Do đó, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát trên một số phơng diện cơ bản nh: Cái tôi trữ tình của nhà thơ, không gian nghệ thuật, giọng 4.. Tình yêu Thợng đế màR.Tagore thể hiện trong c
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn -*** -
Trang 2Lời cảm ơn
-Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, chúngtôi còn đợc sự hớng dẫn tận tình chu đáo và có phơng pháp của thầy giáo NguyễnVăn Hạnh, sự góp ý chân tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, sự độngviên khích lệ của các bạn đồng nghiệp
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn
Vinh, tháng 05 năm 2006
Sinh viên
Đỗ Thị Minh Phơng
Trang 3Mục lục
Trang
1.1.2 Các dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ 101.1.3 Nội cảm hoá cái tôi chủ thể – 05/2006 một dạng thức biểu hiện của
1.2 Hình tợng con ngời cô đơn – 05/2006 hiện thân của cái tôi nhà thơ
1.2.1 Ngời lữ khách trên đờng dài vạn dặm 15
1.2.3 Nhà hiền triết đắm mình trong suy tởng 21
Chơng 2 Không gian tâm linh với dòng cảm xúc hớng nội 26
2.1.2 Không gian tâm linh- một dạng thức tồn tại đặc biệt
2.2 Không gian tâm linh trong thơ R.Tagore 31
Trang 42.2.1 Không gian chiêm nghiệm, suy t 32 2.2.2 Nội cảm hoá không gian ngoại giới 38
Chơng 3 Chiêm nghiệm, suy t trong giọng điệu trữ tình 49
3.2 Chiêm nghiệm , suy t với việc chuyển tải cảm xúc
3.3 Các hình thức của giọng điệu chiêm nghiệm, suy t 55 3.3.1 “Cái tôi bề sâu” với giọng điệu chiêm nghiệm, suy t 55 3.3.2 Sự phân thân của cái tôi trữ tình với giọng điệu
3.2.3 Chiêm nghiệm suy t qua những khái quát tổng thuật 61
Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 văn học ấn Độ và thế giới thế kỉ XX đã sản sinh ra một hiện tợng kiệt xuất,
một tài năng kì lạ- Rabindranath Tagore Sáng tác của ông là một trong những
Trang 5thành tựu xuất sắc và mĩ lệ nhất của nền văn học nghệ thuật ấn Độ và thế giới Ông
đựơc đánh giá là “nhà thơ vĩ đại nhất của những tâm hồn ấn Độ”, “ngôi sao sángcủa ấn Độ phục hng”
Với những gì để lại cho đời, đặc biệt là ở lĩnh vực thơ ca, R.Tagore xứng
đáng là một thiên tài toàn diện “Ông thuộc vào số không nhiều ngời mà tên tuổicủa họ trở thành biểu tợng cho khả năng sáng tạo kì diệu của con ngời trên trái
đất” R.Tagore đã để lại cho văn hoá nhân loại một gia tài khổng lồ các tác phẩmvăn học nghệ thuật phong phú, đa dạng và vô giá Trong đó thơ là thành tựu xuấtsắc nhất trong sự nghiệp sáng tác của R.Tagore Trong kho báu thơ ca ấy, tên tuổi
ông lấp lánh hào quang Khi giải thởng văn học cao quý nhất đợc trao cho tập ThơDâng– 05/2006 tập thơ có những vần thơ đẹp lộng lẫy, sang trọng, cũng là lúc R.Tagoretìm thấy ngôi nhà của mình ở mọi nơi trên thế giới Với Thơ Dâng, thế giới khôngchỉ biết đến R.Tagore, mà hơn thế còn khám phá ra văn học ấn Độ– 05/2006 một nền vănhọc vĩ đại chứa đựng bao điều huyền diệu
Nghiên cứu thơ ca R.Tagore, vì vậy không chỉ để hiểu tài năng thơ ca củaR.Tagore mà còn để hiểu nền văn hoá ấn Độ– 05/2006 một nền văn hóa phong phú, đadạng và đặc sắc
1.2 Nh đã nói, R.Tagore là thiên tài toàn diện, tài năng của ông toá sáng trên nhiều lĩnh vực R.Tagore là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch lớn một hoạ sĩ có tài, một nhạc sĩ nổi tiếng, một nhà hoạt động xã hội, một vị hiền triết hiểu biết sâu rộng
Tuy nhiên, trên thế giới, cả phơng Đông, phơng Tây, ngời ta biết đếnR.Tagore nhiều nhất với t cách là một nhà thơ Tài năng thơ của ông đợc phát triển
và bộc lộ từ rất sớm Hơn 10 tuổi ông bắt đầu làm thơ, đến 16 tuổi ông đã là mộtnhà thơ nổi tiếng ở Bengal 80 tuổi, trớc khi mất ba ngày, ông vẫn làm thơ Có thểnói, thơ là mảnh đất màu mỡ ơm mầm cho tài năng của R.Tagore phát triển và đa
ông lên đến vinh quang tột đỉnh Với những sáng tác xuất sắc của mình, R.Tagore
đợc thừa nhận nh một tài năng trác tuyệt, một trí tuệ u việt Qua khối lợng thơkhổng lồ của ông, ngời ta không chỉ thấy nổi bật lên một hồn thơ yêu đời, khátkhao giao cảm với đời, mà còn thấy nổi bật lên một kiểu t duy nghệ thuật khác lạ-
t duy hớng nội Đây là kiểu t duy nghệ thuật đặc thù Tài năng, cá tính sáng tạo,phẩm chất nghệ thuật đặc thù của thơ R.Tagore đợc bắt nguồn từ kiểu t duy nghệthuật khác lạ này Tìm hiểu tính chất hớng nội trong t duy nghệ thuật thơ R.Tagore,vì vậy, cũng chính là tìm đến bản chất nghệ thuật thơ ông
Trang 61.3 Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, từ nhiều năm nay R.Tagore làmột tác giả trọng tâm trong chơng trình môn văn ở nhà trờng, từ bậc phổ thông đếnbậc đại học Nhiều tác phẩm thơ của R.Tagore đã đợc đa vào chơng trình vănhọc Tuy nhiên có một thực tế, việc giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh
đang gặp không ít khó khăn, mà nguyên nhân của nó là ở một kiểu t duy nghệ thuậtkhác lạ của R.Tagore Vì lẽ đó, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài trên đây với hivọng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tháo gỡ phần nào khó khăn trong việc giảngdạy và học tập thơ R.Tagore
2 Mục đích và nhiệm vụ
2.1 Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là tìm hiểu tính chất hớng nộitrong t duy nghệ thuật thơ R.Tagore Từ đó, bớc đầu nhận diện phong cách và t duynghệ thuật của nhà thơ tài năng này
2.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ :
- Thứ nhất, phân tích và chỉ ra những biểu hiện của tính chất hớng nội trong tduy nghệ thuật thơ R.Tagore
- Thứ hai, trong một chừng mực nhất định, chỉ ra những khác biệt giữa t duynghệ thụât thơ R.Tagore so với một số nhà thơ cùng thời
3 Phạm vi, đối tợng khảo sát
3.1 Tìm hiểu tính chất hớng nội trong t duy nghệ thuật thơ R.Tagore là một vấn đềthú vị nhng cũng rất phức tạp Do đó, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát trên một
số phơng diện cơ bản nh: Cái tôi trữ tình của nhà thơ, không gian nghệ thuật, giọng
4 Phơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng
ph-ơng pháp khảo sát thống kê và phân tích theo đặc trng thể loại, mà ở đây là thơ trữtình Ngoài ra trong một chừng mực nào đó, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp sosánh
5 Lịch sử vấn đề
Nói đến ấn Độ là nói đến một đất nớc có nền văn minh từ rất sớm và cómột nền văn hoá chứa đựng nhiều điều huyền diệu Và nói đến ấn Độ là nói đến
Trang 7thiên tài R.Tagore, bởi ông là một trong những ngời “ấn Độ nhất” Chính vì lẽ đó
mà đã có rất nhiều công trình công phu và đặc sắc về R.Tagore đã ra đời, không chỉ
ở đất nớc ấn Độ mà ở trên toàn thế giới Ngời ta xem đây là một hiện tợng đặc biệtcần đợc tìm hiểu, khám phá và khơi nguồn
ở phơng Tây, từ những năm 20 của thế kỉ XX đã xuất hiện nhiều côngtrình nghiên cứu giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của R.Tagore ở Anh, Pháp,
Đức, Mĩ Đặc biệt, khi giải thởng Nobel văn học năm 1913 đợc trao cho tập ThơDâng của R.Tagore thì tập thơ đã lần lợt đợc dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới,tài năng và tên tuổi của ông ngày càng nổi tiếng trên toàn thế giới ở Pháp, tập ThơDâng qua bản dịch của Andregit (1950) đến nay đã tái bản 107 lần ở Nga, mộtnăm sau khi R.Tagore đợc trao giải thởng Nobel về văn học đã xuất hiện 4 bảndịch “Thơ Dâng” Pie Hintrom, viện sĩ viện hàn lâm Thuỵ Điển nói về tập ThơDâng khi quyết định tặng giải thởng Nobel nh sau: “Tập thơ nhỏ bé đợc chính tácgiả dịch ra tiếng Anh đã tạo ra một ấn tợng về sự phong phú và tài năng thơ đángkinh ngạc đến mức không có gì là lạ hay vô lí trong đề nghị tặng thởng cho nó”.[19, 120-121] Vì thế, tập Thơ Dâng đã dễ dàng đạt tới mức kỉ lục trong việc dịchthuật và tái bản
Trong lời giới thiệu Thơ Dâng xuất bản ở Anh (1912), nhà thơ W.Yeats đãnói tới sự kết hợp hài hoà giữa tôn giáo và thơ ca trong sáng tác của R.Tagore Theo
ông, đó cũng chính là đặc trng của văn hóa ấn Độ– 05/2006 một nền văn hoá “suốt hàngnăm thơ ca và tôn giáo đã thống nhất hài hoà làm một” Tình yêu Thợng đế màR.Tagore thể hiện trong các bài thơ của mình, theo W.Yeats chỉ là sự thần thánhhoá những tình cảm bình dị trong cuộc đời thực tại, là một cách triết lí về tình yêucuộc đời của nhà thơ Tình yêu Chúa trong thơ R.Tagore, vì vậy, về bản chất là tìnhyêu cuộc đời trần thế, là niềm khát khao giao cảm với cuộc đời
Có cùng quan điểm đó với W.Yeats là S.Moore, ông cho rằng: đề tài duynhất của tập thơ là tình yêu Chúa Còn E.Komorov trong bài “R.Tagore nhà thơnhân đạo vĩ đại của ấn Độ” đã chú ý đến tính trữ tình, triết lí, mang đậm màu sắctôn giáo trong thơ R.Tagore Ông viết: “R.Tagore đã sáng tạo nên một bức tranhthiên nhiên và gửi gắm vào đó những tình cảm sâu kín của con ngời, mặc dù đôi lúc
nó bị bao phủ trong sơng khói của tôn giáo thần bí Đó không chỉ là thế giới của sựtồn tại bên ngoài mà nó còn là sự thể hiện một cách đa dạng thế giới nội tâm củanhà thơ” Bàn về hình tợng Thợng đế trong thơ R.Tagore, E.Komorov cho rằng
“Thợng đế về bản chất chính là cuộc đời đợc bổ sung bằng những ý nghĩa thầm kín,thiêng liêng nhất”
Trang 8Còn ở Việt Nam, nếu so với phơng Tây thì R.Tagore xuất hiện khá muộnmàng, tên tuổi của ông lần đầu đợc nói tới là vào năm 1924 trên báo Nam Phong(số 89) với những bài viết mang tính chất giới thiệu Đến năm 1929, tên tuổiR.Tagore lại đợc nhắc đến trên tuần báo Phụ nữ Tân văn trong một tuần báo ngắnnhân dịp nhà thơ ghé thămSài Gòn Đến năm 1943, nhà xuất bản Tân Việt cho ra
đời cuốn “Thi hào R.Tagore” của tác giả Nguyễn Văn Hai thì ngời đọc Việt Nam
đã bớc đầu có đợc cách nhìn đầy đủ hơn về R.Tagore Tuy vậy, trớc cách mạngtháng Tám, ở nớc ta vẫn cha có công trình nghiên cứu nào đề cập hay đi sâu vàotìm hiểu hay khám phá nghệ thuật thơ của R.Tagore
Sau cách mạng tháng Tám, do hoàn cảnh chiến tranh, điều kiện nghiên cứu,giới thiệu tinh hoa văn học thế giới ở nớc ta, trong đó có văn học ấn Độ gặp không
ít khó khăn Đến những năm đầu của thập niên 60- thế kỉ XX, sau chuyến thăm ấn
Độ của chủ tịch Hồ Chí Minh, mới xuất hiện một số công trình nghiên cứu vềR.Tagore Và từ đây, R.Tagore thực sự có một sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với cácnhà dịch thuật, nghiên cứu ở nớc ta
Trong lời giới thiệu thơ R.Tagore, Xuân Diệu cho rằng đặc trng cốt lõi củathơ R.Tagore là tình yêu cuộc đời, niềm khát khao giao cảm gắn bó với cuộc đời
Và theo ông, đó là chìa khóa để đi vào khám phá thế giới nghệ thuật phong phú đadạng của R.Tagore, ông viết: “Đời R.Tagore đầy niềm yêu và vui sớng R.Tagorethờng tỏ lòng biết ơn đối với sự tốt đẹp sung sớng ở đời R.Tagore là một thi sĩ vàmột ngời sống trên đời này Có nắm điểm đó, ngời ta có thể đi sâu vào các khíacạnh khác”[14,8]
Đến năm 1961, công trình dịch thuật về R.Tagore một cách có hệ thống
đầu tiên đã ra đời ở nớc ta Đó là cuốn tiểu luận “Rơ-vin-đơ-ra-nat Ta-go-rơ” của
tác giả Cao Huy Đỉnh Cuốn sách đã phác thảo khá đầy đủ và toàn diện về cuộc
đời, t tởng và những thành tựu nghệ thuật đặc sắc của R.Tagore Công trình dịchthuật này đã khởi đầu cho quá trình nghiên cứu, giới thiệu R.Tagore nói riêng vàvăn học ấn Độ nói chung ở nớc ta Cùng năm đó, Yến Lan– 05/2006 Xuân Diệu cũngtuyển dịch một số bài thơ của R.Tagore từ tiếng Pháp
Ngoài ra, chúng ta còn bắt gặp nhiều công trình khác về cuộc đời và sự
nghiệp sáng tác của R.Tagore Chẳng hạn cuốn “R.Tagore nhà thơ nhân loại ” của
Phan Lạc Tuyên, xuất hiện năm 1967 Các bản dịch thơ của Đỗ Khánh Hoan, xuấtbản trong ba năm đầu của thập kỉ 70 Song phong phú và đa dạng nhất phải kể đến
tuyển tập “Thơ R.Tagore” của Đào Xuân Quý (1979) với các tập thơ đợc tuyển dịch
nh “Thơ Dâng , Ng ” “Ng ời làm vờn , Những con chim bay lạc , Trăng non ” “Ng ” “Ng ”…
Trang 9Năm 1984, với cuốn “Giáo trình văn học ấn Độ từ khởi thuỷ đến 1980” của
PGS Lu Đức Trung, thơ R.Tagore và văn học ấn Độ chính thức đợc đa vào giảngdạy trong các trờng đại học, cao đẳng Điều này có ý nghĩa to lớn góp phần thúc
đẩy sự phát triển của quá trình giới thiệu, tìm hiểu nền văn học ấn Độ ở Việt Nam
Cho đến nay, đã có hàng trăm bài viết đợc đăng tải trên các tạp chí, thamluận, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả trong và ngoài nớc
Điều đó đã chứng tỏ đợc sức hấp đẫn mãnh liệt từ phía những sáng tác củaR.Tagore và chính từ cuộc đời ông Tuy nhiên, những gì chúng ta đã làm dờng nhvẫn rất nhỏ bé trớc khối lợng tác phẩm đồ sộ của R.Tagore Đó đây cũng đã cónhững bài viết, những công trình nghiên cứu về thơ R.Tagore Tuy nhiên nhìnchung các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích một khía cạnh, một biểu hiệnnào đó trong t duy nghệ thuật hay t tởng của R.Tagore Chẳng hạn, năm 1998,
Tống Cầm Ren với khoá luận“Thiên nhiên trong cảm xúc hớng nội của R.Tagore ”
cũng đã bớc đầu hình thành và nhận diện nên một biểu hiện tính chất hớng nộitrong t duy nghệ thuật thơ R.Tagore Tiểu luận này xem thiên nhiên nh một phơngthức trữ tình của cái tôi trữ tình phong phú, đa dạng của R.Tagore, tức là tìm kiếm ýnghĩa vai trò của thiên nhiên trong việc thể hiện cảm xúc trữ tình đặc biệt tinh tế,phong phú của ông
Năm 2000, trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, Nguyễn Văn Hạnh có
bài viết “Cái tôi trữ tình của R.Tagore trong Thơ Dâng(Gitanjali) ” Trong bài viết
này, tác giả đã đề cập đến hình tợng con ngời trong thơ R.Tagore “đó là sản phẩmcủa một tâm hồn mơ mộng sùng đạo, một t duy hớng nội siêu hình, xem thế giớinội tâm của con ngời là thực tại và luôn khát khao hớng tới cái vĩnh hằng tuyệt
đối”.[5, 45] Bên cạnh đó chúng ta có thể kể đến những nghiên cứu khác của tác giảnày về thơ R.Tagore, đặc biệt là những biểu hiện của t duy nghệ thuật thơ R.Tagore
nh: Con ngời cá nhân trong t tởng nghệ thuật R.Tagore(Những vấn đề lí thuyết lịch
sử văn học, Nxb GD, H, 2001); Tôn giáo và thơ ca nhìn từ phơng Đông(TCNCVH,
số 2, 2/2006); Thiên nhiên trong Thơ Dâng(TCVH, số 9/ 2000)
Năm 2002, trong luận văn thạc sĩ “Mối quan hệ giữa tôn giáo và thơ ca
trong sáng tác của R.Tagore và Hàn Mặc Tử , ” Nguyễn Thị Dung đã đề cập đến
một biểu hiện rất quan trọng trong t duy nghệ thuật thơ R.Tagore đó chính là khônggian tâm linh với dòng cảm xúc hớng nội, với hai hình thức không gian tiêu biểu làkhông gian chiêm nghiệm suy t và không gian ngoại giới đợc nội cảm hoá Đâycũng là một công trình nghiên cứu đã phân tích và nghiên cứu khá sâu t tởng vànghệ thuật sáng tác của R.Tagore
Trang 10Điểm qua một vài nét về lịch sử nghiên cứu về thơ R.Tagore, có thể thấycho đến nay cha có một công trình, một bài viết nào đi sâu nghiên cứu t duy nghệthuật thơ R.Tagore, mặc dầu rải rác đó đây, đã có những ngời đề cập tới Đề tài củachúng tôi, vì vậy, có thể xem là sự khởi đầu cho một vấn đề thực sự có ý nghĩa nh-
ng vô cùng phức tạp, khó khăn
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Nội cảm hoá cái tôi trữ tình nhà thơ
Chơng 2: Không gian tâm linh với dòng cảm xúc hớng nội
Chơng 3: Chiêm nghiệm, suy t trong giọng điệu trữ tình
Và cuối cùng là một danh mục tài liệu tham khảo chính
Chơng 1
Nội cảm hoá cái tôi trữ tình nhà thơ
1.1 Giới thuyết khái niệm
1.1.1 Cái tôi trữ tình trong thơ
Xin đợc nói ngay rằng chúng tôi không có ý định đi tìm kiếm một địnhnghĩa về cái tôi trữ tình trong thơ Đó là công việc của những nhà lí luận Tuynhiên, có một thực tế cho đến nay khái niệm cái tôi trữ tình vẫn còn tồn tại nhiềucách hiểu, cách lí giải với những biên độ khác nhau Điều này đã dẫn đến sự thiếuthống nhất trong việc khảo sát những hiện tợng cụ thể Vì vậy, chúng tôi phải giớithuyết khái niệm, làm cơ sở cho việc khảo sát đặc trng của cái tôi trữ tình trong thơR.Tagore
Nói đến khái niệm cái tôi trữ tình, xin đợc bắt đầu từ khái niệm “cái tôi”
Đây là một phạm trù triết học đợc lí giải theo nhiều quan điểm khác nhau Theoquan điểm triết học duy tâm thì cái tôi là phơng diện trung tâm của tinh thần conngời, có khả năng chi phối hoạt động và sự khẳng định nhân cách của con ngờitrong thế giới Ngợc lại, triết học Mác-Lênin lại xem cái tôi là “ trung tâm tinh thầncon ngời, có quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản thân mình Chỉ cócon ngời độc lập kiểm soát hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ độngtoàn diện mới có cái tôi của mình” Nh vậy, tính tích cực chủ động của cái tôi đã đ-
ợc khẳng định và đó là một cấu trúc nhân cách mang tính phổ quát
Trang 11Cái tôi trữ tình là hình tợng trung tâm làm nên bản chất chủ quan của nhàthơ Đó chính là thế giới tinh thần cuả con ngời đợc thể hiện trong tác phẩm trữtình bằng các phơng tiện của thơ trữ tình Về thực chất, cái tôi trữ tình là “cái tôi đ-
ợc nghệ thuật hoá”(Hà Minh Đức) Cái tôi tâm lí xã hội chỉ trở thành cái tôi nghệ
thuật khi nó có nhu cầu tự thể hiện, giao tiếp, tìm sự đồng cảm và đ ợc bộc lộ bằngngôn ngữ nghệ thuật Nội dung của nó là toàn bộ cái chủ quan, thếgiới nội tâm, tâmhồn đang t duy và đang cảm thấy cuộc sống bên trong Cái chủ quan không biểuhiện ra thành hành động mà vẫn cứ ở trong trạng thái nội cảm Do đó, mục đích của
trữ tình, theo G.Hegel là “Ngbộc lộ chủ thể” Cũng theo G.Hegel “nguồn gốc và điểm
tựa của trữ tình là ở chủ thể, và chủ thể là ngời duy nhất mang nội dung” Bởi thế,
“làm thơ không thể không có cái tôi” (tác thi, bất khả dĩ vô ngã)
Trong cái tôi mỗi con ngời bao giờ cũng có phần xã hội, phần cá nhân màhành động con ngời là kết quả của sự chi phối, tơng tác cái tôi trọn vẹn đó ở ph-
ơng diện này, cái tôi có chức năng nội cảm hoá toàn bộ thế giới, tạo thành thế giớichủ quan hết sức độc đáo của chủ thể ở phơng diện khác, cái tôi còn có chức năngxây dựng hình ảnh, quan niệm về chủ thể Cái tôi luôn tự xác định, luôn tự hìnhdung về bản thân mình, nhận ra mình trong các thể nghiệm, cảm xúc của mình ,xác nhận giá trị, ý nghĩa, sức mạnh của mình Không chỉ vậy, cái tôi còn có chứcnăng duy trì sự thống nhất bản chất tinh thần của mình qua bao biến đổi thăngtrầm, li hợp, tạo cho mình sự thống nhất bền vững Con ngời trong thơ vì vậy luônthành thực về nhu cầu, về khát vọng Bởi lẽ, sự rung động đầu tiên của sáng tạonghệ thuật bao giờ cũng bắt nguồn từ những cảm xúc thành thực Chính những cảmxúc thành thực đó đã giúp con ngời vợt qua giới hạn của thói thờng để vơn tới cáisâu sắc và độc đáo Trái tim ngời nghệ sĩ vốn rất nhạy cảm với mọi biến thái tinh vicủa đời sống Vì thế, cuộc sống đợc nhận thức, lí giải, đánh giá, ớc mơ, cảm xúcbằng chính nhân cách của ngời nghệ sĩ Diễn đạt điều này, R.Tagore từng nói
“cũng giống nh nụ cời và nớc mắt, thơ phản ánh một cái gì đã hoàn thiện từ bêntrong”
Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình còn mang tính thẩm mĩ Những giátrị thẩm mĩ là kết tinh của giá trị văn hoá lịch sử, kết tinh của giá trị truyền thống.Cái tôi trữ tình với t cách là ngời tham dự và chứng kiến trực tiếp, do vậy có khảnăng bao quát đợc những giá trị tinh thần của thời đại Thế giới tinh thần trong thơluôn khao khát hớng về cái chân, thiện, mĩ, hớng về cái không giới hạn mà triết lí
để kéo dài sự tồn tại đơn lẻ của kiếp ngời mà nói tiếng nói chung phổ quát của mọi
Trang 12cuộc đời, khi cái tôi trữ tình biết đứng lên trên những cảm xúc của mình để nhìn rõ
số phận con ngời
Thơ là đứa con tinh thần, là “tấm phiên bản trung thành” của ngời tạo ra nó.Tuy vậy không thể đồng nhất cái tôi của nhà thơ trong đời sống với cái tôi trữ tìnhtrong tác phẩm Bởi lẽ, bản chất giàu cảm xúc trong hoạt động sáng tạo của ngờinghệ sĩ khiến họ có khả năng đồng cảm với những đối tợng bên ngoài mình, khácvới chính mình Khi sáng tạo, nhà thơ đã tự nâng mình lên thành một tầm khác cáitôi đời thờng Nh vậy cái tôi trữ tình thống nhất nhng không đồng nhất với nhà thơ
Nh vậy, hình tợng cái tôi trữ tình trong thơ là một yếu tố quan trọng,bộc lộ bản sắc tâm hồn, tiềm năng sáng tạo và khả năng đồng hoá hiện thực củamỗi nhà thơ Những nhà thơ lớn đều có cái tôi trữ tình đa dạng, phong phú và độc
đáo, in đậm dấu ấn riêng trong nền thơ dân tộc.Tìm hiểu khái niệm cái tôi trữ tình,vì vậy chính là tìm hiểu một thế giới nghệ thuật độc đáo, giúp chúng ta hình dung
đợc, tính độc đáo về t duy nghệ thuật trên cơ sở thế giới quan, truyền thống văn hoá
và cá tính sáng tạo của nhà thơ
1.1.2 Các dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ
Cái tôi trữ tình là một tập hợp của rất nhiều quan hệ, với chính nó, với cấu
trúc tác phẩm Mỗi cái tôi là một giới hạn tiếp xúc với đời sống Bởi vậy có thể dựatrên nhiều tiêu chí để phân loại cái tôi trữ tình trong thơ
Dựa trên phơng pháp sáng tác có thể phân loại cái tôi trữ tình thành cái tôi cổ
điển, cái tôi lãng mạn, cái tôi hiện thực Dựa trên cấu trúc nhân cách, có thể nói tớicái tôi cá nhân, cái tôi xã hội,cái tôi tâm lí, cái tôi bản năng Dựa trên quan hệ củacái tôi với các phạm trù tinh thần có thể nói tới cái tôi đạo đức, cái tôi chính trị, cáitôi nghệ sĩ, cái tôi văn hoá.Dựa trên phơng thức bộc lộ, chúng ta có thể nói tới cáitôi suy tởng, cái tôi cảm xúc, cái tôi triết lí Ngoài ra chúng ta còn có thể nói tớinhiều dạng thức tồn tại khác của cái tôi trữ tình trong thơ.Tuy nhiên, dù đứng ở góc
độ nào thì bản chất của cái tôi trữ tình cũng không thay đổi Bởi đó chính là cái tôitác giả đợc nghệ thuật hoá trong thơ, đợc nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau.Mỗi giới hạn tiếp xúc biểu hiện một mối quan hệ xã hội, thẩm mĩ, đạo đức, tôngiáo của cái tôi trữ tình.Và ở mỗi cái tôi có một mô hình cấu trúc riêng, thể hiệnmột kiểu t duy nghệ thuật của nhà thơ
1.1.3 Nội cảm hoá cái tôi chủ thể- một dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ
Nội cảm hoá là một đặc trng sáng tạo của thơ ca, đặc biệt là thơ ca phơng
Đông gắn liền với t duy hớng nội Nội cảm hoá cái tôi trữ tình chính là một dạng
Trang 13thức đặc biệt của cái tôi trữ tình trong thơ Đó là cái tôi trữ tình đợc xét theo phơngthức bộc lộ.Với chức năng nội cảm hoá toàn bộ thế giới, tạo thành thế giới chủquan hết sức độc đáo của chủ thể, cái tôi trữ tình có sức dung chứa vô hạn Cuộc
đời cá nhân càng phong phú, sức nội cảm của cái tôi càng bao la siêu phàm, nănglực nội cảm này lấy cái tôi làm trung tâm, quy thế giới về mình làm cho mỗi ngời
có riêng một thế giới Đó là thế giới của giá trị cái nhìn
Nội cảm hoá cái tôi trữ tình là nét độc đáo về t duy nghệ thuật trên cơ sở thếgiới quan, truyền thống văn hoá và cá tính sáng tạo của nhà thơ Thế giới “nộicảm”, “thực tại bên trong”, “vơng quốc vô hạn của tinh thần” không lặp lại duynhất ở mỗi ngời nên có nhu cầu giao cảm, phá vỡ thể khép kín để thống nhất, đồngcảm với những tâm hồn khác Sự giao cảm này chỉ xảy ra khi thế giới ấy đợc trìnhbày trên văn bản giao tiếp ở đó cái tinh thần đã đợc chuyến sang những yếu tốmang tính vật chất cảm tính
Dạng thức nội cảm hoá cái tôi trữ tình phản ánh một kiểu t duy thơ , một tduy nghệ thuật khác lạ ở đó cái tôi nhà thơ vừa là chủ thể vừa là đối tợng của mọi
sự tìm tòi, sáng tạo.Những nhà thơ này thờng có khả năng cảm nhận tinh vi, nắmbắt sự rung động sâu xa nhất của tâm hồn Họ đi sâu vào khám phá, lí giải những
điều bí ẩn trong vũ trụ bao la, trong lòng ngời sâu thẳm, và đó là cách để tìm về vớibản ngã nguyên sơ Họ thờng chìm đắm vào một cuộc sống cô đơn tĩnh lặng, đểchiêm nghiệm và suy t, từ đó họ có khả năng nghe thấy những điều ta không nghe,nhìn thấy những điều ta không thấy
Thực tế cho ta thấy một cái tôi trữ tình nh thế không có nhiều trong thơ.Sáng tác của những tên tuổi lớn nh Paul Claudel, R.Tagore đợc xem là những
điển hình cho dạng thức đặc biệt đó của thơ ca nhân loại Với những nhà thơ nhR.Tagore, nội cảm hoá cái tôi trữ tình đối với ông chính là sự thể hiện dòng cảmxúc chiêm nghiệm, suy t trớc cuộc đời Đi sâu vào nghiên cứu sáng tác củaR.Tagore ta còn phát hiện ra đó chính là biểu hiện của sự hoà quyện giữa thơ ca vàtôn giáo (giữa thơ và đạo) “Thơ là đạo và đạo là thơ”.Thơ đã đạt tới đạo và đạo để
đi tới thơ Trong thơ ca hiện đại Việt Nam, Hàn Mặc Tử là một điển hình Thơ ông
và thơ R.Tagore đã có những điểm tơng đồng gặp gỡ và ở đó ta đều bắt gặp mộtdạng thức đặc biệt của cái tôi trữ tình trong thơ- một cái tôi đợc nội cảm hoá
1.2 Hình tợng con ngời cô đơn- hiện thân của cái tôi nhà thơ đợc nội cảm hoá
Hình tợng con ngời cô đơn chính là một biểu hiện của cái tôi nhà
Trang 14thơ đợc nội cảm hoá Đó là một dạng thức tồn tại của con ngời trong tơng quan với
vũ trụ với thiên nhiên, siêu nhiên đầy bí ẩn mà bàn tay trí óc con ngời cha vơn tới
Đó là sản phẩm của một xã hội mà tôn giáo, triết học đã thâm nhập một cách tựnhiên, sâu sắc vào mọi nghĩ suy hành xử của con ngời Trong thơ ca, đó là sảnphẩm của một tâm hồn mơ mộng sùng đạo, một t duy hớng nội siêu hình xem thếgiới nội tâm của con ngời là thực tại và luôn khát khao vơn tới cái vĩnh hằng tuyệt
đối Tuyệt nhiên đó cha phải là một con ngời nhỏ bé mang đầy bi kịch và luôn có
sự ý thức sâu sắc về cá tính, nhân cách của mình nh trong văn học lãng mạn phơngTây Hình tợng con ngời cô đơn trong văn học phơng Đông, đặc biệt là văn học ấn
Độ vì vậy mang bóng dáng của một ngời đi tìm chân lí giải thoát Chân lí nằm ngaytrong mỗi ngời nhng nó luôn bị che lấp bởi những giả tởng, ảo ảnh, vô thờng Conngời đạt đợc nó bằng con đờng tu tâm, tu luyện trí thức trí tuệ bằng thực nghiệmtâm linh và sự trực giác, và cuối cùng đạt đến sự bừng sáng trong tâm thức mà ngời
ấn Độ gọi là “đốn ngộ”
Trong văn học ấn Độ , hình tợng con ngời cô đơn xuất hiện từ rất sớm
Điều này có nguồn gốc ở tôn giáo triết học ấn Độ Đề cao đạo đức cá nhân, coitrọng đời sống tâm linh và gắn với nó là cuộc sống cô đơn dắm chìm trong dòngsuy tơng miên man, mơ mộng là một đặc điểm phổ quát trong đời sống tinh thần
ấn Độ Lí giải điều này, trong tác phẩm “Phát hiện ấn Độ (The discovery of” India), J.Nehru viết: “Cần phải nhớ rằng trong khi xu hớng xã hội ấn Độ là lệ
thuộc cá nhân vào yêu cầu của nhóm và xã hội thì t tởng tôn giáo và sự tìm tòi tinhthần luôn nhấn mạnh đến cá nhân Sự siêu thoát và hiểu biết chân lí là mở ngõ chotất cả mọi ngời, cho thành viên của mọi đẳng cấp dù cao hay thấp Sự siêu thoát haygiác ngộ đó không thể là việc của nhóm Nó mang tính chất hết sức cá nhân” Cũng
diễn đạt ý này, thiền s Quảng Nghiêm (1122-1190) có viết: Mỗi ngời tự tìm chomình một đờng đi riêng để trở thành Phật( Nam nhi tự có chí xung thiên, chớ bớctheo vết Nh Lai đã bớc) Hình tợng con ngời cô đơn trong văn học ấn Độ vì vậy làsản phẩm của một xã hội mà tôn giáo, triết học đã thâm nhập một cách sâu sắc vàomọi suy nghĩ hành xử của con ngời Vì lẽ đó khi bàn về văn hoá ấn Độ, các nhànghiên cứu đều thống nhất cho rằng: tính độc đáo của nó chính là sự thống nhấtgiữa thơ ca, tôn giáo và triết học Chúng đều có chung một hình thức t duy, đó là tduy hớng nội Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tôn giáo, thơ ca và các ngànhkhoa học khác Bởi t duy hớng nội thực chất là quá trình nội cảm hoá khách thể, vàbiểu đạt nó bằng một thế giới hình tợng cụ thể, cảm tính T duy hớng nội là cáchthức nhà thơ trở về với chính mình, khám phá những vỉa tầng thăm thẳm trong thế
Trang 15giới tinh thần.ở đó, nhà thơ, nhà hiền triết, kẻ tu hành thống nhất trong con ngờinhà thơ và kết tinh ở cái tôi trữ tình nhà thơ Điều này đợc thể hiện rất rõ ởR.Tagore- một nhà thơ tài năng của ấn Độ.
Sinh trởng trong một gia đình đại quý tộc có truyền thống học vấn bậc nhấtbấy giờ ở Bengal, R.Tagore sớm đợc tắm mình trong một môi trờng văn hoá.R.Tagore còn là một con ngời có cá tính mạnh mẽ, luôn ý thức xây dựng cho mìnhmột cuộc sống, một quan điểm riêng Ông thích cuộc sống cô đơn tĩnh lặng, đắmchìm trong miên man, suy tởng, xa lánh mọi sự ồn ào phồn tạp xung quanh Một
bác sỹ ngời Bengal đã từng viết về ông rằng: “Mỗi sớm mai, lúc ba giờ sáng, Ngời
ngồi yên lặng trầm ngâm và suốt trong hai giờ liền không ra khỏi giấc mơ suy nghĩ
về tính cách của Chúa” Đây là nét tính cách tâm lí tự nhiên của R.Tagore, ông nh
ngời ở ẩn giữa cuộc đời, nh một nhà hiền triết đang ẩn mình trong rừng xanh núithẳm Điều này cho thấy sự tự ý thức sâu sắc về cá nhân, về đất nớc của R.Tagore Bàn về tôn giáo, R.Tagore cho rằng “động cơ của tôn giáo là giải phóng
con ngời, nhng kết thúc lại là một nhà tù ảm đạm ” (Sadhana) Với tâm hồn nhạy
cảm và trí tuệ sáng suốt, R.Tagore không phủ nhận vai trò của tôn giáo nhất là mục
đích hớng thiện và giải phóng tâm hồn con ngời Song ông không bao giờ chấpnhận thứ tôn giáo siêu hình, thần bí, làm mê muội con ngời.Từ những nhận thức
này, R.Tagore đã đề ra cho mình một tôn giáo riêng “tôn giáo nhà thơ ( ” The
religion of an Artist), “tôn giáo con ngời”(The religion of Man) Trong tôn giáo của
ông không có Chúa, Thợng Đế mà chỉ có con ngời Bởi với R.Tagore, tôn thờ conngời, đề cao con ngời cũng chính là tôn thờ, đề cao Chúa, Thợng đế Qủa đúng là
“Thơ tôn giáo của R.Tagore là thứ thơ sùng kính say sa chứ không phải là thơ thần
bí Nó cố đa Chúa lên trái đất nh một con ngời, chứ không hề đem cuộc đời đặt dớichân Chúa” (Nira Chandhuri) Ngời ta có thể nghĩ thơ R.Tagore “thần bí”, khóhiểu Nhng, nói nh V.Bielinxki, “không bao giờ hiểu đợc nhà thơ nếu không muốnnhìn bằng cặp mắt của nhà thơ, nghe bằng tai của nhà thơ, nói bằng lời nhàthơ ”.Và đúng là, không bao giờ hiểu đợc R.Tagore nếu không có chất R.Tagoretrong tâm hồn
Khảo sát các tập thơ của R.Tagore ta thấy hình tợng con ngời cô đơn-hiệnthân của cái tôi nhà thơ đợc nội cảm hoá, biểu hiện dới ba dạng thức: ngời lữ kháchtrên đờng dài vạn dặm, một tín đồ trớc Chúa và một hiền triết đắm mình trong suytởng Dới đây chúng tôi đi vào tìm hiểu và phân tích các dạng thức tiêu biểu củahình tợng con ngời cô đơn trong thơ ông
1.2.1 Ngời lữ khách trên đờng dài vạn dặm
Trang 16Trong thế giới thơ ca đặc biệt của R.Tagore, đằng sau những hình ảnh thơ
đ-ợc lạ hoá bởi một t duy nhuốm màu tôn giáo là hình bóng con ngời cô đơn đang
đắm chìm trong niềm suy tởng miên man, trong dáng dấp một tín đồ sùng đạo đanghớng tới một đối tợng trữ tình đó là: Chúa, Thợng đế, Ngời Về bản chất, Chúa,Thợng đế hay Ngời đó đều là cuộc đời trần thế đợc bổ sung bằng ý nghĩa thànhkính, thiêng liêng Bởi nh đã nói, trong thơ R.Tagore, đời sống trần thế của con ng-
ời, những biểu hiện của cái tốt đẹp trong con ngời, đặc biệt là trong lớp ngời nghèokhổ thấp hèn, cần cù và chân thực chính là Thợng đế, Chúa ở trong tình yêu, tínhthiện của con ngời, và thiên đờng của Chúa luôn mở ngõ cho mọi ngời.Trong t t-ởng, tình cảm của mình, R.Tagore không hớng tới một vị thần tối thợng, duy nhất,tuyệt đối nào nh trong các tôn giáo truyền thống Ngời, Chúa, Thợng đế với nhàthơ chỉ là một ý niệm trừu tợng, những tên gọi khác nhau của cái Đại toàn duynhất Thực tế đó là cuộc đời trần thế đợc khoác lên vỏ bọc thần linh Ông chuyểnvấn đề Thợng đế thành vấn đề con ngời, cuộc sống và tình yêu R.Tagore đã chocuộc đời và tình yêu chiến thắng đợc mọi lí thuyết viển vông, giả dối về h vô vềThợng đế “Con ngời đối với R.Tagore là vĩ đại, là ánh sáng thiêng liêng, là lòngkhoan hồng rộng mở, là tâm hồn thanh thản, là tình yêu, là kẻ thù của kiêu ngạo vàhằn thù” [18,122] Vì vậy với nhà thơ, đến với Chúa, với Thợng đế là đến với cuộc
đời, với con ngời Ông đã yêu cuộc đời bằng tình yêu nồng nàn, thành kính của một
tín đồ sùng tín Và trong thơ ông nó đợc biểu hiện thành hình ảnh “ngời lữ khách
trên đờng dài vạn dặm”.
Có thể nói, ngời lữ khách trên đờng dài vạn dặm là một dạng thức đặc biệtcủa hình tợng con ngời cô đơn trong thơ R.Tagore Thực chất đây là hình ảnh cáitôi trữ tình nhà thơ trong dáng dấp một lữ khách âm thầm lặng lẽ trên đờng dài vôtận với nỗi niềm khát khao “chạm đến chân Ngời”, đợc “hát hầu Ngời” Hình ảnh
này ta bắt gặp rất nhiều trong các sáng tác của R.Tagore Bài số22 – 05/2006tập Thơ Dâng
là một ví dụ:
Trong bóng tối thâm sâu tháng bảy sập sùi, anh bí mật bớc đi, thầm lặng nh
màn đêm, lẩn thoát mọi cặp mắt ngắm nhìn/ Hôm nay ban mai đã khép mắt ngủ , chẳng buồn để ý tiếng gió Đông nằn nì réo gọi; trời xanh thao thức giăng kín đầy mây/ Rừng cây đã ngừng ca hát, và nhà nào nhà nấy đã cửa đóng then cài/ Anh là lữ khách cô đơn trên đờng này hiu quạnh/ Ôi! Ngời bạn tâm tình duy nhất, tôi quý thơng hết lòng, cổng nhà tôi vẫn mở sẵn- đừng đi qua nh giấc mộng lành.
Hình ảnh ngời lữ khách trên đờng dài vạn dặm ở đây chính là hình ảnh “ngời đi
tìm Thợng đế”, là hoá thân của cái tôi trữ tình nhà thơ Dù “Bóng tối thâm sâu
Trang 17tháng bảy sập sùi” nhng con ngời ấy vẫn âm thầm, mải miết trên đờng dài vô tậnvới niềm khát khao cháy bỏng đợc gặp Ngời, đợc hoà hợp với Ngời trong sự toàn
mãn(Sadhana) Và đó cũng chính là hình ảnh của ngời lữ khách trong bài số 12 tập Thơ Dâng:
Thời gian cuộc hành trình tôi đi thì dài và đờng đi cũng thế/ Tôi ra xe lúc trời vừa tảng sáng, ruổi rong qua bao thế giới hoang vu, dấu chân in trên nhiều vì sao
và hành tinh/ Đây là cuộc ra đi xa xôi nhất, cuộc ra đi dẫn tôi đến bên Ngời; cuộc tập dợt phức tạp nhất chính là cuộc tập dợt đa đến vẻ giản đơn tột cùng của một hoà âm/ Trớc khi về tới nhà mình, lữ khách đã phải gõ biết bao căn nhà xa lạ; lữ kháchphải lang thang qua bao thế giới bên ngoài, cuối cùng mới đến miếu thất sâu thẳm bên trong.
Hay:
Xin đừng để lữ khách túng nghèo, tủi hổ, túi đồ ăn rỗng không mà cuộc hành trình cha dứt, áo quần lấm bụi, tả tơi, sức nhoài lực kiệt; nhng xin làm cho đời lữ khách mới tơi nh bông hoa dới màn đêm hiền hậu của Ngời.
(Thơ Dâng, bài số 24)
Khát vọng đi tìm Thợng đế đã hình tợng hoá niềm khát khao đợc gắn bógiao cảm với cuộc đời, một thứ tình cảm đặc biệt mà với R.Tagore, cũng nh tìnhyêu Chúa của một tín đồ sùng tín Đó là niềm thôi thúc bên trong Giọng điệu bàithơ phảng phất âm hởng lời kinh cầu nguyện, chân thành, thiêng liêng:
Xin để ngời hiện ra trớc mắt tôi nh tia sáng đầu tiên trong làn ánh sáng/ Nh hình bóng đầu tiên của mọi bóng hình
(Thơ Dâng, bài số 47)
Ta còn bắt gặp hình ảnh ngời lữ khách trong một cuộc kiếm tìm không
ngừng nghỉ, con ngời ấy ra đi khi đêm hãy còn im lìm và màn tối đang phủ nặng “Ng rừng cây” Mặc cho:
Chúng tôi chẳng thể buộc chân anh lại bằng vòng tay cầu khẩn/ Cửa
đã mở, ngựa sẵn yên cơng chờ anh ngoài cổng/ Nếu chúng tôi có cố ngăn bớc anh
đi thì cũng không có gì ngoài bài ca chia tay/ Nếu có bao giờ chúng tôi cố níu kéo chân anh lại thì cũng không có gì ngoài ánh mắt nhìn the / Lữ khách, chúng tôi chẳng có gì giữ anh lại, chỉ trừ nớc mắt mà thôi.
(Ngời làm vờn, bài số 63)
Đó còn là hình ảnh lữ khách “suốt ngày qua đất liền và đại dơng” trong một hành trình “dài và nặng nề vô hạn” :
Lữ khách, anh đi đâu? “Ng ”
Trang 18Tôi đi tắm trên biển trong ánh bình minh rực hồng, dọc theo con đ “Ng ờng viền những hàng cây”
Lữ khách, biển đó ở đâu? “Ng ”
Đó là nơi con sông này kết thúc dòng chảy của nó, nơi bình minh nở “Ng
nụ cời buổi sáng, nơi ngày rơi vào bóng đêm”
(Vợt đại dơng, bài số 77)
ở đây ta thấy hình ảnh “Ngời lữ khách trên đờng dài vạn dặm” phảng phất bóngdáng “ngời ra đi ôm chí lớn” trong văn học lãng mạn bấy giờ Một dáng vẻ cô đơntrên đờng dài thăm thẳm với niềm khát khao thôi thúc bên trong Nhng nếu trongthơ ca lãng mạn “con ngời ra đi ôm chí lớn” xuất phát từ sự ý thức một bi kịch vềthân phận con ngời, mang trong mình một nỗi tuyệt vọng, bất mãn với cuộc sốngthì hình ảnh “ngời lữ khách trên đờng dài vạn dặm” hay “Ngời đi tìm Thợng đế” lại
ra đi vì một niềm thôi thúc mãnh liệt đợc gặpNgời và “hát hầu Ngời” Hành trình đến với Thợng đế chính là hành trình đến vớitình yêu, đến với cái đẹp của cuộc đời Và đó chính là một dạng thức đặc biệt củacái tôi trữ tình nhà thơ - hiện thân của cái tôi nhà thơ đợc nội cảm hoá
đồ đi tìm Chúa, thực chất là tâm thế của một con ngời trớc cuộc đời với một niềmkhát khao đợc giao cảm, gắn bó Con ngời ấy nh đang sống trong một không gian
đặc biệt, không thể chạm tới bằng cái nhìn phàm tục ở đó không có điện thờ thâm
u huyền bí, không có khói sơng nghi ngút, thay vào đó là tiếng lòng sâu thẳm dânglên Ngời “trọn vẹn niềm tin”:
- Tôi không hiểu lời Ngời đang hát, Ngời ơi! Tôi lắng nghe im lặng ngỡ ngàng.
(Thơ Dâng, bài số 3)
- Lúc này là lúc ngồi im lặng, đối diện với Ngời, trong trầm tĩnh thảnh thơi tràn trề, cất lời ca hiến dâng cuộc sống.
Trang 19Ngời ở nơi kia, nơi nông dân đang vật lộn cùng đất cứng, nơi công nhân đang
xẻ đá làm đờn/ Ngời đang ở đó cùng họ đổ mồ hôi dới lũ, dới mặt trời; áo quần lấm láp, bẩn dơ/ Hãy cởi tăng bào, rồi cũng nh Ngời bớc xuống đất cằn bụi rậm/ Giải thoát? Đờng giải thoát anh tởng nằm nơi nao? Thợng đế đã tơi vui khoác vào mình những sợi dây sáng tạo/ Ngời tự buộc mình mãi mãi với chúng ta
(Thơ Dâng, bài số 11)
Bằng sự lí giải sáng tạo, R.Tagore đã tớc bỏ uy quyền tuyệt đối của Chúa,kéo Chúa từ cõi vĩnh hằng xuống mặt đất, biến Chúa thành những ngời lao độngbình thờng Con ngời tìm đến với Chúa là tìm đến niềm vui (Ananda), với tình yêu(Kama), với lao động sáng tạo
(Thơ Dâng, bài số 76)
Chúa trời, Thợng đế đã từ một ý niệm tôn giáo về đấng sáng tạo cao siêu,
đầy quyền uy quyết định số phận con ngời trên trần thế trở thành vị “Chúa Đời”, làcuộc sống đang hiện hữu, biến đổi không ngừng, là ớc mơ, khát vọng để con ngờivơn tới
Hình ảnh “một tín đồ đi tìm Chúa” không chỉ xuất hiên trong tập Thơ Dâng
mà còn xuất hiện tràn ngập ở các tập thơ khác của R.Tagore Chẳng hạn:
Nửa đêm một ngời rắp tâm làm ẩn sĩ nói lớn: Bây giờ là lúc phải từ giã “Ng gia đình đi tìm Thợng đế ừ nhỉ, ai đã giam ta trong ảo tởng trần gian lâu dài đến thế? / Th ” ợng đế thì thầm: Ta chứ còn ai , nh “Ng ” ng ẩn sĩ không nghe thấy Vợ anh
Trang 20đang ngủ êm đềm; nàng nằm một phía giờng ôm con nhỏ bên ngực( … ) /Th ợng đế phán: Này tên khùng dại, đừng bỏ gia đình , nh “Ng ” ng ẩn sĩ không nghe thấy/ Thợng
đế thở dài, than vãn: Tại sao tôi bộc của ta lại phải lang thang tìm kiếm chính ta; “Ng tôi bộc, ngơi chối bỏ ta chăng?”
(Ngời làm vờn, bài số 75)
ở bài thơ này, Chúa không còn là vô hình, vô ảnh ở chốn cao xa, vĩnh hằngnữa mà Chúa là sự thức tỉnh, kéo con ngời ra khỏi thế giới ảo mộng, con ngời sẽnhận từ Chúa cả khổ đau và sung sớng ở ngay tại cuộc đời trần thế này Chúa còn là
tình yêu, là niềm khát khao hạnh phúc mà con ngời hằng vơn tới, “ngày đêm khao
khát gặp : ”
Tình yêu, lòng ta ngày đêm khao khát gặp ngơi- khao khát cuộc gặp gỡ
giống nh cái chết nuốt trôi đi tất cả( … ) Hỡi ôi, ớc mãi mơ hoài! Tìm đâu thấy hy vọng đoàn tụ nh thế trừ nơi Ngời, Thợng đế của lòng tôi?
(Ngời làm vờn, bài số 50)
Đến với bài số 28, tập Thiên nga ta lại bắt gặp hình ảnh một “tín đồ đi tìm
Chúa” với tấm lòng chân thành, tha thiết:
-Ngời đã cho tôi tiếng nói/ và tôi cho lại ngời nhiều hơn/ Tôi sáng tạo những
bài ca/( … )Một ngày kia tôi đã đến d ới chân Ngời/ Với đôi tay tự do, tự do để phục
vụ Ngời thôi …
Nh vậy đến với Chúa, với Thợng đế không phải là để xa lánh, siêu thoát nhtrong các tôn giáo siêu hình mà là đến với cuộc đời, trở về với cuộc đời Đây là triết
lí hoà hợp con ngời- vũ trụ mà R.Tagore đã kế thừa một cách tự nhiên quan niệm
“thiên nhân đồng thể hợp nhất” trong Upanishad Bởi lẽ đó, ngay cả khi cuộc đời
đã đến giây phút cuối cùng thì con ngời vẫn mải miết đi tìm Thợng đế nh không hề
có sự kết thúc: Suốt đời tôi ca hát để tìm Ng “Ng ời (Thơ Dâng, bài số 101) ”
1.2.3 Nhà hiền triết đắm mình trong suy tởng
Bớc vào thế giới thơ R.Tagore, bên cạnh hình ảnh “ngời lữ khách trên đờng
dài vạn dặm”, và hình ảnh “Một tín đồ đi tìm Chúa”, chúng ta còn bắt gặp hình ảnh nhà hiền triết đắm mình trong suy tởng Đây cũng là một dạng thức đặc biệt của cái
tôi nhà thơ đợc nội cảm hoá ở đây, ta bắt gặp hình bóng một con ngời cô đơn chìm
đắm trong một không gian tĩnh lặng, một con ngời cô đơn đang đối thoại với chínhmình, suy t chiêm nghiệm về cuộc sống con ngời Con ngời cô đơn đó mang dángdấp của một nhà hiền triết đang suy ngẫm về cuộc đời và tìm phơng cách lí giải đểrút ra bài học cho mình Khảo sát các tập thơ của R.Tagore ta thấy dạng thức nàyxuất hiện khá nhiều, đặc biệt là trong mảng thơ triết luận và thơ tình yêu Những
Trang 21hình ảnh sinh động, những mẩu chuyện thâm thuý, những từ ngữ giản dị trong sáng
đợc R.Tagore sử dụng để lí giải một cách minh bạch sâu sắc, đầy sức thuyết phục
về con ngời, cuộc đời và sự sống Ông đa lại cho ngời đọc một nhận thức đúng đắn
về Thợng đế, thiên đờng, địa ngục, sự sống và cái chết, về đau khổ và hạnh phúcTất cả đều đợc thể hiện dới hình tợng “nhà hiền triết đắm mình trong suy tởng”
Đây thực chất cũng là hoá thân của cái tôi trữ tình nhà thơ Trong hình tợng cái tôi
đó luôn có sự thống nhất giữa nhà thơ- nhà hiền triết phơng Đông Và đó cũngchính là dấu ấn, phẩm chất thẩm mĩ, chất trí tuệ trong thơ R.Tagore
- Vì vui riêng, Ngời đã làm tôi bất tận/ Thân này thuyền nhỏ mỏng manh đã
bao lần Ngời tát cạn rồi lại đổ đầy cuộc sống mát tơi mãi mãi/( … ) Tặng vật Ng ời ban vô biên vô tận, nhng để đón xin, tôi chỉ có hai tay bé nhỏ vô cùng/ Thời gian lớp lớp đi qua, Ngời vẫn chửa ngừng đổ rót, trong lòng tôi thì hãy còn vơi
(Thơ Dâng, bài số1)
Cái tôi trữ tình trong bài thơ đã nêu lên bản chất và ý nghĩa cuộc sống thôngqua sự đối lập giữa cái vô hạn của niềm vui, niềm hạnh phúc với cái hữu hạn củacuộc đời “Bàn tay bé nhỏ” chính là biểu tợng cho cuộc đời ngắn ngủi của con ngời.Cuộc sống tràn đầy nh vậy, nhng thi nhân tiếc rằng đôi bàn tay mình quá nhỏ hẹp,không đủ sức ôm vào lòng những cái mà cuộc sống cho mình Nhng không vì thế
mà R.Tagore phủ nhận sự ngắn ngủi của cuộc đời vì với ông ý nghĩa lớn lao nhấtcủa mỗi con ngời là đợc hoà mình, đợc gắn bó với cộng đồng, đợc tận hởng nhữnglạc thú của cuộc đời mang lại và hành động theo mục đích hớng thiện
Trong thơ R.Tagore những vấn đề sự sống, cái chết đã trở thành một cảmhứng sáng tạo gắn liền với những chiêm nghiệm, suy t của nhà thơ về cuộc đờitrần thế, về kiếp nhân sinh, đặc biệt là sau khi ông phải chứng kiến những cáichết của ngời thân ở đó, ta càng thấy xuất hiện hình ảnh một nhà hiền triết đắmmình trong suy tởng, nêu lên nhũng quan điểm của mình về sự sống, cái chết
Sự sống, cái chết đợc ông ví nh “li rợu tràn đầy” đã rót đầy ắp cuộc đời này (Thơ Dâng, bài số 1) Con ngời phải đấu tranh để giành lấy sự sống bằng một niềm tin vững chắc (Thiên nga, bài số 37) Không xa lạ đối với sự sống, chấp
nhận quy luật của tạo hoá, con ngời đón nhận cái chết với niềm tin yêu mãnh
liệt: Bởi yêu cuộc đời, tôi hiểu tôi cũng yêu cái chết nh “Ng vậy ( Thơ Dâng, bài ”
Trang 2290) B.Brecht từng nói: “Cái đáng sợ không phải là chết mà là sống rỗng tuếch”.
Nếu B.Brecht triết lí bằng lời thì R.Tagore triết lí bằng hình tợng, dệt đầy cảmxúc, từ đó ông đa ra quan niệm mang ý nghĩa nhân đạo giúp con ngời thoát rakhỏi nỗi ám ảnh cái chết, sống lạc quan, hởng thụ lạc thú trên đời
Nh đã nói ở trên, hình ảnh nhà hiền triết đắm mình trong suy tởng xuấthiện nhiều nhất có lẽ là ở mảng thơ tình yêu ở đó cái tôi trữ tình nhà thơ thấpthoáng ẩn hiện sau bóng dáng của một triết nhân chìm trong chiêm nghiệm, suy
t để chiêm nghiệm về tình yêu, về hạnh phúc và khổ đau Tính trữ tình- triết lívì vậy là một đặc điểm nổi bật trong thơ tình R.Tagore
Nhân vật trữ tình trong thơ R.Tagore hết sức say đắm nhng vẫn thấpthoáng bóng dáng con ngời- triết nhân tỉnh táo, cân nhắc, lập luận chặt chẽ, sắcsảo:
Nếu đó chỉ là viên ngọc báu, tôi sẽ đập ra thành trăm mảnh, xâu thành chuỗi rồi quàng lên cổ em xinh/ Nếu đó chỉ là bông hoa tròn trĩnh, nhỏ nhắn, thơm tho, tôi sẽ bứt khỏi cành rồi quàng lên mái tóc em đẹp
(Ngời làm vờn, bài số 28)
Qua việc bộc lộ tình yêu chân thành, khao khát yêu và đợc yêu, cái tôi cô
đơn R.Tagore suy ngẫm về tình yêu Trong quan niệm của ông, tình yêu đợcnhìn nhận nh một thuộc tính tự nhiên của con ngời, là hạnh phúc lớn lao nhấtcủa cuộc đời trần thế Cũng trong bài thơ này nhà thơ đã đa ra một triết lí hoàhợp trong tình yêu:
Tình yêu vẫn gần gũi với em nh chính cuộc đời em sống, song có bao giờ hiểu rõ hoàn toàn.
Và ông lí giải :
Đó lại là trái tim em ơi, thì biết đâu là bờ là đáy.
Hình ảnh trái tim xuất hiện với những bí ẩn khôn cùng khiến cho niềmhoà hợp đồng cảm trong tình yêu dù đẹp đẽ đến đâu cũng khó có thể trọn vẹn.Bởi đó là trái tim yêu:
Nhng đó lại là tình yêu em ạ Nguồn vui , nỗi sầu của tình yêu thờng mênh mông; điều tình yêu thiếu, tình yêu thừa cũng vô tận.
Câu thơ thể hiện một triết lí tiềm ẩn của thơ tình R.Tagore Sự hoà hợptrọn vẹn trong tình yêu là diều không phải dễ dàng đạt đợc Đó luôn là nỗi khátkhao vô biên của con ngời và nếu mỗi ngời đều hớng đến cái trọn vẹn đó trongtình yêu thì hạnh phúc sẽ đến với tình yêu của họ
Cùng với triết lí đó là:
Trang 23Tại sao đèn vụt tắt/ Tôi lấy áo choàng ngăn gió cho đèn, đấy là lí do “Ng khiến đèn vụt tắt/ Tại sao hoa úa tàn?/ Tôi ghì chặt hoa vào lòng với tình yêu u
t, đấy là lí do khiến hoa úa tàn/ Tại sao suối cạn nguồn?/ Tôi đắp đập qua suối
để lấy nớc mình dùng, đấy là lí do tại sao suối cạn nguồn/ Tại sao dây đàn đứt phựt?/ Tôi cố ép một cung điệu ngoài sức dây tơ, đấy là lí do khiến dây đàn đứt phựt.
( Ngời làm vờn, bài số 52)
R.Tagore đã đa ra một quan niệm về một thứ tình yêu không sa vàotầm thờng dung tục nh các nhà thơ phơng Tây, cũng không phải là một thứ tìnhyêu lí tởng đến mức không sao tìm đợc trên trái đất này Tình yêu cao đẹp thanhlọc khỏi nó mọi yếu tố vị kỉ, tầm thờng:
- Em là của riêng, của riêng tôi đang ngự trị trong đỉnh mộng hiền triền miên tôi hằng ấp ủ.
(Ngời làm vờn, bài số 30)
- Tôi vẫn muốn đi thêm, thêm nhiều nữa, dù cho đã có bầu trời, hằng hà sa số vì sao, dù cho đã có cả toàn thế giới, tài nguyên bất tận tràn trề, song nếu nàng
là của riêng mình, tôi sẽ mãn nguyện với nơi này nhỏ nhất, trên trái đất mình
đang sống hàng ngày.
(Tặng phẩm của ngời yêu, bài số 5)
Tình yêu đòi hỏi của riêng duy nhất và không chia sẻ, ích kỉ thế nhngkhông vị kỉ mà ngợc lại rất cao thợng:
Ngời em của lòng tôi, hãy bình tâm mà giữ cho giây phút chia tay này
đợc êm đẹp mãi/ Tôi cúi đầu giơ cao ngọn đèn soi bớc em đi.
(Ngời làm vờn, bài số 19).
Nh vậy với những vần thơ đẹp đẽ nhng không kém phần lãng mạn vàbay bổng, R.Tagore là một triết gia trong tình yêu Thơ ông gieo vào lòng ngời
đọc hạt mầm của niềm tin vào tình yêu và cuộc sống Đó là ý nghĩa của hình t ợng con ngời cô đơn trong thơ tình R.Tagore nói riêng và văn học ấn Độ nóichung
Trang 24
Chơng 2
Không gian tâm linh với dòng cảm xúc hớng nội
2.1 Giới thuyết khái niệm
đang sống, đang cảm thấy vị trí số phận của mình ở trong đó Nếu không gian địa
lí, vật lí xung quanh chỉ là yếu tố mang không gian sự sống của con ng ời thì khônggian nghệ thuật là hình thức tồn tại của sự sống con ngời, gắn liền với ý niệm về giátrị và sự cảm nhận về giới hạn giá trị của con ngời Không gian nghệ thuật có thểxem là một “không quyển” tinh thần bao bọc cảm thức con nguời, là một hiện tợngtâm linh nội cảm, chứ không phải là hiện tợng địa lí, vật lí Rõ ràng, không giannghệ thuật là phơng diện rất quan trọng của t duy nghệ thuật, đánh dấu trình độchiếm lĩnh thế giới của thơ
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, không gian nghệ thuật là hình thức bên
trong của hình tợng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuậttrong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trờng nhìnnhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của
Trang 25nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, xa, gần, rộng, dài tạothành viễn cảnh nghệ thuật.
Không gian nghệ thuật là một hiện tợng tâm linh nội cảm, là sản phẩm sángtạo của ngời nghệ sĩ với mục đích biểu hiện con ngời và thể hiện một quan điểmnhất định về cuộc sống Với cách nhìn này, không gian nghệ thuật là hình tợng củathế giới nghệ thuật, mang tính biểu trng Không có hình tợng nghệ thuật nào làkhông tồn tại trong một không gian, không có nhân vật nào không có một nền cảnhnào đó Bản thân ngời kể chuyện hay nhà thơ trữ tình cũng nhìn sự vật trong mộtkhoảng cách, góc nhìn nhất định Và cũng nh các loại hình tợng nghệ thuật khác,hình tợng không gian gồm nhiều hình thức, nh: không gian tuyến, không gian mặtphẳng, không gian bên trong, không gian bên ngoài Nh vậy, không gian bêntrong(hay không gian tâm hồn) mà ở đây chính là không gian tâm linh là một hìnhthức của không gian nghệ thuật ở chơng này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu và phântích dạng thức đặc biệt này của không gian nghệ thuật
2.1.2 Không gian tâm linh- một dạng thức tồn tại đặc biệt của không gian nghệ thuật thơ
Không gian tâm linh là một dạng thức tồn tại đặc biệt của không gian nghệthuật Nó là sản phẩm sáng tạo của nhà thơ, là thế giới của những cảm xúc, suy t,mộng ảo, đối lập với thực tại Hình thức không gian này gắn liền với một kiểu t duynghệ thuật đặc thù- t duy tôn giáo, gắn liền với dòng cảm xúc hớng nội Đặc điểmnổi bật của không gian tâm linh là sự tĩnh lặng, sâu đến vô cùng ở đó, màu sắc,thanh âm trở nên nhạt nhoà Đó là không gian tinh thần thuần khiết Mọi liên hệ vớithế giới bên ngoài dờng nh đã đợc loại bỏ Gắn với không gian ấy là sự xuất hiệncủa một “cái tôi bề sâu” (Bergson) Con ngời ấy đang chìm trong miên man suy t-ởng, chiêm nghiệm về con ngời và cuộc đời
Cùng với sự tĩnh lặng tuyệt đối, không gian tâm linh còn mang tính vĩnh
hằng Nhận xét về đặc điểm này, trong cuốn Thơ trữ tình Việt Nam 1975- 1990, tác
giả Lê Lu Oanh cho rằng đó là“Ngmột không gian linh thiêng cao cả với tinh thần vơn
tới cõi vĩnh hằng, chạm tới các giá trị vĩnh cửu để nghiền ngầm, khắc khoải về sựtồn tại của con ngời trong quy luật của tạo hoá” Hình thức không gian tâm linh bộc
lộ một nhu cầu đối thoại trong thẳm sâu ý thức và cảm xúc về những vấn đề mangtính muôn thuở: sự sống– 05/2006 cái chết, Thiện- ác, niềm vui– 05/2006 nỗi đau, lòng nhân ái,cái h vô của danh vị, h ảo của cuộc đời Đó còn là những giấc mơ, cơn say, sự mêsảng, tiếng nói trong đêm khuya, lúc mờ sáng Cõi phi lí tính của thế giới bí ẩn
Trang 26trong tâm hồn con ngời cũng đợc đụng chạm đến thông qua sự đứt đoạn và nối tiếpcủa dòng ý thức với những hình ảnh ngột ngạt, kì dị, và căng thẳng về cảm xúc, vớinhững quằn quại, giằng xé Vì thế, đó là một cõi miền bí ẩn, mong manh, mơ hồ,khó nắm bắt, và cũng theo Lê Lu Oanh đó là một thế giới“luôn hớng tới một miềncao siêu, kì dị, vô thờng nhng không phải đi dến chốn tịch diệt mà là sự thấu suốttrải nghiệm về những nỗi đau trần thế, là một thể nghiệm xác định bản chất hoànthiện vừa thâm trầm, vừa giông bão của sâu thẳm nội tâm, một khát khao về nỗithánh thiện vô biên, một sự giải thoát làm nên cái cân bằng giữa đời thờng phàmtục và một niềm tin linh thiêng về những giá trị vĩnh hằng, bất biến, đầy thành kính
nh một niềm tin tôn giáo ” Hay đó chính là thế giới siêu thực gắn liền với khátvọng muốn vợt thoát khỏi những giới hạn chật hẹp đầy thiên kiến, mặc cảm để giảithoát sức tởng tợng, làm nên sự đầy đặn của việc thể hiện mộ quan niệm đa chiềumột con ngời trong thơ Hình thức này xuất hiện nhiều trong thơ ca phơng Đông,với sáng tác của các nhà thơ- thiền s nh M.Basô của Nhật Bản, Vơng Duy củaTrung Quốc hay Hàn Mặc Tử của Việt Nam
M.Basô là nhà thơ tiêu biểu của đất nớc hoa anh đào – 05/2006 Nhật Bản Ông làm
thơ nh một thiền s thiền định Ông lấy sự im lặng để thấu đạt chân lí, “dĩ tâm
truyền tâm” Cũng nh nhiều nhà thơ phơng Đông khác, Basô là một ngời yêu thiên
nhiên, luôn khát kháo trở về với thiên nhiên để gằn gũi, giao cảm Với ông, nhìnthấy gì cũng đều nhớ tới hoa, nghĩ điều gì cũng liên tởng tới trăng Dới cái nhìn nộicảm hoá của ông, thiên nhiên không còn là thực thể của ngoại giới nữa Thiênnhiên trong thơ ông đã đợc tinh thần hoá, hoà đồng với con ngời trong khát vọng h-
ớng tới cõi vô cùng Tác phẩm Con đ “Ng ờng sâu thẳm” nổi tiếng của Basô đợc xem
là điển hình cho cách nhìn, cách cảm và lối thể hiện đầy biến ảo đó của ông:
áo bông tôi cởi/ Quẩy trên vai trần/ Mùa thay đổi áo.
Bài thơ chỉ có vậy nhng lại mang sức ám thị và hàm súc đặc biệt Đây cũng
là đặc điểm nổi bật của thể thơ Haiku, nó đợc xem là tiêu biểu cho nghệ thuật NhậtBản – 05/2006 một nền nghệ thuật chịu ảnh hởng sâu sắc của Mỹ học thiền Thơ Haiku củaBasô vừa chứa đựng cái Sabi(vẻ đẹp cổ kính không rực rỡ, lộng lẫy, phẩng phất nétcô tịch, u huyền), vừa chứa đựng tính chất Wabi (đơn sơ, nhỏ nhoi, bình thờng), lạivừa chứa đựng tính chất Karumi(dịu nhẹ, man mác) ở tác phẩm này, không đơnthuần nói đến chuyện con ngời thay áo, mà ẩn chứa đằng sau đó là sự vận độngkhông ngừng của vũ trụ, sự hoà mình của con ngời vào nhịp điệu sống của con ngời
và đất trời Thơ Basô là vậy! Từ những sự vật, sự việc nhỏ nhoi , bình dị mà ông bắtgặp trên đờng viễn du, rồi từ đó khái quát lên thành những điều bí ẩn của kiếp nhân
Trang 27sinh, của đời sống tâm linh Vì thế, nếu xem sự tĩnh tâm, hớng nội là một đặc điểmnổi bật của t duy tôn giáo, thì ở đây t duy thơ Basô hoàn toàn nằm trong quỹ đạo
ấy Ông đã sáng tạo nên một thế giới của riêng mình, thế giới của những giá trị tinhthần thuần khiết Bởi vậy, ngòi ta xem ông là biểu tợng của Văn hoá Nhật trong thế
kỉ XX
Trong thơ ca Việt Nam , hình thức t duy hớng nội rõ nhất là trong thơ HànMặc Tử Sáng tác của ông đợc xem là điển hình cho kiểu t duy thơ tôn giáo HànMặc Tử đã “coi tôn giáo với tất cả tinh thần của chữ ấy là một cái gì đời đời vĩnhhằng và tuyệt đích của nghệ thuật” Với ông, thơ là để ca ngợi Đức Chúa trời và
Đức mẹ Maria, là ớc mơ đợc cứu rỗi và giải thoát Ông đã “đi vào vờn hoa tôn giáo
để tìm hơng phấn về ớp cùng hơng thơm” Và hơn ai hết, ông cũng là ngời nhậnthức đợc một cách sâu sắc về ý nghĩa, giá trị đích thực của cuộc sống, của hạnhphúc trần thế, “ở đời chỉ có một hạnh phúc, làm gì có đến hai cảnh Tịnh Độ và Niết
bàn”(Kêu gọi – 05/2006 Thơ văn xuôi). Với quan điểm nghệ thuật đó Hàn Mặc Tử đã gópphần đem lại sự bí ẩn, huyền diệu trong những sáng tác của mình , nhất là ông đãsáng tạo nên một thế giới nghệ thuật đặc sắc với không gian tâm linh đặc biệt.Không gian tâm linh trong thơ Hàn Mặc Tử là thế giới của những giằng xé quằnquại; là thế giới huyền ảo- cõi mộng và thế giới của Phục Sinh, Khải Huyền; là thếgiới mà ở đó tôn giáo và thơ ca có cùng điểm hẹn làm nên những nét độc đáo trongthơ của thi nhân
Hàn Mặc Tử có số mệnh éo le cả về đời t lẫn đời thơ Định mệnh tàn khốc đãkhiến ông phải gánh chịu nỗi đau đớn về mặt thể xác do một căn bệnh quái ác đemlại Từ một con ngời yêu đời, yêu sống bỗng bị bứt ra khỏi cuộc sống bình thờng,phải trốn tránh xa lánh mọi ngời, phải đấu tranh chống chọi với bệnh tật trong đớn
đau vật vã nhiều lúc tởng nh vợt quá sức chịu đựng của con ngời Nhng chínhnhững đớn đau đó đã đa ông đến tận cùng những bến bờ của một cõi miền tâm linhsâu thẳm mà những con ngời bình thờng khó hình dung nổi:
Lời thơ ngậm cứng, không rền rĩ/ Mà máu tim anh vọt láng lai/ Thơ trong lòng reo chẳng ngớt/ Tiếng vang tha thiết dội khắp nơi.
Trang 28Đó là thế giới của sơng khói mông lung, mờ ảo Nhà thơ không cảm nhận thếgiới bằng thị giác quen thuộc nữa mà chỉ sống bằng cảm xúc- một cảm xúc khôngthật rõ ràng:
gió theo lối gió, mây đờng mây/ Dòng nớc buồn thiu, hoa bắp lay/ Thuyền
ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay?/ Mơ khách đờng xa, khách
đờng xa/ Aó em trắng quá nhìn không ra/ ở đây sơng khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà?
Cả trời bỗng sáng lên muôn điệu nhạc/ Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác/ Rất phơng phi, trên hết cả anh hoa/ Xuân ra đời Điềm ngọc ấm nh ngà/ Thơ
có tuổi và chiêm bao có tích.
(Ra đời)
Bàn về cá tính sáng tạo và kiểu t duy thơ Hàn Mặc Tử, Nguyễn Thanh Hùngtừng viết: “Hàn Mặc Tử thu hút vào thơ mình những gì trong sáng, huyền nhiệmcủa đời sống tự nhiên và thế giới tinh thần Vì thế thơ của Hàn Mặc Tử ngời lên vẻ
đẹp vĩnh cửu đợc sáng tạo tự do thoát ra khỏi những khuôn khổ thấp nhất của hiệnthực, vơn tới những miền xa, cõi sâu mà con ngời có thể làm bến đỗ”
ở trên chúng tôi vừa bàn đến không gian tâm linh trong thơ Basô, thơ HànMặc Tử– 05/2006 những hồn thơ có nhiều điểm tơng đồng, gặp gỡ trong t duy thơ vớiR.Tagore– 05/2006 nhà thơ vĩ đại của nhân dân ấn Độ Vậy không gian tâm linh trong thơR.Tagore đợc thể hiện nh thế nào? Có điểm nào tơng đồng, có điểm nào đặc sắckhác biệt với không gian tâm linh của các nhà thơ khác? Trả lời câu hỏi này cũngchính là tìm hiểu, giải mã những đặc thù của không gian tâm linh trong thơR.Tagore
2.2 Không gian tâm linh trong thơ R.Tagore
Nh đã nói ở trên, cái tôi trữ tình của nhà thơ cần có một thế giới đặc thù phản
ánh tồn tại tinh thần của chính nó Đó là thế giới mang tính biểu trng hoá, có những
số đo, chiều kích, nhịp điệu vận động riêng khác hẳn với thế giới vật lí tồn tại
Trang 29trong thực tế Nói nh Indra Ganđhi: “cũng nh thể xác cần một không gian để thở,tinh thần hoặc linh hồn cũng cần có một không gian bên trong, một không gian đểsuy tởng và một không gian để tìm thấy mình trong tất cả cái hợp thành bản năng”.
Đó chính là không gian tâm linh mà chúng tôi đã đề cập Nh vậy, có thể khẳng
định: không gian tâm linh là một dạng thức tồn tại đặc biệt của không gian nghệthuật thơ gắn liền với một kiểu t duy nghệ thuật đặc thù – 05/2006 t duy tôn giáo, gắn liềnvới dòng cảm xúc hớng nội Thơ R.Tagore mang nét đặc trng đó Những sáng táccủa ông không chỉ phong phú về đề tài, đa dạng về cảm hứng mà còn thống nhấttrong một t duy hớng nội Xuất phát từ một quan điểm triết học cho rằng, có mộthiện thực tinh thần, R.Tagore khao khát đi tìm kiếm chân lí trong cái hiện thực tinhthần âý Và trong những sáng tác của R.Tagore, nó đợc hình tợng hoá thành mộtkhông gian nghệ thuật mang đậm màu sắc tôn giáo- đó chính là không gian tâmlinh Khảo sát các tập thơ của R.Tagore ta thấy xuất hiện hai dạng thức không giantâm linh đặc biệt: không gian chiêm nghiệm, suy t và không gian ngoại giới đợcnội cảm hoá Dới đây chúng tôi đi vào khảo sát, tìm hiểu hai dạng thức không giantiêu biểu đó trong thơ ông
2.2.1 Không gian chiêm nghiệm, suy t
Nói đến không gian nghệ thuật đặc thù của thơ R.Tagore, trớc hết phải nói
đến dạng thức không gian chiêm nghiệm, suy t Đây vừa là một trong những dấuhiệu đặc trng của thơ ca ấn Độ, vừa là một biểu hiện của sự thống nhất hài hoà giữatôn giáo, triết học, thơ ca
Chiêm nghiệm, suy t là trạng thái tâm lí tự nhiên thờng gặp ở con ngời, làkhoảng lặng tâm linh, đa con ngời trở về với chính mình trong một thế giới tinhthần thuần khiết Trong tôn giáo, triết học ấn Độ, chiêm nghiệm, suy t (hay thiền
định suy tởng) là một khái niệm cơ bản gắn liền với sự tu luyện, kiếm tìm chân lí.Theo quan niệm của ngời ấn, chỉ có sự yên tĩnh và suy t mới có thể thấu đạt đợcchân lí, một chân lí nằm sâu trong bản thể con ngời; chỉ có sự yên tĩnh và suy t mớigiúp con nguời đốn ngộ, đạt tới sự hiểu biết chân lí ấn Độ là đất nớc mà tôn giáo
đợc xem nh một thuộc tính tự nhiên của con ngời, sinh ra với con ngời Đã là ngời
ấn Độ, phải là một tâm hồn tôn giáo Ngời ấn cho rằng, ngời không tôn giáo nhthân xác không linh hồn Với tâm hồn mơ mộng, sùng đạo nh thế, ngời ấn luôn tìmcách vợt qua những giới hạn chật hẹp của thế giới vật chất, tìm đến sự vô biên trongthế giới tinh thần Và ở đó, thế giới nội tâm là thực tại duy nhất Ranh giới giữa bêntrong và bên ngoài, giữa tỉnh và mơ, thực và mộng trở nên nhạt nhoà