tởng của nho giáo Trung Quốc từ yêu cầu thực tiễn của đờisống dân tộc nh :

T tởng trung quân: ngời Việt Nam chỉ trung với những ông vua yêu nớc chốngngoại xâm, chống lại những vua bán nớc, hại dân

T tởng hiếu: với ngời Việt Nam , hiếu với cha mẹ, ông bà, trong gia tộcmới chỉ là “tiểu hiếu” , hiếu với tổ tiên, dân tộc, nớc nhà mới là “đại hiếu” (lờiNguyễn Phi Khanh- cha Nguyễn Trãi trên ãi Nam quan)

T tởng “tiết”: con ngời Việt Nam không chỉ có lòng thuỷ chung của phụ nữvới chồng mà còn là lòng thuỷ chung của con ngời Việt Nam với truyền thốngdân tộc, với đất nớc Thơ văn trung đại Việt Nam đã bộc lộ rõ tính dân tộc quachất liệu, đề tài, thể loại thể hiện rõ tính cách ngời Việt Nam nh chí khí anhhùng bất khuất, lòng yêu quê hơng đất nớc, tinh thần lạc quan, lòng nhân ái “th-

ơng ngời nh thể thơng thân”…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Những sáng tác của các tác giả nh Nguyễn Trãi,Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Đình Chiểu, Bà Huyện Thanh Quan,Nguyễn Khuyến, Tú Xơng…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhđã phản ánh rõ điều đó.Trong tập thơ “Quốc âmthi tập” Nguyễn Trãi đã tìm về với chất liệu gần gũi, thân thuộc của Việt Nam

để nói về cỏ cây, hoa lá, nói về tình yêu quê hơng đất nớc của mình Nhà thơ đãchọn cây hoè, thạch lựu, sen hồng, cây chuối, mồng tơi, tơng cà, rau muống…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh

Trang 14

Nguyễn Trãi không chỉ gửi gắm trong thơ tình yêu quê hơng nồng hậu màcòn bộc lộ tấm lòng thiết tha đối với cuộc sống, một miền ớc mong tốt đẹp chohạnh phúc của nhân dân:

Ngời đọc không thể quên đợc những câu thơ tả cảnh thiên nhiên:

Long lanh đáy nớc in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng

Hay:

Dới sân quyên đã gọi hè

Đầu tờng lửa lựu lập loè đâm bông

“Truyện Kiều” cho chúng ta thấy đợc những tính cách của con ngời ViệtNam thông qua nhân vật Thuý Kiều Đó là tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, thuỷchung, son sắt, trọng tình nghĩa.Nguyễn Du không chỉ nói tiếng nói của một ng-

ời mà nói tiếng nói của muôn ngời:

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Về thể loại, Nguyễn Du sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc là thể thơlục bát Đó là một thể thơ dân gian quen thuộc gắn liền với cách phô diễn t t-ởng, tình cảm tế nhị của dân tộc và đã có sức sống mạnh mẽ, lâu dài, bắt rễ sâutrong tiếng nói của nhân dân Với “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã đa thể thơ lụcbát phát triển lên một trình độ mới, hoàn thiện hơn, điêu luyện hơn, trong sánghơn, thực sự gắn với đặc điểm tiếng Việt từ cách vận dụng từ vựng đến việc diễn

đạt âm thanh, nhịp diệu rất dân tộc

Thơ của Hồ Xuân Hơng - nhà thơ đợc Xuân Diệu đánh giá là “Bà chúa thơNôm” trong thơ bà cũng rất giàu tính dân tộc Nhà thơ đi sâu khai thác những

đề tài quen thuộc nh: tình yêu, vợ chồng, cuộc sống…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhchất liệu bà sử dụng rấtbình dị, gần gũi trong cuộc sống thờng ngày Đó là quả mít, con ốc nhồi, khungcửi, miếng trầu cau, bánh trôi nớc…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh

Về ngôn ngữ: giản dị, dễ hiểu, mộc mạc Ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân

H-ơng không khác gì ca dao tục ngữ Đó là ngôn ngữ thuần tuý Việt Nam:

Trang 15

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hơng mới quệt rồi

(Mời trầu)

Ngôn ngữ trong thơ bà là ngôn ngữ của đời sống đợc sử dụng nghệ thuậthơn Con đờng của Hồ Xuân Hơng cũng là con đờng của Nguyễn Đình Chiểu,Nguyễn Khuyến

Với Nguyễn Đình Chiểu: thơ văn là tiếng nói của ý thức độc lập dân tộc, cadao đợc thể hiện bằng lời lẽ, mộc mạc, chất phác rất Việt Nam nhng lại là chân

lí hiển nhiên “bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó” Nguyễn ĐìnhChiểu biểu dơng ngời anh hùng áo vải chân đất Việt Nam luôn chiến đấu vìnghĩa, vì dân tộc: “Sống đánh giặc thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơbinh, muôn kiếp nguyện đợc trả thù kia; Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụdạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó”.[17 - 34]

Nguyễn Khuyến trở về với chất liệu làng quê, với ánh trăng thu, với nhữnggian nhà nhỏ hay một làn khói phủ…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh

Năm gian nhà cỏ thấp le teNgõ tối đêm sâu đóm lập loè

2 Nhìn chung về tính dân tộc trong Thơ mới (1932 - 1945).

Thơ mới ra đời trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam có nhiều biến động mạnh

mẽ dới sự ảnh hởng của văn hoá phơng Tây Thơ mới là nỗi niềm của một thế

hệ chứ không chỉ là nỗi niềm của riêng các nhà Thơ mới; thế hệ ấy đã tự tìmmình, tìm về với dân tộc “Đi tìm và đã gặp, đã thấy, đã có Và rõ ràng làchuyện tâm tình, chuyện tâm tởng, chuyện vận mệnh của tâm hồn, chuyện tiếntriển của sắc thái, chuyện khẳng định của bản lĩnh, bản lĩnh của mỗi nhà thơnằm trong bản lĩnh chung của dân tộc” [5 - 8]

Trang 16

Cuối năm 1941, Hoài Thanh nhận xét: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thơ caViệt Nam cha bao giờ có một thời đại phong phú nh thời đại này Cha bao giờngời ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở nh Thế Lữ, mơ màng

nh Lu Trọng L, hùng tráng nh Huy Thông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp,

ảo nảo nh Huy Cận, quê mùa nh Nguyễn Bính, kì dị nh Chế Lan Viên và thiếttha rạo rực băn khoăn nh Xuân Diệu”.[2 - 29] Thơ mới rất giàu tính dân tộc nh-

ng nó đợc biểu hiện một cách tế nhị, kín đáo Mặc dù Thơ mới chịu ảnh hởngtrực tiếp của thơ Pháp và thơ ca phơng Tây nhng Thơ mới vẫn không xa rời tínhdân tộc và truyền thống Một biểu hiện rõ rệt của tinh thần dân tộc trong Thơmới là lòng yêu thơng tiếng Việt Trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phongkiến, bao nhiêu ngời Việt đua nhau học tiếng Tây, viết tiếng Tây để chạy theocái lợi thực dụng “sáng rợu sâm banh tối sữa bò” Tiếng Tây trở thành một cáimốt thời thợng, tiếng Việt bấy giờ bị khinh rẻ, miệt thị Nhng các nhà Thơ mới

đã bảo vệ tiếng Việt, làm giàu cho tiếng Việt “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trongmấy mơi thế hệ đã chia sẻ vui buồn với cha ông Họ dồn tình yêu quê hơngtrong tình yêu tiếng Việt”.(Hoài Thanh - tạp chí văn học số 1 - 1965) Ngày 4

2 1945, trong buổi nói chuyện với sinh viên đại học, Xuân Diệu hô hào: “Sinhviên phải có lòng yêu thơng quốc văn”

Thơ mới Việt Nam đã hoà nhập vào luồng thơ hiện đại của thế giới, luồngthời đại chung của loài ngời nhng vẫn giữ đợc cốt cách Việt Nam Cốt cách ấy,bản sắc ấy không chỉ biểu hiện trong ngôn từ, trong thể loại thơ mà trớc hết làbiểu hiện lối cảm xúc, trong điệu tâm hồn mang rõ dấu ấn Việt Nam “Đi sâuvào tâm hồn ta với cả những làn sóng ngầm, chúnh ta sẽ gặp lại hồn thơ dân tộc,

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núiVới khi thét khúc trờng ca dữ dội

Ta bớc chân lên dõng dạc đờng hoàng

Trong thơ Huy Thông ta bắt gặp những giấc mộng anh hùng trong lịch sử.Nhà thơ ca ngợi Kinh Kha, Hạng Vũ trong hoàn cảnh thời kì thoái trào cách

Trang 17

mạng đã làm nhen nhóm lên ít nhiều ngọn lửa trong những tâm hồn đã nguộilạnh vì sợ hãi, nhu nhợc của một bộ phận dân chúng.

Chế Lan Viên lại muốn mợn chuyện dân tộc Chiêm Thành để thổ lộ nỗi

đau thầm kín của ngời dân Việt Nam mất nớc Thi sĩ hình dung lại một thời xa

xa rực rỡ huy hoàng lúc dân tộc Chiêm Thành còn độc lập:

Đây những cảnh thái bình trong Chiêm quốc

Những cô thôn vành nhuộm nắng chiều tơi

(Trên đờng về)

Các nhà Thơ mới giàu lòng yêu nớc, yêu quê hơng, đất nớc Việt Nam Đấtnớc và con ngời đợc phản ánh tái hiện trong thơ với một cách đậm đà, đằmthắm Quê hơng là máu thịt của hồn thơ trong các bài thơ từ “Con đờng nhỏ nhỏgió xiêu xiêu” Xuân Diệu đến “Quê hơng” Tế Hanh, đến “Chùa hơng” NguyễnNhợc Pháp, “Bức tranh quê” Anh Thơ…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Đặc biệt là thơ Nguyễn Bính - một nhàthơ dân tộc thuần tuý đã cho ta thấy đợc tâm hồn mộc mạc, bình dị của ngờiViệt Nam:

Em ơi em ở lại nhà

Vờn dâu em đốn, mẹ già em thơng

Mẹ già một nắng hai sơngChị đi một bớc trăm đờng xót xa

(Lỡ bớc sang ngang)

Ngay cả Xuân Diệu, một nhà thơ đợc đánh giá là hiện đại nhất, “Tây” nhấtthì thơ Xuân Diệu cũng thể hiện tính dân tộc Xuân Diệu, Huy Cận, NguyễnNhợc Pháp, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhcàng viết càng đắm chìm với lối nghĩdân tộc Và những bài thơ chịu ảnh hởng với thử thách thời gian, hoàn hão cả về

ý tởng lẫn hình thức, chính là cái hồn Việt” [5 - 39]

Trang 18

Chơng II: Tính dân tộc trong văn học

từ quan niệm của Xuân Diệu.

I Văn học dân tộc Việt phải có Tính dân tộc “ ”

Xuân Diệu không chỉ là một nhà thơ tài hoa mà còn là một nhà phê bình

đầy tâm huyết đối với sự phát triển của văn học nớc nhà Vấn đề tính dân tộctrong văn học là một vấn đề đợc Xuân Diệu quan tâm Ngày 28.1.1939, tờ

“Ngày nay”(số 46) đã giới thiệu một tiểu luận của Xuân Diệu bàn về tính dântộc trong văn chơng một cách trực tiếp Tiêu đề của tiểu luận này là: “Tính cách

An Nam trong văn chơng”

Bàn về “Tính cách An Nam trong văn chơng”,là một vấn đề đặt ra bứcthiết cho văn học Việt Nam khi nó bắt đầu tiếp xúc với văn hoá ngoại nhập từphơng Tây “Phơng Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong tâm hồn ta Takhông thể vui với cái vui ngày trớc, buồn với cái buồn ngày trớc, yêu, ghét, giậnhờn nhất nhất nh ngày trớc”[2 - 27]

Luồng gió văn hoá phơng Tây đã thổi vào Việt Nam mang theo một giá trịvăn hoá tinh thần khác văn hoá phơng Đông, cụ thể có những điều trái ngợc vớivăn hoá truyền thống: “Các cụ ta a màu đỏ choét, ta lại a những màu xanh nhạt.Các cụ bâng khuâng vì một tiếng trùng trong đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gàlúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ các cụ coi nh đã làm một diềutội lỗi; ta thì ta cho là mát mẻ nh đứng trớc một cánh đồng xanh Cái ái tình củacác cụ thì chỉ là sự hôn nhân nhng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tìnhsay đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Cái tình tronggiây phút, cái tình ngàn thu”[2 - 17]

Có thể thấy rằng không học tập phơng Tây thì nền văn học nớc ta sẽ khônghiện đại hoá đợc nhng đi theo phơng Tây thì vẫn có khả năng Tây hoá văn họcViệt Nam Và nếu nhiễm hoàn toàn văn hoá phơng Tây thì văn hoá Việt Nam sẽ

đi về đâu? Mất văn hoá thì coi nh mất dân tộc bởi vì văn hoá là sào huyệt cuốicùng của dân tộc là “cao điểm cuối cùng” mà một dân tộc dựa vào để tìm lạinhững gì đã mất

Trong thực tiễn sáng tác, nhiều nhà văn dị ứng với các giá trị văn hoá

ph-ơng Tây ngoại nhập thì họ trở thành nhà văn không theo kịp thời đại về nghệthuật (thơ văn Phan Bội Châu, thơ văn Huỳnh Thúc Kháng ở giai đoạn cuối

đời) Nhng có trờng hợp vì quá lệ thuộc vào phơng Tây nên đã biến văn họcViệt Nam thành văn học phơng Tây chẳng hạn nh làm thơ Đờng mà viết bằngtiếng Pháp Tuy vậy hầu hết các nhà văn Việt Nam đã ý thức đợc việc lựa chọnvăn học phơng Tây nhằm đổi mới, hiện đại hoá văn học dân tộc Mặt khác trongkhi làm việc đó họ luôn ý thức rằng nếu phát huy bản sắc văn hoá dân tộc thì sẽ

Trang 19

không có một nền văn học Việt Nam hiện đại nữa Do đó trong quá trình sángtác có nhiều nhà thơ đã trở về với chất liệu và văn hoá Việt Nam về đề tài, cảmxúc và cách thể hiện Việt Nam Chẳng hạn nh hồn thơ Nguyễn Bính và hồn thơNguyễn Nhợc Pháp đều mang âm hởng thơ dân gian dân tộc.

Còn đối với Xuân Diệu một nhà thơ đợc xem là Tây nhất trong các nhàThơ mới thì Xuân Diệu vẫn luôn luôn bảo vệ “Tính cách An Nam trong văn ch-

ơng”, bên cạnh nhiều bài phê bình đề cao bản sắc văn hoá dân tộc của Phan KếBính, Phạm Quỳnh, Hoài Thanh, Thạch Lam, Lan Khai…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhTrong bài báo nàyXuân Diệu đã viết theo tinh thần tranh luận chống lại xu hớng Tây hoá văn họcViệt Nam Ngay khi mở đầu Xuân Diệu đã khẳng định: “Văng vẳng đâu đây,tôi đợc nghe nh ngời ta bảo: văn chơng An Nam phải có tính cách An Nam.Thật là chí lí; thật là một điều dĩ nhiên quá Chẳng lẽ viết văn An Nam lại hoá

ra viết văn Tây”[3 - 149] Xuân Diệu đã đặt ra yêu cầu bảo vệ và phát huytruyền thống dân tộc trong văn học Ông đã khẳng định: “Dù có ân oán đi nữa,cái đặc biệt của nòi giống vẫn còn ở trong máu, trong từng thớ thịt, từng miếng

da Văn chơng Việt Nam cũng vậy Khi khẳng định nh thế, Xuân Diệu đã đồngthời bộc lộ tình cảm yêu mến và trân trọng cội nguồn, bản sắc dân tộc Đó lànhững điều đã ăn sâu vào mỗi ngời dân Việt Nam nên dù năm tháng có qua đi,trải qua bao thăng trầm của lịch sử thì bản chất của con ngời Việt Nam vẫnkhông thay đổi và không thể hoà lẫn vào các dân tộc khác Trong lịch sử các thếlực phong kiến phơng Bắc, đã quyết tâm đồng hoá dân tộc Việt Nam nhngkhông thành công Thành trì văn hoá Việt Nam vẫn vững vàng qua những thửthách của mọi thời đại nh non sông đất nớc ta

ở bài viết này Xuân Diệu đã cho rằng: “Phải, văn mỗi nớc có một tinhthần, khó có thể diễn tả cho rõ đợc; ta phải có một thứ xúc cảm riêng để cảmnghe cho đợc tinh thần ấy”.[3 - 148] Cái tinh thần mà Xuân Diệu nhắc đến ở

đây chính là bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam “Đọc sáng tác của một dântộc ta nh sống cuộc sống của dân tộc đó với những đặc điểm của một thế giớiriêng”.[7 - 149] Đến với mỗi tác phẩm văn học Việt Nam ta nh ngập tràn trongphong cảnh làng quê, cây cỏ, hoa trái, đồng ruộng, phong tục Việt Nam vớinhững hội hè, hát phờng vải, tục mời trầu, nớc lụt đồng chiêm, cánh cò bay lả

ánh nắng chói chang…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Đó là những hình ảnh của quê hơng mà mỗi ngời dânViệt Nam đều ghi nhớ trong kí ức của mình

Trong thơ Việt Nam, có thể nói rằng, cha có một nhà thơ nào yêu mếnthắm thiết và có những vần thơ đẹp đẽ, tinh vi, sâu sắc về đất nớc, thiên nhiêncho bằng Nguyễn Trãi Chúng ta thấy có rau muống, dọc mùng, đậu, kê, khoai,

Trang 20

mùng tơi, núc nác, củ ấu, cây sen…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhtừ năm sáu trăm năm về trớc gửi đến chochúng ta ngày nay:

- Ngày tháng kê khoai những sản hằng Tờng đào ngõ mận ngại thung thăng

- Ao quan thả gửi hai bè muống Đất bụt ơm nhờ một luống mùng

Nhà văn Lan Khai khi viết về “Tính cách Việt Nam” trong văn chơng (Tạpchí tao đàn số 4 - 1939) cũng có quan điểm giống với Xuân Diệu: “Mỗi dân tộc

có một tinh thần riêng Sự thực này là một cái gì rất đáng trân trọng Nó làmcho nhân loại có một vẻ của bức thảm trăm năm Không ai nhẫn tâm phá bứcthảm quý giá ấy hoặc làm cho nó trở nên lèm nhèm, đen không hẳn đen, vàngkhông thảm vàng, mà đỏ không thành đỏ.Trong địa hạt văn chơng mỗi ngờichúng ta cần phải giữ gìn và làm cho mỗi ngày một rạng rỡ cái tính riêng củamình Làm nh thế tức là làm giàu cho cái tính chung của cả giống ngời vậy”.Với quan niệm “nhiều khi xét mình không sáng suốt bằng ngời ngoài họ xétmình” nghĩa là để có cái nhìn khách quan hơn, Lan Khai đã dẫn lời của một văn

sĩ pháp nói về ngời Việt Nam: “Phần đông hay tất cả mọi ngời đều nhận thấy ởngời Việt Nam, đàn ông cũng nh đàn bà, một vẻ mặt bộc lộ, khôn ngoan và

đáng yêu, họ lại còn chất phác và hiếu khách, không thù hiềm lâu(…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh) yêu ngờiViệt Nam hơn nữa vì sự dịu dàng và dễ dải của phong tục, vì cảm tình bộc bạch,vì sự lịch thiệp” [3 - 181] Khi khẳng định “văn chơng An Nam phải có tínhcách An Nam” thì đồng thời với những lời văn dứt khoát mạnh mẽ, Xuân Diệu

đã chỉ ra rằng văn chơng Việt Nam phải hoàn toàn chối bỏ những cách viết laicăng, mất gốc: “Đời nào văn Việt Nam lại dung túng những lối văn sống sợng,một lối văn nô lệ cho văn Tàu hay văn Tây Trong văn chơng cũng có một luật

đào thải tự nhiên những cái phản với tinh thần quốc văn phải tiêu diệt” [3 149] Điều mà Xuân Diệu nói đã đợc chứng minh trong thự tế văn học ViệtNam Chẳng hạn nh dòng văn học chống cộng, văn học đồi truỵ ở miền Namkhông phù hợp với truyền thống văn hoá của ngời Việt Nam nên những tồn tạitrong một thời gian ngắn (1954 - 1975) rồi lụi tàn dần Xuân Diệu hoàn toàn cócơ sở để lạc quan tin tởng rằng: “…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Chúng ta không cần phải lo rằng văn chơngViệt Nam mắc cái bệnh “làm Tây”, “những cỏ dại không hợp với thuỷ thổ sẽchết ngay từ khi gieo giống” [3 - 149]

-Bên cạnh bài viết trực tiếp về “Tính cách An Nam”, trong văn học, XuânDiệu còn có những bài phê bình thơ của các nhà thơ nh Tản Đà, Huy Cận…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh

Trang 21

Trong các bài phê bình đó Xuân Diệu đã làm nổi bật tính dân tộc trong sángcủa các nhà thơ này Khi lấy dẫn chứng chứng minh cho luận điểm văn học dântộc Việt phải có “Tính dân tộc”, ta không thể không nhắc đến bài phê bình củaXuân Diệu: “Công của thi sĩ Tản Đà” (Ngày nay, số 166, ngày 17.6.1939) Thơvăn Tản Đà đã đợc Xuân Diệu nghiền ngẫm trong một thời gian khá dài: hailăm năm Sở dĩ nh vậy vì tìm hiểu thơ Tản Đà khó Xuân Diệu đã nói một cáchtổng hợp đầy đủ về tính dân tộc trong thơ Tản Đà: “Là ngời thi sĩ đầu tiên trongthơ Việt Nam hiện đại, là cái mầm thống nhất của thơ chân thành, Tản Đà còn

là một thi sĩ rất An Nam, có thể nói là hoàn toàn An Nam” [3 - 165]

Sau này, trong lời giới thiệu cuốn “Tuyển tập Tản Đà”, Xuân Diệu cũng đã

có những nhận xét thống nhất về tính dân tộc trong thơ Tản Đà: “Cái hiện tợngbản lĩnh của Tản Đà là một hiện tợng hoàn chỉnh, nếu biết nhìn biết nhận thì rấthay, góp phần giúp chúng ta hiểu lịch sử tâm hồn của một thời đại của dân tộc”[14 - 23] Thơ Tản Đà “là những hoa quả đầu mùa của chủ nghĩa lãng mạn, cóthể nói hồn thì nhẹ mà tim thì nặng” [11 - 24] Nói nh thế là Xuân Diệu đãkhẳng định vai trò tiên phong của Tản Đà đối với văn lãng mạn ở nớc ta

Tính dân tộc trong thơ Tản Đà thể hiện ở: “Những vần thơ nhẹ nhàng phấtqua nh gió, những câu ca có duyên, những đoạn phong giao mộc mạc, thi sỹTản Đà làm rất thuần thục rất trong trẻo nh hơi thở tự nhiên của phong cảnhViệt Nam Ông có một giọng thơ trôi chảy, dễ dành lẫn với những mặn mà ýnhị Cách hài hớc của ông vừa bóng bẩy, vừa ngộ nghĩnh, điểm một thứ hómhỉnh nhè nhẹ, đặc biệt là rất An Nam” [3 - 165] Nhà thơ Tản Đà rất thích chơichữ:

Xuống thuyền chân dẫm nhịp ba

Trách cô hàng trứng ở ra hai lòng

Tản Đà cũng rất thích trào lộng Ông đã ghẹo chị hàng cau:

Ai đang độ ấy lăm răm mắt

Tớ đã ngày nay lún phún râu

Sự gẹo gái này là một chuyện bình thờng của các thế hệ thanh niên ViệtNam ở đây Tản Đà nói lối bình dân, rất nôm na và cụ thể nhng cũng khôngkém phần sinh động Khi tìm hiểu thơ Tản Đà, Xuân Diệu rất chú ý đến tính

“ngông” của Tản Đà “Say, ngông, mộng, ba điểm ấy làm cho thơ ông nhẹnhàng phóng khoáng”.[3 -165] Tản Đà đã nhận mình có tính ngông:

Thiên tào tra sổ xét vừa xong

Đệ sổ lên trình thợng đế trông:

“Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu

Trang 22

Đày xuống hạ giới vì tội ngông”.

“Cả ba mĩ nhân với mình đều là dân vong quốc cả”

Lạnh lẽo hơi sơng toà tạp chí

Lệ ai giàn giụa với giang san

Dân hai trăm triệu ai ngời lớn?

Đã bốn nghìn năm vẫn trẻ con

Trong bài thơ “Thề non nớc” qua hai hình ảnh “non”, “nớc”, Tản Đà cũng

đã bộc lộ tình yêu quê hơng đất nớc của mình:

Nớc kia dù hãy con đi

Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui

Nghìn năm giao ớc kết đôi

Non non nớc không nguôi lời thề

Tìm hiểu thơ Tản Đà Xuân Diệu cũng rất chú ý đến hình thức câu thơ

Đây cũng là một đặc điểm chứng tỏ rằng thơ Tản Đà rất giầu tính dân tộc nhnhận xét của Xuân Diệu “Thơ Tản Đà thực là thơ An Nam, cả những bài thấtngôn luật Đờng của ông, ông cũng không chút gì gò gẫm khó khăn nh thơ củacác cụ nhà nho thuở trớc Thi sĩ Tản Đà biết tiếng An Nam cũng đã tờng tận,mới viết đợc những khúc thơ thuần thục nh những lời ca của dân gian” [3 -166] Ngòi bút Tản Đà có thể viết đợc nhiều thể loại văn học dân tộc nh: từkhúc, ca dao, ca huế, hát xẩm, hát chèo tuồng, văn tứ lục, văn tế…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Xuân Diệu

đánh giá: “Bài trờng thiên toàn bích từ đầu đến cuối là “thăm mả cũ bên đờng”,nhạc điệu thơ cổ thể đợc nhà thơ khai thác cái phóng túng của nó cho câu thơtheo từng hạng ngời, từng số phận mà thôi” [11 - 46]

Suối vàng sâu thẳm biết là ai?

Mả cũ không ai kẻ đoái hoài Trải bao ngày tháng trơ trơ đó

Ma dầu nắng dải trăng mờ soi

Trang 23

Xuân diệu một lần nữa đã khẳng định tài năng cũng nh công lao của thi sĩTản Đà: “Thơ Tản Đà thực là thơ An Nam, cả đến những bài thất ngôn luật Đ-ờng của ông cũng không chút gì gò gẫm khó khăn nh thơ của các cụ nhà nhothuở trớc Thi sĩ Tản Đà biết tiếng An Nam cũng đã tờng tận mới biết đợcnhững khúc thơ thuần thục nh những lời ca của dân gian” [3 - 166].

Một nhà Thơ mới rất đợc Xuân Diệu quan tâm trân trọng nữa là Huy Cận.Xuân Diệu đã có bài viết “Thơ Huy Cận” đăng trên báo Ngày nay (số 151, ngày4.3.1939) Ngoài tình thiết thân đặc biệt với Huy Cận, Xuân Diệu viết bài nàycòn để giới thiệu một tác giả xuất sắc của phong trào Thơ mới Bởi lẽ ông hiểunhiệm vụ của nhà phê bình đối với các hiện tợng văn học đơng thời nên ôngviết: “Bổn phận của chúng ta đối văn chơng Việt Nam, chẳng phải là ráng thấuhiểu để yêu mến những văn tài mới lên hay sao?” [3 - 155]

Trong phê bình này Xuân Diệu đã tập trung phát hiện những biểu hiện mới

mẻ và góp phần khẳng định nét độc đáo của nhà thơ trong vờn Thơ mới đathanh sắc và giọng điệu Nhng bên cạnh đó, Xuân Diệu cũng làm nổi bật đợctính dân tộc trong thơ Huy Cận Xuân Diệu đã nhận thấy một đặc tính của thơHuy Cận: “Ông chỉ nói lòng ngời của ông, hồn ngời của ông và thơ ông càng

đẹp càng xinh khi chứa đầy hơng vị của đời của sự sống”.[3 -155] Thơ HuyCận đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng văn học dân tộc Việt phải có “Tínhcách an Nam” nh lời của Xuân Diệu đã khẳng định

Chúng ta biết đến Hàn Mặc Tử với hồn thơ rộng “không bờ bến, càng đi xacàng ớn lạnh”, đến Chế Lan Viên với “nỗi đau thơng vô lý mà da diết”, đếnNguyễn Bính với “bản chất nhà quê” trong những vần thơ đẹp, mộc mạc, kín

đáo Giờ đây chúng ta biết thêm một phát hiện mới về thơ Huy Cận: “Thơ ôngphơi bày một cái gì thầm kín, rạo rực; thơ ông không phải là rợu đã rót vàochén, thơ ông là men đơng lên, thơ ông không phải là hoa sẵn trên cành, thơ

ông là một dòng nhựa đơng chuyển”.[3 - 156] ý Xuân Diệu muốn nói nhữngvần thơ Huy Cận cứ lặng lẽ bên ngoài mà rất xao động ở bên trong

Thế giới trong thơ Huy Cận là một thế giới với nỗi buồn thơng man mác,những tình ý, thầm kín mà nồng nàn, dè dặt, kì thực hay liếc trộm và rất a viếtthơ tình”.[3 - 159] Xuân Diệu đã nhìn thấy nỗi niềm hoài cổ trong thơ HuyCận: “Với những câu thơ cổ kính, phảng phất một kinh hồn Đờng thi, Huy Cậnthành thực nhớ và ngớ ngẩn yêu những cái vu vơ mù mịt,ông gọi cảnh cũ,không biết cảnh tàu hay an Nam, chí ấy xa rất xa, thấy vắng lặng; đó là cáibuồn mênh mông của thời gian”.[3 - 159]

Buồn gieo theo gió bên hồ

Trang 24

Đèo cao quán chật, bến đò lau tha

Đồn xa quằn qoại bóng cờPhất phơ buồn tự, thời xa thổi về

(Chiều xa)

Huy Cận gồm lại bao nhiêu ảo não, cô đơn và bao nhiêu bâng khuâng,

th-ơng nhớ trong những câu thơ rung động:

Cô hồn vạn thửa buồn đơn chiếc

Có lẽ đêm nay cũng ngủ nhờ

(Ngủ chung)

Thổi lạc hớng rừng cơn gió đếnBâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

(Nhớ hờ)

Bài thơ “Tràng giang” tả cảnh và tình trong đó đều thể hiện tính dân tộcViệt Nam rất rõ “Tràng giang” đa chúng ta vào một không gian mênh mông,vắng lặng không một bóng ngời hiện diện Dòng sông không gầm réo dữ dội

mà lặng lẽ chảy từ bao đời nay:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpCon thuyền xuôi mái nớc song song

Không gian trở nên rợn ngập khi Huy Cận cho xuất hiện giữa dòng Trànggiang dài rộng, hai sự vật bé nhỏ: một con thuyền lênh đênh cô độc và một cànhcủi khô trôi nổi theo dòng Nếu hình ảnh con thuyền ít nhiều còn mang tính ớc

lệ của thơ cổ điển thì hình ảnh một cành củi khô lại là một chất liệu mới lạ củaThơ mới Điều đó làm cho thơ Huy Cận vừa hiện đại lại vừa mang sắc thái cổ

điển

Trong cái mênh mông vô cùng của không gian, cái tôi trữ tình của nhà thơlại chỉ nh một “chiếc linh hồn nhỏ” bơ vơ cô đơn giữa vũ trụ bao la Xuân Diệunói: “Huy Cận đã đứng trên cái đài thiên văn chót vót của linh hồn mà nhìn racõi bát ngát, mà lây cái sầu vũ trụ, mà lắng nghe cái xa vắng mênh mông của

đất trời quanh mình” Lòng yêu quê hơng đất nớc đợc Huy Cận bộc lộ rõ nhấttrong hai câu thơ:

Lòng quê dờn dợn vời con nớcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Tình yêu quê hơng đất nớc là điểm níu giữ, là nơi neo đậu của mọi cuộcphiêu liêu trong cảm xúc của các nhà Thơ mới Đúng nh vậy, Xuân Diệu nói:

“Tràng giang là bài thơ ca hát với non sông đất nớc để dọn đờng cho tình yêugiang san Tổ quốc”

Trang 25

Quả thật khi viết những dòng phê bình này Xuân Diệu nh đã sống cùngtâm trạng của Huy Cận, nh đã nhập tâm hồn mình vào những câu thơ của HuyCận Hai ngời đã gặp nhau ở hồn dân tộc trong cảnh thơ, ý thơ, tình thơ…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Bởivậy, họ đã có một sự đồng điệu trong tâm hồn Có thể nói Xuân Diệu đã viếtphê bình bằng tấm lòng, bằng sự cảm nhận chân thành và sống động của mình.Sau cách mạng Xuân Diệu cũng có bài phê bình về các nhà thơ cổ điểnViệt Nam nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hơng…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nhXuân Diệu đã khẳng định tài năng và nhân cách của Nguyễn Trãi qua lời bìnhsúc tích: “Nguyễn Trãi là nhà thơ hùng vĩ và là nhà thơ nhân tình, nghĩa là mộtnhà thơ toàn vẹn”.[6 - 77]

Còn Nguyễn Khuyến thì ông gọi là: “Nhà thơ của quê hơng làng cảnh ViệtNam” Tính dân tộc trong thơ Hồ Xuân Hơng thể hiện ở chất liệu và ngôn ngữthơ dân giã, gần gũi Nh vậy, ngay cả sau cách mạng, khi viết phê bình thơ,Xuân Diệu cũng quan tâm đến “Tính cách an Nam” trong thơ Điều đó đãchứng tỏ quan niệm của Xuân Diệu trớc và sau cách mạng về tính dân tộc lànhất quán Quan niệm của Xuân Diệu trớc cách mạng không hề lạc hậu mà conlàm cơ sở cho quan niệm của ông sau cách mạng

Tóm lại, điểm qua một số bài phê bình của Xuân Diệu về các nhà thơ ViệtNam ta thấy rằng: vấn đề đợc Xuân Diệu rất quan tâm là tính dân tộc trong thơ

Điều đó thể hiện tấm lòng của ông với truyền thống văn hoá của dân tộc ViệtNam Bên cạnh việc khuyến khích văn nghệ sĩ phải bảo vệ, phát huy truyềnthống văn hoá dân tộc Xuân Diệu cũng bộc lộ một quan điểm cởi mở, năng

động về tính dân tộc trong văn học

II Tính dân tộc trong văn học không phải là một hiện tợng đứng yên, bất biến mà là một hiện tợng lịch sử có phát triển biến đổi.

Văn học dân tộc chỉ có thể phát triển đợc lành mạnh, đậm đà bản sắc riêngtrên cơ sở kế thừa các truyền thống của nó Bởi vì truyền thống giữ gìn các t t-ởng thẩm mĩ, kinh nghiệm nghệ thuật của cha ông khêu gợi cảm hứng sáng tạocho đời sau Ông Phạm Văn Đồng đã nói: “Truyền thống là vốn quý báu vôcùng, di sản của biết bao thế hệ, bông hoa thơm nhất của dân tộc…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Muốn viếtvăn mà không học tập vốn văn nghệ của dân tộc thì làm sao đợc?” Nhng kếthừa truyền thống dân tộc có phải là “phục cổ”, tự giam hãm mình vào quá khứ,làm nô lệ của truyền thống hay không?”

Trong bài viết “Tính cách an Nam trong văn chơng”, Xuân Diệu đã bộc lộquan niệm đúng đắn của mình đó là giữ gìn “tính cách an Nam” không có nghĩa

là đóng cửa tâm hồn với những gì đã có Nó khác với giữ bờ cõi bằng cách đóng

Trang 26

cửa biển, bế quan toả cảng “Giữ gìn không phải quẩn quanh trong vũng ao tù,không phải là đành tâm mến yêu một cách đói nghèo”.[3 - 149] Đã từng cóquan niệm cho rằng các thuộc tính của văn học càng cổ xa thì càng đậm đà dântộc Theo Xuân Diệu thì không nên giữ một quan niệm bảo thủ nh thế bởi vì

“tiếng an Nam cũng nh một khí cụ ta biết khéo dùng cái khí cụ ấy, dùng cẩnthận thì thôi, hà tất phải đi tìm một cái cổ hủ nào rất vu vơ, mờ mịt”.[3 - 149]

Nh vậy có nghĩa là kế thừa phải có thái độ gạn đục hơi trong, dũng cảm loại bỏcác yếu tố lạc hậu

Xuân Diệu cho rằng phải mở rộng quan hệ tiếp xúc, học tập bên ngoài màtrớc hết là phơng Tây để bồi bổ “Tính dân tộc” Có nh vậy ta mới tiến kịp vớithời đại, cho sáng tác của ta ngày càng tinh vi, kĩ lỡng, khoa học hơn trong việckhám phá thế giới bí ẩn của con ngời vũ trụ Vấn đề này cũng đợc Xuân Diệukhẳng định một lần nữa trong bài báo “Mở rộng văn chơng” (Ngày nay, số 148,ngày 4.2.1938) “…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh Văn ta là văn Việt Nam; còn chữ ta tha hồ dùng theo nhữngcách mới lạ miễn là đúng nghĩa, còn ý tởng, ta có thể mở mang trí não ta, tìnhcảm ta làm cho con ngời của ta giàu thêm…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh”[3 - 151]

Với những lời lẽ hùng hồn, khúc chiết, Xuân Diệu đã cổ vũ và ủng hộ choviệc tiếp thu tinh hoa văn hoá phơng Tây trên nhiều mặt, đăc biệt là trong vănhọc Việc tiếp thu ảnh hởng không phải là “mắc bệnh Tây” Bêlinxki đã nói:

“Mỗi dân tộc này mợn ở dân tộc khác đặc biệt nhất là những cái xa lạ với dântộc mình và đồng thời trao lại cho các dân tộc khác cái tạo nên sở hữu chungnhất trong đời sống lịch sử của nó, và là cái xa lạ đối với đời sống lịch sử củacác dân tộc khác” Hơn nữa theo Xuân Diệu ngời phơng Tây cũng là ngời Tấtcả mọi ngời đều sống trên trái đất, trong một bầu khí quyển, dới một bầu trờisao, một ánh mặt trời Họ đều chịu sự tác động của các quy luật chung của tựnhiên và xã hội Bởi vậy họ có một số đặc điểm, phẩm chất giống nhau nh: yêu

tự do, yêu hoà bình, dũng cảm, bất khuất, lòng nhân ái, khát vọng tình yêu, khátvọng vơn tới những giá trị văn hoá cao đẹp…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh “trừ những điều riêng Tây quá,chứ cái “kho”, cái “đáy”, cái “vốn” của con ngời ở đâu đâu cũng giống nhau”.[3

- 149]

Chính vì vậy cái thái độ đóng cửa, bảo thủ, từ chối học tập nớc ngoài nhất

là tiếp thu cái khác lạ, là vô cùng có hại cho sự phát triển của văn học dân tộc.Xuân Diệu cũng cho rằng phải sử dụng tiếng Việt nhng ngày càng phảichọn lọc một cách tinh xảo, cần phải bổ sung cho tiếng Việt nhiều cách thể hiệnphong phú, hiện đại hơn, kể cả việc học cách thể hiện của ngôn ngữ phơng Tây

“Miễn là ta dùng tiếng an Nam và dùng đúng, tức là ta viết tiếng an Nam (…Dòng thơ trở về với bản sắc dân tộc Việt Nam thuần tuý nh)

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w