1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính chất tập quyền chuyên chế của nhà nước đại việt thời lê sơ (1428 1527)

76 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính chất tập quyền chuyên chế của nhà nước Đại Việt thời Lê sơ (1428 - 1527)
Tác giả Nguyễn Thành Lương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 221 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình giải phóng dân tộc của khởi nghĩa đến đâu thì Lê Lợi đã thiết lập ngay chính quyền của mình ở đó để thay thế chính quyền đô hộcủa nhà Minh và cũng kịp thời khẳng định vị thế củ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học vinh

Trang 2

Tính chất tập quyền chuyên chế

của nhà nớc Đại Việt thời Lê sơ

ơng 1 : Tình hình đất nớc sau kháng chiến chống

1.1 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và quá trình lập nớc của Lê Lợi 09 1.2 Những thuận lợi và khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội sau khi kháng chiến chống Minh thắng lợi 30

1.2.2.1 Khó khăn về kinh tế 31 1.2.2.2 Khó khăn về chính trị 32 1.2.2.3 Khó khăn về văn hoá - xã hội 33

Trang 3

1.3 Yêu cầu cấp thiết đặt ra cho ngời đứng đầu nhà nớc 35

1.3.1 Tính chất phân quyền trong bộ máy nhà nớc trớc Lê sơ 351.3.2 Sự cần thiết phải xây dựng bộ máy trung ơng tập quyền 37

2.2.1.5 Hoàng môn sảnh 47

2.2.2 Các cơ quan trực tiếp giúp Vua điều hành đất nớc 49

2.2.2.1 Những nét chung về lục Bộ và lục Tự 50 2.2.2.2 Cách thức tổ chức, chức năng nhiệm vụ các Bộ 51

Trang 4

2.2.4 Các cơ quan giám sát 61

Ch

ơng 3 : Vai trò của tính chất trung ơng tập quyền

đối với nhà nớc Đại Việt 69

.1 Đối với việc xác lập quyền thống trị tuyệt đối của nhà Lê 69 3.2 Xây dựng một đất nớc quy cũ có hệ thống, tạo nên sức mạnh của đất

Trang 5

Từ trớc tới nay, khi nghiên cứu về lịch sử dân tộc, các nhà nghiên cứu

đã mô tả lại lịch sử trên nhiều lĩnh vực đời sống chính trị - kinh tế - vănhoá, giáo dục … nh nhng phần nhiều để tâm tới lịch sử chiến tranh giành vàgiữ độc lập (lịch sử quân sự) Mặc dù, chính trị cũng là một trong nhữnglĩnh vực đợc chú ý, đề cập nhiều nhng chỉ dừng ở việc khái quát quá trìnhkhởi nghiệp, hng thịnh, suy vong của các nhà nớc (trong lịch sử quân chủmỗi nhà nớc gắn với một dòng họ), chứ cha mô tả bộ máy hành chính củacác nhà nớc một cách cụ thể, chi tiết

Bởi vậy, khi muốn xét một quốc gia dới một triều đại nào về phơngdiện kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội… nhta không thể không xét trớc tiên

đến sự tổ chức chính quyền trung ơng của mỗi triều đại Bởi lẽ đó, sự khảocứu tổ chức chính quyền trung ơng của tất cả các thời đại trong lịch sử ViệtNam từ lập quốc tới nay là một vấn đề quan trọng

Quá trình lập nớc từ xa tới nay, bất kể một dòng họ, tập đoàn thốngtrị hay ngay cả nền chuyên chính vô sản thì điều đầu tiên đặt ra là việc xâydựng bộ máy hành chính từ trung ơng đến địa phơng Hơn nữa, đối với bộmáy nhà nớc đại diện cho xã hội bóc lột thì càng chú trọng trong việc xâydựng bộ máy hành chính, củng cố và tăng cờng quyền lực Trong các triều

đại phong kiến xa ở nớc ta có những triều đại thịnh trị và nền hành chính

đ-ợc tổ chức chặt chẽ, đặc biệt trong số đó là nhà nớc Lê sơ (thế kỷ XV)

Mặt khác, hiện nay chúng ta đang rút kinh nghiệm để xây dựng nềnhành chính mới, việc khảo sát lại nền hành chính thời trớc cũng rất quantrọng và bổ ích Khai thác những giá trị tốt đẹp, nhận rõ những hạn chế đểvận dụng vào công cuộc cải cách hành chính đất nớc

Chọn thời Lê sơ là vì: Mặc dù thời Lê sơ (1428 - 1527) chỉ tồn tạingắn ngủi một thế kỷ nhng đợc giới sử học nớc ta coi là thời thịnh trị, trong

đó “văn trị và võ công ở nớc Nam ta không có đời nào thịnh hơn” (TrầnTrọng Kim) Công cuộc cải cách nền hành chính đất nớc, tập trung quyềnlực cao độ về tay Vua đã đợc các ông Vua nhà Lê luôn để tâm củng cố,tăng cờng Đặc biệt, trong lịch sử thời phong kiến, nổi lên trên hết những g-

ơng mặt u tú trong việc cải cách nền hành chính đất nớc là Lê T Thành(1442 -1497), tức Lê Thánh Tông (1460 - 1497)

Trang 6

Cho đến nay, đã hơn năm thế kỷ trôi qua nhng hình ảnh về một nhà

Lê cờng thịnh vẫn là niềm tự hào cho sự phát triển của đất nớc Đây cũng làthời kỳ mà sử liệu còn đợc ít nhiều nên có cơ sở cho quá trình nghiên cứu

Từ những lý do trên đây, tôi đã chọn đề tài: Tính chất tập quyền chuyên chế của nhà nớc Đại Việt thời Lê sơ với hy vọng sẽ góp phần làm

rõ hơn tính chất tập quyền chuyên chế của thời kỳ Lê sơ qua việc nghiêncứu tổ chức hành chính thời kỳ này

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về tính chất tập quyền chuyên chế của nhà nớc Lê sơ đã

có một số công trình, bài viết xoay quanh vấn đề, nhng hầu hết chỉ lớt qua,cha nghiên cứu kỹ lỡng Có thể dẫn ra một số tác phẩm, công trình nghiêncứu tiêu nh: “Lê Thánh Tông” của Chu Thiên có đề cập tới bộ máy hànhchính thời Lê sơ; “Tổ chức chính quyền trung ơng dới thời Lê Thánh Tông”của Lê Kim Ngân cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả lại bộ máy hành chính chứcha đề cập đến tính chất chuyên chế tập quyền Gần và sát với đề tài hơn cả

là nghiên cứu “Cơ sở xã hội quy định tính chất tập quyền chuyên chế củanhà nớc Đại Việt” của PGS Hoàng Văn Lân in tại kỷ yếu “Sử học - nhữngvấn đề khoa học lịch sử ngày nay”, Nhà xuất bản ĐH và THCN năm 1981.Cho đến nay, có thể khẳng định đề tài “tính chất tập quyền chuyên chế củanhà nớc Đại Việt thời Lê sơ” thì cha có công trình nghiên cứu cụ thể nào

3 Đối tợng và Phạm vi nghiên cứu

Đối tợng của đề tài là nghiên cứu tính chất tập quyền chuyên chế củanhà nớc Đại Việt thời Lê sơ Do đó, tất cả tài liệu công trình nghiên cứu vàcác tác phẩm kinh điển liên quan tới thời kỳ này đều là đối tợng nghiên cứutrực tiếp

Đề tài chỉ nghiên cứu cơ cấu tổ chức nền hành chính trung ơng (dânsự) của nhà nớc Đại Việt thời Lê sơ Qua đó, làm rõ tính chất tập quyềnchuyên chế của nhà nớc Lê sơ Những nội dung khác không nằm trongphạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Trang 7

Chế độ phong kiến Việt Nam phát triển đến hết thế kỷ XIV chuyểnsang thời kỳ mới mang tính chất tập quyền chuyên chế cao độ hơn thời Lý -Trần Có hai vấn đề lớn đợc đặt ra:

1 Tại sao có tình trạng đó ?

2 Tính chất tập quyền chuyên chế đã thể hiện trong bộ máyhành chính trung ơng (dân sự) nh thế nào ?

Đề tài tập trung hai vấn đề trên

Nhà nớc Đại Việt thời Lê sơ vốn dĩ đợc lập lại là nhờ chiến thắngquân Minh xâm lợc Rõ ràng hơn, là nhờ lật đổ đợc chính quyền nhà Minhthành lập năm 1406 trên đất nớc Đại Việt của nhà Trần - Hồ Sự lật đổ đókéo dài hơn 10 năm từ 1415 - 1427 Điều quan trọng là trong quá trình đó

đã hình thành nên một nhà nớc mới thuộc về nhà Lê Dòng họ này từng bớc

từ “dân thờng” tiến lên Hoàng đế và tập trung mọi quyền hành, trớc hếtnhằm thống nhất chỉ huy cuộc kháng chiến chống Minh và bảo vệ nhữngphần đã giữ đợc, nhằm quy tất cả về một mối, do đó chính quyền trớc hếtphải tập trung (không chấp nhận một thế lực nào khác cản trở cho việcthống nhất)

Đến năm 1427, Lê Lợi lên ngôi và tuyên bố thành lập quốc gia ĐạiViệt Vơng triều Lê sơ cũng chính thức ra đời, ngay từ đầu đã mang tínhchất tập quyền chuyên chế vốn dĩ đã đợc hình thành trong 10 năm khángchiến Nhng phải chờ một thời gian khá lâu nhà nớc thời Lê sơ mới địnhhình, mới có nội dung cụ thể

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích trên, đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ cơ bảnsau:

- Nghiên cứu tình hình đất nớc sau kháng chiến chống Minh từ đónêu bật nhu cầu cần thiết phải xây dựng một nhà nớc chuyên chế tập quyền

- Nghiên cứu cơ cấu tổ chức hành chính trung ơng, các cơ quan cótrách nhiệm giúp Vua giải quyết công việc của đất nớc Qua đó làm rõ tínhchất tập quyền ngay trong bộ máy hành chính trung ơng

Trang 8

- Từ quá trình nghiên cứu tính chất tập quyền của chính quyềntrung ơng làm rõ vai trò của nó trong việc củng cố vơng quyền và ổn định

đánh giá các sự kiện, nhân vật một cách hệ thống khách quan

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục, mục lục Nội dung đề tài gồm có 3 chơng :

Trang 9

nội dung

Ch ơng 1 : Quá trình xây dựng, củng cố quyền lực của Lê Lợi

từ năm 1417 đến năm 1428.

1.1 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và quá trình lập nớc của Lê Lợi.

Nh Bình Ngô đại cáo từng viết:

" Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nớc lòng dân oán hận

Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ

Bọn hung tàn còn bán nớc cầu vinh? "

Với chiêu bài "phò Trần diệt Hồ", tháng 11 năm 1406 quân Minh ồ

ạt tràn qua biên giới nớc ta Để tấn công Đại Việt quân Minh đã huy độngtới tám mơi vạn quân “Tháng 9, nhà Minh sai Chinh Di hữu Phó tớng quân

đeo ấn Chinh Di phó Tớng quân tân thành hầu Trơng Phụ, Tham tớngHuỳnh Dơng Bá Trần Húc, đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Phả Luỹ… nhChinh Di tả Phó tớng quân tây binh hầu Mộc Thạnh, Tham tớng hữu quân

đô đốc đồng tri Phong Thành Hầu Lý Bân cùng đem 40 vạn quân đánh vàocửa ải Phú Lệnh… nhHai đạo quân tổng cộng là 80 vạn” [14, 214]

Nhà Hồ mặc dù đã có sự chuẩn bị từ trớc, nhng do không nhận đợc

sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía nhân dân nên phần lớn những cuộc chống trảquân giặc do lực lợng quân triều đình là chính, điều này cũng là sự lo lắngbấy lâu của họ Hồ, Tả tớng quốc Hồ Nguyên Trừng nói : “Thần không sợ

đánh, chỉ sợ lòng dân không theo” Do sự “lẻ loi” của quân đội triều đình

tr-ớc sức mạnh hùng hậu của quân giặc, cuộc kháng chiến chống Minh củanhà Hồ nhanh chóng thất bại Đến giữa năm 1407, cha con Hồ Quý Ly bịbắt tại Kỳ Anh - Hà Tĩnh, Đại Việt sử ký toàn th có chép lại: “Tháng 5 ngàymồng 5, quân Minh đánh vào cửa biển Kỳ La, Châu Nhật Nam Nguyễn

Đại (Nguyễn Đại trớc thờ họ Hồ, sau phản lại họ Hồ, đầu hàng quân Minh,

đến đây dẫn ngời Minh sang xâm lợc)… nhNgày 11, quân Minh đánh vàoVĩnh Ninh… nhbắt đợc Hồ Quý Ly ở bãi Chỉ Chỉ ;… nhbắt đợc Tả tớng quốc

Trang 10

Trừng ở cửa biển Kỳ La Ngày 12, bắt đợc Hán Thơng và Thái tử Nhuế ởnúi Cao Vọng” [14,218].

Nh vậy, cuộc kháng chiến của nhà Hồ chống Minh hoàn toàn thấtbại, nguyên nhân thất bại chủ yếu là vì nhà Hồ không đợc lòng dân, không

đủ uy tín để huy động và tập hợp lực lợng kháng chiến của toàn dân Nhà

Hồ mới lên, đã thực hiện một loạt cải cách, về cơ bản cha đem lại kết quảcao nh mong muốn mà trái lại đã đụng chạm vào quyền lợi của tầng lớpquý tộc Nông nô và Nô tỳ không đợc giải phóng, đời sống của nông dânkhông đợc cải thiện nên các tầng lớp nhân dân lao động đều bất bình Nhà

Hồ lại vốn dĩ có nớc từ việc cớp ngôi nhà Trần (đại nghịch bất đạo) Do đó,cuộc kháng chiến không nhận đợc sự ủng hộ từ các tầng lớp nhân dân trongcả nớc

Việc nhân dân ta không ủng hộ nhà Hồ không đồng nghĩa với việcnhân dân không thấy rõ kẻ thù và đứng ngoài cuộc kháng chiến Từ khicuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, phong trào đấu tranh của nhân dânphát triển mạnh mẽ, không khi nào ngớt Cuộc khởi nghĩa này bị dập tắt,

đàn áp thì có cuộc khởi nghĩa khác bùng nổ Trong đó, nổi bật hơn cả củanhững cuộc khởi nghĩa trớc khởi nghĩa Lam Sơn là khởi nghĩa của TrầnNgỗi và Trần Quý Khoáng, đây là những đại diện cuối cùng của quý tộcTrần đứng lên quy tụ lòng dân chống Minh Mặc dù đều thất bại nhng cáccuộc khởi nghĩa ấy cũng đã chứng minh đợc lòng yêu nớc, căm thù giặc, ýchí chống giặc quật cờng của nhân dân ta, phát huy truyền thống “Đông a”không chịu khuất phục, bền bỉ chống giặc xâm lợc

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (phong trào khởi nghĩa chống Minh) đợchình thành, phát triển từ phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống Minhtrên đây Khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ từ vùng đất Lam Sơn (có tên nôm làlàng Cham) do Lê Lợi và 18 ngời trong hội thề Lũng Nhai dấy cờ khởinghiệp (18 ngời bao gồm :“ Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh,Trịnh Khả, Trơng Lôi, Lu Trung, Lê Liễn, Bùi Quốc Hng, Lê Hiểm, Võ Uy,Nguyễn Trãi, Lu Nhân Chú, Trịnh Võ, Phạm Cuông, Lê Lý, Đinh Lan, Tr-

ơng Chiến” [12,106])

Khi nghiên cứu về Lê Lợi, các tài liệu đều thống nhất: Lê Lợi là Hàotrởng đất Khả Lam (Lam Sơn) thuộc “giai tầng xã hội mới (địa chủ bìnhdân)” Lê Lợi sinh ngày 6/8/Năm ất Sửu (10/9/1385) tại làng Chủ Sơn,

Trang 11

huyện Lôi Dơng Từ nhỏ Lê Lợi đã tỏ rõ khí chất: “Vua sinh ra thiên t tuấn

tú khác thờng, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trênvai có một nốt ruồi, tiếng nói nh chuông, dáng đi tựa rồng, nhịp bớc nh hổ,

kẻ thức giả đều biết Vua là bậc phi thờng” [14,239] Xuất thân trong gia

đình thuộc tầng lớp địa chủ, là một tầng lớp đang phát triển và có vai tròtích cực lúc bấy giờ Lại là ngời yêu nớc nên Lê Lợi rất đau lòng trớc cảnhnớc mất, nhân dân lầm than, cơ cực và sớm nuôi chí diệt giặc cứu nớc: “tuygặp thời loạn mà chí càng bền, ẩn náu trong núi rừng, chăm nghề cày cấy.Vì giận quân giặc cờng bạo lấn hiếp nên càng chuyên tâm về sách thao lợc,dốc hết của nhà, hậu đãi tân khách” Lê Lợi thờng nói với mọi ngời : “kẻ tr-ợng phu ở đời nên cứu nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chứ

đâu lại chịu bo bo làm đầy tớ ngời” Và tuyên bố rằng: “Ta đây đánh giặckhông phải vì tham phú quý, mà vì muốn cho ngàn đời sau biết rằng khôngchịu thần phục quân giặc tàn ngợc” [14,310] Do vậy, khi biết sự chuẩn bịcủa Lê Lợi và uy tín của ông, nhà Minh đã nhiều lần mời Lê Lợi tham giachính quyền đô hộ, cho quan tớc, bổng lộc… nh ng Lê Lợi đều khớc từ.nh

Từ sau hội thề Lũng Nhai, Lê Lợi và những ngời cộng sự đầu tiên đãdồn toàn lực vào việc chiêu mộ nghĩa quân và nghiên cứu kế hoạch đấutranh với quân thù Các anh hùng hào kiệt, những ngời dân yêu nớc khắpnơi đã tìm đến Lam Sơn tụ nghĩa Sự chuẩn bị của nghĩa quân dù bí mật nh-

ng không giấu nổi kẻ thù: “Chúa Lam Sơn chiêu vong nạp bạn, đãi ngộquân lính rất hậu, chí nó không phải nhỏ! Nếu giao long gặp đợc mây mathì tất không phải là vật trong ao đầm! Nên sớm trừ đi, chớ để lo về sau”[18,60] Từ đó, quân Minh ráo riết chuẩn bị đàn áp cuộc khởi nghĩa

Nhận rõ âm mu của kẻ thù, Lê Lợi và bộ tham mu của ông đã quyết

định khởi nghĩa Ngày 2 tháng 1 năm Mậu Tuất (7/2/1418) [8,110] khởinghĩa Lam Sơn bùng nổ Để quy tụ lòng ngời, tập trung sự thống nhất về t t-ởng trong lãnh đạo khởi nghĩa, Lê Lợi đã tự xng là Bình Định Vơng, truyềnhịch đi khắp nơi kêu gọi nhân dân cùng nổi dậy giết giặc Nh vậy đến năm

1418, Lê Lợi từ Hào trởng đất Lam Sơn đã trở thành Bình Định Vơng Sựkiện này không chỉ có ý nghĩa là sự quy tụ lòng ngời, thống nhất lãnh đạo

mà còn có ý nghĩa đánh dấu bớc đầu khẳng định vị thế của mình trongnghĩa quân - Lê Lợi là chủ soái

Khởi nghĩa Lam Sơn lúc đầu với lực lợng còn ít ỏi Theo “Lam Sơnthực lục”, lực lợng lúc đó chỉ gồm 35 quan võ; một số quan văn; 200 thiết

Trang 12

kỵ; 200 nghĩa sỹ; 200 dũng sỹ; 14 voi và số ngời tham gia tất cả độ 2000ngời Ngay từ đầu, khởi nghĩa đã vấp phải khó khăn rất lớn, tơng quan sosánh lực lợng quá chênh lệch giữa ta và địch Mặc dù vậy, trong quá trìnhphát triển, nghĩa binh không ngừng lớn mạnh và thanh thế ngày càng tănglên Khởi nghĩa Lam Sơn có thể chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu từ khibắt đầu bùng nổ năm 1418 đến năm 1424 trong đó có thời gian hoà hoãnvới địch (1423-1424); Giai đoạn hai là quá trình bắt đầu chuyển hớng hoạt

động vào Nghệ An đến khi giải phóng đợc toàn bộ vùng đất từ Tân Bình Thuận Hoá trở ra đến Nghệ An (1424-1425); Giai đoạn ba là quá trình tiếnquân ra Bắc và giải phóng hoàn toàn đất nớc (1426-1427)

-ở đây, chúng tôi không trình bày chi tiết diễn biến của cuộc kh-ởinghĩa mà dừng lại ở việc khái lợc và tập trung vào quá trình bình định,thành lập chính quyền ngay sau khi giải phóng đợc một số vùng đất đailãnh thổ Qua đó thể hiện việc xác lập quyền thống trị tập trung thống nhất,quy về một mối ngay từ đầu

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn diễn ra ngay sau sự thất bại của khởi nghĩacủa Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng, đây là hai cuộc khởi nghĩa lớn tiêubiểu cho phong trào đấu tranh chống Minh trớc khởi nghĩa Lam Sơn Cả haicuộc khởi nghĩa này, thời gian đầu đã giành đợc nhiều thắng lợi, có nhữnglúc tiến sát tới Đông Kinh, giải phóng đất đai rộng lớn từ Thanh Hoá trởvào, nhng cuối cùng đều thất bại Trong nhiều nguyên nhân dẫn tới sự thấtbại của các cuộc kháng chiến thì nguyên nhân cơ bản là sự thiếu thống nhấttrong sự chỉ đạo, lãnh đạo của bộ tham mu nghĩa quân

Là ngời thông minh anh lợi, Lê Lợi lại thông hiểu về thế sự và vớivai trò tham mu của Nguyễn Trãi, Lê Lợi hơn ai hết thấu rõ nguyên nhânthất bại của phong trào đấu tranh chống Minh trớc đó để rút kinh nghiệmcho việc tổ chức khởi nghĩa Do vậy, việc thống nhất về t tởng, tập trung chỉhuy để tất cả nghĩa binh quy về một mối, tạo thành khối thống nhất đặt dới

sự chỉ huy của Lê Lợi trở thành điều cấp thiết để đa cuộc khởi nghĩa đi đếnthắng lợi Quá trình giải phóng dân tộc của khởi nghĩa đến đâu thì Lê Lợi

đã thiết lập ngay chính quyền của mình ở đó để thay thế chính quyền đô hộcủa nhà Minh và cũng kịp thời khẳng định vị thế của nghĩa quân nói chung

và của Lê Lợi nói riêng tại các vùng đất đã đợc giải phóng

Trang 13

Ngay khi khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, nghĩa quân đã gặp nhiều khókhăn, kẻ thù liên tiếp tổ chức những đợt bao vây càn quét hòng tiêu diệtnghĩa quân khi còn non yếu Ngày 14 tháng 2 năm 1418 (ngày 9 tháng 1năm Mậu Tuất), địch đã điều quân từ thành Tây Đô lên đàn áp Nhận thấythế giặc mạnh, trong khi nghĩa quân còn yếu Lê Lợi đã rút lên Lạc Thuỷ(theo Cơng Mục thì Lạc Thuỷ là Cẩm Thuỷ ngày nay; nhng theo Phan Huy

Lê - Phan Đại Doãn thì Lạc Thuỷ phải là khu vực thuộc vùng thợng lu sôngChu, phần cao hơn Lam Sơn chứ không phải thuộc lu vực sông Mã) Đoán

đợc kẻ thù sẽ đuổi theo, Lê Lợi đã bố trí quân mai phục để đón địch Ngày

18 tháng 2 (ngày 31 tháng 1 năm Mậu Tuất), Mã Kỳ đã dẫn quân lên LạcThuỷ và lọt vào trận địa mai phục của nghĩa quân Đây là chiến thắng lớn

đầu tiên của nghĩa quân

Mặc dù nhiều lần thất bại nhng quân Minh vẵn tiếp tục tổ chức lực ợng tiến đánh nghĩa quân Trớc các đợt tấn công liên tiếp của kẻ thù, mặc

l-dù có địa thế hiểm trở nhng nghĩa quân cũng chịu nhiều tổn thất, nên LêLợi phải tiếp tục rút quân lên núi Chí Linh để bảo tồn lực lợng Tình thếnguy khốn của nghĩa quân đã đợc miêu tả lại khá sinh động trong "BìnhNgô đại Cáo":

" Khi Linh Sơn lơng hết mấy tuần

Khi Khôi huyện quân không một đội "

Đặc biệt trong lần thứ hai rút chạy lên Chí Linh, trớc tình thế nguykhốn Lê Lợi đã phải họp bộ tham mu để bàn kế giải nguy khi vòng vây củagiặc ngày một tiến sát, lơng thực cạn kiệt Lê Lợi nói rằng: "Bây giờ ai cóthể làm nh Kỷ Tín ngày xa " [18,62] Để bảo toàn cho chủ tớng Lê Lợicũng nh giữ lửa cho sự tồn tại và phát triển của khởi nghĩa Lê Lai đã dũngcảm "quên mình cứu Chúa" Lê Lai đã đóng giả Lê Lợi cùng với lực lợngnhỏ dụ địch, đánh lạc hớng để nghĩa quân mở đờng máu rút lui an toàn

Trong suốt giai đoạn thứ nhất, nghĩa quân mặc dù có những lúc thắnglớn, có những lúc chủ động tấn công địch nhng về cơ bản là thất bại Cóthời gian phải giả kế hoà hoãn để củng cố lực lợng Nghĩa quân phải chuyểnhớng hoạt động vào miền Tây Nghệ An

Theo lời bàn của Nguyễn Chích, Lê Lợi đã quyết định chuyển hớnghoạt động vào miền tây Nghệ An Đây là quyết định quan trọng, bớc ngoặtcủa cuộc khởi nghĩa

Trang 14

Lam Sơn là nơi có địa thế hiểm yếu, thuận tiện cho việc phát triển lựclợng, nhng quân giặc ở đây đông, mạnh, Lam Sơn lại gần thành Tây đô, nênnghĩa quân khó có thể phát triển đợc Trong khi đó, miền Tây Nghệ Ancũng có địa hình gần giống với vùng căn cứ ở Thanh Hoá, nhng lực lợngcủa địch ở Nghệ An tơng đối yếu ở đây quân Minh có thành Nghệ An làkiên cố nhất, nhng xung quanh thành Nghệ An chúng không có một hệthống đồn luỹ phòng ngự vững chắc nh ở Thanh Hoá Chính quyền đô hộ ởNghệ An cũng mới thành lập từ năm 1414 và cha đợc cũng cố chặt chẽ.Nếu đánh chiếm đợc Nghệ An, nghĩa quân sẽ chia cắt địch thành hai mảng,một ở phía Bắc, một ở phía Nam Nếu tấn công thì quân địch ở phía Namyếu, còn quân địch ở phía Bắc lại xa, chúng muốn cứu ứng lẫn nhau cũngkhông kịp Mặt khác, Nghệ An là vùng đất rộng, ngời đông “có thể cungcấp một nguồn nhân, vật lực rất phong phú cho cuộc chiến tranh giải phóng

và tạo ra những chuyển biến căn bản trong sự phát triển lực lợng của cuộckhởi nghĩa “Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh” Nhân dân Nghệ An cótruyền thống yêu nớc và đấu tranh anh dũng Dới sự thống trị tàn bạo củaquân Minh, nhân dân Nghệ An đã không ngừng nổi dậy đấu tranh, nhiềulãnh tụ của khởi nghĩa Lam Sơn có nguồn gốc từ Nghệ An nh Nguyễn Xí,Nguyễn Biện, Nguyễn Chích đã nhiều năm hoạt động tại đây nên rất thôngthạo địa hình Từ sự phân tích trên đây, Lê Lợi đã quyết định chuyển hớnghoạt động vào Nghệ An

Ngày 22 tháng 10 năm 1424 (ngày 20 tháng 9 Năm Giáp Thìn),nghĩa quân bất ngờ tập kích đồn Đa Căng (Thọ Nguyên - Thọ Xuân -Thanh Hoá) để mở đờng tiến công vào Nghệ An Trên đờng tiến công thànhTrà Long, nghĩa quân đã tổ chức mai phục tiêu diệt giặc ở Bồ Lạp (Bồ

Đằng, nay thuộc huyện Quỳ Châu) quân địch bị thiệt hại nặng phải tháochạy Tháng 10 năm 1424, Lê Lợi đã cho quân bao vây thành Trà Long, T-ớng canh giữ thành Trà Long là Cầm Bành ngoan cố không chịu đầu hàng.Trong lúc nghĩa quân đang khép kín vòng vây thành Trà Long thì quânMinh bày kế giảng hoà để chờ viện binh và huy động lực lợng chống quân

ta Biết đợc mu kế của giặc, Lê Lợi đã tơng kế tựu kế, đồng ý giảng hoà đểnhử bắt Cầm Bành Sau hai tháng bị bao vây, lơng thực cạn kiệt, binh línhhoang mang, Cầm Bành buộc phải đầu hàng Thắng lợi ở Trà Long, tiếngvang của nghĩa quân đã bay đi nhanh chóng, nhân dân khắp nơi đã kéo vềTrà Long tụ nghĩa đúng nh "Bình Ngô Đại Cáo" sau này đã mô tả lại:

Trang 15

"Trận Bồ Đằng sấm vang chớp dật

Miền Trà lân trúc trẻ tro bay

Sĩ khí đã hay , quân thanh càng mạnh"

Sau thắng lợi ở Trà Long, Lê Lợi lo củng cố lực lợng, tổ chức lại độihình chuẩn bị tấn công thành Nghệ An Lê Lợi cử các tớng lĩnh chốt giữ các

điểm cốt yếu ở các khu vực miền Tây Nghệ Tĩnh Nhận định quân Minh sẽ

từ thành Nghệ An kéo lên tiến đánh, Lê Lợi đã lợi dụng địa hình tổ chứcmai phục tấn công địch: "Giặc đông, ta ít, lấy ít đánh đông, chỉ ở nơi đấthiểm mới lập đợc công Vả lại, binh pháp nói: Nhử ngời đến chứ không đểngời nhử đến" [18,80] Đây quả là kế vẹn toàn hơn cả Lê Lợi chọn Khả Lu

để xây dựng căn cứ phòng ngự đón địch (Khả Lu là cửa ải phía Tây thànhNghệ An, gần thành Trà Long, quân Minh muốn tấn công buộc phải đi quacửa ải này) Đúng nh dự đoán, quân Minh do Trần Trí, Phơng Chính kéoquân từ thành Nghệ An để tấn công nghĩa quân, Lê Lợi dùng kế nhử địchvào trận địa mai phục và tiêu diệt giặc Quân Minh bị tổn thất nặng nề phảikéo chạy về cố thủ ở mạn dới Để tiêu diệt nhuệ khí của quân giặc, Lê Lợitiếp tục dùng kế dụ địch lên để tiêu diệt: "Quân giặc nhiều lơng, đắp lũyvững bền để làm kế lâu dài, quân ta lơng ít không thể cầm cự lâu với chúng

đợc [14,320] Lê Lợi cho đốt doanh trại, giả rút lui rồi đặt phục binh chờgiặc, nghĩa quân tổ chức mai phục ở Bồ ải Quả nhiên quân Minh ồ ạt đuổitheo và trúng vào trận địa mai phục của ta: "Quân giặc bị giết không biếtbao nhiêu mà kể, thuyền giặc trôi ngổn ngang, thây chết đuối tắc cả sông,khí giới bỏ chồng chất khắp núi" [14,321] Trần Trí phải thu thập tàn binhrút chạy về thành Nghệ An

Từ những thắng lợi to lớn của nghĩa quân, nhân dân khắp Nghệ Annhiệt liệt hởng ứng, tụ nghĩa dới cờ "Bình Định Vơng" Trớc tấm lòng củanhân dân, thấu hiểu đợc nỗi thống khổ của nhân dân, Lê Lợi đã ra lệnh "Hễ

đi đến châu huyện nào cũng không đợc xâm phạm đến mảy may của dân,nếu không phải là trâu bò, thóc lúa của quân địch thì dù có đói khổ cũngkhông đợc lấy" [14,321]

Trớc khi đánh thành Nghệ An, Lê Lợi không những lo lắng tăng cờnglực lợng, mà còn lo lắng sắm sửa chiến cụ đánh thành và nâng cao thêm kỹthuật chiến đấu của nghĩa quân Trong vòng 10 ngày các chiến cụ cần thiết

đã chuẩn bị xong Các tớng lĩnh ra sức huấn luyện cho nghĩa quân "các

Trang 16

phép đứng, ngồi, đâm, chém; chỉ vẽ cho các lối kỳ, chính, phân, hợp; bảocho biết tiếng chiêng, tiếng trống, hiệu cờ, hiệu xí" [14,322] Sự chuyểnbiến tơng quan so sánh lực lợng quá trình chăm lo tới kĩ thuật tác chiến củanghĩa quân không nhằm ngoài mục đích tăng cờng sức mạnh, đa nghĩaquân tiến từ đội quân du kích sang đội quân chính quy.

Ngày mồng 2 tháng 5 năm 1425, quân Minh do Lý An dùng đờngthuỷ vào tiếp ứng cho thành Nghệ An Nhận định khả năng của giặc sau khi

có viện binh sẽ tiến đánh Đỗ gia (vùng ngã ba hợp giữa ba sông Ngàn Phố,Ngàn Sâu và Sông La) nhằm chọc thủng tuyến phòng ngự của ta, hòng đánhvào trung tâm chỉ huy của nghĩa binh đang đóng dới thành Lục Niên LêLợi bố trí quân mai phục tại Đỗ gia (nay là huyện Hơng Sơn – Hà Tĩnh ).Ngày 4 tháng 5 năm 1425 (ngày17 tháng 5 năm ất Tỵ) Trần Trí huy độngtoàn quân ở thành Nghệ An phối hợp với quân của Lý An bắt đầu mở cuộcphản kích, quân giặc trên đờng tấn công qua Đỗ Gia rơi vào trận địa maiphục của ta, địch thất bại phải rút chạy về cố thủ trong thành Nghệ An Lợidụng thành cao, kiên cố giặc Minh ngoan cố cố thủ không ra đánh, đâycũng là lúc Nguyễn Trãi thể hiện tài năng của mình Bằng nhiều bức thNguyễn Trãi đã tấn công tớng tá trong thành làm cho địch vô cùng hoangmang và nhục nhã

Cùng một lúc nghĩa quân vây hãm thành Nghệ An, Lê Lợi phái mộtlực lợng nhỏ do tớng Đinh Lễ chỉ huy tiến ra bắc giải phóng Diễn Châu.Tháng 6 năm 1425, Đinh Lễ nhận lệnh "đi tuần" ở Diễn Châu Trớc khinghĩa quân của ta hạ thành Diễn Châu, Đinh Lễ cho quân phối hợp với sựnổi dậy của nhân dân địa phơng giải phóng các vùng phụ cận Thành DiễnChâu Giặc Minh lợi dụng thành cao, kiên cố đã cố thủ chờ viện binh Biết

đợc ý đồ của giặc và nắm đợc con đờng vận chuyển lơng thực tiếp tế từ

Đông Quan vào, tất giặc trong thành phải mở cửa ra đón, Đinh Lễ bí mật tổchức mai phục đợi lúc thuyền tiếp lơng đến, quân giặc trong thành ra đón,tấn công và chiếm thành Nh dự kiến, ta bao vây đợc thành Diễn Châu, Tr-

ơng Hùng cùng lực lợng cứu viện còn sót lại tháo chạy về Đông Quan Đinh

Lễ để lại một số quân bao vây thành Diễn Châu rồi thừa thắng đuổi theoquân địch đến tận thành Tây Đô

Đợc tin thắng trận, Lê Lợi liền cử các tớng Lý Triện, Lê Sát, Lu NhânChú, Bùi Bị (14,326) đem hơn 2000 quân tinh nhuệ và ba voi theo đờng tắt

đi suốt ngày đêm ra Thanh Hoá tiếp ứng cho Đinh Lễ

Trang 17

Trên đờng tiến đánh ra Thanh Hoá nghĩa quân không những khôngvấp phải sự kháng cự nào của quân giặc mà còn đợc nhân dân khắp nơi h-ởng ứng ủng hộ Sau khi tiêu diệt đợc lực lợng quân địch tại Tây Đô, nghĩaquân tiếp tục tiến sát và khép chặt vòng vây, nhng thành Tây Đô là thànhkiên cố, quân địch đông nên chúng đóng chặt cửa thành cố thủ Cùng vớiviệc vây chặt thành Tây Đô, nghĩa quân đã giải phóng toàn bộ Thanh Hoá.

Nh vậy, từ tháng 10 năm 1424, khi nghĩa quân Lam Sơn chuyển hớnghoạt động vào Nghệ An đến nay, nghĩa quân giải phóng đợc vùng đất rộnglớn từ Nghệ An, Thanh Hoá Quân Minh chỉ còn chiếm giữ đợc các thànhNghệ An, Diễn Châu, Tây Đô, nhng "ba thành đó chỉ là ba hòn đảo chơ vơgiữa biển cả mênh mông đầy sóng gió"[12,65] Nghĩa quân đã làm chochúng phân tán xé lẻ, đồng thời chia cắt làm hai vùng không tiếp ứng đợccho nhau, đó là vùng Tân Bình - Thuận Hoá ở phía Nam và vùng các châuphủ quanh thành Đông Quan ở phía Bắc Đây là điều kiện thuận lợi để tatiến công tiêu diệt địch ở phía Nam (vùng Tân Bình - Thuận Hoá) Lê Lợinhận định: "các bậc tớng giỏi thời xa bỏ chỗ vững, đánh chỗ hở, lánh chỗthực đánh chỗ trống; nh thế thì dùng sức chỉ một nửa mà thành công gấpbội" [14,326] Đánh vào Tân Bình - Thuận Hoá là đánh vào “chỗ hở" và

“chỗ trống" của địch

Tháng 8 năm 1425, Lê Lợi cử các tớng Trần Nguyên Hãn, Lê Nỗ, Lê

Đa đem hơn 1000 quân và một voi chiến tiến vào giải phóng Tân Bình Thuận Hoá Cùng lúc đó, Bình Định Vơng cũng phái các tớng Lê Ngân, LêVăn An, Phạm Bôi chỉ huy bảy mơi chiến thuyền vợt biển vào tiếp ứng Tr-

-ớc sức mạnh của ta, quân địch rút vào thành để cố thủ Nh vậy, chỉ trongthời gian ngắn ta đã giải phóng đợc toàn bộ Tân Bình - Thuận Hoá Chiếnthắng không chỉ làm nức lòng nhân dân địa phơng, hàng vạn trai tráng tìnhnguyện “nhập ngũ” mà còn tạo thế vững chắc cho nghĩa quân ở mặt trậnphía Nam khi tấn công ra Bắc (không lo bị quân giặc tập hậu)

Nhìn lại chặng đờng đấu tranh của nghĩa quân thì khoảng thời gian từ1424-1425 là khoảng thời gian chứng tỏ sự phát triển vợt bậc của nghĩaquân với những chiến thắng quan trọng, tạo ra những chuyển biến căn bảntrong tơng quan so sánh lực lợng giữa ta với địch Những thắng lợi quantrọng này là cơ sở để cuộc khởi nghĩa bớc vào giai đoạn tổng phản công

địch và tiêu diệt địch trên phạm vi cả nớc Rõ ràng, trong chiến công lừnglẫy ấy phải kể đến công lao của Nguyễn Chích, ngời đã hiến kế chuyển h-

Trang 18

ớng hoạt động từ vùng rừng núi Thanh Hoá vào Nghệ An: “Bầy tôi có côngkhai quốc, kể về bậc tài tử cần lao không phải là hiếm, nhng sở dĩ (Vua CaoHoàng) đã bình định đợc cả nớc là do mu trớc của Lê Chích”

Trớc những thất bại nặng nề của quân Minh ở Giao Chỉ, vua nhàMinh đã phái Vơng Thông (Thái tử Thái Bảo Thành Sơn Hầu) làm tổngbinh mang ấn Chinh di Tớng quân đem viện binh kéo sang nớc ta Mặc dùvậy, quân địch ở Đông Quan đang ngổn ngang nhiều bề, Trần Trí phải vừa

lo ổn định tình hình quân đội để đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân

ta ở ngoài Bắc, vừa phải củng cố lại chính quyền cai trị của chúng nên cótăng cờng viện binh cũng không cải thiện đợc tình hình

Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi và bộ tham mu của nghĩa quân quyết định

mở cuộc tiến công ra Bắc Tiến công ra Bắc, lực lợng nghĩa quân chia làm

ba Đạo: Đạo thứ nhất do các tớng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả, Đỗ

Bí tiến ra miền thiên quan (Nho Quan - Ninh Bình), Quảng Oai (Hà Tây),Quốc Oai (Sơn Tây), Gia Hng (Hoà Bình - Sơn La - Phú Thọ), Quy Hoá(Lào Cai, Yên Bái), Tam Đái (Phú Thọ, Vĩnh Phúc) uy hiếp mặt Nam thành

Đông Quan và chặn viện binh từ Vân Nam sang

Đạo quân thứ hai do các tớng Bùi Bị, Lu Nhân Chú, Lê Trơng, LêMinh tiến ra vùng Thiên Trờng (Nam Định), Tân Hng (Thái Bình), Kiến X-

ơng (Hng Yên) nhằm giải phóng vùng hạ lu sông Hồng rồi chia quân đónggiữ chặn đờng rút lui của giặc khi từ phía Nam ra, làm cơ sở để tiến lên phíaBắc chặn quân địch từ Lỡng Quảng sang

Đạo quân thứ ba do Đinh Lễ, Nguyễn Xí chỉ huy tiến thẳng ra ĐôngQuan

Mặc dù lực lợng tiến công ra Bắc chỉ khoảng 9000 quân nhng do

“Quân ta đi đến đâu cũng không hề mảy may xâm phạm đến của cải củadân … nh Vì vậy, các lộ ở Đông Quan và các biên trấn không ai không hởngứng, tranh nhau đem trâu bò, rợu đến khao quân và hởng ứng vây thành”.Khi ra Bắc không chỉ bổ sung đợc lực lợng cho nghĩa quân mà còn nhận đ-

ợc sự phối hợp đấu tranh từ phong trào đấu tranh của nhân dân nơi đây

Tháng 9 năm 1426, quân ta tiêu diệt địch ở Ninh Kiều (Ninh Sơn,Ngọc Sơn, Chơng Mỹ, Hà Tây) Cũng trong tháng này ta giành chiến thắng

ở Tốt Động, Chúc Động Bình Ngô Đại Cáo đã mô tả hai chiến thắng này

nh sau:

Trang 19

“Ninh Kiều máu chảy thành sông tanh hôi vạn dặm

Nhị động thây chất đầy nội nhơ để ngàn năm”

Trớc tình thế nguy khốn, Vơng Thông phải ra lệnh cho Phơng Chính,

Lý An bỏ Nghệ An, theo sông Hồng tới cứu ứng Đông Quan Nh vậy, ĐôngQuan trở thành túi đựng quân Quân giặc ở các lộ đều dồn về Đông Quan

Trong khi nghĩa quân đang tiến về Đông Quan hình thành vòng vây,thì đợc tin nhà Minh cử hai đạo viện binh theo hai đờng từ Vân Nam vàLạng Sơn tiến sang Trớc tình hình trên, Lê Lợi và bộ tham mu chủ định

“Đánh thành là hạ sách, ta đánh vào thành vững, hàng tháng, hàng nămkhông hạ nổi làm cho quân ta sức mệt, chí nản Nếu viện binh của giặc lại

đến thì trớc mặt sau lng đều bị giặc đánh, đó là con đờng nguy! Sao bằngnuôi dỡng sức quân, giữ lấy nhuệ khí để đợi viện binh của giặc Viện binh

bị phá thì thành tất phải hàng Làm một việc mà đợc cả hai, đó mới là kếvẹn toàn vậy” [14,336] Để thực hiện kế hoạch vây thành diệt viện, ngoàiviệc vây hãm Thành Đông Quan, Lê Lợi và bộ tham mu đã xúc tiến côngviệc chuẩn bị ngăn chặn viện binh của giặc

Trong hai đạo quân cứu viện của địch thì đạo quân do Liễu Thăngdẫn đầu qua cửa ải Pha Luỹ theo đờng vào Lạng Sơn tiến vào nớc ta làmạnh hơn cả và đợc đánh giá là lực lợng chính gồm mời vạn quân Nghĩaquân thấy rằng “Giặc vốn khinh ta, cho rằng ngời nớc ta tính nhút nhát, lâunay vốn sợ oai giặc, nay nghe tin đạo quân đến ắt là khiếp sợ Huống chilấy mạnh lấn yếu, lấy nhiều thắng ít vốn là việc thờng Quân giặc không thểbàn đến thế đợc thua giữa ta với chúng, không thể hiểu đợc cơ qua lại củathời vận Vả lại, quân đi cứu cấp thì cốt phải nhanh chóng nên giặc ắt phảigấp đờng đi suốt ngày Binh pháp nói rằng: Đi hàng năm trăm dặm mà chỉvội nhắm lấy lợi thì thợng tớng tất phải què Nay Liễu Thăng sang đây, đ-ờng xá xa xôi, quân lính mệt mỏi Ta lấy sức thong thả mà đợi quân mệtnhọc thì không lẽ nào không thắng” Từ nhận định trên đây, nghĩa quân đãtập trung hớng chính tiêu diệt đạo quân của Liễu Thăng và tiến hành phòngngự nhằm kiềm chế đạo quân của Mộc Thạnh Và nh vậy, một khi đạo quânchủ lực của địch bị tiêu diệt thì kế hoạch tiến công của chúng về căn bản sẽ

bị phá sản và đạo quân kia nếu không tan rã thì cũng hoang mang suy yếu

Lê Lợi đã bố trí trận địa mai phục đón địch ở cửa ải Pha Luỹ, Chi Lăng, Cần Trạm, Xơng Giang, trong đó tập trung tiêu diệt

Trang 20

địch ở Chi Lăng Đồng thời, Lê Lợi cũng phái một cánh quân lên cửa ải LêHoa (Hà Giang - giáp Vân Nam) làm nhiệm vụ cầm cự, không cho đạoquân của Mộc Thạnh tiến vào phối hợp với đạo quân chủ lực của LiễuThăng Trong khi đó Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ tham mu vẫn đóng đại bảndoanh tại Bồ Đề ở gần thành Đông Quan.

Ngày mùng 8 tháng 10 năm 1427 (Ngày mùng 9 tháng 9 năm Đinhmùi) đạo quân của Liễu Thăng tiến đến cửa ải Pha Luỹ, bắt đầu đột nhậpvào biên cảnh nớc ta Lực lợng nghĩa binh đóng tại cửa ải Pha Luỹ cónhiệm vụ vừa đánh vừa rút lui vào trận địa mai phục ở Chi Lăng Đợc thế,quân địch ồ ạt đuổi theo, tiến vào hậu địa mai phục của ta ở Chi Lăng

Chi Lăng là một cửa ải hiểm yếu nằm trên con đờng từ Pha Luỹ đến

Đông Quan (cách Pha Luỹ 61km - cách Đông Quan 166km ) [12,301]

“Đây là một thung lũng nhỏ hình bầu dục, chiều dài khoảng 4km, chiềungang chỗ phình ra khoảng hơn 1km với những ngọn núi lởm chởm, váchnúi dựng đứng ở giữa thung lũng Chi Lăng còn nổi lên 5 ngọn núi nhỏmang tên là núi Hòn; núi Ngọc; núi Hàm Quỷ; núi Ma Sẳn (Vọng Phu) vànúi Mã Yên, hai đầu Nam và Bắc của thung lũng khép lại tạo thành cửa ảirất hiểm yếu Liễu Thăng là viên tớng lão luyện và ghi nhiều chiến côngcho nhà Minh, hơn nữa lại có trong tay mời vạn quân nên từ khi tiến quânvào nớc ta không gặp sự cản trở nào đáng kể, Liễu Thăng lại càng kiêungạo, hung hăng không đề phòng Để tăng thêm sự kiêu ngạo, hung hăng,khinh địch trớc khi tấn công đến Chi Lăng, Lê Lợi đã gửi th cho LiễuThăng thực hiện mu “khích tớng” Khi tiến vào ải Chi Lăng, nhiều tớng tácủa giặc trong đó có tham tán quân vụ là thợng th Lý Khánh can ngăn nên

đề phòng phục binh, nhng Thăng không nghe một mực đốc thúc quân tiếnsâu vào cửa ải

Ngày 10 tháng 10 năm 1427 (ngày 20 tháng 9 năm Đinh mùi), đội kịbinh của Liễu Thăng đã đến tận chân núi Mã Yên Đây là hòn núi nhỏ trên

ải Chi Lăng, phải bắc cầu mới qua đợc, khi Liễu Thăng qua cầu thì cầuhỏng, quân địch sa vào đầm lầy, đúng lúc quân ta từ tứ phía xông lên tấncông vào đội hình địch làm chúng bất ngờ rối loạn Đội tiên phong của giặcnhanh chóng bị thất bại, bản thân Liễu Thăng tử trận ngay bên núi Mã Yên.Thừa thắng quân ta xông lên chém giết tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch

Đạo quân ở phía sau nghe tin ấy đều tan chạy Đại thắng ở Chi Lăng thể

Trang 21

hiện sự đúng đắn, chính xác của nghệ thuật quân sự, khẳng định khả năngchiến thắng cuối cùng của khởi nghĩa Lam Sơn.

Ngày 15 tháng 10 năm 1427 (ngày 25 tháng 9 năm Đinh Mùi) các ớng Lê Lý, Lê Văn An đem thêm quân tiếp ứng cho Lê Sát ở Cần Trạm.Lực lợng của giặc do Phó tổng chỉ huy Lơng Minh và Thợng th bộ binh LýKhánh tiếp tục tiến vào cửa ải Cần Trạm và lọt vào phục kích của ta Quângiặc đại bại, Lơng Minh bị giết tại trận Thợng th Lý Khánh và đô đốc Thôi

t-Tụ cố gắng thu thập tàn quân tiến về Xơng Giang hi vọng hội quân với MộcThạnh nhng thành Xơng Giang quân ta đã chiếm đợc từ trớc và trở thành

điểm chốt chặn quân thù Toàn bộ quân giặc phải đóng quân ngoài thành,

đắp hào đất để chống đỡ Ngày 3/11/1427 (15/10 Đinh Mùi) ta bắt sống bộchỉ huy của giặc Nh vậy, cánh quân tiếp viện chính do Liễu Thăng dẫn đầu

đã hoàn toàn bị tiêu diệt

Trong lúc đó, đạo quân của Mộc Thạnh từ Vân Nam cũng tiến sang

và đang cầm cự với quân ta ở cửa ải Lê - Hoa Biết đợc Mộc Thạnh là viêntớng dè dặt, không chủ đích tiến nhanh mà đợi tin từ Đạo quân thứ nhất rồimới tiến Nên khi nghe tin thất bại của Đạo quân thứ nhất (do Liễu Thăngdẫn đầu), Mộc Thạnh vội vàng ra lệnh rút quân

Đến đây hai đạo viện binh của nhà Minh đều bị tiêu diệt và đánh bại

Kế hoạch vây thành diệt viện của nghĩa quân đã giành thắng lợi Chiếnthắng Chi Lăng - Xơng Giang đợc đánh giá nh một Bạch Đằng (thế kỷXVI), Rạch Gầm - Xoài Mút; Điện Biên Phủ sau này

Trở lại tình hình quân giặc ở thành Đông Quan và các thành Tây Đô,Chí linh, Cổ Lộng… nh đang bị quân ta bao vây Bấy lâu nay chúng lợi dụngvào thành cao, hố sâu cố thủ để chờ viện binh Nhng nay viện binh đã bị

đánh tan tành, niềm hi vọng của chúng không còn nữa, quân Minh ở cácthành từ tớng lĩnh đến binh lính đều hoang mang, hoảng loạn không có địnhhớng

Từ khi quân ta khép chặt vòng vây Đông Quan, Lê Lợi sai NguyễnTrãi thảo th dụ hàng nói rõ thiệt hơn, khuyên chúng bãi binh rút quân về n-ớc: “nhà lớn gần xiêu, một cây gỗ không ai chống đỡ; đê dài sắp vỡ, mộtvốc đất khó thể duy trì Nếu không biết lợng sức mà cứ cỡng làm, thì ít khikhông thất bại… nh Nay lấy một thành Đông Quan cỏn con ta đem cả nớc lạivây mà đánh, vốn là rất dễ, song ta sở dĩ làm nh thế này chính là cảm cái ơn

Trang 22

ngày trớc của ngài, lại để trọn cái lễ nớc nhỏ thờ nớc lớn Nếu ngài biếtchỉnh đốn quân sĩ, cởi giáp mở thành, lại theo lời ớc ngày trớc, thì ngài cóthể toàn quân về nớc, mà cái tệ hiếu đại hý công của Hán đờng từ đây chấmdứt, và cái đạo hng diệt kế tuyệt của Thang Vũ lại thấy cử hành Thế chẳngtốt đẹp hay sao? Nếu còn do dự cha quyết, ta e chiến sĩ của ta nhọc về chinhchiến, bỏ cả nông trang, quyết tâm đánh gấp, thế không thể ngăn đợc Đếnlúc bấy giờ thì không làm sao đợc nữa”

Đang trong thế túng quẫn, Vơng Thông nh ngời sắp chết đuối vớ đợc

bè gỗ trôi sông Đầu tháng 12 năm 1427, Vơng Thông và Sơn Thọ phái mộtviên thiên hộ ra gặp Lê Lợi xin giảng hoà cho rút quân về nớc Tuy vậy, V-

ơng Thông vẫn bán tín bán nghi và thậm chí trong lúc cùng quẫn, điêncuồng tự mình đem quân xông ra ngoài thành để phản kích nhng đều thấtbại Những hành động tuyệt vọng trên đây càng thể hiện tình trạng túngquẫn, khốn đốn của kẻ thù Nghĩa quân Lam sơn không ngừng khép chặtvòng vây và tiến sát chân thành, buộc địch phải đầu hàng

Ngày 16/12/1427 (ngày 22/11/Đinh mùi) Vơng Thông phải thực sựxin hàng, trao trả lại các thành trì cho ta để đợc an toàn rút quân về nớc Lễ

đầu hàng đợc tiến hành dới hình thức giảng hoà, Vơng Thông tuyên thệ, xinhẹn đến ngày 12/12 năm Đinh Mùi tức ngày 29/12/1427 thì rút hết quân vềnớc, trao trả các thành trì cho nghĩa quân Trớc khi ký kết văn kiện chấpthuận sự đầu hàng của Vơng Thông, Lê Lợi, Nguyễn Trãi phải giải thíchthiệt hơn cho các tớng sỹ của nghĩa quân trớc sự thất bại thảm hại của quângiặc, đã muốn tiêu diệt toàn bộ quân xâm lợc trả nỗi uất hận quốc gia dântộc bị giày xéo bao năm Nhng Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã kiên trì con đờnghoà bình và cắt nghĩa giải thích cho tớng sỹ hiểu đợc ý tứ sâu sắc của việcgiải hoà: “Dùng binh cốt lấy bảo toàn cả nớc là trên hết Để cho bọn VơngThông trở về với Vua nhà Minh trả lại đất đai cho ta, không sâm phạm bờcõi ta, đó là điều ta không cần gì hơn thế nữa Hà tất phải giết hết bọnchúng để gây oán với nớc lớn làm gì”

Xét về truyền thống của ta, cốt trọng hoà bình, cạnh nớc lớn mà giữ

đợc sự yên bình là điều đáng quý, việc binh đao là bất khả kháng mà thôi.Huống chi, ta ngời ít, chiến tranh kéo dài, sức dân sức nớc kiệt cùng đấumãi với nớc lớn, dân đông thì sao tránh mãi đợc việc phải thua Chẳng thế

mà, sau khi đánh thắng quân Nguyên tại sông Bạch đằng, nhà Trần vẫn phảixin sắc phong, triều cống nhà Nguyên Trần Quốc Tuấn (Hng Đạo đại v-

Trang 23

ơng) chẳng phải là muốn giữ sức dân để giữ bền cho nớc” Quyết định của

Lê Lợi, Nguyễn Trãi thực đã sáng suốt

Lê Lợi lệnh cho quân ta tu sửa đờng xá, cầu cống; chuẩn bị lơngthực, ngựa, thuyền để quân Minh thuận tiện rút về nớc Nh Bình Ngô ĐạiCáo sau này viết:

“Tớng giặc bị cầm, chúng vẫy đuôi cầu sống Thần vũ không giết, ta thể lòng trời tỏ đạo hiếu sinh Chúng đã ham sống sợ chết mà thực muốn cầu hoà

Ta lấy toàn quân làm cốt mà cho dân đợc nghỉ”

Do vậy: “Bọn tham tớng Phơng Chính, nội quan Mã Kỳ đợc cấp hơntrăm thuyền đã vợt biển mà vẫn hồn bay phách tán Lũ tổng binh VơngThông, tham chính Mã Anh đợc cấp hơn nghìn ngựa đã về nớc mà vẫn ngực

đập chân run”

Trong quá trình khởi nghĩa diễn ra, cùng với những thắng lợi to lớnnghĩa quân giành đ ợc, là quá trình củng cố những thành tựu, chiến công tolớn đó ở những vùng đất đ ợc giải phóng, Lê Lợi cho xây dựng chính quyềnmới để thay thế chính quyền đô hộ, củng cố lực l ợng, xây dựng hậu ph ơngcho chiến tranh

Trớc hết Lê Lợi lo bớc đầu xây dựng một chính quyền độc lập quản

lý khu vực giải phóng để tạo đà củng cố hậu phơng và tăng cờng lực lợng.Tháng 12 năm 1426 Lê Lợi chia miền Bắc thành bốn đạo, dới đạo có trấnhay lộ: “Thái Tổ nhà Lê mới đến Đông Đô, chia nớc làm 4 đạo, đến khi lấy

đợc cả nớc chia làm 5 đạo; chia các phủ, huyện, lộ, trấn thuộc các đạo ấy”.(3,180) Bốn đạo ấy bao gồm:

- Tây Đạo gồm các trấn Tam Giang, Tuyên Quang, Hng Hoá và Gia Hng

- Đông Đạo gồm các lộ Thợng hồng, Hạ hồng, Thợng sách, Hạ sách và trấn

An bang

- Bắc Đạo gồm các trấn Bắc Giang, Lạng Giang, và Thái Nguyên

- Nam Đạo gồm các lộ Khoái Châu, Ly Nhân, Tân Hng, Kiến Xơng vàThiên Trờng

Sau khi chia các đạo, trấn, lộ Lê Lợi cắt cử quan lại cai quản cả việcquân sự lẫn việc dân sự Đứng đầu mỗi đạo có chức Tổng chi, Kiêm chi

Trang 24

Đứng đầu các trấn, lộ và châu, huyện có các chức quan sát sứ, phòng ngự

sứ, tuyên uý sứ, an phủ sứ… nh Những chức vụ quan trọng đứng đầu thờng đợcgiao cho các tớng lĩnh của nghĩa quân: “Trần Lựu làm tổng tri Lạng Sơn và

An Bang; Lê văn An làm tổng tri vùng Quốc Oai, Tam Đái và Quảng Oai,Nguyễn Chích làm tổng tri vùng Hồng Châu và Tân Hng… nh”

ở các khu vực miền núi, Lê Lợi cất nhắc các tù trởng nắm giữ cácchức thủ ngự, đoàn luyện để cai quản dân và giữ gìn trật tự ở địa phơng.Trong cuộc khởi nghĩa, nhiều tù trởng đã theo nghĩa quân và có công lớn,những tù trởng có công lớn thì đợc ban tặng các chức cao hơn nh nhập nội

t không; thợng tớng quân; đại tợng quân … nh “ Tháng 6/1427 một tù trởngngời Thái ở Mộc Châu là Xa Khả Tham đợc phong làm nhập nội t khôngcoi giữ Đà Giang” [12,256] Trớc sức mạnh của nghĩa quân thanh thế ngàycàng lớn mạnh, nhiều tù trởng ở các khu vực miền núi xa xôi đã gia nhậpnghĩa quân xin theo Lê Lợi

Trong quá trình xây dựng chính quyền mới ở các địa phơng vừa giảiphóng, để giúp Lê Lợi trong giải quyết công việc ở hậu phơng, Lê Lợi đãthành lập một số cơ quan nh bộ, sảnh, viện Mặc dù còn sơ sài xong đã trởthành các đầu mối giúp Lê Lợi giải quyết các công việc Đây cũng là cơ sở

để hình thành chính quyền Trung ơng sau này Theo “Lịch triều hiến chơngloại chí” thì bấy giờ mới có các “quan mật viện (chức Chánh lãnh hàm đại

sứ, chức phó kiêm hành viện sự, cùng các chức thiêm tri, thiêm sự), quancác bộ (nh Lại bộ thợng th Nguyễn Trãi, Lễ bộ thợng th Bùi Văn Đái, cùngcác chức lang trung, viên ngoại), quan các sảnh (nh các danh hiệu thợng thsảnh, môn hạ sảnh, môn hạ sảnh tả hữu hoả… nh)”

Nh

vậy trong quá trình thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, trên những khuvực giải phóng đã hình thành một bộ máy chính quyền độc lập Tuy tổ chứccòn sơ sài nhng bộ máy chính quyền đó cũng đã đ ợc thành lập từ trung ơngcho đến các địa ph ơng , từ miền đồng bằng, ven biển cho đến miền núi rừngbiên cơng Trong bộ máy chính quyền mới xây dựng, những ngời lãnh đạonghĩa quân nắm giữ những chức vụ then chốt ở trung ơng và địa phơng Họchủ yếu là những tớng lĩnh dũng cảm, những ngời có công lớn trong khángchiến chống Minh, trong số đó những ngời có công lớn và thân tín đợcphong thêm hai chữ “nhập nội”, ngoài ra Lê Lợi còn ra sức thu nạp hiền tài,chọn những ngời hiền lơng, phơng chính, trí dũng, hào kiệt” bổ sung vàochính quyền

Trang 25

Việc xây dựng chính quyền nh vậy đánh dấu một bớc phát triển lớncủa cuộc khởi nghĩa và đợc coi là một thắng lợi rất quan trọng Trớc kia,khi nghĩa quân mới dấy lên, trong tay không có chính quyền, không cóquân đội, chỉ từ hai bàn tay trắng mà xây dựng lực lợng Trong khi đó kẻthù chiếm giữ cả nớc, có tất cả chính quyền và quân đội lớn mạnh trong tay.

Đến đây, sau thời gian kháng chiến, đất nớc về căn bản đã đợc giải phóngchỉ còn lại thành Đông Quan và một số thành trì, nghĩa quân ngày càng lớnmạnh, mà lại còn xây dựng chính quyền mới trên phạm vi cả nớc, còn kẻthù thì bị cô lập

Điều quan trọng và đáng bàn ở đây không dừng ở đó, mà sự xuấthiện chính quyền mới từ Trung ơng đến địa ph ơng đặt d ới sự chỉ huy của LêLợi, chính quyền thống nhất từ trên xuống Đây là điều kiện để nghĩa quân

và những ngời lãnh đạo có sự thống nhất cao độ và tập trung ý chí về mộtmối, thể hiện tinh thần đoàn kết, thống nhất một lòng quyết đánh tan quânxâm lợc Việc làm này đã khắc phục đợc điểm hạn chế, và cũng là nguyênnhân dẫn đến sự thất bại của hai cuộc khởi nghĩa lớn tiêu biểu trớc khởinghĩa Lam sơn là khởi nghĩa Trần Ngỗi và khởi nghĩa của Trần QuýKhoáng (cả hai đều thiếu sự tập trung thống nhất, nội bộ mâu thuẫn, chémgiết lẫn nhau) Nh ng sâu xa hơn và đặc biệt có ý nghĩa đối với công cuộcphục quốc, gây dựng sự nghiệp và củng cố v ơng quyền sau này đối với Lê

của các t ớng lĩnh với Lê Lợi Đây là điểm mấu chốt cho việc tạo lập sựtrung thành tuyệt đối của các t ớng lĩnh với Lê Lợi; Cái nghĩa “phụ tử”, “anhem” đã chuyển sang cái nghĩa “quân thần” B ớc vào hội thề Đông Quan, LêLợi với một c ơng vị là “phụ đạo lộ khả Lam” đã trở thành “đầu mục Annam” Lê Lợi nghiễm nhiên trở thành ng ời đứng đầu đất n ớc, đại diện chonhân dân cả n ớc ký kết chấp nhận đầu hàng của quân Minh với V ơng

Thông.

Để củng cố sự thống lĩnh của mình và ngày càng tạo lập thế lực cũng

nh gây dựng hệ thống chân rết vững chắc cho sự nghiệp Mặc dù trong điều

Trang 26

kiện hoàn cảnh chiến tranh nhng Lê Lợi vẫn mở khoa thi đầu tiên ở Dinh

Bồ đề (Gia Lâm, Hà Nội) với đầu bài thi là “Hiệu dụ thành Đông Quan” đểmột mặt tìm kế sách hay đánh thành Đông Quan, một mặt kén chọn ngời tài

để giúp nớc và tạo lập một lớp ngời trung thành tuyệt đối với Lê Lợi Kỳ thinày đã tuyển lựa đợc 36 ngời bổ dụng các chức vụ quan trọng ở các bộ và

địa phơng

Vậy là, một chính quyền mới hoàn toàn độc lập, ra đời trên cơ sởthắng lợi của cuộc chiến tranh giành độc lập Chính quyền đó sẽ dần dầnchuyển thành nhà n ớc của giai cấp phong kiến , nó sẽ là đòn bẩy vô cùngquan trọng để huy động và tập hợp lực lợng quần chúng, để cung cấp nhânlực vật lực cho cuộc kháng chiến Khi cuộc kháng chiến giành thắng lợi, LêLợi có lập Trần Cảo làm vua nhng chỉ là kế giả mà thôi, thực chất đã thốngnhất dới sự chỉ huy của Lê Lợi - chủ soái của nghĩa quân

Bên cạnh việc xây dựng và củng cố chính quyền trên những vùng đất

đã đợc giải phóng, Lê Lợi còn không ngừng củng cố và tăng cờng khả năngtác chiến của nghĩa quân và khôi phục sức sản xuất Những công việc củng

cố hậu phơng và xây dựng lực lợng là những nhân tố có ý nghĩa quyết định

để nghĩa quân cùng với toàn dân tiến lên giành những thắng lợi to lớn, đacuộc chiến tranh giải phóng đến thắng lợi cuối cùng

1.2 Những thuận lợi và khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội sau khi kháng chiến chống Minh thắng lợi

1.2.1 Thuận lợi

Nh Bình Ngô Đại Cáo viết:

“Xã tắc từ nay đổi mới Sơn hà từ đó đẹp tơi”

Công lao vĩ đại nhất của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là đập tan áchthống trị của bọn xâm lợc nhà Minh, khôi phục lại nền độc lập tự chủ cho

đất nớc Do vậy hình ảnh của nghĩa quân và chủ soái Lê Lợi đã in đậmtrong tâm trí của mỗi ngời dân Đại Việt Đất nớc từ đây sạch bóng quânthù, nhân dân hởng nền thái bình thịnh trị Đây là những thuận lợi cơ bảncủa công cuộc duy tân đất nớc sau hai mơi năm giặc Minh tàn phá

Ngay trong quá trình khởi nghĩa đang diễn ra, Lê Lợi đã cho xâydựng chính quyền cơ sở và khôi phục sản xuất ở những vùng vừa mới giải

Trang 27

phóng Một mặt để thay thế chính quyền tay sai, xác lập vị thế của nghĩaquân, khôi phục sản xuất phục vụ trực tiếp cho cuộc kháng chiến, cũng làcơ sở cho công cuộc khôi phục kinh tế, xây dựng chính quyền sau khi giảiphóng đất nớc

Nhng có thể thấy, sau khi kháng chiến chống Minh giành thắng lợinhà nớc phải đối mặt với nhiều khó khăn trên các mặt kinh tế, chính trị, vănhoá - xã hội

1.2.2 Khó khăn

1.2.2.1 Khó khăn về kinh tế.

Chính quyền Lê sơ phải tiếp quản một nền kinh tế đổ nát do chínhsách nô dịch, cống nạp của nhà Minh gần hai mơi năm trên đất nớc ta Bọnquan lại đô hộ thi hành rất nhiều hình thức và thủ đoạn để bóc lột, vơ vétnhân dân một cách thậm tệ Theo số liệu thống kê, chỉ trong nửa năm đầukhi bắt đầu quá trình nô dịch nớc ta “quân địch đã cớp trắng trợn của nhândân tan 235.900 con voi, ngựa, trâu, bò; 13.600.000 thạch thóc; 8.670 chiếcthuyền và 2.539.800 vũ khí” (12,45) Việc tập trung đánh vào nền kinh tếnông nghiệp đã làm cho sức sản xuất của nhân dân bị kiệt quệ, ngời nôngdân bỏ quê đi trốn không phát triển đợc sức sản xuất nông nghiệp

Về thuế khoá, chính quyền đô hộ đặt ra vô số thứ thuế khoá nặng nề

đánh vào mọi hạng ngời và mọi nghề nghiệp làm ăn của nhân dân Riêng vềthuế ruộng đất, chúng quy định “mỗi mẫu ruộng nộp năm thăng thóc, mỗimẫu đất nộp một lạng tơ và cứ một cân tơ thu một tấm lụa” [12,250]

Các nghề thủ công, từ nghề tơ tằm, nghề dệt vải lụa… nh cũng chịuchung số phận đều phải nộp thuế bằng sản phẩm hay bằng tiền Một sốnghề thủ công quan trọng nh muối, Diêm quân Minh nắm độc quyền muabán, hình thành các ti thuế muối để trực tiếp khống chế, thu giữ và bán giácao

Chế độ thuế trên đây đã gây ra rất nhiều khó khăn trong đời sốngnhân dân, làm cho nhiều ngời bần cùng, phá sản Bên cạnh đó dân ta cònphải đi phu lao dịch xây đắp thành luỹ và các công trình khai thác tàinguyên của quân địch Chúng còn lùng bắt các thợ thủ công giỏi, phụ nữ,trẻ em đem về nớc để làm việc trong các xởng của nhà Minh và làm nô tỳ

Trang 28

Mặt khác, chiến tranh thờng xuyên xảy ra, hoặc là do nhân dân khởinghĩa giành độc lập, hoặc là do quân Minh đàn áp các cuộc đấu tranh vàngay cả trong cuộc chiến với giữa nghĩa quân Lam Sơn chống Minh cũngvậy, đã ảnh hởng không nhỏ tới tình hình sản xuất phát triển kinh tế đất n-

ớc Nhìn chung, nền kinh tế nớc ta dới thời thuộc Minh hầu nh bị tàn phá và

đình trệ do chính sách vơ vét của nhà Minh

1.2.2.2 Khó khăn về chính trị

Chính quyền của nhà Minh thi hành chế độ quận, huyện nh TrungQuốc, xoá bỏ các đơn vị hành chính của nhà Trần Quận Giao Chỉ là tổchức chính quyền gồm ba ty : Đô chỉ huy sứ ty hay đô ty phụ trách về quânchính; Thừa tuyên bố chính ty hay bố chính ty phụ trách về dân chính và tàichính; Ty án sát nắm quyền t pháp Dới quận nhà Minh lập ra các châuhuyện và thiết lập những cấp bộ chính quyền địa phơng Đứng đầu nắm giữcác chức sắc quan trọng là quan lại ngời Hán do nhà Minh cử sang

Trong quá trình khởi nghĩa diễn ra, ở những vùng đất đợc giải phóng,

Lê Lợi có cho xây dựng chính quyền mới thay thế chính quyền đô hộ cònsơ sài, tạm bợ, cha mang tính chất cố định, sắp đặt quy củ

1.2.2.3 Khó khăn về văn hoá - xã hội

Mục đích lớn lao, thâm độc của nhà Minh là muốn nớc ta thànhquận, huyện của chúng, dân ta mãi chịu kiếp nô lệ Do vậy, từ khi đặt áchnô dịch lên nớc ta quân Minh không ngừng thực hiện chính sách thủ tiêunền văn hoá lâu đời của dân tộc ta và đồng hoá về mặt phong tục, tập quán.Chúng gom hết sách vở, tài liệu lu trữ hoặc là mang về nớc, hoặc là đốt bỏ

Đối với các di sản vật chất khác chúng cũng thực hiện tơng tự Có thể thấy,thành quả mà cha ông ta xây dựng trong suốt thời kỳ Lý - Trần hầu nhkhông còn trớc sự tàn phá của quân Minh

Quân Minh còn bắt dân ta phải cải theo phong tục, tập quán củachúng Chúng coi phong tục của dân ta là “Nam tục” , “di tục” Tuy nhiên,chúng chỉ mới thực hiện đợc ở một số thành phần và các vùng nội thành,ngoại thành, còn phần lớn các địa phơng xa xôi, đặc biệt ở các Hơng, Xãhầu nh vẫn giữ nguyên tục lệ cũ của cha ông Hành động của chúng vấpphải sự phản kháng quyết liệt của nhân dân ta chống lại chính sách áp bức,bóc lột và cơng quyết đấu tranh bảo vệ nền văn hoá dân tộc, bảo vệ nhữngphong tục, tập quán lâu đời thích hợp với điều kiện sinh hoạt của nhân dân

Trang 29

Trong giáo dục, nhà Minh hạn chế việc học, việc thi mà chủ yếu tậptrung đào tạo bọn tay sai phục vụ cho chính quyền đô hộ Chúng sử dụngmột số cống sĩ để đào tạo thành ngụy quan Trong khi đó, Phật giáo, Đạogiáo và các hình thức mê tín khác lại đợc quân Minh hết sức truyền bá để

mê hoặc nhân dân

Vấn đề đặt ra là trong khi nhà Hồ đã thi hành một số cải cách nhằmphá vỡ nền kinh tế điền trang, thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ Nh ng trongsuốt gần 20 năm đô hộ, quân Minh đã loại bỏ những cải cách tiến bộ đó vàtiếp tục xây dựng nền kinh tế… nhvà chế độ nông nô, nô tỳ Quân Minh đã tạo

điều kiện cho một số quý tộc Trần đầu hàng vẫn tiếp tục duy trì các điềntrang, thái ấp Bên cạnh đó chúng còn tiến hành cớp đoạt ruộng đất để xâydựng các đồn điền lớn, ban cấp cho quan binh ngời Minh và bọn quan lạitay sai Nh thế, đã không cải thiện đợc thân phận của những tầng lớp đáycùng xã hội thì trong gần 20 năm đô hộ, giặc Minh lại càng gia tăng số lợngcủa tầng lớp nông nô và nô tỳ trong xã hội Đây là trở ngại lớn để lại chochính quyền nhà Lê khi mới xây dựng nền kinh tế phát triển theo đúng sựphát triển khách quan của quy luật thì phải phá vỡ mô hình kinh tế thái ấp,

điền trang Và có nh thế mới phá vỡ đợc hạ tầng cơ sở của thợng tầng kiếntrúc nhà nớc phong kiến, phân tán quyền lực thời kỳ Lý - Trần để xây dựngmột nền chuyên chế trung ơng tập quyền

Những khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội trên đây buộc

Lê Lợi phải tổ chức lại kinh tế, cụ thể là nền kinh tế nông nghiệp lúa nớc

mà cốt lõi của nền kinh tế ấy là ruộng nớc, để ổn định đất nớc tạo cơ sởcủng cố quyền lực thiết lập Hoàng quyền mới, xây dựng nền chuyên chếtrung ơng tập quyền

Lê Lợi thực hiện việc phân phối ruộng đất bằng chính sách “quân

điền” (còn gọi là phép quân điền) Sau chiến th kiến nguyên (tháng 5/1428),năm 1429 Lê Lợi ban chiếu quân điền xếp đặt lại quyền sở hữu ruộng đấtcông trong xã hội Nhng trớc hết chế độ quan điền đã xác lập “sự chiếmhữu thực tế” của ngời sản xuất trong “dân hộ” đối với đất đai “Sự chiếmhữu thực tế” nói ở đây đợc hiểu theo nghĩa là sự “chiếm hữu trên sự thực”

“Trong việc chiếm hữu ngời trực tiếp sản xuất trong “dân hộ”, “đinh hộ”biến anh ta và cả gia đình anh ta nối đời thành thần dân của mình Và do đóanh ta phải trực tiếp thực hiện hàng loạt những vụ phong kiến đối vớiHoàng quyền mới xác lập” Nói cách khác, chính việc ban cấp ruộng đất

Trang 30

công và thu tô của nhà nớc tạo ra một khuôn phép mới trong xã hội, trật tựmới xác lập trên cơ sở mối qua hệ chủ yếu giữa Hoàng quyền - thần dân.Ngay cả mối quan hệ này cũng đợc xác lập từ chính những động thái củanhà nớc mà việc ban hành chế độ quân điền có ý nghĩa hơn cả.

1.3 Yêu cầu cấp thiết đặt ra cho ngời đứng đầu nhà nớc

1.3.1 Tính chất phân quyền trong bộ máy nhà nớc trớc Lê sơ.

Ngay từ khi nắm chính quyền, công cuộc cách tân đất nớc của Lê Lợibắt đầu bằng việc ban bố tên nớc, niên hiệu gọi là công cuộc kiến nguyên:

“ngày 15, Vua lên ngôi ở Đông Kinh, đại xá, đổi niên hiệu là thuận thiên,dựng quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Đông Kinh” (15, 293) Từ những

điều đó, tính chất dân quyền cũng dần dần đợc thay thế bằng tính chất tậpquyền Vấn đề là các nhà nớc trớc đó đã xây dựng nền hành chính đất nớcmang tính chất phân quyền biểu hiện cụ thể nh thế nào

Chúng ta biết rằng, thời Lý - Trần Vua chia quyền lực cho những

ng-ời trong dòng tộc của mình, càng thân xơ gần Vua thì càng đợc nắm giữnhững chức vụ quan trọng Khi đó chức thờng đi liền với tớc (tớc thờng cótớc Vơng, công, hầu , chức thờng cai quản quân sự , hành chính, có khi cảiquản cả một lộ, một đạo) Bộ máy nhà nớc thể hiện tính chất quý tộc, đồngtộc sâu sắc Vua là “Quan gia”, mặc dù có quyền lực chuyên chế nhng chỉ

là ngời đại diện cho một gia đình, dòng tộc, những lời dụ của Vua thể hiện

ý chí, nguyện vọng của gia đình, dòng tộc đó Do vậy, ở một chừng mựcnào đó có thể hiểu đợc Trần Thủ Độ sau khi dàn dựng thành công “vở kịch”

“chuyển giao” quyền lực từ dòng họ Lý sang dòng họ Trần đã không lênlàm Vua mà đa cháu (không phải con) lên ngôi Vua Ngay cả việc chọn lựa

ai làm Vua cũng vậy, đến thời Lê sơ đã có nhiều thay đổi, quy chế có sựphân biệt chặt chẽ giữa chức với tớc, những ngời trong dòng tộc dù thân sơthế nào cũng chỉ có tớc chứ không có chức (tớc chỉ có tớc Vơng chính chứkhông có tớc Đại Vơng nh Lê Nghi Dân là Lạng Sơn Vơng khác thời Trần

có Hng đạo Đại vơng Trần Quốc Tuấn) Những ngời trong Hoàng tộc muốn

có chức phải qua thi cử hoặc qua một kỳ sát hạch nghiêm ngặt chặt chẽ (khithực hiện lệ tập ấn và bảo cử)

Do đó, mỗi một địa phơng đều do một ngời có quan hệ thân xơ (xagần) nào đó với Hoàng đế trị vì cai quản Chịu trách nhiệm trớc Hoàng đế

và dòng tộc, do Hoàng đế bổ nhiệm Và nh vậy, chính quyền nay không do

Trang 31

Triều đình (chính phủ ngày nay) điều khiển (ngời đứng đầu cao nhất làHoàng đế) mà do một ông vua đại diện cho dòng tộc ấy điều khiển Mặc

dù, từ năm 1075, nhà Lý đã mở khoa thi Minh Kinh kén chọn ngời tài ralàm quan thông qua con đờng thi cử Tiếp tục sau đó nhà nớc Lý - Trần liêntục mở các kỳ thi lấy đỗ Tiến sĩ, Trạng nguyên Nhng họ chỉ đóng vai trò làngời giúp việc cho quý tộc trong việc trị nớc chứ không tham gia cai trị (th-ờng gọi những ngời này là kẻ sĩ) hoặc chăng do yêu cầu công việc tronglĩnh vực ngoại giao, coi sóc thuế khoá thì buộc phải có ngời học hành caiquản nhng quyền lực không lớn Trong suốt thời kỳ Lý - Trần các cuộcchính biến cung đình, “thoán ngôi đoạt vị” do quý tộc thực hiện chứ không

do quan lại (tầng lớp nho sĩ đậu đạt) thực hiện Sau này, từ thời Lê, các cuộcchính biến này có vai trò qua lại thậm chí còn là ngời tổ chức, “cầm đầu”

Một biểu hiện khác của nhà nớc thời Lý - Trần là sản phẩm của tínhchất phân quyền và đến lợt nó lại tác động trở lại, duy trì sự tồn tại cho tínhchất phân quyền, đó là nền kinh tế điền trang - thái ấp Các Vua thời Lý -Trần tạo điều kiện thuận lợi và giành nhiều đặc ân trong việc ban cấp ruộng

đất cho quý tộc Lý - Trần, kết quả là họ đã xây dựng những trang viên rộnglớn Trong những trang viên ấy, tồn tại lực lợng lao động chính là gia nô (nôtỳ), trong đó cũng có lực lợng bảo vệ và về cơ bản điền trang - thái ấp cóthể xem nh một đơn vị hành chính Trong cuộc kháng chiến chống Mông -Nguyên (1258 - 1285 - 1288) lực lợng của các trang viên Thái ấp đã gópphần không nhỏ trong việc phối hợp với quân chủ lực chống giặc Nhng

đằng sau đó ẩn chứa mối nguy hại rất to lớn, dễ dàng nảy sinh hiện tợng cắt

cử ở các địa phơng

Điều quan trọng nền kinh tế điền trang - thái ấp với chế độ nông nô(quan hệ sản xuất quý tộc - nông nô) cùng với thiết chế nhà nớc mang tínhchất phân quyền đã không còn thích hợp vì không theo kịp sự phát triển và

đòi hỏi cân bằng trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc với lịch sử nhânloại (gần là các nớc trong khu vực) Vì vậy, đến cuối thời Trần mà đặc biệt

là sự biến “cớp ngôi” của Hồ Quý Ly, dòng tộc họ Trần (quý tộc Trần) đãkhông đủ sức chống cự nhng thực chất nó không còn phù hợp nữa

1.3.2 Sự cần thiết phải xây dựng bộ máy trung ơng tập quyền

Trớc những diễn biến phức tạp về chính trị cuối thời Trần đã cho thấy

sự bộc lộ những hạn chế của thiết chế nhà nớc theo tính chất phân quyền

Sự thay thế của nhà Hồ và một loạt chính sách cải cách của Hồ Quý Ly thì

Trang 32

sự sụp đổ của chế độ phong kiến phàm nh một yếu tố khách quan chứng tỏ

sự đòi hỏi của lịch sử đáp ứng sự phát triển cân bằng giữa các nền văn hoá

mà đối tợng chính của nớc ta là nhà nớc phong kiến Trung Quốc (thờiMinh)

Bên cạnh đó, ngay sau khi khởi nghĩa giành thắng lợi, hàng loạt vấn

đề kinh tế xã hội quan trọng đợc đặt ra cấp thiết: Vấn đề ruộng đất, vấn đềnhân lực cho nông nghiệp, vấn đề giải phóng nô tỳ mà chung lại là khôiphục nền sản xuất của đất nớc Khôi phục lại những thành tựu vật chất củanền văn minh Đại Việt thời Lý - Trần gần nh không còn nguyên vẹn saugần 20 năm đô hộ nớc ta của giặc Minh Tờt cả yếu tố đó là nội dung của sứmệnh lịch sử to lớn mà nhà Lê phải đảm nhận sau cuộc kháng chiến lâu dài

và thắng lợi vẻ vang

Nhng trên hết, rút kinh nghiệm từ những “mắc kẹt” của các triều đạitrớc sự lộng hành của quần thần và sự phân tán của chính quyền địa phơng.Cuộc chính biến cung đình ngày 3 tháng 10 năm 1459, Lê Nghi Dân “cùngbọn đồ đảng Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng, Lê Nhân Tông và tuyên từHoàng thái hậu đã trở thành “bài học đắt giá” khiến các Vua đời sau mà cụthể là Lê Thánh Tông buộc phải tăng cờng quyền lực xây dựng một nềnhành chính theo hớng trung ơng tập quyền

Trong khi đó, ở bên kia biên giới, nhà Minh đã thi hành một số biệnpháp cải cách, tập trung vào việc cải tổ lại bộ máy hành chính cho phù hợpvới tình hình và yêu cầu của giai đoạn mới Sự vững mạnh của vơng triềuMinh không tránh khỏi những đe dọa đến nền an ninh quốc gia đòi hỏi “ĐạiViệt phải có một biện pháp vơn lên để có một “đối sách” tơng xứng?(26,90) Và khi đất nớc đã không ngừng lớn mạnh, mở rộng lãnh thổ vềphía Nam thì nhu cầu cần xây dựng một bộ máy nhà nớc thống nhất từtrung ơng đến địa phơng dới sự trị vì của Hoàng đế là yêu cầu cần thiết Do

đó “ngày nay, đất đai bản chơng so với thời trớc, thật khác xa nhau Vì vậy,Trẫm không thể không tự cầm quyền chế tác, làm cho hết cái đạo biếnthông” (15,453) Có nghĩa là, nhà Vua, Hoàng đế của Lê sơ không thểkhông trực tiếp nắm lấy quyền cai trị toàn bộ đất n ớc, quy giang sơn về mộtmối thuộc dòng họ Lê

Trang 33

ớc, nhìn vào cách tổ chức bộ máy chính quyền từ trung ơng đến địa phơng

sẽ thấy rõ đợc sự thịnh hay suy của đất nớc, triều đại cũng nh ngay trong bộmáy hành chính từ trung ơng phần nào mô phỏng lại xã hội thời đó ra sao

Trớc khi nghiên cứu về các cơ quan cấu thành nên bộ máy hànhchính trung ơng thời Lê sơ, chúng ta cần nghiên cứu bộ máy ấy một cáchtổng thể, nói cách khác là cần đi từ khái quát đến cụ thể (đứng từ xa nhìnngắm và sau đó mới lại gần bóc dần từng mảng trong hệ thống chính quyềntrung ơng thời đó)

2.1 Tổng quan tổ chức chính quyền trung ơng thời Lê sơ.

Xét các cơ quan trung ơng của nền hành chính dân sự để chứng minhcho tính chất chuyên chế của nhà nớc Đại Việt, chúng ta cần xét đến “chủthể” của chính quyền ấy Chủ thể nền hành chính trung ơng cũng là chủ thểcủa triều đình, chủ thể của quốc gia dân tộc - ngời có quyền tối thợng trongviệc tổ chức và điều hành guồng máy cai trị toàn quốc - đó là Vua - Hoàng

đế Lê sơ

Trang 34

Trong nền quân chủ chuyên chế ở Phơng Đông Vua có toàn quyền

định đoạt số mệnh của quốc gia và c dân của đất nớc Vua là gạch nối giữatrời và đất (trong ba yếu tố Thiên - Địa – Nhân), Vua là “Thiên tử” contrời thay trời giáo hoá và chăn dắt chúng dân, và các c dân trên lãnh thổ ấy

đều là “thần dân” của Vua Quyền uy của Vua thể hiện ở quyền sở hữu lớnlao Tất cả đất đai, con ngời, súc vật, đầm hồ dới gầm trời này đều là củaVua Mặc dù có quyền lực nh vậy nhng Vua vẫn phải tuân theo một vàinguyên tắc nhất định Thứ nhất là dòng đích (trọng trởng, khi dòng trởngkhông còn thì mới sang dòng thứ hai); Trọng nam (chỉ truyền ngôi cho contrai, ở nớc ta có trờng hợp đặc biệt vào thời Lý - có Lý Chiêu Hoàng là nữ);Trọng trởng (thờng con trởng đợc kế vị) Bên cạnh đó, theo lễ giáo phongkiến, Vua cũng là ngời phải tuân theo quy chế tu thân “từ Thiên tử đến thứdân ai cũng lấy việc tu thân làm gốc”

Mặt khác, cần phải chú ý rằng: dòng họ Lê lấy đợc nớc, lập đợc triều

đình của mình, coi nớc Đại Việt nh là sở hữu riêng của dòng họ mình, gia

đình mình là nhờ công sức của các tớng tá và nhân dân Cách cai trị vẫntheo t tởng “dân vi quý” và lấy đức trị làm trọng “cai trị dân bằng đức cũnggiống nh sao bắc đẩu” Do vậy, những thập niên đầu thời Lê, xã hội dần dần

ổn định, thóc lúa đợc mùa, đời sống nhân dân no đủ

Các cơ quan hành chính trung ơng giúp vua trực tiếp cai trị đất nớc

đ-ợc tổ chức rất chặt chẽ Đây là một hệ thống văn phòng do vua trực tiếp

điều khiển, trực tiếp giúp Vua Các cơ quan đó có thể xếp lại trong bốn hệthống

Thứ nhất là các cơ quan văn phòng bên cạnh Vua; thứ hai là các cơquan đầu não tại triều đình; thứ ba là các cơ quan chuyên môn phụ tá chocông việc triều đình; thứ t là các cơ quan giám sát

Các cơ quan văn phòng bên cạnh Vua gồm có :

- Các tỉnh (Sảnh): Thợng th tỉnh, trung th tỉnh, môn hạ tỉnh, Hoàngmôn tỉnh và nội thị tỉnh hay còn gọi là thợng th sảnh, trung th sảnh, môn hạsảnh, hoàng môn sảnh và nội thị sảnh

- Hàn lâm viện

- Bí th giám

Trang 35

Các cơ quan đầu não tại triều đình dới sự chỉ đạo trực tiếp của các cơquan đứng đầu đợc vua uỷ nhiệm, trực tiếp điều khiển toàn bộ nền cai trị

đất nớc là Tể tớng và á tớng (thời kỳ đầu của nhà nớc Lê sơ, đến Lê ThánhTông thì bỏ) Các cơ quan đầu não tại triều đình bao gồm: Chính sự viện;nội mật viện; các bộ Chính sự viện đợc thiết lập từ thời Lê sơ, viện này cócác quan văn, võ đại thần tham dự và có nhiệm vụ coi xét các việc trọng đạicủa triều đình, đứng đầu là chức chính sự viện

Nội mật viện trớc đây vào thời Lý, Trần gọi là Khu mật viện, đến thờinhà Lê sơ thì đổi lại Nội mật viện có chức năng xem xét những việc cơ mậttrong triều, do vậy chỉ bao gồm một số đại thần thân tín với Vua đợc bổdụng vào Và vì vậy, Nội mật viện nhỏ hẹp hơn Chính sự viện, trong khiChính sự viện có tính chất rộng rãi, bao gồm nhiều quan văn, võ đại thần đểxem xét mọi việc trọng đại

Các Bộ là cơ quan trực tiếp giúp vua điều hành đất nớc Ban đầu LêLợi (Thái tổ) chỉ đặt hai bộ là bộ Lại và bộ Lễ và sau đó thêm bộ Hộ: “khiThái tổ tiến đến Đông Đô đặt bày các chức,… nhquan các bộ (nh Lại bộ Th-ợng th Nguyễn Trãi; Lễ bộ Thợng th Bùi Văn Tài cùng các chức lang trung,viên ngoại) Đến thời Lê Nghi Dân (1459) đã đặt đủ sáu bộ (bộ Lại; bộ Lễ;

bộ Hộ; bộ Binh; bộ Hình; và bộ Công, đứng đầu mỗi bộ đều đặt chức thợng

th Chức năng, nhiệm vụ của các bộ sẽ đợc đề cập kỹ ở phía sau, ở đây chỉnên khái quát: ở mỗi bộ thì giữ trọng trách xem xét một lĩnh vực có liênquan và sau đó đề xuất và đệ trình lên Vua để Vua quyết định

Để phụ giúp công việc cho các cơ quan đầu não trực tiếp cai trị đất

n-ớc tại triều đình, nhà vua cần đặt ra các cơ quan chuyên môn nh: Quốc sửviện; Thái chúc viện; Quốc tử giám; Đình uý ty; Ngũ hành viện và Ngự tiềntam cuộc Quốc sử viện đợc thiết lập từ thời nhà Trần, thời Lê vẫn theo lệ cũ

và cử chức Tu soạn làm quan đứng đầu Quốc sử viện có nhiệm vụ soạn sử.Thái chúc viện là tên gọi của Thái sử viện đợc thiết lập từ thời Trần, nhà Lê

đặt chức Thái sử lệnh là quan đứng đầu Thái sử viện có nhiệm vụ trông coi,xếp đặt các bài vị tổ tiên trong việc cúng tế và cử ngời quỳ đọc văn tế Quốc

tử giám, đây là cơ quan đợc thành lập từ thời nhà Lý Năm 1077, nhà Lýcho thành lập Quốc tử giám làm nơi để dạy học cho Thái tử và con các quanlại trong Hoàng tộc, đến thời Lê có mở rộng thêm nhiệm vụ trông coi việcgiáo dục trong nớc và đào tạo con các quan và những ngời tài học ở các địaphơng tiến cử Đứng đấu Quốc tử giám thờng là các chức Tế tửu; T nghiệp

Trang 36

Ngoài ra còn có các quan Trực giám; Bác sĩ; Giáo thụ giúp việc Đình uý ty

và Ngũ hành viện là hai cơ quan chuyên môn trông coi về hình án Đình uý

ty có nhiệm vụ tra hỏi những án hệ trọng mà có điều nghi ngờ Đình uý ty

có điều khiển chức Đình uý Ngũ hành viện cũng có nhiệm vụ tra xét án,

đ-ợc chia ra thành năm viện: Thẩm hình; Tả hình; Hữu hình; Tớng hình và Thình Ngự tiền tam Cuộc có nhiệm vụ trông coi về việc binh (Cuộc là danh

từ dùng để chỉ một cơ sở) bao gồm: Cận thị; Chi hậu; Học sĩ

Bên cạnh các cơ quan trên, nhà Vua còn đặt ra các cơ quan giám sátbao gồm các cơ quan giám sát tại các bộ và cơ quan giám sát chung (giámsát cả công việc của Vua) Các cơ quan đó là Lục khoa và Ngự sử đài Lụckhoa đợc thiết lập từ thời Lê Nghi Dân (1459) với các khoa nh: Trung thkhoa; Hải đăng khoa; Đông khoa; Nam khoa; Tây khoa; Bắc khoa Sau nàythời Lê Thánh Tông đổi lại mới tơng ứng với một bộ: Trung th khoa đổi lạithành Lại khoa; Hải đăng khoa đổi lại thành Hộ khoa; Đông khoa đổi lạithành Lễ Khoa; Nam khoa đổi lại thành Binh khoa; Bắc khoa đổi lại thànhCông khoa Ngự sử đài, thời trớc đã có cơ quan này, thời Lê cũng nối theo,thời Trần đặt Ngự sử đài và cử chức Đô ngự sử đứng đầu Ngự sử đài cónhiệm vụ khuyến cáo những lỗi lầm của Vua; đàn hặc các quan lại; côngviệc của đất nớc Chính vì vậy, các cơ quan giám sát này còn có thể gọi làcác cơ quan điều tiết việc làm của vua

Do phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu nền hành chính đấtnớc (nền hành chính trung ơng) để chứng minh cho tính chất tập quyềnchuyên chế của bộ máy nhà nớc thời Lê sơ nên chỉ xoay quanh việc nghiêncứu nền hành chính “dân sự” Tuy nhiên ở phần tổng quan này chúng tôicũng xin mở rộng thêm về cơ cấu tổ chức nền “quân bị” ở trung ơng củachính quyền Lê sơ

Thời Lê sơ, Vua Thái Tổ sau khi dẹp xong giặc Minh “định công ởng chức cho công thần… nhchia đất nớc làm năm đạo… nhở mỗi đạo đặt một vệquân Đứng đầu mỗi vệ quân đều lấy đại tổng quản; đại đô đốc; đô đốc đạitổng quản đứng đầu” (2,65) Trớc đây, thống lĩnh quân đội thờng giao chocác tớng lĩnh nh thời Ngô - Đinh – Tiền Lê đứng đầu và thống lĩnh quân

đội (thập đạo tớng quân); thời Trần là Hoàng thái tử giữ chức Phiêu kỵ ợng tớng (Trần Quang Khải) khi có giặc cử ngời hiền tài trong Hoàng tộclàm tiết chế (Trần Quốc Tuấn) Thời Lê, Vua Lê là ngời thống lĩnh quân độitrong cả nớc, còn ban chỉ huy gồm các đại tổng quản… nh nh trình bày ở trên

Trang 37

th-nhng với nhiệm vụ giúp Vua, tham vấn cho Vua còn quyết định cuối cùng

2.2 Cơ cấu tổ chức của các cơ quan hành chính trung ơng giúp Vua

điều hành đất nớc

Trên đây chúng ta đã hiểu đợc phần nào về bộ máy hành chính trung

ơng thời Lê sơ, để nắm rõ hơn về bộ máy ấy cũng nh tính chất tập quyền

đ-ợc thể hiện trong bộ máy hành chính ấy, chúng ta cần nghiên cứu rõ hơn vềcơ cấu tổ chức của các cơ quan trung ơng giúp Vua điều hành đất nớc

2.2.1 Các cơ quan văn phòng

Các cơ quan văn phòng nh trên đã trình bày bao gồm Hàn lâm viện;

Đông các; Trung th giám; Bí th giám; Hoàng môn sảnh Đây là những cơquan trông coi việc giấy tờ bên cạnh Vua Bên cạnh đó, đông cung thái tửcũng có những cơ quan trông coi việc giấy tờ là Chiêm sự viện, Tả xuân ph-ờng, Hữu Xuân Phờng

2.2.1.1 Hàn lâm viện

Hàn lâm viện, đây là tên gọi một cơ quan văn phòng của nhà Vua,

“Hàn lâm viện” đợc thành lập từ thời nhà Đờng ở Trung Quốc để giữ việckhởi thảo các chiếu sắc hoặc biên soạn trớc tác những giấy tờ trong triều.Theo Đào Duy Anh thì ở nớc ta “Hàn lâm viện là quan hàm chia ra: Đãichiến; Cung phụng; Điểm bộ; Điển tịch; Biên tu; tu soạn; trớc tác; thịgiảng; thị độc; thị giảng học sĩ; thị độc học sĩ

Hàn lâm viện có chức năng soạn thảo các bài chế, biểu, ca và th:

“phàm là các bài chế, biểu, ca và th đều phụng mệnh khởi thảo, cùng là cácchức cung phụng trong triều đờng, nếu chức nào cha hợp đều đợc làm tờtrình tâu lên” (3,586) Ngày nay, Hàn lâm viện có chức năng khác là cơquan khoa học cao nhất, nơi tập trung những ngời tài năng của một lĩnh vựchay nhiều lĩnh vực, còn gọi là các viện sĩ (những ngời làm việc trong Hàn

Trang 38

lâm viện) Chế là bài văn của Vua để phong thởng các công thần, Cáo là bàivăn sắc phong cho các vị đại thần.

Đứng đầu Hàn lâm viện là chức Hàn lâm viện thừa chí, kế đến là cácchức Hàn lâm viện thị độc giữ việc đọc sách, tham khảo; Hàn lâm viện thịgiảng phụ trách việc giải thích, bình luận, chú thích các văn, th, thơ, ca,chế, biểu; Tả hữu thuyết th coi việc giải nghĩa kinh sách; Hàn lâm thị thbiên chế các văn th; Hàn lâm viện đãi chế sẵn sàng cho biết ý kiến về văn tếtrong bài chế của Vua; Hàn lâm viện hiệu lý, Đãi chiếu kiểm soát, chỉnh lý

và sẵn sàng cho ý kiến về văn từ trong chiếu chỉ, cũng là chú giải khi có

ng-ời hỏi về những chữ trong chiếu chỉ của Vua; Hàn lâm viện kiểm thảo giữviệc kiểm thảo các văn th

Trực thuộc Hàn lâm viện còn có các Quán (tên chỉ cơ quan, nhà đểlàm việc, chỗ dạy học) là: Sùng văn quán; Chiêu văn quán; Tú lâm cục.Sùng văn quán là cơ quan trông coi về sách vở, đồ th (địa đồ và th tịch),cung cấp tài liệu và chỉ bảo học sinh Chiêu văn quán: là cơ quan trông coiviệc sao chép, sửa sang, hiện đính tứ khố đồ th (tứ khố đồ th là bốn loạisách: Kinh (sách Triết học của Nho giáo); Sử (sách ghi chép lại những việc

đã xảy ra); Tử (sách của Ch Tử); Tập (các sáng tác của các văn gia thi sĩ thơ, ca, phú) Tú lâm cục là cơ quan trông nom và dạy bảo con các quanviên Mỗi “quán” trên đều có một viên T huấn đứng đầu và một viên Diễnnghĩa giúp việc

2.2.1.2 Đông các toà.

Đây là cơ quan phụng mệnh sửa chữa các bài chế, cáo, thơ, ca, văn,

th và coi sóc sự bảo cử ở Triều đình: “Phàm các bài chế, cáo, thơ, ca, văn,

th đều phụng mệnh sửa chữa; cùng là sự bảo cử ở Triều đờng cha đợc hợp,

đều đợc làm tờ trình lên” (3,586) Đông các toà là cơ quan giúp việc choHàn lâm viện Trớc kia, nhà Minh đã lập nên cơ quan này để phụ giúp Hànlâm viện và đặt ra các Đại học sĩ để đứng đầu bốn Điện và hai Các trongviện Hàn lâm, bao gồm: Trung cục điện (do Trung cục điện Đại học sĩ đứng

đầu); Kiến cục điện (do Kiến cục điện Đại học sĩ đứng đầu); Văn hoa điện(do Văn hoa điện Đại học sĩ đứng đầu) và Vũ anh điện (do Vũ anh điện Đạihọc sĩ đứng đầu) Hai Các là Văn uyên các (do Văn uyên các Đại học sĩ

đứng đầu) và Đông các (do Đông các Đại học sĩ đứng đầu)

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban NC & BSLS Thanh Hoá: Thanh Hoá thời Lê - Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông, NXB Thanh Hoá, n¨m 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hoá thời Lê
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chơng loại chí, Tập 1, NXB Giáo dục, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chơng loại chí, Tập 2, NXB Giáo dục, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Vũ Ngọc Đĩnh: Hào kiệt đất Lam Sơn. NXB Văn học, Hà Nội, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hào kiệt đất Lam Sơn
Nhà XB: NXB Văn học
5. Nguyễn Sỹ Giác: Hồng Đức thiện chính th, NXB Hà Nam ấn quán, Sài Gòn năm 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồng Đức thiện chính th
Nhà XB: NXB Hà Nam ấn quán
6. PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ: Lại bàn về chế độ phong kiến Việt Nam, Tạp chÝ NCLS sè9 n¨m 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về chế độ phong kiến Việt Nam
7. INSUNYU: Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII XVIII – , NXB KHXH, Hà Nội 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII XVIII
Nhà XB: NXB KHXH
8. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lợc, NXB Thanh Hoá, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lợc
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
9. PGS Hoàng Văn Lân: Các quan hệ chủ yếu trong xã hội phong kiến Đại Việt thế kỷ XV, Chuyên đề đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam,Đại học Vinh 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan hệ chủ yếu trong xã hội phong kiến ĐạiViệt thế kỷ XV
11. PGS Hoàng Văn Lân: Lịch trình tiến hoá của t tởng Việt Nam, tạp chí Triết học số 13, Hà Nội năm 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch trình tiến hoá của t tởng Việt Nam
12. GS Phan Huy Lê, GS Phan Đại Doãn: Khởi nghĩa Lam Sơn, NXB KHXH, Hà Nội 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà XB: NXB KHXH
13. . GS Phan Huy Lê: Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ , Hà Nội 1959 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ
14. Ngô sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn th, tập II, NXB KHXH, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th
Nhà XB: NXB KHXH
15. Ngô sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn th, tập III, NXB KHXH, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th
Nhà XB: NXB KHXH
16. Ngô sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn th, tập IV, NXB KHXH, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th
Nhà XB: NXB KHXH
17. Lê Kim Ngân : Tổ chức chính quyền trung ơng dới triều Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Sài gòn 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền trung ơng dới triều Lê Thánh Tông(1460 - 1497)
18. Nguyễn Diên Niên (khảo chứng), Lê Văn Uông(chú dịch): Lam Sơn thực lục, NXB KHXH, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lam Sơn thựclục
Nhà XB: NXB KHXH
19. Quốc sử quán triều Nguyễn: Việt sử thông giám cơng mục, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử thông giám cơng mục
Nhà XB: NXB KHXH
20. Quốc triều hình luật, Viện sử học, NXB Pháp lý, Hà Nội 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hình luật
Nhà XB: NXB Pháp lý
21. GS. Trơng Hữu Quýnh, GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Lê Mậu Hãn: Đại c-ơng Lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, n¨m 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại c-"ơng Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w