1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu ý thức nghề văn của nam cao qua các sáng tác của ông

51 542 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu ý thức nghề văn của Nam Cao qua các sáng tác của ông
Tác giả Tác giả luận văn
Người hướng dẫn TS Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 165,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu ý thức nghề văn của Nam Cao đợc thể hiện qua các tác phẩm của ông, vì vậy là một điều cần thiết, có thể giúp chúng ta cắt nghĩa đợc sâu hơn nguyên nhân những thành công mà ông c

Trang 1

Lời cảm ơn

Luận văn này đợc hoàn thành tại khoa Ngữ văn, trờng ĐH Vinh Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc đến TS Phan Huy Dũng - ngời đã dành cho tôi sự giúp đỡ tận tình trong quá trình học tập và từng bớc hoàn chỉnh luận văn Tôi vô cùng biết ơn các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ văn Trờng Đại học Vinh đã động viên khuyến khích và đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu Tôi chân thành cảm ơn các thành viên trong hội đồng bảo vệ đã đọc kỹ

và đóng góp cho nhiều ý kiến để luận văn thêm hoàn chỉnh

Tác giả luận văn

Trang 2

Mục lục Trang

Mở đầu 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phơng pháp nghiên cứu 6

5 Cấu trúc luận văn 6

Chơng 1 Một số vấn đề lý luận chung 7

1.1 ý thức về nghề văn với t cách là yếu tố tổ chức quan trọng hành động sáng tác của một tác gia văn học hiện đại 7

1.2 Sự ý thức về nghề văn - một phạm trù có tính lịch sử 8

1.3 Cách thức xác định ý thức nghề văn của một tác gia văn học 8

1.3.1 Tìm hiểu những sự kiện thuộc phạm trù “tiểu sử” nhà văn 8

1.3.2 Tìm hiểu những tuyên ngôn ngoài sáng tác 9

1.3.3 Đi từ tác phẩm: đọc tác phẩm - thâm nhập thế giới tác phẩm 10

1.4 Những ảnh hởng lớn của Nam Cao trong đời sống văn học Việt Nam 11 Chơng 2 ý thức về nghề văn của Nam Cao qua những sáng tác trớc Cánh mạng của ông 17

2.1 ý thức về nghề văn thể hiện qua việc xây dựng các hình tợng văn sỹ, trí thức 17

2.2 ý thức về nghề văn thể hiện qua những lời bình luận triết lý trong truyện 22

2.3 Đánh giá tổng quát ý thức về nghề văn của Nam Cao qua các sáng tác của ông trớc cách mạng 26

Trang 3

Ch¬ng 3 ý thøc vÒ nghÒ v¨n Nam Cao qua nh÷ng s¸ng t¸c sau C¸ch m¹ng

cña «ng 29

3.1 ý thøc vÒ nghÒ v¨n thÓ hiÖn qua viÖc x©y dùng c¸c h×nh tîng v¨n sü 29 3.2 ý thøc vÒ nghÒ v¨n thÓ hiÖn qua nh÷ng lêi b×nh luËn triÕt lý trong truyÖn 32

3.3 §¸nh gi¸ tæng qu¸t vÒ ý thøc nghÒ v¨n cña Nam Cao qua c¸c s¸ng t¸c sau c¸ch m¹ng 36

3.4 Sù tiÕn triÓn trong quan niÖm nghÖ thuËt cña Nam Cao 39

KÕt luËn 41

Tµi liÖu tham kh¶o 43

Phô lôc niªn biÓu Nam Cao 45

Trang 4

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1 Nam Cao là một trong những cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện

thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945 Cho đến ngày hôm nay, sự nghiệp sáng tác của ông đã đợc rất nhà nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm tìm hiểu Thế nhng không phải mọi điều đã đợc nói hết, hiểu hết Chúng ta vẫn có thể nghĩ tiếp về Nam Cao

2 Từ buổi đầu cầm bút, Nam Cao đã có một định hớng nghệ thuật rất

riêng Chính định hớng đó đã tạo điều kiện cho ông viết nên những tác phẩm độc

đáo, có vị trí nổi bật trong nền văn học nớc nhà Tìm hiểu ý thức nghề văn của Nam Cao đợc thể hiện qua các tác phẩm của ông, vì vậy là một điều cần thiết, có thể giúp chúng ta cắt nghĩa đợc sâu hơn nguyên nhân những thành công mà ông

có đợc Thậm chí việc làm này ở mức độ nhất định còn cho phép chúng ta hiểu sâu hơn vấn đề: sự chín chắn trong nhận thức về nghề viết, trong quan niệm về nghệ thuật đã khiến văn học Việt Nam thế kỷ XX đạt đợc một tầm vóc mới nh thế nào

3 Từ lâu, tác phẩm Nam Cao đã đợc đa vào dạy học trong chơng trình văn

học phổ thông ở bài văn học sử về tác gia này, ngời ta rất chú ý tìm hiểu quan niệm sáng tác của ông ý thức đợc tầm quan trọng của vấn đề, chúng tôi hy vọng việc thực hiện đề tài này sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động dạy học về Nam Cao của chính mình sau khi ra trờng

2 Lịch sử vấn đề

Trang 5

Xoay quanh cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nam Cao, cho đến nay đã

có rất nhiều công trình nghiên cứu Năm 1961, Hà Minh Đức cho ra tập Nam

Cao nhà văn hiện thực xuất sắc, trong đó có nhiều ý kiến bàn luận về ý thức

nghệ thuật của Nam Cao Bàn về cùng vấn đề, bên cạnh công trình này còn có các

bộ giáo trình Văn học Việt Nam (tủ sách Đại học s phạm và Đại học tổng hợp), sách giáo khoa Văn học ở bậc phổ thông trung học và rất nhiều bài viết khác Những chơng ấy của giáo trình, sách giáo khoa, những bài viết ấy đã cho ta hình dung rõ quan niệm nghệ thuật Nam Cao Tiếp nối công việc nghiên cứu của ngời

đi trớc, trong khóa luận này, chúng tôi đặt vấn đề Tìm hiểu ý thức nghề văn của

Nam Cao qua các sáng tác của ông Nhìn bề ngoài, công trình của chúng tôi có

vẻ chỉ là sự lặp lại những điều đã đợc ngời ta nói đến nhiều Kỳ thực, kiểu đặt vấn

đề cùng kiểu triển khai công việc có khác Chúng tôi không đặt trọng tâm vào việc nêu lên và phân tích quan niệm nghệ thuật của Nam Cao, dù không hoàn toàn tránh đợc và cũng không muốn tránh điều đó Trong quan niệm của chúng tôi, phạm trù ý thức nghề văn có rộng hơn cái gọi là quan niệm nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật chỉ là hạt nhân của ý thức nghề văn đã nói Hơn nữa, trong khi theo đuổi đề tài, chúng tôi không trừu xuất quan niệm nghệ thuật để luận bàn về

nó mà muốn quan sát nó trong mối quan hệ sống động với sáng tác Bởi vậy, nh khóa luận sẽ cho thấy rõ, chúng tôi rất quan tâm đến các kiểu lựa chọn nghệ thuật

mà Nam Cao đã thực hiện nhằm thể hiện ý thức nghề văn sâu sắc của mình

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày một số vấn đề lý thuyết liên quan đến việc khảo sát ý thức nghề văn của một tác gia văn học thời hiện đại qua sáng tác của họ

- Tìm hiểu ý thức về nghề văn của Nam Cao đợc thể hiện qua các sáng tác trớc Cách mạng của ông (cụ thể là trên các bình diện: xây dựng nhân vật, bình luận ngoại đề)

Trang 6

- Tìm hiểu ý thức về nghề văn của Nam Cao đợc thể hiện qua các sáng tác sau Cách mạng của ông (trên các bình diện nh đã nói); chỉ ra nét mới trong nhận thức về trách nhiệm nghệ sĩ của nhà văn từ lúc tự nguyện làm một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa của Đảng Cộng sản.

4 Phơng pháp nghiên cứu

Khi thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phơng pháp: phơng pháp hệ thống cấu trúc, phơng pháp so sánh, phơng pháp phân loại thống kê

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục niên biểu

Nam Cao, nội dung chính của luận văn đợc triển khai trong 3 chơng:

Chơng 1 : Một số vấn đề lí luận chung

Chơng 2: ý thức về nghề văn Nam Cao qua những sáng tác trớc Cách mạng của ông

Chơng 3: ý thức về nghề văn Nam Cao qua những sáng tác sau Cách mạng của ông

Chơng 1 Một số vấn đề lý luận chung

Trang 7

1.1 ý thức về nghề văn với t cách là yếu tố tổ chức quan trọng hành

động sáng tác của một tác gia văn học hiện đại

Khi tìm hiểu về một tác gia văn học, ngoài việc phân tích, đánh giá những tác phẩm của anh ta trên các mặt nội dung và nghệ thuật, ngời nghiên cứu không thể bỏ qua việc khảo sát ý thức nghề nghiệp, quan điểm nghệ thuật mà anh đã thể hiện bằng cách này hay cách khác Có thể nói hai việc làm này không tách rời nhau, bởi sự thực ý thức nghề văn đã tồn tại nh một yếu tố tổ chức quan trọng mọi hành động sáng tạo Càng là một tác gia lớn, ý thức nghề văn ở anh ta càng đậm,

và chính cái ý thức đó đã giúp cho sáng tác của anh ta luôn tồn tại nh một hệ thống chặt chẽ, biểu thị một cái nhìn riêng, những khám phá riêng về cuộc sống, con ngời Trong thời hiện đại, khi "viết văn" có dáng dấp của một nghề độc lập thì

ý thức nghề văn còn có tác dụng bồi đắp cho nhà văn sự mẫn cảm trong việc nắm bắt nhạy bén những đòi hỏi của thời đại, của độc giả đối với nghệ thuật, từ đó mà

có cách đáp ứng tốt đòi hỏi của nó

Vì tầm quan trọng của cái gọi là ý thức nghề văn, mọi công trình nghiên cứu quy mô về một nhà văn có tầm cỡ đều có phần phân tích riêng về vấn đề này Thuộc phạm vi khảo sát của nó là hàng loạt vấn đề lớn nhỏ tồn tại ở nhiều bình diện khác nhau nh thế giới quan, quan điểm sáng tác, quan niệm nghệ thuật về con ngời Chung quy, việc ngời ta lu tâm tìm hiểu ý thức nghề văn thực chất là việc cắt nghĩa những cơ chế sáng tạo của một nhà văn, thể hiện một nỗ lực nắm bắt, tìm hiểu ý nghĩa của mọi hành vi sáng tác từ quan điểm hệ thống

1.2 ý thức về nghề văn - một phạm trù có tính lịch sử

ý thức nghề văn của một tác gia văn học không phải là hiện tợng nhất thành bất biến Nó luôn vận động, đợc bổ sung thêm và làm phong phú thêm qua

Trang 8

thời gian, trên cơ sở thực tiễn sáng tác và sự tơng tác của nó đối với ý thức nghề văn của những đồng nghiệp cùng thời hoặc khác thời

Thực tế cho thấy có một khoảng cách khá xa giữa những phát ngôn về nghề của nhà văn trong những thời đoạn khác nhau của sáng tác Có thể có sự phát triển thêm, có thể có sự chối bỏ Điều này thật ra rất dễ hiểu vì không phải ai mới vào nghề cũng có ngay đợc sự chín chắn và cuộc sống vốn chứa đầy sự biến động phức tạp không ngừng tác động vào nhận thức của nhà văn, khiến anh ta luôn phải nghĩ thêm, nhận thức lại hay phản tỉnh

Tuy nhiên, ở những tác gia có tầm cỡ, ý thức nghề văn thờng giữ đợc tính thống nhất và thuần nhất, dù không phải không có những biến đổi nhất định Chính vì vậy, trong nhiều công trình nghiên cứu, việc tìm hiểu ý thức nhà văn ở một tác gia nào đó đã đợc thực hiện theo cái nhìn cấu trúc hơn là theo cái nhìn lịch sử Điều này ở mức độ nào đó là có thể chấp nhận đợc, dù nó có thể gây cản trở cho ta trong việc cắt nghĩa quá trình "chín" của một tác gia nào đó

1.3 Cách thức xác định ý thức nghề văn của một tác gia văn học

1.3.1 Tìm hiểu những sự kiện thuộc phạm trù "tiểu sử" nhà văn

Muốn tìm hiểu ý thức nghề văn của một tác gia văn học, không có gì quan trọng hơn việc khảo sát sáng tác của chính nhà văn ấy Tuy nhiên, trên thực tế, không có ngời nghiên cứu khôn ngoan nào bỏ qua việc tìm hiểu những sự kiện thuộc phạm trù "tiểu sử" nhà văn, bởi những sự kiện đó sẽ góp phần soi sáng vấn

đề, xác nhận sự tồn tại thực của vấn đề Nam Cao sinh ra trong một gia đình trung nông, là con trai cả của một gia đình đông anh em, có 4 anh em trai và 3 em gái, trong đó chỉ có mình Nam Cao đợc ăn học Một ngời đợc hởng đặc ân và có nhiều ngời khác phải chịu sự hi sinh lớn, điều đó hẳn phải làm cho Nam Cao suy nghĩ rất nhiều Thật logic khi ta suy luận rằng ở Nam Cao có một khát vọng lớn muốn làm đợc một việc gì đó có ý nghĩa, để xứng với sự hy sinh của bao ngời ruột thịt

Trang 9

và cũng để khẳng định giá trị của mình giữa cuộc đời Nam Cao từng là một giáo khổ trờng t, từng sống kiếp sống mòn Cuộc sống ấy đã khiến cho nhà văn có nhiều u t, suy ngẫm, mà điều trăn trở nhất là làm sao vợt lên đợc hoàn cảnh để mình không bị tha hóa triệt để nh bao ngời đã bị tha hóa Hẳn từ đó, ý thức sáng tạo văn chơng của ông sẽ mang theo một chiều sâu khác thờng.

Cách mạng tháng tám thành công, Nam Cao hăm hở dấn thân dấn thân, sự dấn thân ấy chính là sự đảm bảo bằng vàng cho những gì mà nhà văn đã tuyên bố, chẳng hạn tuyên ngôn “sống đã rồi hãy viết” Ông không nói suông, những điều

ông nói đợc bảo chứng bằng cả nớc mắt và máu

1.3.2 Tìm hiểu những tuyên ngôn ngoài sáng tác

Để tìm hiểu ý thức nghề văn của một tác giả, cũng nên tìm đến những tuyên ngôn ngoài sáng tác của họ Biết bao nhà văn đã có những bài tiểu luận nói

về công việc sáng tác của mình nói riêng và của cả giới văn nghệ nói chung Qua những bài tiểu luận đó, ta thấy rõ ý thức nghề văn, quan niệm nghệ thuật của các tác giả Cũng có ngời không quen viết tiểu luận mà chỉ phát biểu ngẫu hứng vài

điều về sáng tác hoặc nói lên đôi chuyện tâm đắc về công việc của mình qua các bài trả lời phỏng vấn Đối với ngời nghiên cứu, những mẩu ý kiến đó không phải

là không có giá trị Nhiều khi, chúng giúp ta hiểu ra khá nhiều điều đợc nói ngầm trong sáng tác, thông qua các hình tợng văn học đa nghĩa Riêng với trờng hợp Nam Cao, chúng tôi rất chú ý tới những suy nghĩ đợc ông bộc lộ trong một lần hiếm hoi nh sau: "Hồi ấy tôi viết văn để cho ngời ta biết đến cái tên tôi Tôi ao ớc tạo ra một cái gì đó sẽ sống lại sau tôi Tôi thèm lời khen của các bạn văn, của những kẻ sành văn, của những nhà phê bình nổi tiếng Những ngời ấy là tất cả Tôi không hề quan tâm đến sự đợc của những ngời sơ học đạo Họ đọc để làm gì?

Họ hiểu nh thế nào đợc văn chơng? Tôi đã nghĩ đến tôi nhiều quá Sau cuộc cách mạng tháng Tám, càng ngày tôi càng cảm thấy rằng cái “tôi” của mình thật ra chẳng nghĩa lý gì Nó có một chút giá trị nàolà khi nó biết hoà hợp nó vào với những ngời xung quanh Nhiều khi phải biết quên mình đi quên cái tên tuổi mình

Trang 10

nếu muốn thành ngời có ích Có cần gì phải cầy cục tìm cách ghi tên mình lại trong lịch sử Tạo ra lịch sử là một việc lớn lao Nhng tạo ra lịch sử lại là việc của

số đông Ta nên nghĩ tới số đông nhiều hơn ta Ta đã cố gắng rất nhiều và còn

đang cố gắng để có thể thích những công việc thầm lặng nhng có ích ” Suốt cả

đời, Nam Cao cứ nhìn chăm chăm vào chính mình Con ngời cầm bút cứ nh một tên thám tử cứ nhìn xoi mói vào cái con ngời đời của chính mình

1.3.3 Đi từ tác phẩm: đọc tác phẩm - thâm nhập thế giới tác phẩm

Để tìm hiểu ý thức nghề văn của một tác gia văn học, đây chính là khâu quan trọng nhất Nếu nhà văn có tuyên ngôn hay ho đến mấy mà sáng tác chỉ làng nhàng thì dĩ nhiên cái gọi là cái ý thức nghề văn của anh ta chỉ là lời nói suông ngoài miệng, không đáng đợc để ý nhiều Nam Cao là một trờng hợp khác Ông ít

có những lời tuyên ngôn ngoài sáng tác và hầu nh chỉ biết cặm cụi viết Những gì cần nói, phần lớn đã có trong các sáng tác cả rồi Ngay từ năm 1938 Nam Cao đã viết bài thơ “Ngày xuân” với bút danh Nhiêu Khê để châm biếm mỉa mai chuyện

Cái kiếp con nhà văn

Cứ mỗi độ xuân sangLại cảm lăn cảm lóc

Nh là bàn gãy chân

Họ ca những bông tơi

Và khen những làn môiCủa những nàng xuân nữ

Bên những hoa mỉm cờiTrên cành trụi đẫm maLộc mới đua nhau nởXuân đẫm óc nhà thơ

Nảy vọt bao thi tứCũng là một thi nhân

Trang 11

Những khi buông cán cuốc

Ta cũng thấy lòng xuânNgây ngất nh say thuốc

Bu em mẹ đĩ đâuVùi nồi cơm mau mauRồi lên đây uống nớc

Để tôi tặng vài câu

Những gì của Nam Cao, in dấu ấn Nam Cao, mang giọng điệu Nam Cao, thành sở hữu Nam Cao đã đợc đón nhận ở tính phổ quát của nó, tính đại diện của

nó Bản thân tên gọi tác phẩm của ông đã nói với ta về nhiều chuyện: có chuyện

“Sống mòn” và “Chết mòn”, chuyện “Đời thừa” và “Nớc mắt”, chuyện “Trăng sáng” và “Nửa đêm”, chuyện “Một bữa no” và “Đòn chồng”, chuyện “Cời” và

“Điếu văn”, “Truyện tình” và “Những chuyện không muốn viết”, chuyện “Những cánh hoa tàn” và “Cái mặt không chơi đợc”, Tóm lại, tác phẩm của Nam Cao là một kho d đầy dữ liệu về con ngời và đất nớc, về trí thức và nông dân, về nông thôn và thành phố, về ngời lớn và trẻ con, về đàn ông và đàn bà, về những ngời lành lặn và những kẻ dị dạng Những vế vừa gắn bó vừa nh đối lập thế nhng bao giờ cũng tìm đợc sự hội tụ và hoà nhập ở văn ông

1.4 ảnh hởng của Nam Cao trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại

Nam Cao khởi đầu văn nghiệp từ 1936 với truyện ngắn “Cảnh cuối cùng” (bút danh Thúy R, in trên Tiểu thuyết thứ bảy số 123, ngày 21-10-1936) và tiếp

đó là “Hai cái xác” (Thúy R, Tiểu thuyết thứ bảy, số 133 ngày 12-12-1936) Rồi

từ nguồn mạch ban đầu ấy, các sáng tác tiếp theo của nhà văn, kể cả thơ và truyện cho thiếu nhi với các bút hiệu Xuân Du, Nguỵêt, Nhiêu Khê lần lợt ra mắt bạn

đọc Nhng chỉ từ khi tập truyện “Đôi lứa xứng đôi” (Gồm 7 truyện ngắn, trong đó

có chuyện “Đôi lứa xứng đôi”, tên ban đầu của nó là “Cái lò gạch cũ “ sau này

Trang 12

đổi thành “Chí Phèo”) đứng tên Nam Cao xuất hiện trên văn đàn buổi ấy (1941), Nam Cao mới chính thức có đợc "giấy thông hành" để bớc vào làng văn, sánh vai cùng các nhà văn đã nổi danh nh: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng v.v Và cũng từ đấy, văn học hiện đại Việt Nam có thêm những sáng tác đặc sắc kiểu Nam Cao về kiếp ngời ở chốn thôn quê hay nơi đô thị của xã hội Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

Sống và sáng tác trong đêm trớc của cuộc Cách mạng dân tộc, trái tim nhà văn dờng nh đã dự cảm đợc sẽ có những thay đổi của thời cuộc: “Nhân loại đang quằn quại trong nỗi đau đớn của kỳ lột xác” (Giờ lột xác) Sống trong nỗi buồn triền miên, dai dẳng của cuộc đời mình, nhân vật Thứ trong tiểu thuyết “ Sống mòn” là hóa thân của chính Nam Cao luôn thờng trực một câu hỏi “đã làm gì ch-a?” Và cái gì sẽ đến “Sống tức là thay đổi” Cách mạng tháng Tám bùng nổ, cùng với nhiều văn nghệ sĩ khác, Nam Cao -nhà văn của những trăn trở suy t, của những giằng xé, dày vò đã thực sự giác ngộ, tự nguyện bớc vào cuộc đời cách mạng và kháng chiến Thực tế đã thay đổi cuộc đời ông, thay đổi văn ông Nam Cao đã tự xác định phải làm một công dân tốt trớc khi làm một nhà văn Ông đã

cố gắng quên cái tôi nghệ sĩ của mình “để góp phần vào công việc “không nghệ thuật” lúc này chính là để sửa soạn cho tôi (Nam Cao) một nghệ thuật cao hơn Nếu tôi đủ tài để viết về các tác phẩm lớn của đời tôi, nó sẽ đợc hàng chục triệu ngời đọc chứ không phải vài ba nghìn ngời nh trớc đây” Lao vào dòng thác cách mạng, Nam Cao đã thực sự trở thành nhà văn chiến sĩ Với t cách công dân, ông chấp nhận mọi công tác khác nhau và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình Trong lĩnh vực sáng tác, Nam Cao tự thấy trách nhiệm của mình trớc cuộc đời, tr-

ớc nghệ thuật cách mạng Để làm đợc điều đó, theo Nam Cao, ngời nghệ sĩ phải:

“tìm ra những chủ đề và hình thức không phảI thích hợp cho ta mà thích hợp cho

đối tợng của chúng ta là đại chúng” Những tác phẩm viết trong kháng chiến của Nam Cao đã “làm cho ngời đọc hiểu biết hơn, tin vào cuộc kháng chiến của ta

Trang 13

hơn, nó đẩy họ cũng hăng hái giúp ích cho cuộc kháng chiến của toàn dân và gọi cho họ những việc họ có thể làm để giúp ích cho kháng chiến”.

Đời sống cách mạng và kháng chiến đã dẫn đến sự đổi mới trong cái nhìn nghệ thuật của Nam Cao Nhà văn đã hào hứng ghi lại những đổi thay của cuộc sống và con ngời sau Cách mạng tháng Tám trong: “Đờng vô nam”, “Trên những con đờng Việt Bắc”, “Vài nét ghi qua vùng vừa giải phóng”, “Từ ngợc về xuôi”,

“ở rừng”, “Đôi mắt” Trong số các sáng tác đó, “Đôi mắt” và “ở rừng” đã hòa quyện đợc nét sắc sảo, tài hoa, những thế mạnh vốn có của nhà văn hiện thực với tầm t tởng, nhiệt huyết của ngời chiến sĩ cách mạng Nam Cao Cuộc sống kháng chiến đã thực sự xua đi “những đám mây đen xa cũ” trong tâm trí nhà văn, và Nam Cao đã bớc hẳn vào quỹ đạo của nền văn học mới

Bên cạnh những sáng tác phục vụ kịp thời yêu cầu của cách mạng, của quần chúng, nhân dân, Nam Cao còn vẫn ám ảnh với một cuốn tiểu thuyết về quê hơng kháng chiến Trong một lần nhận nhiệm vụ vào vùng địch hậu đồng bằng khu Ba tuyên truyền thuế nông nghiệp, Nam Cao đã có ý định kết hợp lấy thêm t liệu đồng thời ghé về làng gặp gỡ anh em, đồng đội đang chiến đấu ở quê hơng để hoàn tất cuốn truyện dài hơi, đã ấp ủ từ lâu nay của mình Nhng đang trên đờng đi thì Nam Cao và các đồng chí của ông lọt vào vòng vây của kẻ thù Nam Cao vĩnh viễn ra đi từ thời điểm ấy khi tuổi

đời và tài năng đang vào độ sung sức nhất, đầy triển vọng Nói nh Tô Hoài: “ Nam Cao đã chết trên cuốn tiểu thuyết lớn của mình”

Kể từ thời điểm 1936 cho đến khi vĩnh biệt cõi đời (1951), Nam Cao đã có quá trình mời lăm năm gắn bó với văn chơng So với những tác giả cùng thời, gia tài của Nam Cao để lại cho hậu thế không mấy đồ sộ Chỉ có hai tiểu thuyết “Sống mòn” và “Truyện ngời hàng xóm”, dăm bảy chục truyện ngắn, ký, một kịch bản

“Đóng góp”, dăm mời truyện ngắn cho thiếu nhi Nhng với số lợng khiêm nhờng

ấy, tác phẩm Nam Cao lại luôn ám ảnh ngời đọc, tạo một khả năng cho ngời đọc

Trang 14

đồng sáng tạo với với tác giả Những trang viết của Nam Cao thực sự là “những dòng văn xuôi mọc cánh” khiến cho các thế hệ độc giả của thế kỷ XX này tốn bao giấy mực để khai thác, khám phá và phát hiện các tầng giá trị của một sự nghiệp văn chơng mà trong đó, có những sáng tác đã trở thành cổ điển, mẫu mực cho thể loại truyện ngắn, cũng nh truyện dài.

Nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã cho rằng những sáng tác của Nam Cao không thua kém những sáng tác của văn chơng thế giới Sáng tác của Nam Cao cũng đã vợt qua lãnh thổ Việt Nam đến với thế giới, trở thành đối tợng nghiên cứu, so sánh của một số nhà nghiên cứu nớc ngoài Nam Cao là một trong những nhà văn hàng đầu của thế kỷ đã góp phần cách tân và hiện đại hóa nền văn xuôi Việt Nam trên hành trình văn học của thế kỷ XX

Có những nhà văn đã thể hiện quan điểm nghệ thuật cùa mình trong những chuyên luận, tiểu luận riêng nh “Theo dòng” của Thạch Lam nhng với Nam Cao, ngời đọc nhận ngay ra quan điểm nghệ thuật của ông trong các sáng tác, cụ thể là trong các truyện ngắn, truyện vừa trớc và sau cách mạng tháng Tám Nam Cao đã gửi gắm những suy nghĩ về văn chơng nghệ thuật qua các nhân vật mà ông tâm

đắc Tâm sự nào văn chơng ấy, Nam Cao thờng lấy cái tôi đầy u t, nỗi niềm của mình để nhào nặn, chế tác thành những nhân vật đầy cá tính trong truyện ngắn, truyện dài của ông

Vào những thập niên đầu thế kỷ, so với các nhà văn hiện thực phê phán nh Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và các nhà văn trong Tự Lực văn đoàn nh Khái Hng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam , Nam Cao là ngời

đến muộn Nhng ngay từ lúc trình làng, “với một lối riêng” ông đã đợc các cây bút đơng thời đánh giá “trong số văn nghệ sĩ mới lên, Nam Cao viết đợc lắm” Trong buổi đầu, sáng tác của Nam Cao không tránh khỏi bị ám nhiễm bầu khí quyển của văn chơng lãng mạn lúc đó Nhng ông không bị cuốn theo những thị hiếu thời thợng mà nhanh chóng vợt qua cảm hứng “thi vị hóa”, “duy mĩ hóa” hiện thực lúc bấy giờ để xác định thiên chức của ngời cầm bút nơi mình “Trăng

Trang 15

sáng” là tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao, tuyên chiến với thứ văn chơng lãng mạn tiêu cực: xóa nhòa ranh rới giữa hiện thực với văn chơng, tách rời con ngời nghệ sĩ và con ngời xã hội, với tính chất ảo mộng và phi hiện thực của nó Có thể nói, “Trăng sáng” là bản tự thuật về diễn biến tâm lí, quá trình dằn vặt đầy đau

đớn của nhà văn để đI tới đoạn tuyệt với thứ văn chơng chạy theo vẻ đẹp bề ngoài, thi vị hóa cuộc sống, coi nghệ thuật nh là “cái ánh trăng xanh huyền ảo, nó làm đẹp đến những cảnh thật ra chỉ tầm thờng, xấu xa” Trong bối cảnh văn học lúc bấy giờ, Nam Cao đã có ý thức rõ rệt về một thứ nghệ thuật có ích, nghệ thuật

vị nhân sinh Thông qua hình tợng nhân vật, Nam Cao bộc lộ quan điểm ngời viết văn không thể lãng tránh sự thực, không thể thờ ơ trớc “biết bao ngời quằn quại, nức nở, nhăn nhó, với những đau thơng của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng chửi rủa! Biết bao cực khổ lầm than?” Những sự thật tàn nhẫn, nghiệt ngã luôn bám riết lấy nhà văn ở mọi chỗ, mọi nơi ông không thể viết ra thứ văn chơng giả dối, phỉnh nịnh, quay lng lại với bể khổ nhân quần mà phải ”mở hồn ra đón tất cả những vang động của đời” Trong không khí văn học lúc đó, khác với các cây bút lãng mạn tiêu cực, các nhà văn của khuynh hớng hiện thực đã thể hiện quan điểm sáng tác tiến bộ của mình Ngô Tất Tố kêu gọi: “hãy ngó mắt đến những kẻ hạ lu thôn quê”, Vũ Trọng Phụng tuyên bố: “tiểu thuyết là sự thật ở đời” Thông qua phát ngôn của nhân vật Điền, Nam Cao đã công khai quan điểm: “nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dố, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” Đó là tuyên ngôn nghệ thuật chối bỏ khuynh hớng văn học chạy theo thị hiếu tầm thờng, bán rẻ ngòi bút và lơng tâm, khẳng định một nhân cách đầy bản lĩnh của nhà văn Nam Cao trong cuộc đời cũng nh trong sáng tạo nghệ thuật

Trang 16

§Æc biÖt, sù g¾n bã ©n t×nh s©u nÆng víi bµ con n«ng d©n nghÌo khæ ruét thÞt ë

Trang 17

quê hơng là nét nổi bật ở Nam Cao Chính tình cảm yêu thơng gắn bó đó là một sức mạnh bên trong của nhà văn giúp ông vợt qua những cám dỗ của lối sống thoát li hởng lạc tự nguyện tìm đến và trung thành với con đờng nghệ thuật hiện thực ”vị nhân sinh”

2.1 ý thức về nghề văn thể hiện qua việc xây dựng các hình tợng văn

sỹ, trí thức

2.1.1 Những nhà văn nghèo

Loại nhân vật này chiếm số lợng đáng kể trong tác phẩm Nam Cao Tính cách họ đa dạng và khá phức tạp Dới dây chúng tôi tạm phân thành hai tiểu loại nhỏ:

Loại nhà văn có nhân cách yếu kém thờng đợi thời, cơ hội Đó là những anh chàng nh: Tú, Du, Giang, Hồ trong “Nhỏ nhen” là những anh chàng luôn mang trong đầu những dự tính chờ cơ hội để ngoi lên tầng lớp giầu sang phú quý Nào

là mơ mở một trờng t có đến vài ba trăm bạc, mở một nhà xuất bản thật to Họ luôn luôn tạo cho mình một cái vỏ bề ngoài không thực chất, không sang nhng thích làm sang, không giàu nhng thích làm giàu Họ không dám gần gũi nhân dân lao động, thậm chí còn có cả thái độ coi thờng nữa Thực chất họ có ra gì đâu, cũng sỉn so đến mức nhỏ nhen dối trá

Loại nhà văn thứ hai là loại có nhân cách, có trách nhiệm với ngòi bút, có trách nhiệm với đời, có nhiều hoài bão, ớc mơ tốt đẹp, song ”chuyện áo cơm ghì sát đất” làm cho họ không ngóc đầu lên đợc, nhiều lúc có những hành động trái ngợc với những phẩm chất tốt đẹp đó Đó là những nhân vật nh Hộ trong “ Đời thừa”, Điền trong “Trăng sáng”, nhân vật “tôi” trong “ Mua nhà”, Lộc trong

“Truyện ngời hàng xóm”

Nhân vật Hộ trong” Đời thừa” là con ngời có những nét tính cách đáng quý, có những hoài bão lớn: ”lòng hắn đẹp, đầu hắn mang một hoài bão lớn Hắn khinh khỉnh những lo lắng tủn mủn về vật chất, hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài

Trang 18

của hắn mỗi ngày thêm nảy nở” Nhng ớc mơ, hoài bão đó của Hộ đâu có thực hiện đợc Sự bế quẫn, túng thiếu tiền bạc, áo cơm đã đa bản thân anh ta đi ngợc lại với những ý định tốt đẹp của mình Nếu nh trớc đây Hộ mơ ớc tác phẩm của mình

đoạt giảI Nobel, đợc dịch ra nhiều thứ tiếng trên toàn cầu thì thực tế lại ngựơc lại:

Hộ phải viết những chuyện nhạt phèo, vô vị, quá dễ dãi để ngời đọc xong rồi quên ngay lúc đọc Tác phẩm của y mới dành cho lớp ngời có thị hiếu tầm thờng

Sở dĩ Hộ phải lấy ngắn nuôi dài là vì cái hàng đầu của mỗi cá thể con ngời cần thiết là “miếng cơm manh áo”, Hộ không thể làm khác đi đợc khi thấy bản thân mình đang đói, vợ con đang đói và bệnh tật v.v

Nhân vật Điền trong “Trăng sáng” là con ngời giàu cảm xúc biết cách ởng thức cái đẹp của tự nhiên, thởng thức vẻ đẹp của ánh trăng để dồn tâm huyết cho sáng tạo nghệ thuật Điền đã sáng tác khi con đang khóc vì thiếu ăn, bệnh tật phát sinh không tiền mua thuốc và trong tiếng hàng xóm chửi rủa ngày hôm qua mất gà

th-Nhân vật ”tôi” trong “Mua nhà” là con ngời có nhân cách hết sức cao cả,

có sự cảm thông chia sẻ với ngời cùng khổ, có những triết lý về cuộc đời con ngời hết sức độc đáo

Nhân vật ”tôi” trong truyện “Ngời hàng xóm” là ngời sống có ý thức và biết tìm đến hạnh phúc chân chính cho ngòi bút

Nói chung các nhà văn trong tác phẩm Nam Cao đều là những con ngời có tâm huyết với nghề, có trách nhiệm với đời, với ngòi bút Họ có ý thức đem nghệ thuật phục vụ cho cuộc sống của con ngời, ớc mơ phấn đấu cho một xã hội tơng lai tơi sáng Song cuộc đời đâu có chiều theo những ớc mơ, hoài bão tốt đẹp của

họ Sự nghiệt ngã của xã hội phong kiến thực dân, sự tù túng nghèo nàn về đời sống về vật chất khiến họ đi vào thế bi kịch không lối thoát

2.1.2 Những ông "giáo khổ trờng t"

Những nhân vật này đợc Nam Cao nhắc kĩ trong tác phẩm của mình Chắc

có lẽ đây là chỗ Nam Cao đã dành hết tâm huyết để thể hiện Những “giáo khổ

Trang 19

tr-ờng t” của Nam Cao nói chung là đói khổ, trăn trở, vật lộn với hiện thực song rốt cuộc rồi bế tắc không lối thoát Trong những tác phẩm viết về ông “giáo khổ tr-ờng t” chúng tôi nhận thấy có hai loại khác nhau:

Loại ông giáo có vốn văn hóa khá hơn, có ý thức về bản thân của mình, biết trọng danh dự, có nhiều ớc mơ tốt đẹp nhng không thực hiện đợc, cuộc sống lùi dần vào ngõ cụt, không lối thoát Tiêu biểu cho loại nhân vật này là nhân vật Thứ trong tiểu thuyết “ Sống mòn”

Loại ông giáo có vốn học hành ít, dùng cái bằng học vốn thấp kém của mình hành nghề để kiếm sống Do một phần non yếu về vốn tri thức họ ý thức về nhân cách của mình rất kém, có khi bị vật chất cám dỗ dẫn đến những suy nghĩ và hành động thấp hèn, tầm thờng, mất nhân cách Đó là nhân vật San trong tiểu thuyết “Sống mòn” khi vào làm nghề thầy giáo mới qua đợc cái bằng tiểu học, vốn liếng văn hóa của y khá nghèo nàn Từ chỗ đó San nhận thức ít hơn Thứ rất nhiều Rất nhiều khi đang sống trong sống mòn mà vẫn không hay biết

Nhân vật Hài trong “Quên điều độ” là một anh chàng học hành chẳng ra gì, trong bản thân anh ta mắc đầy đủ các chứng bệnh tim, gan, phổi, dạ dày lại

là anh chàng quá dễ dãi với chính bản thân mình, không làm chủ đợc bản thân mình Từ chỗ không làm chủ đợc bản thân, khát vọng vật chất trong lòng Hài thức dậy, Hài chìm đắm trong những cơn say rợu chè, đánh mất nhân cách mình, quên cả lớp dạy, học trò chờ thầy nháo nhác

Nhân vật Oanh trình độ cũng không hơn gì nhân vật San và Hài Cô ta cũng

là ngời có ý thức về nhân cách kém, sống sít so, bần tiện với tất cả mọi ngời Mục

đích của Oanh là cầu lợi Suốt ngày Oanh đứng trớc cái gơng ngắm soi hết hàng

mi, hàng lông mày lá liễu với những bộ quần áo tân thời Nhng bản thân cô ta cũng là con ngời đang tự sống mòn cũng rơi vào tình trạng bi kịch không lối thoát

Nói chung, nhân vật nhà giáo của Nam Cao có nhiều gơng mặt khác nhau tính cách đa dạng nhng vẫn có nhiều điểm gần gũi nhau đó là: sống dới đáy cùng

Trang 20

của xã hội xung quanh họ ngột ngạt tối tăm Họ cũng có những ớc mơ, nhiều hoài bão song rốt cuộc đều bị chuyện “cơm áo ghì sát đất“ cuộc sống mòn đi, rỉ ra không lối thoát.

2.1.3 Những viên chức hạng bét

Đó là những ông cử, ông phán đợc Nam Cao đề cập đến trong tác phẩm của mình Cuộc sống của họ chẳng khác gì cuộc sống của các nhà văn nhà giáo Họ cũng túng thiếu, khổ cực Có nhiều lúc ngời đọc có cảm tởng tâm trạng họ buồn lắm, nặng nề lắm Họ làm việc cũng lặng lẽ suốt ngày, nếu có phản ứng với ai thì gay gắt, rồi lại lầm lũi làm việc y nh cỗ máy mà thôi Ta hãy đọc một đoạn thì khắc rõ tình trạng những con ngời này

“Ông mặc những cái áo sờn vai, những cái áo sơ mi mếu có không rách cổ thì cũng mạng lung tung, nhà ông chẳng lúc nào yên, đàn trẻ con khóc nh ri, mẹ chồng nghiến rứt con dâu, con dâu cãi lại mẹ chồng Cô em nói nữa mai chỉ vì ngời nào cũng khổ cả và ngời nọ cứ tởng vì ngời kia mà khổ”

2.1.4 Những học sinh

Loại nhân vật này đợc Nam Cao đề cập trong tác phẩm của mình có ít hơn các nhà văn, nhà giáo Tuy nói ít nhng ông cũng diễn tả đợc tâm lý cơ bản của những anh chàng sống thiếu bản lĩnh đa cảm

Nhân vật “Du” trong “Cái chết của con mực “là anh chàng quá yếu đuối, sống đa cảm thật sự, sau những ngày xa quê trở về, mọi ngời trong gia đình bàn

đến chuyện thịt con chó ăn mừng Du nghẹn ngào thơng xót và đó cũng là anh chàng ngày ngày ngờ nghệch mù quáng, đắm đuối trớc tình yêu đơn phơng Lu trong “Truyện tình“ mặc dù bị Kha bạc đãi, phũ phàng nhng Lu vẫn đắm say không tỉnh ngộ đợc Lu yêu Kha bằng cả tấm lòng của một con ngời khờ dại, đắm

đuối, đến mức ngày nghỉ hè Lu cũng quên phắt đi tình cảm gia đình, cha mẹ, những ngời thân thuộc của quê hơng Lu ở lại để chăm sóc con cho Kha Đến khi ngời em chết cũng không kịp về quê để gặp mặt Hai nét cơ bản là yếu đuối, đa

Trang 21

cảm và ngây ngô, mù quáng trớc tình yêu của những anh chàng học trò tiểu t sản nghèo trong tác phẩm của Nam Cao, đó cũng là sự khái quát cho tầng lớp học sinh thời bấy giờ (trừ lớp học sinh,sinh viên đợc giác ngộ cách mạng).

Nhân vật ông giáo trong tác phẩm “Lão Hạc” là một ví dụ khá tiêu biểu Mặc dù ở tác khẩm này tác giả muốn tập trung đề cập đến cuộc sống đói nghèo của gia đình lãc Hạc, đề cập đến những phẩm chất tốt đẹp trong con ngời cha con lão Hạc, tuy nghèo nhng vẫn cố gắng giữ trọn phẩm chất trong sáng, vẫn không

để cho quỷ dữ cớp đi vẻ đẹp trong tâm hồn của mình Bên cạnh đó là nhân vật ông giáo - ngời hiểu đợc tấm lòng của lão Hạc Chỉ có ông giáo mới cảm thông cho cảnh đời cơ cực của lão Hạc và đợc lão Hạc gửi gắm tâm sự cuối đời của mình

Qua việc tìm hiểu về các nhân vật nhà văn hay những nhân vật ít nhiều có liên quan đến nhà văn nh đã nói ở trên, ta thấy rất rõ ngòi bút hiện thực của Nam Cao cùng những trăn trở không thôi của ông về ý nghĩa cuộc đời, về nghề văn D-ờng nh Nam Cao ngày càng nhận thức đợc rõ rằng nhà văn phải là ngời biết quan tâm đến những bi kịch tinh thần của con ngời, là ngời biết khai thác đề tài từ cuộc sống lầm than của dân chúng, là ngời biết nâng giá trị đời mình lên bằng những sáng tạo có ý nghĩa chung cho cả nhân quần

2.2 ý thức về văn của Nam Cao thể hiện qua những lời bình luận triết

lí trong truyện

Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực phê phán có ý thức nhất về quan điểm nghệ thuật của mình Những quan điểm đó ít khi đợc phát biểu trực tiếp dới dạng lí luận mà thờng đợc bộc lộ qua những sáng tác và hình tợng nghệ thuật Nhng điều thú vị là trong sáng tác của ông, loại nhân vật văn sĩ có khá đông (ở trên đã phân tích), và do vậy, ông có điều kiện đặt vào miệng các nhân vật ấy những suy nghiệm của mình về đời, về nghệ thuật một cách thoải mái Suy cho cùng, Nam Cao viết về Hộ, về Điền cũng chính là viết về mình mà thôi Họ chính

Trang 22

là sự hóa thân của Nam Cao trong nghệ thuật Chính vì vậy, trong tác phẩm của

ông, những lời bình luận triết lý xuất hiện khá đậm mà ở đó, quan điểm nhìn nhận của ngời viết và của nhân vật chứng kiến sự kiện có sự hòa hợp khó tách bạch

Nam Cao xuất hiện trên văn đàn từ năm 1936 với những bài thơ, truyện ngắn chịu nhiều ảnh hởng của văn học lãng mạn đuơng thời Mãi tới 1940, khi viết “ Cái lò gạch cũ” (tức Chí Phèo) Nam Cao mới thực sự cắm đợc mốc vinh quang trên con đờng sáng tác theo khuynh hớng hiện thực chủ nghĩa, đồng thời mới hoàn toàn bỏ đợc những ảnh hởng của quan điểm văn chơng lãng mạn - một thứ văn thoát ly hiện thực

Quá trình từ bỏ ảnh hởng của chủ nghĩa lãng mạn thoát ly cũng chính là quá trình Nam Cao nhận thức sâu sắc về nó và phê phán nghiêm khắc tính chất ảo mộng, phi hiện thực của nó Trong “Trăng sáng“ (1942), Nam Cao đã phê phán thứ nghệ thuật chỉ chạy theo cái đẹp bề ngoài để rồi “mơ theo trăng và vơ vẩn theo mây” Nam Cao đã vạch trần sự “lừa dối” của thứ nghệ thuật thi vị hóa cuộc sống, giống nh cái ánh trăng huyền ảo của nó làm đẹp đến cả những cảnh thật ra chỉ tầm thờng, xấu xa ánh trăng tuy rất đẹp, rất thơ mộng, rất huyền ảo nhng

“trong những căn lều nát mà ánh trăng làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp biết bao ngời quằn quại, nức nở, nhăn nhó bởi những đau thơng của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng và chửi rủa! Biết bao cực khổ lầm than“ Cái đẹp, cái thi vị của ánh trăng đã che dấu “cái sự thật tàn nhẫn” là tình trạng khốn khổ của nhân dân Nhận rõ tác hại của thứ nghệ thuật phi hiện thực, Nam Cao yêu cầu “nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối” ( Trăng sáng

Trang 23

phê phán thẳng thừng những cây bút Tự lực văn đoàn chạy xa sự thực bằng những danh từ điêu trá của văn chơng Còn Nguyên Hồng - nhà văn cùng thời với Nam Cao - cũng đã từng phê phán xu hớng văn học suy đồi và đòi hỏi nghệ thuật phải gắn bó với đời sống của nhân dân lao động nh ”rễ cây bám riết lấy lòng đất” (Hai dòng sữa) Nam Cao đòi hỏi nghệ thuật phải trở về với đời sống hiện thực to lớn nhất lúc bấy giờ, theo quan niệm của nhà văn chính là tình trạng khốn khổ của hàng triệu nhân dân lao động ”nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra

từ kiếp lầm than “ (Trăng sáng) Nghệ thuật chân chính phải nhìn thẳng vào sự thật ”tàn nhẫn“đó, phải nói lên nỗi khổ, cùng quẫn của nhân dân Ngời cầm bút

có lơng tâm không thể ”trốn tránh” hiện thực mà phải đứng trong lao khổ, mở hồn

ra đón lấy tất cả những vang động ở đời (Trăng sáng) Trung thành với hiện thực khách quan đã trở thành những nguyên tắc thẩm mỹ của Nam Cao Đến “Đời thừa” (1943) Nam Cao lại khẳng định: một tác phẩm có giá trị ”phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi” Nhiệm vụ của nghệ thuật không chỉ giới hạn trong việc tập trung phản ánh sự lầm than, khốn khổ mà còn thể hiện cả niềm vui sớng và hạnh phúc của con ngời nữa

Nh vậy, Nam Cao đòi hỏi nghệ thuật phải chân thực, phải ”vị nhân sinh”, phải gắn bó mật thiết với nhân dân Nếu nh một nhà văn hiện thực lớn trong văn học Pháp đã không ngần ngại mà nói trắng ra rằng: ”Tôi thơng dân, ghét cả áp bức, nhng chung sống với nhân dân, đối với tôi là một đau khổ vĩnh viễn” thì Nam Cao qua “Trăng sáng” đã tự nguyện đứng trong đau khổ gắn bó sâu nặng với nhân dân lao động ”Trăng sáng“ là một bản tuyên ngôn nghệ thuật sâu sắc, xúc động

đã nói lên thật tâm huyết quan điểm nghệ thuật hiện thực, nhân đạo của Nam Cao,

là lời nói chân thành của nhà văn tiểu t sản nguyện dứt khoát từ bỏ con đờng nghệ thuật thoát ly hởng lạc, trở về gắn bó thủy chung với nhân dân lao động Trong hoàn cảnh xã hội đầy bất công ngang trái và tình hình xã hội đầy phức tạp, các khuynh hớng thoát ly tiêu cực phát triển tràn lan gây nhiều tác hại lúc đó, quan

Trang 24

điểm nghệ thuật nói trên của Nam Cao chẳng những rất tiến bộ mà còn có ý nghĩa chiến đấu tích cực

Nam Cao là một nhân cách lớn, một con ngời "trung thực vô ngần” (lời Tô Hoài) Ông không bao giờ chịu uốn cong ngòi bút của mình, không thèm đếm xỉa

đến cái sở thích cái thị hiếu tầm thờng của độc giả Ông viết thật lòng mình, ông viết đúng với những điều mình cảm, mình nghĩ, mình phát hiện, ông có đủ bản lĩnh để đẩy đến tận cùng những tình cảm chân thực những suy nghĩ, t tởng sâu sắc của mình Thái độ tình cảm ấy đã đem đến cho tác phẩm Nam Cao tính chân thực sâu sắc

Để xác định cho mình một quan điểm sống và viết đúng đắn, Nam Cao đã trải qua không ít những dằn vặt, băn khoăn Truyện ngắn ”Trăng sáng” đã thể hiện rất rõ điều này Nhân vật chính của truyện là Điền, một nhà văn có xu hớng

đi theo con đờng văn chơng lãng mạn Mặc dù phải sống trong hoàn cảnh túng thiếu, phải lo chạy ăn từng bữa, nhng anh vẫn thèm muốn vơn lên một cuộc sống giàu sang, sung sớng Điền thích ngắm một vầng trăng đẹp, mơ tởng ”một mái tóc thơm tho, một làn da mát mịn, một bàn tay ve vuốt” Anh thoáng có ý tởng ruồng rẫy vợ vì chị ta chỉ là ngời tầm thờng, thô thiển, không hiểu đợc những ý t-ởng cao xa của chồng Trong khi vầng trăng đẹp đẽ, nhởn nhơ kia khêu gợi nên ở

Điền bao cảm xúc thơ mộng, tràn trề thì với thị chỉ là sự tính toán nhỏ nhen, tầm thờng, là nhà đỡ tốn hai xu dầu mỗi tối Điền định bỏ nhà ra đi để tìm một nơi yên tĩnh mà viết, “ngòi bút của Điền, khơi nguồn cho những tình cảm đầy mơ mộng”

Điền muốn dùng cái đẹp của nghệ thuật để che phủ lên những cái xấu xa trong cuộc sống hiện tại nh ánh trăng đã làm cho tất cả trở nên huyền ảo, thơ mộng Nh-

ng thực tế của đời sống không cho phép Điền lạc bớc quá xa, dù chỉ là trong mộng tởng Trong khi Điền đang thả lỏng tâm hồn mình theo những ý nghĩ lãng mạn đó thì con Điền lại khóc, vợ Điền lại gắt gỏng Dòng suy tởng của Điền bị cắt đứt chuyển sang một chiều hớng khác, đáng bận tâm hơn Đứa con của Điền

ốm đau không có tiền mua thuốc, phải uống thứ thuốc bách bệnh của con nhà

Trang 25

nghèo một ít nớc gừng và vắt thêm nửa quả chanh Tự nhiên lòng Điền trỗi dậy một tình cảm thơng con, rồi thơng vợ, con Điền gầy yếu và khổ sở từ bé, vợ Điền tuy có lúc gắt gỏng, nóng nảy, cục cằn nhng rất mực thơng chồng Những ngời ruột thịt trong gia đình, những ngời hàng xóm xung quanh, và bản thân Điền nữa cũng đang đau khổ, đói rét Điền không thể đi tìm hạnh phúc ích kỉ cho riêng mình, “không, không Điền không thể mơ mộng đợc Nếu nh vừa rồi, Điền còn mơ tởng tìm một nơi yên tĩnh để viết những thứ “văn chơng nhàn rỗi” cho những ngời nhà nhã ngả mình trên những chiếc xích đu nhún nhẩy đọc, thì giờ đây anh tự xác

định với mình: ”Điền chẳng cần đi đâu cả Điền chẳng cần trốn tránh Điền cứ

đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời” Và thiên truyện kết thúc với cảnh tợng Điền cặm cụi ngồi viết giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng và tiếng chửi bởi của ngời hàng xóm mất gà

Truyện ngắn “Trăng sáng” đã thể hiện sinh động tâm trạng đấu tranh day dứt của một nhà văn giữ hai con đờng: mơ mộng và thực tế, lãng mạn và hiện thực, để rồi khẳng định sức mạnh của văn học nghệ thuật chính là bắt nguồn từ

đời sống và phục vụ đời sống “Trăng sáng” có giá trị nh một bản “tuyên ngôn nghệ thuật” Nó đánh dấu một buớc chuyển biến trong nhận thức t tởng cũng nh quan điểm nghệ thuật của Nam Cao

Là một nhà văn có nhân cách, có ý thức trách nhiệm về ngòi bút của mình, Nam Cao không thích sự dễ dã với những lối mòn sẵn Ông quan niệm nghệ thuật muốn thành công phải tìm tòi sáng tạo Năm 1941 với tác phẩm “Chí Phèo”, Nam Cao đã khẳng định đợc mình trên văn đàn Việt Nam, đồng thời cũng cắm cái mốc

đầu tiên trên con đờng đi theo chủ nghĩa hiện thực Năm 1943, Nam Cao tham gia sinh hoạt trong nhóm Văn hóa cứu quốc Những băn khoăn, trăn trở của ông trong những năm dài đen tối đã dần tìm đợc lời giải đáp Bây giờ, bên cạnh khuynh h-ớng tố cáo, phủ định xã hội, trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nam Cao đã thấp thoáng những hy vọng mới mẻ (Điếu văn, Sống mòn ), mặc dù những tác phẩm này vẫn còn nằm trong phạm trù của chủ nghĩa hiện thực

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w