1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính chất bất phân văn sử triết trong tam quốc diễn nghĩa của la quán trung luận văn tốt nghiệp đại học

41 1,2K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính chất bất phân văn – sử – triết trong tam quốc diễn nghĩa của la quán trung
Tác giả Hoàng Thị Huế
Người hướng dẫn ThS. Phan Thị Nga
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học nước ngoài
Thể loại Khoá luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 217 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn====*****==== tính chất bất phân văn – sử – triết trong tam quốc diễn nghĩa của la quán trung Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: văn học nớc ngoà

Trang 1

Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn

====*****====

hoàng thị huế

tính chất bất phân văn – sử – triết

trong tam quốc diễn nghĩa của la quán trung

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: văn học nớc ngoài

Vinh – 2011 2011

Trang 2

Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn

====*****====

tính chất bất phân văn – sử – triết

trong tam quốc diễn nghĩa của la quán trung

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: văn học nớc ngoài

Giáo viên hớng dẫn: ths Phan thị nga Sinh viên thực hiện: hoàng thị huế Lớp: 48B – Văn Văn

Mã số sinh viên: 0756042463

Vinh – 2011 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 2

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc khoá luận 7

NỘI DUNG 7

Chương 1: Văn- sử- triết bất phân một đặc điểm loại hình của văn học Trung Quốc cổ- Trung đại 8

1.1 Nội hàm khái niệm “bất phân văn- sử- triết” 8

1.2 Tính chất bất phân văn- sử- triết một trong những đặc điểm loại hình của văn học cổ- Trung đại Trung Quốc 10

Chương 2: Biểu hiện của tính chất bất phân văn- sử- triết trong Tam quốc diễn nghĩa 14

2.1 Tam quốc diễn nghĩa một tác phẩm văn học xuất sắc 14

2.2 Tam quốc diễn nghĩa một tác phẩm có giá trị lịch sử 20

2.3 Tam quốc diễn nghĩa một kho tàng tri thức- kinh nghiệm 27

Chương 3: Nguyên nhân – ý nghĩa của hiện tượng bất phân văn-sử - triết trong Tam quốc diễn nghĩa 31

3.1 Nguyên nhân 31

3.2 Ý nghĩa của hiện tượng bất phân văn- sử- triết trong Tam quốc diễn nghĩa 32

KẾT LUẬN 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài khoa học này được hoàn thành trước hết là nhờ sự cố gắngtìm tòi, khám phá của bản thân tôi, nhưng điều đó sẽ không trở thành hiệnthực nếu không có sự tận tình giúp đỡ của cô giáo Phan Thị Nga

Vì thời gian và nguồn tư liệu có hạn, lại là lần đầu tiên làm quenvới việc nghiên cứu khoa học nên khoá luận chắc chắn sẽ còn nhiều thiếusót và hạn chế Xin kính mong nhận được những ý kiến đóng góp và chỉdạy quý báu, cần thiết của thầy cô và bạn bè

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới cô giáo hướng dẫn: Phan ThịNga cùng các thầy cô giáo khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh đã ủng hộ,động viên tôi trong quá trình hoàn thành khoá luận

Vinh, ngày 5 tháng 5 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Huế

Trang 5

học Trung Quốc nói riêng, văn học thế giới nói chung Trong các bộ tiểu

thuyết này, Tam quốc chí diễn nghĩa có một vị trí cực kì quan trọng, là cuốn tiểu thuyết xuất sắc cho thể loại tiểu thuyết giảng sử Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung là tác phẩm văn xuôi lịch sử Hình thành trên hai cơ sở là tác phẩm văn học chức năng hành chính ( Tam quốc chí của Trần Thọ) và tác phẩm văn học dân gian (thoại bản) Bởi vậy Tam quốc diễn nghĩa mang vóc dáng của văn học dân gian và các vóc dáng của sử

thi anh hùng Tác phẩm được đánh giá là bộ “bách khoa toàn thư” của chế

độ phong kiến Trung Quốc, do đó từ trước đến nay tác phẩm dành đượcrất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà lí luận, phê bình văn họctrên toàn thế giới

Tam quốc diễn nghĩa đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế

giới và được bạn đọc mọi lứa tuổi yêu thích dù dung lượng khá đồ sộ baogồm 75 vạn chữ Bộ tiểu thuyết này còn được các nhà tiểu thuyết dựngthành phim có sức cuốn hút người xem khắp năm Châu Dù đã được rađời cách đây 600 năm nhưng những giá trị đặc sắc về nội dung và nghệ

thuật của Tam quốc diễn nghĩa vẫn luôn hấp dẫn người đọc

Đặc điểm nổi bật của nền văn học Trung Hoa thời kỳ cổ Trung đại

là có sự gắn bó chặt chẽ truyện dân gian với sử kí Ở phương Đông, từ lâungười ta cũng thấy hiện tượng bất phân văn- sử- triết trong mỗi tác phẩm

văn học Tam quốc diễn nghĩa từ lâu được coi là kiệt tác văn học của nhân

Trang 6

loại Nhân tố tạo nên sự thành công và sức sống mãnh liệt của tác phẩmchính là tài năng nghệ thuật của tác giả Tài năng nghệ thuật ấy thể hiệntrên rất nhiều bình diện khác nhau Một trong những nhân tố góp phần tạonên sự thành công nhiều mặt của tác phẩm chính là sự dung hợp ba yếu tốvăn học, lịch sử, tư duy triết học trong tác phẩm Đặc điểm này còn đượccác nhà khoa học gọi là hiện tượng “ bất phân văn- sử - triết”.

Tam quốc diễn nghĩa là bộ tiểu thuyết trường thiên gồm 120 hồi, kể

về câu chuyện xảy ra trong lịch sử gần 100 năm (từ năm 184 đến năm280) Tác phẩm viết về vô số sự việc, sự kiện, biến cố Số lượng nhân vậttrong tác phẩm cũng khiến người ta hết sức kinh ngạc (hơn 400 nhân vật),trong đó hầu hết các nhân vật chính đều trở thành nhân vật điển hình chomột nét tính cách nào đó Tác phẩm có kết cấu hùng vĩ, mạch lạc, rõ ràngvới rất nhiều sự kiện, nhân vật, thuộc các phe đối địch nhau Tất cả đềuđược khắc họa một cách đầy đủ và trọn vẹn ở nhiều chương- hồi, đoạn.Mặc dù các sự kiện trong tác phẩm rất nhiều nhưng khi đọc không thấycảm giác dài và rối mà người đọc có thể dễ dàng nắm bắt cốt truyện trongtính hệ thống Tác phẩm đề cập đến mâu thuẫn chính của ba tập đoànNgụy- Thục- Ngô (từ năm 184 đến năm 280), mâu thuẫn trong nội bộ tậpđoàn và mâu thuẫn trong tính cách nhân vật

Tam quốc diễn nghĩa được đánh giá là bộ “bách khoa toàn thư” của

chế độ phong kiến Trung Quốc Từ trước đến nay tác phẩm này giànhđược rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà lí luận, phê bình vănhọc trên toàn thế giới Trong khoá luận này, chúng tôi muốn chỉ ra và lý

giải hiện tượng văn- sử- triết bất phân trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa Với hy vọng giúp độc giả có cái nhìn mới hơn, sâu sắc hơn về tài

năng nghệ thuật cũng như lối tư duy còn mang tính nguyên hợp của LaQuán Trung nói riêng, các tác giả thời cổ- Trung đại nói chung

Trang 7

Việc nghiên cứu Tam quốc diễn nghĩa dựa trên cái nhìn nguyên hợp

là một hướng đi khá mới mẻ Nhưng thật sự cần thiết khi khai thác, tìmhiểu về giá trị của tác phẩm, về nền văn hoá Trung Hoa để có thể có sựgiao lưu- hội nhập giữa các nước trong khu vực Châu Á thuận lợi, hiệuquả hơn

2 Lịch sử vấn đề

Từ trước đến nay, Tam quốc diễn nghĩa nói riêng và tiểu thuyết cổ

điển Trung Quốc nói chung là đối tượng thu hút sự chú ý của nhiều nhàphê bình, nghiên cứu văn học trên thế giới trong đó có Việt Nam Vì thế

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm này Có thể kể đến cáccông trình nghiên cứu sau:

1 B L Ripstin, Sử thi lịch sử và truyền thống văn học dân gian Trung Quốc, NXB Thuận Hóa- Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông

6 Lương Duy Thứ, Để hiểu 8 bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc,

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000

Những công trình này đã tiến hành nghiên cứu tác phẩm trên nhiềuphương diện khác nhau

Trang 8

B.L.Ríptin (nhà Hán học người Nga) Là người đã có nhiều nămnghiên cứu về văn học phương Đông nói chung, văn học Trung Quốc nói

riêng Với công trình nghiên cứu mang tên Sử thi lịch sử và truyền thống văn học dân gian Trung Quốc Ríptin đã cho ta thấy rõ hơn về nguồn gốc, những yếu tố ảnh hưởng đến La Quán Trung khi sáng tác Tam quốc diễn nghĩa

Trần Xuân Đề trong cuốn Những bộ tiểu thuyết cổ điển hay nhất Trung Quốc, đã khái quát những đặc sắc nghệ thuật trong việc xây dựng

nhân vật đó là: “Từ hành động khắc họa tính cách nhân vật”

Lương Duy Thứ trong cuốn Để hiểu 8 bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc

đã khẳng định: “Sức lôi cuốn của tác phẩm còn do tài năng miêu tả chiếntranh của tác giả Dĩ nhiên đây là chiến tranh của Trung Cổ…”

Tác giả Trần Xuân Đề trong Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc chỉ ra

rằng: “Kinh nghiệm giữa đấu sức và đấu trí đấu dũng được tác giả của

Tam quốc diễn nghĩa chứng minh đầy đủ”.

Bên cạnh những công trình nghiên cứu đã kể trên còn có các luận

án, luận văn, tìm hiểu về Tam quốc diễn nghĩa Có thể kể tên một số luận

án, luận văn ở trường Đại học Vinh như:

1 Hình tưọng nhân vật Tào Tháo trong Tam quốc diễn nghĩa của La

Quán Trung, Trần Văn Hùng, ĐHV, 2001

2 Hình tượng nhân vật Không Minh trong Tam quốc diễn nghĩa của

La Quán Trung, Nguyễn Thị Thanh Hà, ĐHV, 2004

3 Hình tượng các nhân vật lý tưởng trong Tam quốc diễn nghĩa của

La Quán Trung, Hoàng Thị Loan, ĐHV, 2004

4 Nghệ thuật miêu tả chiến tranh trong Tam quốc diễn nghĩa của

La Quán Trung, Mai thị Thắm, ĐHV, 2009

Trang 9

Nhìn lại quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về Tam quốc diễn nghĩa

chúng ta thấy những công trình này đều nghiên cứu tác phẩm từ cái nhìnkhái quát, không ngoài đánh giá những thành công, đặc sắc về nội dung-nghệ thuật của tác phẩm Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học

nào thực sự nghiên cứu về tính chất bất phân văn- sử- triết trong Tam quốc diễn nghĩa một cách toàn diện và hệ thống

Tiếp thu thành quả của người đi trước, khoá luận của chúng tôi

nghiên cứu vấn đề bất phân văn- sử - triết trong Tam quốc diễn nghĩa của

La Quán Trung nhằm bổ sung thêm một hướng nhìn khi khám phá giá trịcủa tác phẩm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tam quốc diễn nghĩa tên đầy đủ là Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa là một tiểu thuyết trường thiên nổi tiếng của

văn học Trung Quốc, tổng cộng 75 vạn chữ, hơn 400 nhân vật với 120hồi

Trong khuôn khổ cho phép của khoá luận và phạm vi của đề tàingười viết cố gắng đi sâu tìm hiểu về phương thức tư duy mang tính tổnghợp, khái quát, biện chứng được biểu hiện ở tính chất bất phân văn- sử-

triết trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận này là tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa (3 tập) của La Quán Trung, (Bản dịch của Phan Kế Bính, NXB Văn

học, 2002)

4 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một đặc điểm mang tính chất loại hình của văn hóaTrung Quốc Trung đại nói chung, văn học Trung Quốc Trung đại nóiriêng: tính chất bất phân văn- sử- triết nhằm chỉ ra những biểu hiện bất

phân văn- sử- triết trong Tam quốc diễn nghĩa và lí giải nguyên nhân của

Trang 10

hiện tượng này Từ đó hiểu sâu hơn về phương thức tư duy độc đáo cũng

là một phương diện văn hoá của Trung Hoa cổ- Trung đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận này kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:Phương pháp khảo sát, phương pháp phân tích- tổng hợp Trong chừngmực nào đó còn sử dụng phương pháp so sánh

6 Cấu trúc khoá luận : ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận

được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Văn- sử- triết bất phân một đặc điểm loại hình của vănhọc Trung Quốc cổ- Trung đại

Chương 2 Biểu hiện của tính chất bất phân văn- sử- triết trong Tam quốc diễn nghĩa.

Chương 3 Nguyên nhân- ý nghĩa của hiện tượng bất phân văn-

sử-triết trong Tam quốc diễn nghĩa

Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo đã được sử dụng khi giảiquyết đề tài

Trang 11

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

VĂN - SỬ - TRIẾT BẤT PHÂN MỘT ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH CỦA VĂN HỌC TRUNG QUỐC CỔ - TRUNG ĐẠI

1.1 Nội hàm khái niệm “Bất phân Văn - Sử - Triết”

Bất phân văn- sử- triết là sự độc lập ranh giới, sự phân định các yếu

tố văn học- lịch sử- tri thức khoa học xã hội không minh định và chưatách bạch rạch ròi mà chúng hoà quyện vào nhau trong một văn bản, cùngtồn tại trong một chỉnh thể tác phẩm Văn- sử- triết bất phân là một đặcđiểm loại hình của văn hoá Trung cổ, thời kì nhân loại đã thoát khỏi sựmông muội nhưng chưa bước qua ngưỡng cửa văn minh, hiện đại, khi tôngiáo và vương quyền còn chi phối vũ trụ quan, nhân sinh quan và mọihoạt động tinh thần khác của con người Bấy giờ, trong văn xuôi các phânmôn văn học, lịch sử, tư tưởng còn liên đới, bao chứa lẫn nhau Thời cổ-Trung đại Trung Hoa, sự không phân định giữa các yếu tố văn- sử- triếtđậm nét trong văn xuôi lịch sử và cả trong văn xuôi triết lí Trong các tácphẩm Tả truyện, Chiến quốc sách người ta không những viết về nhữngnhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử thời cổ đại Trung Hoa mà còn dùng cáchghi chép lịch sử theo lối tả, lấy con người làm trung tâm Sử ký của Tư

Mã Thiên là tác phẩm ghi chép lịch sử, trước tiên có giá trị về lịch sửnhưng đồng thời lại là truyện kể về nhân vật lịch sử Sử ký của Tư MãThiên là một kho tài liệu vô giá chính xác với giá trị tổng hợp rất cao, mộtcông trình sử học lớn nhất Trung Quốc và là một trong những quyển sử cótiếng nhất thế giới Nhưng điều còn làm chúng ta ngạc nhiên hơn là côngtrình khoa học lớn lao ấy đồng thời lại là tác phẩm lớn nhất về văn xuôicủa nền văn học cổ Trung Quốc, để lại hàng ngàn nhân vật điển hình sống

Trang 12

mãi trong văn học Tư tưởng của tác giả cũng được thể hiện trong tácphẩm này thông qua việc phê phán sai lầm của các vị vua và ca ngợi cácanh hùng, các nhà thơ yêu nước.

Đến thời Trung đại, đặc điểm này vẫn được duy trì, tất nhiên có sựphát triển trong bản thân từng yếu tố Trình độ ghi chép lịch sử, tài năngsáng tạo tác phẩm văn học- hình tượng văn học và phương pháp trình bày

tư tưởng, sự bộc lộ các tri thức về khoa học xã hội…ngày càng dần hoànthiện, dần đạt đến độ mẫu mực trong thể loại tiểu thuyết giảng sử đời

Minh- Thanh Các tác phẩm Thuỷ Hử, Tam quốc diễn nghĩa là những tác

phẩm như vậy

Hiện tượng bất phân văn- sử- triết trong văn học phản ánh trình độ

tư duy phát triển chưa cao của con người thời Trung đại đồng thời cũngchứng tỏ sự phân chia, minh định các bộ môn thuộc lĩnh vực khoa học xãhội ở Trung Quốc nói riêng, phương Đông nói chung diễn ra khá chậmchạp

Tam quốc diễn nghĩa là một trong những bộ tiểu thuyết ra đời sớm

nhất (cuối Nguyên đầu Minh- khoảng thế kỉ thứ XIV) Đây là bộ tiểuthuyết giảng sử được sáng tạo dựa trên những câu chuyện có trong dângian về lịch sử thời Tam quốc cùng với những nguồn tư liệu và công laosáng tạo nghệ thuật, tri thức, kinh nghiệm về nhiều phương diện cuộcsống của La Quán Trung đã làm nên một tác phẩm văn học tiểu thuyếtgiảng sử xuất sắc

Có thể nói, Tam quốc diễn nghĩa là tác phẩm nghệ thuật đầu tiên

thực sự có một quy mô đồ sộ về nội dung phản ánh, về số lượng nhân vật,bao gồm những chuỗi vô tận các mưu mô quân sự, lấy thời gian làm trục

xâu chuỗi các biến cố, các số phận nhân vật Tam quốc diễn nghĩa được

La Quán Trung chủ yếu sáng tạo theo nguyên tắc tôn trọng sự thật lịch sử,

Trang 13

song những yếu tố tưởng tượng và hư cấu cũng đã góp phần làm nên giátrị tinh hoa của tác phẩm.

1.2 Tính chất bất phân văn- sử- triết một trong những đặc điểm

loại hình của văn học cổ - Trung đại Trung Quốc.

Văn học của bất cứ dân tộc nào trên thế giới cũng gồm hai bộ phậnchính: Văn học dân gian và văn học viết Văn học viết thường ra đời sauvăn học dân gian Sự ra đời, phát triển văn học viết gắn liền với sự ra đời,phát triển của văn tự.Văn học ra đời, phát triển cùng sự hình thành, pháttriển của xã hội loài người và của các quốc gia Nhìn chung trên thế giới,các quốc gia không xuất hiện đồng đều về thời gian Bởi vậy, nền văn họcmỗi quốc gia cũng ra đời sớm muộn khác nhau Dựa vào thời điểm ra đời

và quá trình hình thành phát triển người ta chia thành hai loại đó là: nềnvăn học già và nền văn học trẻ

Văn học già là nền văn học ra đời phát triển một cách tự nhiên, tựthân Về cơ bản, văn học già dường như không phải chịu sự chi phối củavăn học khác Chẳng những thế nền văn học này còn chi phối mạnh mẽcác nền văn học quốc gia lân cận hoặc muộn hơn Chúng giữ vai trò trungtâm, hạt nhân trong việc kiến tạo văn học vùng

Thế giới chỉ có vài ba nền văn học già, trung tâm như Trung Hoa,

Ấn Độ, Hy-La còn hầu hết các quốc gia phát triển theo quy luật sau:Thoạt đầu văn học chức năng chiếm vị trí trung tâm, văn học đích thực,tiếp đó trong quá trình phát triển văn học chức năng bị đẩy dần ra khỏitrung tâm còn văn học nghệ thuật xâm nhập dần vào vị trí trung tâm và trởthành trung tâm của văn học, trở thành văn học đích thực Có thể hiển thịquá trình này bằng sơ đồ sau:

Trang 14

VHCN VHNT

Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân

(VHCN: Văn học chức năng, VHNT: Văn học nghệ thuật)

Quá trình chiếm giữ vị trí trung tâm của văn học nghệ thuật tạo ragiai đoạn giao thoa giữa văn học chức năng và văn học nghệ thuật Giaiđoạn này kéo dài khá lâu, trong giai đoạn giao thoa kéo dài đó có hiệntượng một số tác phẩm vừa thuộc văn học chức năng, vừa thuộc văn họcnghệ thuật Các nhà khoa học gọi đó là hiện tượng “bất phân văn- sử-triết”

Tính chất bất phân văn- sử- triết còn gọi là tính nguyên hợp Mộtdấu hiệu cho thấy quy luật hỗn hợp vốn là đặc trưng của văn hoá Trungđại nói chung và văn học Trung đại nói riêng, phản ánh tình trạng chưa có

sự phân chia rạch ròi giữa các ngành, bộ phận khoa học trong xã hội

Bất phân văn- sử- triết được xem là đặc điểm loại hình của văn hoáTrung cổ Điều này không phải chỉ do ý muốn chủ quan của tác giả màcòn do nhân sinh quan thời đại quy định Tính chất bất phân văn- sử- triếttrong văn học cổ - Trung đại Trung Quốc trở thành đặc điểm lớn nhất quyđịnh cách viết, hình thức và nội dung của tác phẩm Nó biểu hiện trongcác sáng tác văn xuôi Tiên Tần, Sử ký của Tư Mã Thiên… tiểu thuyếtgiảng sử đời Minh

Việc phân định một cách rõ nét, khác biệt giữa sáng tác này vớinhững sáng tác thời cận hiện đại là văn, sử hay triết là không dễ dàng bởi

VH

Trang 15

vì bản thân các tác phẩm được sinh ra trong một môi trường nguyên hợpnên việc nhận thức nó cũng vẫn đòi hỏi có tư duy nguyên hợp.

Hiện tượng văn- sử- triết bất phân là một quy luật có tính đặc thù,

có tính phổ quát rộng không riêng gì văn học Trung Quốc mà cả văn họcthế giới lúc bấy giờ Quy luật có tính đặc thù này thể hiện một quy luậtcủa tư duy, một trình độ của tư duy mà ngày nay được xem là khác nhautới mức, một được xem là tư duy văn học và một bị xem là tư duy phi vănhọc

Như vậy, sự đan xen giữa hai kiểu tư duy: Tư duy văn học và tư duyphi văn học là nguyên nhân tạo nên hiện tượng văn- sử- triết bất phântrong các tác phẩm văn học thời kỳ Trung đại

Thời kỳ cổ- Trung đại người ta hiểu chữ “văn” với nhiều nghĩa, dầndần quy nạp thành khái niệm “văn” chỉ bất kỳ thể thức nào dùng đến văn

tự để biểu hiện đạo lý thánh nhân Chữ “văn” vì thế bao gồm rất nhiều thểloại Quan niệm nguyên hợp trong văn học hình thành từ đấy và trở thànhquan niệm chi phối người cầm bút một cách tự giác

Ngoài ra còn phải tính đến lực lượng sáng tác văn học lúc bấy giờ.Thật khó để bóc tách hay định vị một cá nhân nào đó thuộc nhà Nho nàyhay nhà Nho kia Thậm chí ngay cả ở cấp độ cao hơn, chung hơn, ngay cảviệc coi một cá nhân đó thuộc hẳn về Nho, Đạo hay Phật giáo Một ngườihành xử trong đồng thời nhiều tư cách, nhiều vai diễn khác nhau và tácphẩm của hoạt động tinh thần của những tri thức nguyên hợp như vậy dĩnhiên mang tính chất nguyên hợp

Từ loại hình tác giả nguyên hợp của đội ngũ tri thức Trung đại đãdẫn đến tình hình nguyên hợp trong sản phẩm của hoạt động nghệ thuật.Những người làm quan, làm những ngành nghề khác nhau hoặc nắm giữnhững vai trò quan trọng trong xã hội vẫn có thể tham gia hoạt động sáng

Trang 16

tác văn học Từ đó dẫn tới tác phẩm văn học mang trong nó nhiều phẩmchất, tri thức của nhiều chuyên ngành khác nhau Quá trình đó đã kéo dàitrong lịch sử Trung đại mà không gặp khó khăn trong sáng tác và cả trongviệc thưởng thức.

Văn- sử- triết bất phân không có ý nghĩa chỉ văn- sử- triết mớikhông phân định ranh giới mà còn giữa chúng với nhiều bộ môn khác nhưtôn giáo, địa lý, y dược, thậm chí cả công văn hành chính Khi nghiên cứu

vấn đề này Nguyễn Huệ Chi cho rằng: “Bỡi lẽ các môn này đều gặp nhau trong việc dùng chung một số thể loại, vận dụng chung một số biện pháp

tu từ” Từ quan niệm văn- sử- triết bất phân tất yếu sẽ đi đến cách nhìn

nhận, đánh đồng các thể loại mang tính chức năng và các thể loại mangtính thẩm mĩ Một phần do yêu cầu nhận thức chưa đòi hỏi phải có sự tách

bạch cũng như chưa có ý thức về “bản quyền”, thể loại và do hạn chế về

cơ cấu thể loại trong tổng thể nền văn học nên hiện tượng vay mượn hay

sử dụng chung một thể loại nào đấy trong sáng tác không phải là chuyệnhiếm và trong thực tế việc này đã được chấp nhận một cách hoàn toàn tựnhiên

Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung ra đời vào thời kỳ cuối

Nguyên đầu Minh, được coi là một trong số những bộ tiểu thuyết cổ điểnxuất sắc nhất, được phổ biến rộng rãi và được nhân dân Trung Quốc cũng

như nhân dân thế giới yêu thích Tam quốc diễn nghĩa được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: “Có chính sử, có dã sử, có truyền thuyết dân gian, có tạp kịch Tam quốc chí đời Nguyên, có thơ văn từ phú của văn nhân bao đời ngâm vịnh về nhân vật Tam quốc chí, có cả tiểu thuyết chí quái, chí nhân về Tam quốc lưu lại, có chú giải Tam quốc của Bùi Tùng Chi viện dẫn từ hơn 200 cuốn sách” [1- 115].

Trang 17

Tam quốc diễn nghĩa là bộ tiểu thuyết lịch sử thuộc thể loại văn

xuôi tự sự ra đời từ thời Trung cổ chịu sự chi phối của nhân sinh quan

Trung cổ nên Tam quốc diễn nghĩa là tác phẩm tất yếu mang đặc điểm

loại hình văn học Trung cổ

Trang 18

CHƯƠNG 2:

BIỂU HIỆN CỦA TÍNH CHẤT BẤT PHÂN

VĂN- SỬ- TRIẾT TRONG TAM QUỐC DIỄN NGHĨA

Về hình thức Tam quốc diễn nghĩa là một tác phẩm văn học, được

viết theo lối chương hồi, là sản phẩm của “tư duy văn học” Nhưng ra đời

vào thời kì Trung đại nên Tam quốc diễn nghĩa còn là sản phẩm của “tư duy phi văn học” Vì vậy, Tam quốc diễn nghĩa là một cuốn sách vừa có

giá trị văn học, lại vừa có giá trị lịch sử đồng thời còn là một cuốn sáchchứa đựng kho tri thức, hiểu biết khổng lồ về cuộc sống

2.1 Tam quốc diễn nghĩa một tác phẩm văn học xuất sắc

Phải khẳng định rằng giá trị xuất sắc nhất của Tam quốc diễn nghĩa

là giá trị văn học Giá trị văn học của bộ tiểu thuyết chương hồi này đượckhẳng định ở những thành công sau:

2.1.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Tam quốc diễn nghĩa đạt được thành tựu làm người ta kinh ngạc Bộ

tiểu thuyết này có hơn 400 nhân vật, trong đó những nhân vật chính đều lànhững hình tượng điển hình bất hủ, hết sức sinh động và rất sắc nét, cótính cách rõ ràng Nhiều nhân vật đã trở thành điển hình cho một nét tínhcách nào đó như Tào Tháo tuyệt gian, Lưu Bị tuyệt nhân, Gia Cát Lượngtuyệt trí, Quan Công tuyệt nghĩa, Trương Phi tuyệt dũng Tác giả đã đặtnhân vật vào những hoàn cảnh khốc liệt, những hoàn cảnh có vấn đề để

buộc nhân vật phải bộc lộ tính cách của mình Tam quốc diễn nghĩa là tác

phẩm miêu tả cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn thống trị thời Tam quốc,môi trường sôi sục đấu tranh, những mâu thuẫn giữa các tập đoàn chính làmảnh đất tốt tươi cho các nhân vật bộc lộ rõ cá tính của mình

Tác giả đã khắc họa được hàng loạt nhân vật điển hình trong sự pháttriển của mâu thuẫn và sự giằng co của các cuôc đấu tranh phức tạp lúc

Trang 19

bấy giờ Chẳng hạn để làm rõ tính cách của Đổng Trác, tác giả đặt ĐổngTrác vào bối cảnh mâu thuẫn với hoạn quan và sau này là đội quân QuanĐông Và để làm rõ tính cách Khổng Minh, Tôn Quyền, Chu Du tác giảrất chú ý đến bối cảnh xảy ra trận Xích Bích để từ đó thấy được một TônQuyền do dự, một Gia Cát Lượng tài ba, trí tuệ, khoan dung, một Chu Dutài ba nhưng nhỏ nhen, ích kỷ, một Hoàng Cái trung thành, thẳng thắn.

Các nhân vật luôn có vóc dáng khác người, những hành động phithường và tâm hồn họ cũng phi thường khác với con người bình thường.Dựa trên cơ sở lịch sử, xuất phát từ tư tưởng bảo hoàng, bằng trí tưởngtượng và hư cấu của một nhà văn thiên tài, trác việt La Quán Trung đãnhào nặn lại các sự kiện và nhân vật lịch sử cho phù hợp với lí tưởng tônphò chính thống của ông Chính vì vậy có những nhân vật không hoàn

toàn có thật trong lịch sử Người ta nói Tam quốc diễn nghĩa “bảy thực ba

hư” Nhưng “hư hư, thực thực”, “nửa thật, nửa giả” cùng với sức hấp dẫn

ma mị của nghệ thuật, cuối cùng giả biến thành thật Những hình tượnggiả do văn nghệ tạo nên lại như hình tượng lịch sử đích thực là như vậy

Tính cách của nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa được bộc lộ qua

ngôn ngữ, hành động của nhân vật Tác giả không chú ý miêu tả diễn biếntâm lí nhân vật Chẳng hạn để miêu tả tính cách bộc trực, nóng nảy củaTrương Phi tác giả dùng nhiều chi tiết về ngôn ngữ và hành động củaTrương Phi như: Trương Phi đánh vào mông đít quan Đốc Bưu, ép bố vợ

Lã Bố uống rượu, đánh đập những người thợ may, chửi Lã Bố là thằng ở

đợ ba họ…nhưng tác giả không hề nói tới trong khi làm những việc đóTrương Phi suy nghĩ gì hay có quá trình diễn biến tâm lí ra sao

Tính cách nhân vật còn được La Quán Trung thể hiện qua bút pháp

“song quản tề hạ” Đây là biện pháp cùng một lúc viết về hai nhân vật,

miêu tả nhân vật này trong sự đối sánh với nhân vật kia Trong Tam quốc

Trang 20

diễn nghĩa ta thấy nhiều cặp đôi nhân vật vừa có những nét tương đồng

vừa có những điểm khác biệt Chẳng hạn Lưu Bị và Tào Tháo, KhổngMinh và Chu Du, Vân Trường và Trương Phi Nguyên tắc của La QuánTrung là nắm chắc đặc trưng cơ bản của tính cách sau đó dùng nhiều biệnpháp tô đậm nó để gieo ấn tượng về nhân vật rồi qua so sánh, đối chiếugiữa nhân vật này với nhân vật khác làm cho bộ mặt nhân vật hiện nênhoàn chỉnh Chẳng hạn để bộc lộ tính cách gian hùng của Tào Tháo, LaQuán Trung để Tào Tháo nói những câu sởn gáy “thà ta phụ người, quyếtkhông để người phụ ta” và trong suốt cuộc đời Tào Tháo tác giả chủ yếukhắc hoạ những hành động, ngôn ngữ để làm nổi bật cái bản chất đó củaTào Tháo

Tóm lại: bằng tài năng nghệ thuật La Quán Trung đã miêu tả nhữngnhân vật lịch sử thành những hình tượng nhân vật có những tính cáchkhác nhau làm thành một hệ thống nhân vật đông đảo, hấp dẫn và vô cùng

sinh động trong Tam quốc diễn nghĩa.

2.1.2 Kết cấu tác phẩm

Tam quốc diễn nghĩa là tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết chương

hồi Tác phẩm được chia làm 120 hồi Dung lượng mỗi hồi ngắn, dài khácnhau không do quy định mà phụ thuộc vào sáng tạo của tác giả Số lượnghồi gần như tương ứng với số lần kể chuyện của thuyết thoại nhân Trướckhi bắt đầu cũng có hai câu thơ hoặc hai câu văn biền ngẫu để giới thiệutóm tắt nội dung sẽ kể hoặc bộc lộ quan điểm, đánh giá của tác giả và kếtthúc mỗi hồi là công thức: “Muốn biết sự thể ra sao xin xem hồi sau sẽrõ” Chẳng hạn ở hồi thứ nhất ta thấy hai câu thơ:

“Tiệc vườn đào anh hùng kết nghĩa Chém Khăn Vàng hào kiệt lập công”.

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w